Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
To
Tỏ:
1)
Bright—brilliant—Luminous.
2)
To display—To express—To declare.
Tỏ
Bày: To make known—To state—To express—To set forth.
Tỏ
Ra: To show—To exhibit.
Tỏ
Rõ: Clearly—Plainly.
Tỏ
Tường: See Tỏ Rõ.
Tỏ
ý: To express one’s intention.
Tỏ
Ý Tán Đồng: To express one’s agreement.
Toa:
1)
Toa xe: Waggon—Sleepng-car.
2)
Toa thuốc: Prescription.
Tòa:
1)
Chỗ ngồi: Vastu (skt)—Place—Seat.
2)
Tòa án: Court—Judge.
Tòa
Như Lai: The throne (palace chamber) of the Buddha—The palace chamber
in which the Buddha was situated.
Tòa
Sen: Buddha’s throne.
Tỏa:
1)
Phong tỏa: To blockade.
2)
Ống khóa: Lock—Chain.
3)
Tỏa ra: To spread—To scatter—To diffuse.
Tỏa
Ra: To emit—To exhale—To give off.
Tỏa
Thược: Ống khóa và chìa khóa—Lock and key.
Tọa:
Nisad or nisanna (skt).
1)
Chủ tọa: To preside—To take the chair.
2)
Nghỉ ngơi: To rest.
3)
Ngồi: To sit—A seat.
4)
Tòa: Throne.
5)
Tọa lạc: To situate.
Tọa
Chủ: Còn gọi là Thủ Tọa, Thượng Tọa, hay Tọa Nguyên,
là vị chủ một nhóm cử tọa đại chúng hay vị Thượng
Tọa trụ trì tự viện—Master of a temple, a chairman, president,
the head of the monks, an abbot.
Tọa
Chủ Nô: Vị trụ trì chỉ hiểu biết giáo điển mà không
có thực hành nên không được sự kính trọng của Tăng chúng—Archpriest—A
master of a temple who understands Buddhism only intellectually, without
practicing; thus lacks of respect from the Sangha.
Tọa
Chứng: Một từ khác cho thiền quán—Another term for dhyana contemplation.
Tọa
Cụ: Nisidana (skt)—Dụng cụ (bằng vải hay bằng chiếu cối)
để ngồi thiền—An article for sitting on (made of cloth or mat)
when practicing meditation.
Tọa
Cửu Thành Lao: Ngồi lâu mà thành tựu như Ngài Bồ Đề Đạt
Ma—To accomplish one’s labour by prolonged sitting, as did Bodhidharma.
Tọa
Đường:
1)
Phòng thiền hay Thiền đường: A sitting room.
2)
Phòng họp của chư Tăng Ni: The assembly room of the monks.
Tọa
Hạ: Tọa Lạp—Varsa (skt)—Tên gọi khác của “An Cư Kiết
Hạ.” Tăng đoàn vâng theo lời chỉ dạy của Phật mà tọa
vũ an cư hay an cư kiết hạ về mùa mưa (để giảm thiểu
sự tổn hại các loài côn trùng, đồng thời nhập thất tịnh
tu)—The retreat or rest during the summer rains (based on the instruction
of the Buddha).
Tọa
Hạ Do: Giấy chứng nhận “An Cư Kiết Hạ” cấp cho một
vị du tăng—A certificate of “retreat” given to a wandering monk.
Tọa
Hưởng: To enjoy.
Tọa
Lạp: Cuối mùa an cư kiết hạ, hay cuối năm của tự viện
Phật giáo—The end of the summer retreat; the monastic end of the year—See
Tọa Hạ.
Tọa
Lạc: To be located (situated).
Tọa
Pháp: To transgress law.
Tọa
Quang: See Quang Tọa.
Tọa
Tham: Cuộc tham vấn trước buổi thiền tọa đầu hôm—The
evening meditation at a monastery (preceding instruction by the abbot).
Tọa
Thiền: Ngồi tu thiền. Thiền là chữ tắt của “Thiền Na”
có nghĩa là tư duy tĩnh lự. Đây là một trong những nghệ
thuật dập tắt dòng suy tưởng của tâm, để làm sáng tỏ
tâm tính. Thiền được chính thức giới thiệu vào Trung Quốc
bởi Tổ Bồ Đề Đạt Ma, dầu trước đó người Trung Hoa
đã biết đến, và kéo dài cho tới thời kỳ của các tông
phái Thiên Thai. Theo Kinh Duy Ma Cật, cư sĩ Duy Ma Cật đã nói
với ông Xá Lợi Phất khi ông nầy ở trong rừng tọa thiền
yên lặng dưới gốc cây như sau: “Thưa ngài Xá Lợi Phất!
Bất tất ngồi sững đó mới là ngồi thiền. Vả chăng ngồi
thiền là ở trong ba cõi mà không hiện thân ý, mới là ngồi
thiền; không khởi diệt tận định mà hiện các oai nghi, mới
là ngồi thiền; không rời đạo pháp mà hiện các việc phàm
phu, mới là ngồi thiền; tâm không trụ trong cũng không ở
ngoài mới là ngồi thiền; đối với các kiến chấp không
động mà tu ba mươi bảy phẩm trợ đạo mới là ngồi thiền;
không đoạn phiền não mà vào Niết Bàn mới là ngồi thiền.
Nếu ngồi thiền như thế là chỗ Phật ấn khả (chứng nhận)
vậy—To sit in dhyana (abstract meditation, fixed abstraction, contemplation).
Its introduction to China is attributed to Bodhidharma, though it came
earlier, and its extension to T’ien-T’ai. According to the Vimalakirti
Sutra, Vimalakirti reminded Sariputra about meditation, saying: “Sariputra,
meditation is not necessarily sitting. For meditation means the non-appearance
of body and mind in the three worlds (of desire, form and no form); giving
no thought to inactivity when in nirvana while appearing (in the world)
with respect-inspiring deportment; not straying from the Truth while attending
to worldly affairs; the mind abiding neither within nor without; being
imperturbable to wrong views during the practice of the thirty-seven contributory
stages leading to enlightenment: and not wiping out troubles (klesa) while
entering the state of nirvana. If you can thus sit in meditation,
you will win the Buddha’s seal.”
**
For more information, please see Thiền Định and Dhyana.
Tọa
Thiền Hội: Một cuộc hội họp tu tập của các thiền sinh,
với mục đích nghe thuyết giảng về thiền và thực tập
thiền quán. Thường thì họ tập hợp mỗi tuần một lần—A
gathering of Zen practitioners with the purpose of listening to the Zen
lectures and practicing meditation. Usually they gather for one day a week.
Toác:
Wide-open.
Toạc:
Openly.
Toái:
1)
Nghiền nát: Broken—Fragments.
2)
Phiền toái—Troubled.
Toái
Thân Xá Lợi: Xá lợi còn lại sau lễ trà tỳ—Relics of a
cremated body.
Toại
Chí: Satisfied—Content.
Toại
nguyện: To be satisfied—Wish-fulfilled—To have fulfilled one’s
desires.
Toại
Ý: See Toại Chí.
Toan:
To attempt—To intend to.
Toan
Làm: To intend to do something.
Toan
Trốn: To intend (attempt) to escape
Toán:
1)
Tính toán: Mathemetics—To reckon—To count—To calculate.
2)
Toán nhóm: Team—Party—Crew—Group.
3)
Toán số: To count numbers, to count, to number.
Toàn:
Complete—All—Whole.
Toàn
bộ: Whole.
Toàn
Diện: Total.
Toàn
Già Phu Tọa: Thế ngồi kiết già, bàn chân nầy đặt lên
đùi kia và ngược lại—The legs completely crossed as in a completely
seated image.
Toàn
Giác: Full enlightenment—Buddhahood.
Toàn
Giác Phật: Perfect Buddha
Toàn
Khoát Nham Đầu Thiền Sư: Thiền Sư Toàn Khoát Nham Đầu sanh
năm 828 tại Tuyền Châu. Sư thọ cụ túc giới tại chùa Bảo
Thọ tại Trường An. Sư là môn đồ và là người kế vị
Pháp của ngài Đức Sơn Tuyên Giám. Ông là thầy của Đoan
Nham Sư Nhan. Tên ông được nhắc đến trong thí dụ thứ 13
của Vô Môn Quan và hai thí dụ 51 và 66 của Bích Nham Lục—He
was born in 828 in Quan-Chou. He received full precepts at Bao-Shou Temple
in Chang-An. He was a student and Dharma successor of Te-Shan-Hsuan-Chien.
Yan-T’ou appears in example 13 of the Wu-Men-Kuan and in examples 51
and 66 of the Pi-Yen-Lu.
·
Nham Đầu Toàn Khoát nổi tiếng về cái nhìn và tinh thần
sắc xảo—Yan-T’ou was known for his clear and sharp mind.
·
Sư dạo khắp các thiền uyển, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa
Tồn, Khâm Sơn Văn Thúy. Từ núi Đại Từ sang Lâm Tế, Lâm
Tế đã qui tịch, đến yết kiến Ngưỡng Sơn. Vừa vào cửa,
sư đưa cao tọa cụ, thưa: “Hòa Thượng.” Ngưỡng Sơn cầm
phất tử toan giở lên. Sư thưa: “Chẳng ngại tay khéo.”—Yan-T’ou,
Xue-Feng, and Qin-Shan went traveling to visit Lin-Ji, but they arrived
just after Lin-Ji had died. They went to Mount Yang. Yan-T’ou entered
the door, picked up a sitting cushion, and said to Zen master Yang-Shan:
“Master.” Before Yang-Shan could raise his whisk into the air, Yan-T’ou
said: “Don’t hinder an adept!”
·
Đến tham yết Đức Sơn, sư cầm tọa cụ lên pháp đường
nhìn xem. Đức Sơn hỏi: “Lão Tăng có lỗi gì?” Sư thưa:
“Lưỡng trùng công án.” Sư trở xuống nhà tham thiền. Đức
Sơn nói: “Cái ông thầy in tuồng người hành khất.”—Yan-T’ou
went to study with Te-Shan. There, Yan-T’ou took a meditation cushion
into the hall and stared at Te-Shan. Te-Shan shouted and said: “What
are you doing?” Yan-T’ou shouted. Te-Shan said: “What is my error?”
Yan-T’ou said: “Two types of koans.” Yan-T’ou then went out. Te-Shan
said: “This fellow seems to be on a special pilgrimage.”
·
Hôm sau lên thưa hỏi, Đức Sơn hỏi: “Xà Lê phải vị Tăng
mới đến hôm qua chẳng?” Sư thưa: “Phải.” Đức Sơn
bảo: “Ở đâu học được cái rỗng ấy?” Sư thưa: “Toàn
Khoát trọn chẳng tự dối.” Đức Sơn bảo: “Về sau chẳng
được cô phụ lão Tăng.”—The next day, during a question-and-answer
period, Te-Shan asked Yan-T’ou: “Did you just arrive here yesterday?”
Yan-T’ou said: “Yes.” Te-Shan said: “Where have you studied to
have come here with an empty head?” Yan-T’ou said: “For my entire
life I won’t deceive myself.” Te-Shan said: “In that case, you won’t
betray me.”
·
Hôm khác đến tham vấn, sư vào cửa phương trượng đứng
nghiêng mình hỏi: “Là phàm là Thánh?” Đức Sơn hét! Sư
lễ bái. Có người đem việc ấy thuật lại cho Động
Sơn nghe. Động Sơn nói: “Nếu chẳng phải Thượng Tọa Khoát
rất khó thừa đương.” Sư nghe được lời nầy bèn nói:
“Ông già Động Sơn chẳng biết tốt xấu lầm buông lời,
ta đương thời một tay đưa lên một tay bắt.”—One day,
when Yan-T’ou was studying with Te-Shan, Yan-T’ou stood in the doorway
and said to Te-Shan: “Sacred or mundane?” Te-Shan shouted. Yan-T’ou
bowed. A monk told Tong-Shan about this. Tong-Shan said: “If it wan’t
Yan-T’ou, then the meaning couldn’t be grasped.” Yan-T’ou said:
“Old Tong-Shan doesn’t know right from wrong. He’s made a big error.
At that time I lifted up with one hand and pushed down with one hand.”
·
Tuyết Phong ở Đức Sơn làm trưởng ban trai phạn (phạn đầu).
Một hôm cơm trễ, Đức Sơn ôm bát đến pháp đường. Tuyết
Phong phơi khăn lau, trông thấy Đức Sơn bèn nói: “Ông già
nầy, chuông chùa chưa kêu, trống chưa đánh mà ôm bát đi
đâu?”—Xue-Feng was working at Mount Te as a rice cook. One day the
meal was late. Te-Shan appeared carrying his bowl to the hall. When Xue-Feng
stepped outside to hang a rice cloth to dry, he spotted Te-Shan and said:
“The bell hasn’t been rung and the drum hasn’t sounded. Where are
you going with your bowl?”
·
Đức Sơn trở về phương trượng. Tuyết Phong thuật việc
nầy cho sư nghe. Sư bảo: “Cả thảy Đức Sơn chẳng hiểu
câu rốt sau.”—Te-Shan then went back to the abbot’s room. Xue-Feng
told Yan-T’ou about this incident. Yan-T’ou said: “Old Te-Shan doesn’t
know the final word.”
·
Đức Sơn nghe, sai thị giả gọi sư đến phương trượng,
hỏi: “Ông chẳng chấp nhận lão Tăng sao?” Sư thưa nhỏ
ý ấy—When Te-Shan heard about this, he had his attendant summon Yan-T’ou.
Te-Shan then said to Yan-T’ou: Don’t you agree with me?” Yan-T’ou
then told Te-Shan what he meant by his comments. Te-Shan then stopped questioning
Yan-T’ou.
·
Đến hôm sau, Đức Sơn thượng đường có vẻ khác thường.
Sư đến trước nhà Tăng vỗ tay cười to, nói: “Rất mừng!
Ông già Đường Đầu biết được câu rốt sau, người trong
thiên hạ không bì được ông, tuy nhiên chỉ sống được
ba năm (quả nhiên ba năm sau Đức Sơn tịch)—The next day, Te-Shan
went into the hall and addressed the monks. What he said was quite unlike
his normal talk. Afterward, Yan-T’ou went to the front of the monk’s
hall, clapped his hands, laughed out loud and exclaimed: “I’m happy
that the old fellow who’s the head of the hall knows the last word after
all.”
·
Một hôm sư cùng Tuyết Phong, Khâm Sơn ba người họp nhau,
bỗng dưng Tuyết Phong chỉ một chén nước. Khâm Sơn nói:
“Nước trong, trăng hiện.” Tuyết Phong nói: “Nước trong,
trăng chẳng hiện.” Sư đá chén nước rồi đi. Từ đó về
sau, Khâm Sơn đến Động Sơn. Sư và Tuyết Phong nối pháp
Đức Sơn—One day, Yan-T’ou was talking with Xue-Feng and Qin-Shan.
Xue-Feng suddenly pointed at a basin of water. Qin-Shan said: “When the
water is clear the moon comes out.” Xue-Feng said: “When the water
is clear the moon does not come out.” Yan-T’ou kicked over the basin
and walked away.
·
Sư cùng Tuyết Phong đến từ Đức Sơn. Đức Sơn hỏi: “Đi
về đâu?” Sư thưa: “Tạm từ giả Hòa Thượng hạ sơn.”
Đức Sơn hỏi: “Con về sau làm gì?” Sư thưa: “Chẳng quên.”
Đức Sơn hỏi: “Con nương vào đâu nói lời nầy?” Sư thưa:
“Đâu chẳng nghe ‘Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao,
trí ngang bằng thầy kém thầy nửa đức.’” Đức Sơn bảo:
“Đúng thế! Đúng thế! Phải khéo hộ trì.” Hai vị lễ
bái rồi lui ra—One day, Yan-T’ou and Xue-Feng were leaving the mountain.
Te-Shan asked: “Where are you going?” Yan-T’ou said: “We’re going
down off the mountain for awhile.” Te-Shan said: “What are you going
to do later?” Yan-T’ou said: “Not forget.” Te-Shan said: “Why
do you speak thus?” Yan-T’ou said: “Isn’t it said that only a person
whose wisdom exceeds his teacher’s is worthy to transmit the teaching,
and one only equal to his teacher has but half of his teacher’s virtue?”
Te-Shan said: “Just so. Just so. Sustain and uphold the great matter.”
The two monks bowed and left Te-Shan.
·
Khi Đức Sơn mất, Toàn Khoát được 35 tuổi, ông đã trải
qua sự cô đơn ít lâu. Sau đó các học trò tụ tập lại
xung quanh ông, và ông trở thành viện trưởng một tu viện
lớn—When Te-Shan died, Yan-T’ou was thirty-five years old. After
he had lived in solitude for some time, students began to gather around
him and he became the abbot of a large monastery.
·
Một lần vị Tăng hỏi: “Không thầy lại có chỗ xuất thân
chăng?” Sư đáp: “Trước tiếng lông xưa nát.” Vị Tăng
nói: “Kẻ đường đường đến thì sao?” Sư nói: “Đâm
lủng con mắt.” Vị Tăng hỏi: “Thế nào là ý Tổ Sư từ
Ấn sang?” Sư đáp: “Dời ngọn núi Lô đi, ta sẽ vì ông
nói.”—Once a monk asked: “Without a teacher, is there still a place
for the body to manifest or not?” Yan-T’ou said: “Before the sound,
an old ragged thief.” The monk said: “When he grandly arrives, then
what?” Yan-T’ou said: “Pokes out the eye.” A monk asked: “What
is the meaning of the Patriarch’s coming from the west?” Yan-T’ou
said: “When you move Mount Lu to this place, I’ll tell you.”
·
Trong thời hổn loạn vào cuối đời nhà Đường. Một hôm
các toán cướp tấn công tu viện; được báo trước, các
sư khác đều chạy trốn, chỉ có thầy Nham Đầu ở lại.
Khi bọn giặc đến, lúc sư còn đang chìm sâu trong đại định,
chúng trách sư không có gì dâng biếu, cũng như không tìm thấy
được gì trong tự viện, tên đầu đảng bèn đâm sư. Thần
sắc sư không đổi, chỉ rống lên một tiếng rồi chết.
Tiếng ấy vang xa đến mười dậm. Tiếng kêu ấy theo truyền
thống thiền Trung Quốc được biết dưới tên gọi là “Tiếng
Thét Nham Đầu,” là điều bí ẩn với nhiều môn đồ thiền
về sau nầy, vì nó trái với quan niệm sống chết của một
người thầy. Đăc biệt đại sư Bạch Ẩn cũng thấy như
vậy. Chỉ khi ngài đã đạt được đại giác sâu, ngài mới
hiểu được ý nghĩa của tiếng kêu ấy và thốt lên rằng:
“Yan-T’ou đang sống thật, đầy khỏe mạnh.”—It was a
chaotic period during the decline of the T’ang dynasty. One day, robber
bands local bandits came to attack the temple. Other monks, forewarned,
fled; only Master Yan-T’ou remained in the monastery. The bandits found
him sitting in meditation, disappointed and engraged because there was
no booty (của cướp được) there, the head of the bandits brandished
his knife and stabbed Yan-T’ou. Yan-T’ou remained composed, then let
out a resounding scream and died. The sound was heard for ten miles around.
The sound is renowned in the tradition as “Yan-T’ou’s cry.” This
cry has presented a knotty problem to many Zen students for so long, whose
conception of the life and death of a Zen master this story did not match.
This was also the case for the great Japanese master, Hakuin Zenji. Only
when Hakuin had realized enlightenment did he understand, and he cried
out: “Truly, Yan-T’ou is alive, strong and healthy.”
·
Sư Nham Đầu thị tịch nhằm ngày mồng tám tháng tư năm 887
sau Tây Lịch—Yan-T’ou died on the eighth day of the fourth month
of the year 887 A.D.
Toàn
Lực: All of one’s strength—All forces.
Toàn
Mỹ: Perfect beauty.
Toàn
Năng: Almighty—Omnipotent.
Toàn
Phần: Complete.
Toàn
Phần Giới: Giới thọ trì toàn phần từ ngũ giới cho đến
cụ túc giới—Fully ordained by receiving all the commandments (from
five to full commandments).
Toàn
Phúc: Complete happiness
Toàn
Tài: Perfect talent.
Toàn
Thắng: Total (complete) victory.
Toàn
Thân: The whole body.
Toàn
Thể: All—Complete—Entire.
Toàn
Thiện: Perfect.
Toàn
Thức: See Toàn trí.
Toàn
Thực: Total eclipse.
Toàn
Trí: Omniscent—Perfect knowledge or wisdom (by which a man become a
Buddha).
Toàn
Vẹn: Perfect—Flawless.
Toản:
Khoan dùi—To bore—To pierce.
Toản
Thủy Cầu Tô: Khoan nước tìm bánh sữa—To churn water to get
curd.
Toang:
See Toác.
Toàng
Hoạc: See Toác.
Toát
Mồ Hôi: To sweat—To perspire.
Toát
Yếu:
1)
Summery—Resume.
2)
To choose the chief points only.
Tóc
Bạc: White hair.
Tóc
Hoa Râm: Grey hair.
Tóc
Rụng: One’s hair falls out.
Tóc
Xanh: Black hair.
Tọc
Mạch: Curious.
Tom
Góp: To gather (bring) together—To collect.
Tóm:
To arrest—To catch—To seize—To capture—To take hold of.
Tóm
Cổ: See Tóm.
Tóm
Lại: In brief—In short—To sum up.
Tóm
Tắt: To sum up—To summarize.
Tỏm:
Rớt tỏm—To fall into the water.
Ton
Hót: To flatter.
Tòn
Ten: To hang (swing) loosely.
Tòng:
To follow.
Tòng
Chinh: To go to war.
Tòng
Học: To study.
Tòng
Lâm: Monastery complex.
Tòng
Phục: To submit.
Tòng
Sự: To work—To serve.
Tọng:
To cram—To stuff.
Tóp:
To shrink—To contract.
TÔ
Tô:
1)
Phó sản của sữa bò (sinh tô và thục tô): Curd, butter. It
is described as produced by churning milk.
2)
Tốt: Good—Well—Excellent.
Tô
Ba Ha: Svaha (skt)—Một câu tán thán hay một mật tự chỉ sự
hoàn tất, chúc lành, chúc tiêu tai cát tường (sự dữ
tan biến và sự lành xuất hiện)—A kind of amen; a mystic
word indicating completion, good luck, nirvana, may evil disappear and
good be increased.
Tô
Bạt Đà La: Subhadra (skt)—Một thức giả Bà La Môn 120 tuổi,
vị đệ tử cuối cùng được Đức Phật cho đổi sang đạo
Phật—A learned Brahmin, 120 years old, the last convert made by Sakyamuni.
Tô
Bộ Để: Subhuti (skt)—See Tu Bồ Đề.
Tô
Dầu: Ghrta (skt).
1)
Một loại bơ trong—Ghee, or clarified butter.
2)
Một loại dầu thơm lấy từ cây tô ma: Scented oil extracted
from the sumana plant.
Tô
Đà: Sudha (skt)—See Cam Lộ.
Tô
Đát La:
1)
Sợi chỉ: Thread.
2)
Kinh điển: A classical work—Sutra, especially the sermons or sayings
of the Buddha.
Tô
Đạt Đa: Sudana (skt)—See Tu Đạt.
Tô
Đạt Lê Xá Na: Sudarsana (skt)—Thiện Kiến (khi nhìn thấy dáng
núi người ta dễ phát tâm lành)—Vòng núi thứ tư trong bảy
vòng Kim Sơn—The fourth of the seven concentric circles around Sumeru.
Tô
Đạt Nã: Sudana (skt)—See Tu Đạt.
Tô
Đăng: Một loại đèn dùng bơ và dầu hương làm dầu đốt—A
lamp using butter and fragrant oil, or a lamp burning butter-oil.
Tô
Đông Pha: Su-Tung-Po—Một trong những ngôi sao văn học lớn
làm sáng ngời thế giới văn hóa của nhà Tống—One of the
greatest literary stars illuminating the cultural world of Sung.
Tô
La Đa: Surata (skt)—Enjoyment—Amorous pleasures.
Tô
Lầu Ba: Surupa (skt)—Of beautiful form—Handsome.
Tô
Lô Đa Ba Na: Tu Đà Hườn—Nhập Lưu—Dự Lưu—See Srota-apanna
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Tô
Ma: Soma (skt)—See Cam Lộ.
Tô
Ma Đề Bà: Soma-deva or Candra-deva (skt)—Nguyệt Thiên—The moon-deva.
Tô
Ma Xà: Tiền thân Đức Phật, khi Ngài bố thí thân rắn lớn
để cứu những người đang đói—Soma-sarpa, a former incarnation
of sakyamuni when he gave his body as a great snake to feed the starving
people.
Tô
Mạt Na: Sumana (skt)—Một loại cây có bông vàng thơm, thường
mọc thành bụi, cao khoảng 3 hay 4 bộ, có thể là hoa “lài”—A
yellow sweet-smelling flower growing on a bush 3 or 4 feet high, perhaps
the “great flowered jasmine.”
Tô
Mê: Sumeru (skt)—Núi Tu Di là trung tâm của mọi thế giới—The
central mountain of every world.
Tô
Phược La: Suvarnagotra (skt)—Vương quốc mẫu hệ, nằm trong
vùng Hi Mã Lạp Sơn, còn được mô tả là bộ tộc Hoàng Kim—A
matriarchal kingdom, somewhere in the Himalayas, described as the Golden
Clan.
Tô
Tất Địa: Susiddhi (skt)—Một chữ bí mật trong Mật Tông,
có nghĩa là “mong sự việc thành công mỹ mãn.”—A mystic
word of the Tantra School, meaning, “may it be excellently accomplished.”
Tô
Tất Địa Kinh: Susiddhi sutra—See Tô Tất Địa.
Tô
Tất Địa Yết La Kinh: Susidhikara-sutra—See Tô Tất Địa.
Tô
Yết Đa: Sugata or Svagata (skt)—Như Lai Như Khứ, danh hiệu của
một vị Phật—Well come or well departed, title of a Buddha.
Tố:
1)
Lụa trắng—White silk.
2)
Màu trắng: White.
3)
Nắn nót: To model in clay.
Tố
Cáo: To inform against someone—To accuse—To denounce.
Tố
Cụ: Đã chuẩn bị—Already prepared.
Tố
Đát Lãm: Sutra (skt)—Còn gọi là Tô Đát Lãm hay Tu Đa La—Canon
(giáo pháp).
Tố
Giác: See Tố cáo.
Tố
Hào: Tức tướng bạch hào, hay lông trắng ở giữa hai lông
mày—The urna, or white curl between the Buddha’s eyebrows.
Tố
Khổ: To denounce someone, especially used-to-be superior, before the
people’s court for their wrong-doing or injustice in the past.
Tố
Nữ:
1)
Beautiful girl.
2)
Name of a goddess.
Tố
Pháp Thân: Dù lăn trôi trong ba đường thấp nhất vẫn có
“Pháp Thân”—Possessing the fundamental dharmakaya nature though
still in sin, i.e. the beings in the three lowest orders of transmigration.
Tố
Phược Lý Nã: See Suvarna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Tố
Quyến: Lụa mỏng—Thin silk—Plain silk lustring.
Tố
Tâm: Pure heart.
Tố
Tâm Vân Khai: Shou-Tsinh-Yun-Kai—See Vân Khai Tố Tâm.
Tố
Thực: Những thức ăn trong sạch, không pha tạp mùi vị của
thịt cá—Vegetarian food.
Tố
Tụng: Lawsuit.
Tố
Ý: Những ý nghĩ bình thường—Ordinary thoughts, or hopes; the
common purpose of the mind.
Tổ:
1)
Thủy tổ: Original founder.
2)
Tổ phụ: Grandfather.
3)
Tổ sư: Patriarch—Founder—People of the present as well as people
of the past.
4)
Tổ tiên: Ancestors—Forefathers.
Tổ
Ấn Cư Nạp: Zen master Tổ Ấn Cư Nạp—Zen master Tsu-Yin-Chu-Ne—Thiền
sư Trung Hoa, sống giữa khoảng thế kỷ thứ 11, là một học
giả lớn, tinh thông kinh Pháp Hoa và những tông phái khác của
triết học Phật giáo; thậm chí những bậc trưởng lão cũng
muốn học hỏi với sư. Sư có vẻ không hay biết gì về Thiền.
Một hôm có một người khách có tiếp xúc với các hoạt
động của Thiền ở phương Nam. Người ấy bảo rằng toàn
thể thế gới Phật giáo của Trung Hoa đều được thâu tóm
vào pháp môn của Đạt Ma và Mã Tổ, một trong những hậu
duệ tài ba nhất của Đạt Ma, hình như thỏa mãn một sấm
ngôn của Bát Nhã Đa La và có ảnh hưởng lớn đối với
các học giả Phật giáo của xứ nầy, đến nỗi cả những
người có học và hiểu , nổi danh khắp các vùng đất như
Thục như Lượng Công và Giám Công, họ đã từ bỏ môn đệ
hay đốt cháy kho sách luận giải của mình để chứng đạt
pháp môn Thiền. Cư Nạp rất xúc động về tường thuật
của ông bạn Thiền này. Người ấy khuyên sư hãy bước ra
với đời và tự mình chứng kiến mọi việc. Cư Nạp từ
giả quê quán và du hành khoảng vài năm ở Kinh và Sở, nhưng
không thấy có kết quả nào. Sau đó sư tiếp tục dời bước
về đông và ngụ tại Tương Châu, trải qua mười năm với
Thiền sư Động Sơn. Một hôm, sư đang đọc một bản luận
giải về kinh Hoa Nghiêm và xúc động sâu xa về đoạn văn
sau đây, nhờ thế mà sư tỏ ngộ đạo lý của Thiền: “Núi
Tu Di nổi lên giữa biển cả cao 84.000 do tuần, đỉnh của
nó không phải là chỗ vin tay đặt chân mà lên được. Đây
chỉ cho ngọn núi của 84.000 trần lao nổi lên từ đại dương
của phiền não. Khi chúng sinh đạt đến chỗ vô tư vô vi
đối với hết thảy các pháp, phiền não sẽ khô cạn. Trần
lao giờ đây chuyển thành ngọn núi Nhất Thiết Trí, và phiền
não trở thành biển Nhất Thiết Trí. Trái lại, nếu khởi
tâm tư lự tức có những vướng víu. Rồi ra phiền não càng
thêm sâu, đường lên đỉnh núi của Phật Trí bị ngăn chặn
lại.” Cư Nạp bèn nhận xét: “Thạch Cũng nói rằng ‘không
có chỗ ra tay,’ và Mã Tổ ‘vô minh từ quá khứ vô thủy
nay đã tiêu tan hết thảy.’” Đây thực không phải là lời
nói hư dối—Chinese Zen master, who lived in the middle part of the
eleventh century, was a great scholar versed in the Avatamsaka Sutra and
other schools of Buddhist philosophy, and even elderly scholars were willing
to study under him. Evidently he did not know anything of Zen. One day
he had a visitor who was acquainted with the doings of Zen in the south.
He said that the entire Buddhist world of China was then taken up by the
teaching of Bodhidharma, and that of Ma-Tsu, one of his ablest descendants,
who appeared to fulfill the prophecy of Prajnatala, had exercised great
influence over the Buddhist scholars in the country, so that even men of
learning and understanding who were renowned throughout the province of
Shu, such as Liang and Chien, either gave up their own pupils or burned
their library of the commentaries, on order to master the teaching of Zen.
Chu-Ne was very much impressed with the report of his Zen friend. Advised
strongly by him to go out into the world and see the state of affairs by
himself, Chu-Ne left his native province and wandered about some years
in Ching and She but without seeing and result. He then moved further west
and stayed in Hsiang-Chou for ten years under Tung-Shan Yung. One day he
was reading a treatise on the Avatamsaka Sutra and was deeply impressed
by the following passage, which opened finally his mind to the truth of
Zen: “Mount Sumeru towers in the great ocean attaining the altitude of
84,000 yojanas, and its summit is not to be scaled by means of hands and
legs. This illustrates that the mountain of 84,000 human woes is rising
from the great ocean of passions. When beings attain the state of consciousness
in which they cherish no thoughts of relativity and from which all strivings
vanish, even when confronting this world of multiplicities, their passions
will naturally be drained off. All the worldly woes now turn into the mountain
of all-knowledge and the passions into the ocean of all-knowledge. On the
contrary, when the mind is filled with thoughts and reflections of relativity,
there are attachments. Then the greater grow worldly and the deeper
the passions, and a man is barred from reaching the summit of knowledge
which makes up the essence of Buddhahood.” Chu-Ne then observed: “According
to Shih-Kuang, ‘not a cue to get hold of,’ and according to Ma-Tsu,
‘ignorance since the beginningless past has melted away today.’”
These are indeed no lies.
Tổ
Ấn Mật Hoằng: Zen Master Tổ Ấn Mật Hoằng (1735-1835)—Thiền
sư Tổ Ấn Mật Hoằng, quê ở Phù Cát Bình Định, Trung Việt.
Ngài xuất gia vào tuổi 15. Ngài thọ cụ túc giới với Thiền
sư Phật Ý Linh Nhạc tại chùa Từ Ân ở Tân Khai, phủ Tân
Bình, tỉnh Gia Định. Ngài là Pháp tử đời thứ 36 dòng Lâm
Tế. Vào năm 1773, ngài trụ trì tại chùa Đại Giác. Vào năm
1802, vua Gia Long sai quan địa phương trùng tu lại chùa Đại
Giác. Đến năm 1815, vua Gia Long gừi sắc chỉ triệu hồi ngài
về kinh đô Huế để thuyết giảng cho nhà vua và hoàng gia.
Sau đó ngài về làm tăng cang chùa Thiên Mụ. Ngài thị tịch
năm 1835, thọ 101 tuổi—A Vietnamese monk from Phù Cát, Bình Định,
Central Vietnam. He left home and became a monk at the age of 15. He received
complete precepts with Most Venerable Phật Ý Linh Nhạc at Từ Ân
Temple in Tân Khai, Tân Bình, Gia Định. He was the Dharma heir of
the 36th generation of the Linn-Chih Zen Sect. In 1773, he stayed at Đại
Giác Temple. In 1802, King Gia Long ordered his local mandarins to rebuild
Đại Giác Temple. In 1815 King Gia Long sent an Imperial Order to summon
him to Hue capital to preach the Buddha Dharma to the King and the royal
family. Later, he became a royal-recognized monk at Thiên Mụ temple.
He passed away at Quốc Ân Temple in Huế in 1835, at the age of 101.
Tổ
Đường: Patriarchs’ Hall.
Tổ
Mẫu: Grandmother.
Tổ
Phụ: Grandfather.
Tổ
Sư: Tổ hay tổ sư là những bậc thầy vĩ đại đã nhận
và đã chính thức truyền bá Phật pháp. Vị Tổ đầu tiên
là ngài Đại Ca Diếp, được Phật tâm chứng. Tâm chứng
nầy gọi là ‘Tâm truyền tâm’ và tiếp tục lưu truyền
mãi về sau. Có 28 vị tổ ở Ấn Độ và 6 vị ở Trung Quốc.
Từ vị Tổ thứ nhất đến Lục Tổ Huệ Năng gồm 32 vị.
Tuy nhiên, ở Trung Quốc, người ta đặc biệt nói đến Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma—Patron saint—Founder—Patriarch—The first
teacher, or leader, or founder of a school (sect) or the great masters
who have received and formally transmitted the Buddha’s Dharma. The First
Indian Patriarch who received “mind approval” from the Buddha was Maha-Kasyapa.
The act was called “Mind to mind” transmission, and had been passed
on down the line. There are twenty-eight patriarchs in India and six in
China. From the First Patriarch to Hui-Neng, there were thirty-two. However,
in China, it has particular reference to Bodhidharma.
**
For more information, please see Hai Mươi
Tám Tổ Ấn Độ, and Lục Tổ Trung Hoa.
Tổ
Sư Bồ Đề Đạt Ma: Patriarch Bodhidharma.
Tổ
Sư Thiền: Patriarchal Meditation—The Zen of the Patriarchs—Zen Patriarchate.
1)
Lịch sử của Thiền Tông vẫn còn là một huyền thoại. Truyền
thuyết cho rằng một ngày nọ, thần Phạm Thiên hiện đến
với Đức Phật tại núi Linh Thứu, cúng dường Ngài một
cánh hoa Kumbhala và yêu cầu Ngài giảng pháp. Đức Phật liền
bước lên tòa sư tử, và cầm lấy cành hoa trong tay, không
nói một lời. Trong đại chúng không ai hiểu được ý nghĩa.
Chỉ có Ma Ha Ca Diếp là mỉm cười hoan hỷ. Đức Phật nói:
“Chánh Pháp Nhãn Tạng nầy, ta phó chúc cho ngươi, này Ma
Ha Ca Diếp. Hãy nhận lấy và truyền bá.” Một lần khi A
Nan hỏi Ca Diếp Đức Phật đã truyền dạy những gì, thì
Đại Ca Diếp bảo: “Hãy đi hạ cột cờ xuống!” A nan liền
ngộ ngay. Cứ thế mà tâm ấn được truyền hừa. Giáo pháp
nầy được gọi là “Phật Tâm Tông.”—The history of Zen
is mythical. It is said that one day Brahma came to the Buddha who was
residing at the Vulture Peak, offered a Kumbhala flower, and requested
him to preach the Law. The Buddha ascended the Lion seat and taking that
flower touched it with his fingers without saing a word. No one in the
assembly could understand the meaning. The venerable Mahakasyapa alone
smiled with joy. The world-Honoured One said: “The doctrine of the Eye
of the True Law is hereby entrusted to you, Oh Mahakasyapa! Accept and
hand it down to posterity.” Once when Ananda asked Mahakasyapa what the
Buddha’s transmission was, Mahakasyapa said: “Go and take the banner-stick
down!” Ananda understood him at once. Thus the mind-sign was handed down
successively. The teaching was called the ‘school of the Buddha-mind.’
2)
Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật
Giáo, Thiền của Tổ Sư không phải là phương pháp phân tách
như khoa học, cũng không phải là một phương pháp tổng hợp
như triết học. Đây là một hệ thống tư duy không tư duy
theo thông tục, nó siêu việt tất cả những phương pháp của
luận chứng hợp lý. Tư duy không cần phương pháp tư duy là
để tạo cơ hội cho sự thức tỉnh của tuệ giác. Hành giả
có thể áp dụng những phương pháp tu thiền của Tiểu
Thừa, của Du Già Luận (bán Đại Thừa), pháp chỉ quán của
tông Thiên Thai, hay Du Già bí mật của tông Chân Ngôn nếu
hành giả thích, nhưng thật ra tất cả những phương pháp
nầy đều không cần thiết. Quan điểm của Thiền tông có
thể tóm tắt như sau: “Dĩ tâm truyền tâm, bất lập văn
tự, giáo ngoại biệt truyền, trực chỉ nhân tâm, kiến tánh
thành Phật,” hay “Thử tâm tức Phật.” Bạch Ẩn Thiền
Sư đã phát biểu ý kiến nầy rất rõ trong bài kệ về pháp
‘tọa thiền’: “Chúng sanh vốn là Phật; cũng như băng
(cơ duyên hiện tại của chúng ta) và nước (Phật tánh ẩn
tàng), không có nước thì không có băng. Chính thế gian nầy
là liên hoa cảnh giới và thân nầy là Phật.”—According
to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, the
meditation of the patriarchal Zen was not an analytical like science, nor
was it a synthetical method like philosophy. It was a method of thinking
without ordinary thinking, transcending all methods of logical argument.
To think without any method of thinking is to give opportunity for
the awakening of the intuitional knowledge or wisdom. All methods of meditation
as taught by Hinayana, by Yogacara (quasi-Mahyana), by the abrupt method
of calmness and insight (samathavipasyana) of T’ien-T’ai, or by the
mystical yoga of Shingon can be used if the aspirant likes, but are in
no way necessary. The ideas peculiar to Zen may be summarized as follows:
“from mind to mind it was transmitted, not expressed in words or written
in letters; it was a special transmission apart from the sacred teaching.
Directly point to the human mind, see one's real nature and become an enlightened
Buddha.” The idea was very well expressed in Hakuin’s hymn on sitting
and meditating: “All beings are fundamentally Buddhas; it is like ice
(which represents our actual condition) and water (which represents an
underlying Buddha-nature); without water there will be no ice, etc. This
very earth is the lotus-land and this body is Buddha.”
Tổ
Tâm Hối Đường Hoàng Long: Thiền sư Tổ Tâm Hối Đường—Zen
master Hui-T’ang-Tsu-Hsin (1025-1100).
·
Thiền sư Tố Tâm Hối Đường sanh năm 1025 tại tỉnh Quảng
Đông. Năm mười chín tuổi sư bị mù, cha mẹ nguyện cho sư
xuất gia, liền đó mắt sư sáng lại. Sau khi tòng học ba năm
với vị thầy thiền đầu tiên của sư là thiền sư Vân Duyệt
ở Vân Phong, sư bèn từ giả thiền sư Vân Duyệt ra đi. Sư
Vân Duyệt bảo sư nên đến nương với Sư Huệ Nam ở Hoàng
Bá. Sư đến Hoàng Bá ở bốn năm, nhưng không kết quả, sư
lại trở về Vân Phong; tuy nhiên lúc ấy sư Vân Duyệt đã
thị tịch, nên sư tìm đến với sư Thạch Sương—Zen master
Tsu-Hsin-Hui-T’ang-Huang-Lung was born in 1025 in Kuang-T’ung province.
After he was blind at the age of nineteen, his parents vowed to let him
to leave home and to join the order. His eyes were back to normal again.
After studying for three years with his first Zen teacher, Wen-Yueh in
Yun-Feng, he left Yun-Yueh. Master Wen-Yueh advised him to go to see Zen
master Hui-Nan at Huang-Bo. Tsu-Hsin then went to study under Hui-Nan;
however, he returned to Yun-Feng after four years without gaining any clarity.
Tsu-Hsin-Hui-Tang discovered that Wen-Yueh had passed away, so he stayed
with Shih-Shuang.
·
Một hôm sư đọc Truyền Đăng Thực Lục đến đoạn “Tăng
hỏi Thiền sư Đa Phước: Thế nào là một vườn tre của
Đa Phước? Đa Phước đáp: Một cây hai cây nghiêng. Tăng thưa:
Chẳng hiểu. Đa Phước nói: Ba cây bốn cây cong.” Khi ấy
sư liền giác ngộ hiểu rõ được hai thầy. Sư liền đi thẳng
đến Hoàng Bá. Vừa mới trải tọa cụ, Huệ Nam cười nói:
Ngươi vào thất của ta. Sư cũng thích thú vui mừng thưa: Việc
lớn xưa nay như thế, Hòa Thượng cần gì dạy người khán
thoại đầu và rán hết sức vạch tìm ra ý nghĩa ? Huệ Nam
đáp: Nếu chẳng dạy ông tầm cứu như thế, đến chỗ không
dụng tâm tự thấy tự nhận, là ta đã chôn vùi ngươi vậy.”—One
day he was reading A Lamp Record, when he came upon the passage, “A monk
asked Zen master T’o-Fu, ‘What is T’o-Fu’s bamboo grove?’ T’o-Fu
replied, ‘One stalk, two stalk slanted.” The monk said, ‘I don’t
understand.’ T’o-Fu then said, ‘Three stalks, four stalks crooked.”
Upon reading these words Tsu-Hsin-Hui-T’ang experienced great awakening
and finally grasped the teaching of his previous two teachers. Tsu-Hsin
returned to see Huang-Bo. When he arrived there and prepared to set out
his sitting cushion, Huang-Bo said, “You’ve already entered my room.”Tsu-Hsin
jumped up and said, “The great matter being thus, why does the master
teach koans to the disciples and study the hundred cases of the koan collections?”
Huang-Bo said, “If I did not teach you to study in this manner, and you
were left to reach the place of no-mind by your own efforts and your own
confirmation, then I would be sinking you.”
·
Một hôm quan Thái Sử Hoàng Sơn Cốc là một nhà nho, một
nhà thơ, đến gõ cửa sư xin học Thiền. Sư nói: “Có một
đoạn sách Nho ắt ngài đã nằm lòng dạy đúng như Thiền
dạy. Ngài nhớ lại coi có phải Thánh Khổng nói ‘Ông nghĩ
rằng tôi có điều dấu ông. Nầy các ông ơi, thật tôi không
dấu diếm điều gì hết.’ Nhà Nho toan đáp, nhưng sư một
mực nói: “Không! Không!” khiến cho quan Thái sử không mở
miệng được, bối rối cả tâm thần, nhưng không biết thưa
thốt gì. Sau đó hai người có dịp đi chơi núi. Gặp mùa
hoa quế rừng nở rộ, hương thơm ngát cả một vùng. Sư hỏi:
“Ngài có ngửi thấy mùi hương không?” Quan Thái sử đáp:
“Vâng.” Sư tiếp: “Đó, tôi có dấu gì ngài đâu?” Câu
nói tức thì mở tâm quan Thái sử. Thật hiển nhiên ‘ngộ’
há phải từ bên ngoài đến, hay do người khác cưỡng ép
vào ta đâu, mà chính tự nó mọc lên ở trong ta? Dầu vị
thầy không có dấu gì ta hết, nhưng ta phải ngộ mới thấy
được, và tin quyết rằng không gì thiếu hết trong chính
ta—One day Huang-Shan-Ku, a Confucian poet and a mandarin, came to Hui-T’ang
to be initiated into Zen. Hui-T’ang said: “There is a passage in the
text you are so thoroughly familiar with which fully describes the teaching
of Zen. Did not Confucius declare: ‘Do you think I am holding back something
from you, O my disciples? Indeed, I have held nothing back from you?’
Huang-Shan-Ku tried to answer, but Hui-T’ang immediately made him keep
silence by saying: “No! No!” The mandarin felt trouble in mind, and
did not know how to express himself. Some time later they were having a
walk in the mountain. The wild laurel was in full bloom and the air was
redolent. Hui-T’ang asked: “Do you smell it?” Huang-Shan-Ku said:
“Yes!” Hui-T’ang said: “There, I have kept nothing back from you!”
This suggestion from the master at once led to the opening of Huang-Shan-Ku’s
mind. Is it not evident now that enlightenment is not a thing to be imposed
upon another, but that it is self-growing from within? Though nothing is
kept away from us, it is through enlightenment that we become cognizant
of the fact, being convinced that we are all sufficient unto ourselves.
·
Một lần sư thượng đường đọc kệ—One time, he entered
the hall to read this verse:
“Tích
nhơn khứ thời thị kim nhật
Kim
nhật y nhiên nhơn bất lai
Kim
ký bất lai tích bất vãng
Bạch
vân lưu thủy phong bồi hồi.
Not
going,
Not
leaving,
Thoughts
of South Mountain and Mount T’ien-T’ai,
The
silly white cloud with no fixed place,
Blown
back and forth by the wind.
(Người
xưa ra đi ngày nay thực,
Ngày
nay như cũ người chẳng về,
Nay
đã chẳng về xưa chẳng đến,
Mây
trắng nước trôi gió quẩn quanh.
Thích Thanh Từ dịch).
·
Sư thị tịch năm 1100. Cốt của sư được đưa vào phía đông
của “Phổ Giác Tháp.” Ngài được vua ban hiệu “Bảo
Giác” Thiền Sư—Tsu-Hsin died in 1100. His remains were intered
on the east side of the “Universal Enlightenment Stupa.” The
master received the posthumous title “Zen Master Precious Enlightenment.”
Tổ
Tiên: Forefathers---Ancestors.
Tổ
Tông: See Tổ tiên in Vietnamese-English Section.
Tốc:
Nhanh—Haste—Quick—Speedily—Urgent.
Tốc
Đắc: Đạt được một cách nhanh chóng—Speedily obtain, or
ensure.
Tốc
Hành: Fast—Express.
Tốc
Hương: Loại nhang rẻ tiền cháy nhanh—Quickly burnt inferior
incense.
Tốc
Tật Quỷ: Một loài quỷ La Sát lật đật—A kind of hurrying
demon, raksasa.
Tốc
Thành: Hoàn thành một cách nhanh chóng—Speedily completed.
Tộc:
Family.
Tộc
Phổ: Family tree.
Tôi
Đòi: Servant.
Tôi
Thép: To harden steel.
Tối:
Cao nhất—Superlative—Most—Very.
Tối
Cao: Supreme—Maximum—Highest.
Tối
Cao Hiển Quảng Nhãn Tạng Như Lai: The Tathagata who, in the highest
reveals the far-reaching treasure of his eye—The Sun—See Vairocana,
Đại Nhựt Giác Vương, and Đại Nhựt Kinh.
Tối
Chánh Giác: Sự giác ngộ chân chính cao nhất hay diệu trí
năng giác của chư Phật—Supreme perfect enlightenment, i.e. Buddhahood.
Tối
Hậu: Cuối cùng—The last of all—Ultimate—Final—Finally—At
death.
Tối
Hậu Niệm: See Tối Hậu Tâm.
Tối
Hậu Sinh: See Tối Hậu Thân.
Tối
Hậu Tâm: Tối hậu niệm hay cái tâm ở sát na cuối cùng hủy
thân diệt trí, sắp nhập vào vô dư niết bàn—The final mind,
or ultimate thought, on entering final nirvana.
Tối
Hậu Thân: Cái thân hay kiếp tái sinh cuối cùng trong cõi sinh
tử của các vị A La Hán hay Bồ Tát—The final body, or rebirth,
that of an arhat, or a bodhisattva in the last stage.
Tối
Hậu Thập Niệm: Niệm Phật A Di Đà mười lần trước khi
chết—To call on Amitabha ten times when dying.
Tối
Khẩn: Most immediate.
Tối
Mật: Top secret.
Tối
Tăm: Obscure—Dark.
Tối
Tân: Advanced—Most up-to-date—Modern.
Tối
Thắng: Jina or Vijaya (skt)—Chế ngự tất cả, không còn ai
bì kịp—Conquering—All conquering—Pre-eminent—Peerless—Supreme.
Tối
Thắng Thừa: Đại Thừa—The supreme vehicle—Mahayana.
Tối
Thắng Tôn: Bậc đáng tôn quý nhất hay Đức Phật—The most
honourable one—Buddha.
Tối
Thắng Trưởng Giả: The Elder Most Supreme.
Tối
Thiểu: Minimum.
Tối
Thượng: To be ultimate—Supreme—To be paramount.
Tối
Thượng Đại Tất Địa: Phật quả—The stage of supreme siddhi,
or wisdom—Buddhahood.
Tối
Thượng Thừa: Giáo pháp cao nhất hay giáo pháp rốt ráo nhất
(các tông phái đều cho tông nghĩa của phái mình là tối thượng
thừa)—The Supreme Vehicle.
Tối
Trừng: Saicho (jap)—Tối Trừng là Sơ Tổ của tông Thiên Thai
ở Nhật Bản. Ông là đệ tử của Đạo Toại (Đạo Toại
là đệ tử của Trạm Nhiên—See Trạm Nhiên, and Thiên Thai
Cửu Tổ). Tối Trừng còn được gọi là Truyền Giáo Đại
Sư. Vào tuổi 20, Tối Trừng đến Nara để học về giáo lý
Thiên Thai với một vài học giả cùng đến Nhật với luật
sư Chân Giám và học tập ba tách phẩm của Trí Khải. Khi
ông đang đọc nửa chừng những tác phẩm nầy lần thứ hai,
ông nhận được lệnh của Nhật Hoàng sang Trung Quốc để
học Phật. Tại Trung Quốc, ông được Đạo Toại truyền
thọ học thuyết Thiên Thai và Bồ Tát giới, được Thuận
Giáo truyền thọ học thuyết Chân Ngôn, và Tu Nhiên truyền
cho Thiền tông. Sau một năm lưu trú ở Trung Hoa, ông về nước
thiết lập tông Thiên Thai Nhật Bản và giảng Kinh Pháp Hoa,
lập Chân Ngôn Mật giáo, Thiền tông và Luật tông. Trung tâm
giảng huấn trên núiTỉ Duệ do Tối Trừng thiết lập và
trở thành trung tâm lớn của ngánh giáo học Phật giáo Nhật
Bản. Một thời đã có đến 3.000 tự viện làm túc xá cho
học chúng, quy tụ tất cả mọi ngành Phật học hiển và
mật. Hiện tại có ba chi phái của tông Thiên Thai. Đó là
Sơn Môn, Tự Môn, và Chân Thạnh. Chi phái sau cùng là Tịnh
Độ. Những tự viện thuộc ba chi phái nầy hiện thời tính
khoảng trên 4.000: Saichô was the founder of the T’ien-T’ai School
in Japan. He was a pupil of Tao-Sui (Tao-Sui was a pupil of Chan-Jan—See
Trạm Nhiên, and Thiên Thai Cửu Tổ). When he was twenty, Saichô
went to Nara and studied the T’ien-T’ai doctrine under some scholars
who came to Japan with the vinaya master Kanjin, and read the three great
works of Chih-I. When he was halfway through in his second perusal of those
works, he received an Imperial order to go to China for Buddhist study.
He received the T’ien-T’ai doctrine and the Bodhisattva ordination
from Tao-Sui, the mystic doctrine (mantra) from Shun-Chiao, and the Zen
meditation from Hsiu-Jan. On his return after one year’s sojourn in China,
he founded the T’ien-T’ai School and taught the Lotus doctrine, the
Shingon mysticism, the Zen meditation and Vinaya practices. The educational
headquarters on the Mount Hiei was established by Saicho and became the
greatest center of Buddhist learning in Japan. Once there were some 3,000
monasteries to house the students thronging there from all branches of
Buddhism, exoteric and esoteric. At present there are three branches of
the T’ien-T’ai School; namely, Sammon, Jimon and Shinsei, the last
being an Amita-peitism. The monasteries belonging to the three branches
number more than 4,000 at the present time.
Tồi:
Bad.
Tồi
Bại: Bad—Depraved.
Tồi
Tàn: In bad shape (state)—Disreputable.
Tồi
Tệ: Miserable—Mean.
Tội:
1)
Những gì đáng trách và đem lại nghiệp xấu: That which is
blameworthy and brings about bad karma; entangled in the net of wrong-doing.
2)
Tội—Theo Phật giáo, chúng sanh sanh ra không có mặc cảm sợ
hãi về tội lỗi, và không sợ Thượng đế trừng phạt cho
việc làm sai trái. Tuy nhiên, sợ nghiệp báo theo luật
nhân quả. Khi chúng ta làm sai là chúng ta lãnh quả cho việc
làm sai trái ấy, và bằng cách nầy chúng ta phải chịu đau
khổ cho chính tội lỗi của chúng ta---Offence—According to Buddhism,
sentient beings born have without any feeling of guilt in the sense of
fear of a God who will punish him for his wrong-doing. However, they feel
guilty by the law of karma. When you do some wrong-doing, you will
receive the effects of your wrong-doing and in this way suffer the effect
of your own sin.
Tội
Ác: Atrocity—Evil and sin.
Tội
Báo: Báo đáp lại những tội lỗi đã gây tạo (tùy theo tội
trạng mà phải nhận sự khổ sở tương ứng. Theo Kinh Niết
Bàn, hễ có tội, tức là có tội báo, không ác nghiệp, ắt
không tội báo)—The retribution of sin, its punishment in suffering.
Tội
Căn: Căn bản của tội ác là sự không giác ngộ và vô minh—The
root of sin, i.e. unenlightenment or ignorance.
Tội
Cấu: The filth of sin, moral defilement.
Tội
Chướng:
1)
Tội ác là chướng ngại cho thiện nghiệp: The veil, or barrier
of sin, which hinders the obtaining of good karma.
2)
Tội ác cũng là chướng ngại cho việc nghe và hành trì chánh
pháp: The veil, or barrier of sin, which also hinders the obedient hearing
of the truth.
Tội
Chướng Khó Tiêu Trừ: Karmic obstructions are difficult to eradicate.
Tội
Hành: Hành động đầy tội lỗi—Sinful acts, or conduct.
Tội
Nghiệp:
1)
Thương hại tội nghiệp ai: To have pity (mercy) on someone.
2)
Nghiệp tội đưa đến quả khổ đau phiền não: That which sin
does, its karma, producing subsequent suffering.
Tội
Nghiệt: Sins—Crimes.
Tội
Nhẹ: Minor (petty—small) offence.
Tội
Phạm: Criminal.
Tội
Phúc: Tội và phúc (ngũ nghịch, thập ác là tội; ngũ giới,
thập thiện là phúc)—Sinfulness and blessedness.
Tội
Phúc Vô Chủ: Tội và phúc không do ai làm chủ, chỉ tự mình
xui khiến lấy—Sinfulness and blessedness have no lord, or governor,
i.e. we induce them ourselves.