Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
Phu
Phu:
1)
Người phu lao động: A laborer.
2)
Người (nói chung): A man.
3)
Trượng phu: A sage officer.
4)
Phu quân (chồng): A husband.
5)
Phổ biến: To spread—To diffuse—To promulgate—To announce.
6)
See Phu Tọa.
Phu
Bến Tàu: Docker.
Phu
Cụ:
1)
Áo cà sa: The monk’s robe.
2)
Chiếc đệm trải ra trước bàn thờ Phật: The displayed, or
promulgating article in front of the altar of the Buddha.
Phu
Đổ Rác: Garbage collector.
Phu
Khuân Vác: Porter.
Phu
Lục Lộ: Roadmender.
Phu
Mạn Đà La: Để tấm vải Mạn Đà La dưới đất—To spread
a magic cloth, or mandala, on the ground.
Phu
Mỏ: Miner.
Phu
Nhân: Mistress—Wife.
Phu
Phụ: Husband and wife.
Phu
Quân: My husband.
Phu
Quét Đường: Street sweeper.
Phu
Thê: See Phu Phụ.
Phu
Tọa: Cách ngồi đặt bàn chân nầy lên đùi chân kia (có hai
cách, một là kiết già, hai là bán già)—To sit cross-legged.
**
For more information, please see Kiết Già, and Bán Già Phu Tọa.
Phú:
1)
Che dấu: Một trong các địa pháp tiểu phiền não (sợ mất
danh dự mà che dấu tội lỗi của mình)—Covering—Deceit—See
Tùy Phiền Não.
2)
Giàu sang—Rich—Wealthy—Well-supplied.
3)
Ném: To throw—To overthrow.
Phú
Bạch: Phủ một tấm khăn nhỏ lên bức tượng—To throw a
coverlet over an image.
Phú
Bát: Bát lộn ngược đặt dưới chín vòng tròn trên nóc chùa—The
inverted bowl at the top of a pagoda below the nine circles.
Phú
Ca La: Pudgala (skt)—See Phú Già La.
Phú
Cường: See Phú Hào.
Phú
Diện:
1)
Vải che mặt: A veil for the face.
2)
Che mặt: To cover the face.
Phú
Đa: Putana (skt)—See Bố Đát Na and Phú Đơn Na.
Phú
Đà Na: Putana (skt)—See Phú Đơn Na.
Phú
Đặc Ca Gia: Pudgala (skt)—See Phú Già La.
Phú
Đặc Ca La: Pudgala (skt)—See Phú Già La.
Phú
Đơn Na: Putana (skt)—Phú Đà Na—Xú Ngạ Quỷ—Loài quỷ một
khi bắt người liền làm cho người ấy cảm thấy như mình
đang nằm trên lửa—A kind of demon who once invades a person’s
body makes that person feel as if he or she is on fire (a class of pretas
in charge of fevers).
Phú
Gia: A wealthy family.
Phú
Già La: Pudgala (skt)—Bổ Đặc Già La—Phú Đặc Ca La—Chúng
sanh có hình tướng, dáng vẻ và tâm thức (con người): Living
beings that have form, body and soul (living beings that have body, matter,
the soul, personal identity, interpreted by man, men, human being, and
all the living).
1)
Hữu tình: The sentient beings.
2)
Tất cả chúng sanh: All living beings.
3)
Tất cả chúng sanh chịu luân lưu trong luân hồi sanh tử: All
living beings subject to metempsychosis.
4)
Thú hướng: Direction, or transmigration.
Phú
Giảng: Trả bài cho thầy—To repeat a lesson to a teacher.
Phú
Hào: Wealthy and powerful.
Phú
Hậu: Enormously rich.
Phú
Hộ: See Phú Gia.
Phú
Khí:
1)
Đồ dùng để ngăn cản hay tắc, chẳng hạn như đồ tắc
nước, hay ngói không cho nước thấm vào nhà: Things for turning
off, e.g. water, as tiles do.
2)
Tâm bị tắc nghẽn không thấm được đạo pháp: Impermeable
resistant to teaching.
Phú
Kiên: Mặc phủ lên vai (loại áo cà sa phú-kiên-y che vai phải;
trong khi kỳ-chi-y là áo che vai trái)—To throw a robe over the
shoulder.
Phú
La: Pula or Para (skt).
1)
Quốc độ: Pura (skt)—Land—Country—City.
2)
Chiếc giày ngắn dùng để trang sức: A short-legged (ornament)
boot—Boot or shoe ornamentation.
Phú
La Bạt Đà La: See Phú La (2).
Phú
Lan Đà La: Purandara (skt).
1)
Người phá vở thành lũy: Stronghold breaker, fortress destroyer.
2)
Một tên khác của Thần Sấm Sét: Another name for Indra for thunder-god.
Phú
Lan Na Ca Diếp: Puruna-kasyapa (skt)—See Bất Lan Ca Diếp.
Phú
Lâu Na: Purna (skt)—Phú Lâu Na Di Chất Na Ni Tử, con của trưởng
giả Ba-Va và một người gái nô lệ. Ông là một trong 1250
vị A La Hán đệ tử Phật, cũng là một trong thập đại đệ
tử của Phật có biệt tài thuyết pháp. Bị người anh bạc
đãi trong thương vụ, nhưng ông đã cứu người anh nầy trong
một chuyến đắm tàu. Về sau ông xây một tịnh xá hiến
cho Phật. Ông được Phật thọ ký sẽ thành Phật đời vị
lai với hiệu là Pháp Minh Như Lai—Purnamaitrayaniputra, or Maitrayaniputra,
son of Bhava by a slave girl, often confounded with Maitreya. One of the
1250 Arhat disciples of the Buddha. He was also one of the ten great disciples
of the Buddha. He was the chief preacher among the ten principal disciples
of Sakyamuni. Ill-treated by his brother, engaged in business, saved his
brother from shipwreck by conquering Indra through samadhi. He built a
vihara (monastery) for Sakyamuni. The Buddha predicted that he would become
a Buddha titled Dharmaprabhasa.
Phú
Lâu Na Di Đa La Ni Tử: Purna-Maitrayaniputtra (skt)—See Phú Lâu
Na.
Phú
Lâu Na Phú La: Purusapura (skt)—Phú Lâu Sa Phú La—Phú Lưu Sa
Phú La—Trượng Phu Thổ, tên một vương quốc cổ, phía Bắc
Ấn Độ, bây giờ là Peshwar, nơi mà người ta nói rằng Ngài
Thiên Thân Bồ Tát đã ra đời—The ancient capital of Gandhara,
north of India, the modern Peshawar, stated to be the native country of
Vasubandhu.
Phú
Lâu Sa: Purusa (skt).
1)
Nhân loại: Man—Mankind.
2)
Con người được nhân cách hóa làm Na La Diên Thiên (một loại
trời): Man personified as Narayana—See Narayana.
3)
Tâm Thức: Soul and source of the universe.
4)
Thần Ngã: The spiritual self.
5)
Ngã: Atman (skt)—Ego—Tánh chất đặc biệt của “ngã” là
tư tưởng, và qua một chuỗi thay đổi của kiếp hiện hữu—The
atman whose characteristic is thought, and which through successive modifications,
all forms of existence—See Atman in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Phú
Lâu Sa Phú La: Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
Phú
Lưu Sa Phú La: Purusapura (skt)—See Phú Lâu Na Phú La.
Phú
Mộ: Vong linh trở về viếng mồ ba ngày sau khi đã được
chôn cất—To return to visit a grave on the third day after internment.
Phú
Na: Punya, Punar, or Purna (skt)—See Phú Lâu Na.
Phú
Na Bà Tô: Punarvasu (skt)—Tên của một vị sư Ấn Độ—Name
of an Indian monk.
Phú
Na Bạt Đà: Purnabhadra (skt)—Tên cùa một Thần tướng—Name
of a spirit-general.
Phú
Na Da Xá: Punyayasas (skt)—Phú Na Dạ Xoa—See Hai Mươi Tám Tổ
Ấn Độ (11).
Phú
Na Dạ Xa: Punyayasas (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ (11).
Phú
Na Kỳ: Purneccha (skt).
1)
Tên của một loại ngạ quỷ (khi Đức Phật đang trụ tại
tịnh xá Trúc Lâm trong thành Vương Xá, tôn giả Mục Kiền
Liên thấy một con quỷ thân hình đen đủi như cột nhà cháy,
bụng to như núi, cổ khẳng khiu như cây kim, vừa chạy khắp
nơi vừa la hét om sòm, đòi phân và nước tiểu để uống.
Ngài Mục Kiền Liên bèn đến hỏi Đức Phật. Đức Phật
đáp: “Trong đời Hiền Kiếp nầy ở thành Xá Vệ, có một
vị trưởng giả làm nghề ép mía lấy mật mà trở nên đại
phú. Bấy giờ có vị Bích Chi Phật mắc bệnh tiêu khát, bèn
đến vị trưởng giả xin nước mía để uống. Vị trưởng
giả lòng rất hoan hỷ, bảo với người vợ là Phú Na Kỳ
rằng ‘tôi có việc cần phải đi gấp, nàng ở nhà hãy lấy
nước mía mà bố thí cho vị Bích Chi Phật nầy.’ Sau khi
chồng đi, người vợ bèn cầm lấy chiếc bát của vị Bích
Chi Phật, vào bên trong mà tiểu tiện vào đó, đoạn đổ
thêm nước mía vào, rồi đưa cho vị Bích Chi Phật. Vị Bích
Chi Phật cầm bát định uống, nhưng biết không phải là nước
mía, bèn đổ xuống đất rồi cầm bát không ra về. Người
phụ nữ ấy khi thác sanh đọa làm ngạ quỷ, lúc nào cũng
bị cơn đói khát ghê gớm dày vò)—Name of a preta, or hungry
ghost.
2)
Tên của một nhà sư: Name of a monk.
Phú
Nông: A rich farmer.
Phú
Ông: A rich man.
Phú
Quí: Rich and noble.
Phú
Sa: Pusya (skt).
1)
Một vị cổ Tiên—An ancient rsi.
2)
Tên một chòm sao: Name of a constellation.
Phú
Thọ: Rich and long-lived.
Phú
Thương: Rich merchant.
Phú
Tục Đế: Thế Tục Đế—Tục đế chẳng những không lột
hết được nghĩa lý mà còn che lấp mất chân lý (thí dụ
như sắc vốn không phải là cái bình mà cho là cái bình; thanh
vốn không phải là ca khúc mà cho là ca khúc)—The unenlightened
inversion of reality, common views of things.
Phù:
1)
Nổi lềnh bềnh: Floating—Drifting—Unsettled.
2)
Phù trợ—Aid—Support—Uphold.
Phù
Chú: Incantation.
Phù
Danh: Vainglory.
Phù
Dung Đạo Giai Thiền Sư: Zen master Fu-Reng-T’ao-Jai—Thiền sư
Phù Dung Đạo Giai sanh năm 1043 tại Nghi Châu (nay thuộc tỉnh
Sơn Đông), là đệ tử của Đầu Tử Nghĩa Thanh—Zen master
Fu-Reng-Yi-Qing was born in 1043 in Yi-Chou (now the city in southern San-T’ong
Province), was a disciple of T’ou-Tzi-Yi-Qing.
·
Sư hỏi Đầu Tử: “Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm
nước thường ngày trong nhà, lìa rời việc nầy riêng có
chỗ vì người hay chăng?” Đầu Tử đáp: “Ngươi nói sắc
lệnh của Thiên Tử trong cõi nầy, lại nhờ vua Võ, vua Thang,
Nghiêu, Thuấn hay chăng?” Sư suy nghĩ để đáp lại. Đầu
Tử lấy phất tử bịt miệng sư, nói: “Ngươi phát ý ra
đã đáng ăn ba mươi gậy rồi.” Ngay câu nói nầy, sư tỉnh
ngộ, đảnh lễ, liền lui ra. Đầu Tử gọi: “Xà Lê hãy
lại đây.” Sư chẳng ngó lại. Đầu Tử nói: “Ngươi đến
chỗ chẳng nghi chăng?” Sư liền bịt tai—Fu-Rong asked T’ou-Tzi:
“The words of the Buddhas and ancestors were about everyday things such
as drinking tea or eating rice. Besides this, does the teaching have anything
special for people or not?” T’ou-Tzi said: “You speak the Cosmic
Emperor’s edict. Are you pretending to be Yao, Shun, Yu, and T’ang
or not? Fu-Rong wanted to continue speaking but T’ou-Tzi raised his whisk
and placed it over Fu-Rong’s mouth, saying: “If you have some intention,
then you already deserve thirty hits with the stick!” Fu-Rong then experienced
enlightenment. He bowed and turned to leave. T’ou-Tzi said: “Come back!
Your reverence!” Fu-Rong ignored him. T’ou-Tzi said: “Have
you come to the place of no doubt?” Fu-Rong then covered his ears with
his hands.
·
Một hôm, sư theo Đầu Tử đi dạo vườn trà. Đầu Tử trao
cây gậy cho sư, sư nhận lấy liền đi theo sau Đầu Tử. Đầu
Tử bảo: “Lý nên thế ấy.” Sư thưa: “Cùng Hòa Thượng
xách giày cầm gậy, cũng chẳng phải việc phần ngoài.”
Đầu Tử bảo: “Vẫn có người đồng hành.” Sư thưa: “Đây
là một người không nhận dạy.” Đầu Tử thôi hỏi. Đến
chiều, Đầu Tử bảo: “Sớm mai nói thoại chưa hết.” Sư
thưa: “Thỉnh Hòa Thượng nói tiếp.” Đầu Tử nói: “Mạo
sanh nhật, tuất sanh nguyệt.” Sư liền đốt đèn đem đến.
Đầu Tử nói: “Ngươi đi lên đi xuống đều không luống
công.” Sư thưa: “Ở bên cạnh Hòa Thượng lý phải như
thế.” Đầu Tử nói: “Kẻ tôi đòi trong nhà nào mà không
có.” Sư thưa: “Hòa Thượng tuổi cao thiếu nó không được.”
Đầu Tử hỏi: “Ân cần cái gì?” Sư thưa: “Có phần đền
ăn.”—One day, T’ou-Tzi and Fu-Rong were walking in the vegetable
patch. T’ou-Tzi came up to Fu-Rong and handed him his staff. Fu-Rong
took it, then walked behind T’ou-Tzi. T’ou-Tzi said: “Is this in
accordance with principle?” Fu-Rong said: “Carrying the master’s
shoes or staff for him, it can’t be otherwise.” T’ou-Tzi said: “There’s
one walking with me.” Fu-Rong said: “Who’s not learning from you?”
T’ou-Tzi went back. When evening came, he said to Fu-Rong: “The master
we spoke of earlier isn’t finished.” Fu-Rong said: “Master, please
speak your mind.” T’ou-Tzi said: “The morning gives birth to the
sun. The evening gives birth to the moon.” Fu-Rong then lit the lamp.
T’ou-Tzi said: “Your comings and goings, none of it is like that of
a disciple.” Fu-Rong said: “Taking care of the master’s affairs,
this is in accordance with principle.” T’ou-Tzi said: “Servants and
slaves, what household doesn’t have them?” Fu-Rong said: The master
is advanced in years. Neglecting him is unacceptable.” T’ou-Tzi said:
“So this is how you apply your diligence!” Fu-Rong said: “One should
repay kindness.”
·
Vào ngày mười bốn tháng tám âm lịch năm 1118, sư hỏi bút
giấy, đoạn viết kệ:
“Ngô
niên thất thập lục
Thế duyên kim dĩ túc
Sanh bất ái thiên đường
Tử bất phạ địa ngục
Tán thủ hoành thân tam giới ngoại
Đằng đằng nhận vận hà câu thúc.”
(Ta
tuổi bảy mươi sáu,
Duyên
đời nay đã đủ
Sanh
chẳng thích thiên đường
Chết
chẳng sợ địa ngục
Buông
tay đi ngang ngoài tam giới
Mặc
tình vươn bổng nào buộc ràng).
Sau đó, sư thị tịch.
On
the fourteenth day of the eighth lunar month in the year 1118, Fu-Rong
asked for a brush and paper. He then wrote this verse:
“I’m seventy-six years old,
My causational existence is now completed
In life I did not favor heaven
In death I don’t fear hell
Hands and body extend
beyond the three realms.
What stops me from roaming as I please?
Soon after writing this verse, the master
passed away.
Phù
Đà: See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật
in Vietnamese-English Section.
Phù
Đầu: See Buddha and Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật
in Vietnamese-English Section.
Phù
Đồ:
1)
Buddha (skt): Còn gọi là Hưu Đồ, là âm khác của Phật Đà—Another
name for Buddha—See Buddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Phật
in Vietnamese-English Section.
2)
Stupa (skt): Xưa gọi Phật giáo là Phù Đồ, về sau nầy từ
Phù Đồ dùng để chỉ riêng tháp thờ xá lợi Phật—Formerly
“Phù Đồ” means “Buddhism;” however, nowadays, it is used to
indicate a stupa of Buddha’s relics—See Stupa in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Phù
Hợp: To agree—To correspond—To accord.
Phù
Hộ: To protect (spirits).
Phù
Khổng: Lổ hỏng xuyên qua bọng cây trôi lền bềnh trên biển,
mà con rùa một mắt tình cờ nhìn thấy được mặt trăng,
quả là cơ hội hiếm có, giống như cơ hội được gặp Phật
quả là hiếm hoi vậy—A hole in a floating log, through which a
one-eyed turtle accidentally obtains a glimse of the moon, the rarest of
chances, e.g. the rareness of meeting a Buddha.
Phù
Luật Đàm Thường Giáo: Giáo pháp phù trợ giới luật, thuyết
giải Phật tính thường trụ, như trong Kinh Niết Bàn—The
teaching which supports the rules and speaks of the eternal, i.e. the Nirvana
Sutra.
Phù
Mộc: Khúc gỗ nổi (dụ con rùa mù và khúc gỗ nổi)—A floating
log—See Manh Quy.
Phù
Nang: Chiếc phao (vật mà người đi sông lớn hay biển thường
hay mang theo để đề phòng chết đuối. Phù nang ví như giới
cấm đối với người tu. Muốn vượt qua biển khổ, muốn
chấm dứt luân hồi, người tu phải giữ gìn giới luật,
không giữ giới thì chẳng khác nào đâm lủng phao, chẳng
những không qua được bờ bên kia, mà còn bị nhận chìm trong
biển đời sanh tử nữa)—A floating bag, a swimming float, a lifebuoy.
Phù
Phép Phù Du: Externalist guru or shaman.
Phù
Phiếm: Futility
Phù
Sinh: Short life.
Phù
Sớ: Tên khác của Kinh Niết Bàn mà tông Thiên Thai cho rằng
là sự khuếch đại của Kinh Pháp Hoa—Supporting Commentary,
another name for the Nirvana Sutra. According to the T’ien-T’ai, it
is an amplification of the Lotus Sutra.
Phù
Tát: Bodhisattva (skt)—See Bồ Tát.
Phù
Trần: Bụi nổi—Tất cả các pháp hữu vi đều như bụi
nổi, không chân thực. Nó che lấp mất chân tính—Floating
dust or atoms, unstable matter, i.e. phenomena which hide reality.
Phù
Trần Căn: Ngũ Trần Phù Trợ Chính Căn hay ngoại hình của
ngũ căn, có thể thấy được hay nghe được như thị giác,
thính giác, vân vân, là phù trần phù trợ “chính căn.”
Đối lại với thắng nghĩa căn—The external organs of sensation,
i.e. of sight, hearing, etc, which aid the senses. Also means “fleeting,”
or “vacuous,” these external things having an illusory existence; the
real organs, or indriya; in contrast with the function of faculty of sensation.
Phù
Tưởng: Những tư tưởng phù phiếm không thật—Passing thoughts,
unreal fancies.
Phù
Vân: Đời sống hay thân nầy cũng trôi nổi giống mây bay
vậy—A drifting cloud, e.g. this life, or the body.
Phủ
Quyết: To veto.
Phũ
Phàng: Brutal—Cruel.
Phuï:
1)
Cha: Tỷ Đa—Father.
2)
Đàn bà: A woman.
3)
Phụ Trợ: Subsequent—To aid—To assist.
4)
Phụ Cận: Adjoin—Near.
5)
Phụ Lục: Appendix—Attached to.
6)
Theo giáo điển nhà Phật, không có thứ gì nguy hiểm cho cuộc
sống tịnh xá hơn đàn bà. Đàn bà là cội rễ khổ đau,
là chướng ngại, là sự hủy diệt, là vướng mắc, sầu
khổ, hận thù và mù quáng, vân vân—A woman—According to Buddhist
teaching, nothing is so dangerous to monastic chastity as woman. She is
the root of all misery, hindrance, destruction, bondage, sorrow, hatred,
blindness, etc.
7)
Phụ phàng: To turn the back on someone.
8)
Tiền phúng điếu: Pecuniary aid for funerals.
9)
Vác mang trên vai hay lưng: To bear on the shoulder or back.
10)
Vợ: A wife.
Phụ
Cận: Adjacent—Near—Neighboring.
Phụ
Giúp: To help—To assist.
Phụ
Họa: To repeat someone’s opinion.
Phụ
Khuyết: To be alternate.
Phụ
Liêu: Deputy in a monastery.
Phụ
Mẫu: Cha mẹ—Father and mother—Parents.
(A)
Vô minh và tham ái được coi như là cha mẹ của phiền não
và nghiệp chướng—The two ‘ignorance and concupiscence’ being
the parents of all delusion and karma.
1)
Phụ Vô Minh: Ignorance is referred to as father.
2)
Mẫu Tham Ái: Desire or concupiscence as mother.
(B)
Tam Ma Địa cũng được coi như cha, và Bát Nhã được coi như
mẹ của tất cả trí tuệ và công đức—Samadhi is also referred
to as father, and prajna (wisdom) as mother, the parents of all knowledge
and virtue.
1)
Cha Tam Ma Địa: Samadhi is referred to as father.
2)
Mẹ Bát Nhã: Prajna as mother.
(C)
Trong chập chùng sanh tử luân hồi, tất cả người nam đã
từng là cha ta, và tất cả người nữ đã từng là mẹ ta
(Nhứt thiết nam nữ ngã phụ mẫu trong kinh Tâm Địa Quán)—In
the vast interchanges of rebirth all have been or are my parents, therefore
all males are my father and all females my mother.
Phụ
Mẫu Phu Thê Tử Tôn Thân Bằng Quyến Thuộc: Parents-Husbands
and Wives-Children-Friends-Relatives—Theo Kinh Duy Ma Cật, Phẩm Tám,
Cư Sĩ Duy Ma Cật đã nói về phụ mẫu, phu thê, tử tôn, thân
bằng, quyến thuộc như sau—According to the Vimalakirti Sutra,
Chapter Eighth, trong chúng hội có Bồ Tát tên Phổ Hiện Sắc
Thân hỏi ông Duy Ma Cật rằng: “Cư sĩ! Cha mẹ, vợ con, thân
bằng quyến thuộc, những người trí thức là ai? Tôi tớ,
trai bạn, voi ngựa, xe cộ ở đâu?”—A Bodhisattva called Universal
Manifestation, who was present asked Vimalakirti: “Who are your parents,
wife and children, relatives and kinsmen, official and private friends,
and where are your pages and maids, elephants and horse carts?” Duy Ma
Cật dùng bài kệ đáp rằng—In reply Vimalakirti chanted the following:
1)
Trí độ mẹ Bồ Tát, phương tiện ấy là cha, Đạo sư tất
cả chúng, đều do đấy sinh ra—Wisdom-perfection is a Bodhisattva’s
Mother, his father is expedient method, For the teachers of all living
beings come, Only from these two (upaya and prajna).
2)
Pháp hỷ chính là vợ, tâm từ bi là gái, tâm thành thực là
trai, rốt ráo vắng lặng nhà—His wife is joy in Dharma’s law;
Kindness and pity are his daughters; His sons morality and truthfulness;
Absolute voidness his quiet abode.
3)
Trần lao là đệ tử, tùy ý mà sai xử, đạo phẩm vốn bạn
lành, do đấy thành Chánh giác—Passions are his disciples
Whom he transforms at will. Bodhipaksita dharma are his friends. Helping
him to win supreme enlightenment.
Phụ
Môn: Bị thua trong cuộc tranh luận—Positions that have been withdrawn
from in argument—Defeated.
Phụ
Nhân:
1)
See Phụ (6).
2)
Vợ: A wife.
Phụ
Phàng: To put away (betray—desert) one’s wife or husband.
Phụ
Phật Pháp Ngoại Đạo: Ngoại đạo nằm ngay trong lòng Phật
Giáo (chỉ những người mang danh Phật tử mà luôn bị tà
vạy mê hoặc)—Heretics within Buddhism.
Phụ
Tá: To assist—To help.
Phụ
Tâm: Ungratefulness.
Phụ
Thành: Thành của phụ vương của Đức Phật hay thành Ca Tỳ
La vệ—The paternal or native city, especially Sakyamuni, Kapilavastu.
Phụ
Thân: Cha—Father—Daddy.
Phụ
Thuộc Lẫn Nhau: Interdependent
Phụ
Tình: See Phụ Phàng.
Phụ
Trách: To undertake—To assume the responsibility.
Phúc:
1)
Cái bụng: The belly.
2)
Phước đức: Blessing—Happiness—Felicity—Good fortune.
Phúc
Báo: See Phước Báo.
Phúc
Đáp: To reply—To answer—To respond.
Phúc
Địa: Tên gọi chùa chiềng, mảnh đất sinh ra phúc đức—A
place of blessedness, a monastery.
Phúc
Điền: Zen Master Phúc Điền—Thiền sư Phúc Điền, quê ở
Hà Đông. Ngài là người có công trong việc bảo tồn sử
liệu Phật Giáo Việt Nam. Ngài thường trụ tại chùa Liên
Tông để hoằng pháp. Ngài cũng là người khai sơn chùa Thiên
Quang trên núi Đại Hưng ở Hà Nội. Sau đó, không ai biết
ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A Vietnamese Zen master from
Hà Đông, North Vietnam. He had the credit of preserving a lot of Vietnamese
Buddhist history materials. He stayed most of his life at Liên Tông Temple
in Hanoi to expand the Buddha Dharma. He was also the founder of Thiên
Quang Temple at Mount Đại Hưng in Hanoi. Where and when he passed away
were unknown.
Phúc
Đình: Sảnh đường của phúc đức, hay tự viện—A court,
or hall, of blessedness, a onastery.
Phúc
Đức: See Phước Đức.
Phúc
Hậu: Kind—Virtuous—Benevolent.
Phúc
Họa: Happiness and misfortunes.
Phúc
Lộc: Happiness and wealth
Phúc
Lợi: Well-being
Phúc
Nhân:
1)
Một người sung sướng hạnh phúc: Happy man.
2)
Nghiệp nhân cảm ứng từ quả phúc đức, thí dụ như thiện
căn: A cause which gives rise to blessing, i.e. all good deeds.
Phúc
Nhơn Sanh Phúc Quả: Blessed deeds produce blessed rewards, now and
hereafter.
Phúc
Thọ: Happiness and longevity.
Phúc
Tinh: Lucky star.
Phúc
Trạch: Happiness and favour.
Phúc
Trung:
1)
Cái trong bụng: Within the belly.
2)
Đứa trẻ chưa sanh: Unborn child.
3)
Trái tim: The heart.
4)
Tử cung: Womb.
Phục:
1)
Y phục: Clothes.
2)
Phúc đáp: To reply.
3)
Phục hồi: To revert—Again.
4)
Phục: To admire—To esteem.
5)
Tang phục: Mourning clothes.
6)
Nuốt: To swallow.
Phục
Bái: Bái phục—To prostrate oneself.
Phục
Chức: To reinstate someone—To restore someone to his former position.
Phục
Dịch: To serve (attend) someone.
Phục
Dược: To take the medicine.
Phục
Đà Mật Đa: Buddhamitra (skt)—Vị tổ thứ chín trong hai mươi
tám tổ Ấn Độ, tác giả của bộ Ngũ Môn Thiền Kinh Yếu
Dụng Pháp—Buddhamitra, the eighth patriarch of the twenty-eight patriarchs
in India, author of the Pancadvara-dhyana-sutra-mahartha-dharma.
Phục
Hình: To suffer a punishment.
Phục
Hoạt: Sống trở lại—To return to life—To live again—To resurrect.
Phục
Hoặc: To tame binding karmas—Phục hoặc có nghĩa là hành giả
đã đạt được thành tựu tâm linh nào đó có thể hàng phục
được các hoặc nghiệp trói buộc—To tame binding karmas means
the cultivator has reached certain spiritual achievements to remain somewhat
free from his or her karmic afflictions.
Phục
Hồi: To restore.
Phục
Hồi Sức Khỏe: To restore one’s health.
Phục
Hồn: To call (raise) a spirit.
Phục
Hưng: To rise again—To revive.
Phục
Mệnh: To carry out an order.
Phục
Nguyện: To make a vow.
Phục
Nhẫn: Nhẫn thứ nhất trong ngũ nhẫn—The first of the five forms
of submission—See Ngũ Nhẫn.
Phục
Pháp: See Phục hình.
Phục
Phịch: Fat and clumsy.
Phục
Sinh: Ngoại đạo tin rằng có cái gọi là “Sống lại”—Externalists
believe that there exists a so-called Resurection (come to life again or
return from the dead).
Phục
Sức: Hoàn tục (người đã một lần tháo bỏ đồ trang sức
để xuất gia, nay lại để tóc dài mặc đồ thế tục nên
gọi là phục sức)—To return to ordinary garments, i.e. to doff
the robes for lay life—Clothes and adornments.
Phục
Thiện: Làm lành lánh ác—To yield to reason—To do good and get
rid of evil.
Phục
Thù: To take revenge.
Phục
Thủy Luận Sư: Một trong 20 thứ ngoại đạo. Phục Thủy Luận
Sư cho rằng nước là căn bản của vạn vật. Nước có khả
năng sanh ra trời đất; nước cũng có bản năng hủy hoại
vạn hữu. Ngoại đạo nầy lấy nước làm cứu cánh Niết
Bàn—The sect of non-Buddhist philosophers (one of the twenty heretic
sects) who considered water the beginning and end of all things.
Phục
Tòng: To obey—To yield—To submit.
Phục
Vụ: To serve.
Phủi:
To dust off.
Phun
Lửa: To spit fire.
Phung
Phí: To waste.
Phúng:
Nói bóng gió hay châm biếm—To satirize—To intone.
Phúng
Điếu: To offer ritual objects to a deceased person.
Phúng
Kinh: Điều chỉnh giọng nói để phúng tụng kinh văn, đặc
biệt là trong các cuộc lễ (dù là pháp của Bà La Môn, nhưng
Đức Phật vẫn cho phép chư Tăng Ni dùng trong các buổi tụng
kinh cho thuận theo lòng người)—To intone a scripture, especially
one suited to the occasion.
Phúng
Tụng: Gatha (skt)—Già Đà—Những câu phúng vịnh, tán thán
nghĩa lý thâm diệu và ca tụng công đức của Phật và Tam
Bảo—To intone—To sing.
Phụng:
1)
Phụng tế: To serve—To worship.
2)
Phụng sự: To serve someone respectfully.
3)
Chim Phượng (chim trống): Một loài chim biểu trưng cho sự
cát tường—A male phoenix—An auspicious bird.
Phụng
Dưỡng Mẹ Cha: To support one’s parents
Phụng
Gia: See Phụng Nạp.
Phụng
Hành:
1)
Làm theo mệnh lệnh: To execute an order.
2)
Tuân theo và thực hành chỉ giáo của Đức Phật: Devout practicing—To
obey and practise the Buddha’s teaching.
Phụng
Hiến: Hiến tặng quà cho bề trên—To offer gifts to one’s superiors.
Phụng
Hoàng: Cặp chim Phụng Hoàng.
1)
Phụng: A male phoenix.
2)
Hoàng: A female phoenix.
Phụng
Nạp: To make offerings—See Cúng Dường.
Phụng
Sát: Một từ dùng để chỉ tự viện Phật giáo—Phoenix ksetra,
a term for a Buddhist temple.
Phụng
Sơn: Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận
11 thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa còn có tên là Chùa
Gò, được Hòa Thượng Liễu Thông xây vào đầu thế kỷ
thứ 19. Đến năm 1904, chùa được Hòa Thượng Minh Tuệ trùng
tu. Bên cạnh chùa có cây bạch mai cao 5 thước, được trồng
từ năm 1909. Chùa khi xưa nổi tiếng là một thắng cảnh của
tỉnh Gia Định. Gần đây một nhóm các nhà khảo cổ ở thành
phố Sài Gòn đã tìm thấy dấu vết của một ngôi đền cổ
Bà La Môn, đã chìm sâu dưới đất, được xây cách nay hơn
1.500 năm, với kiểu kiến trúc của vương quốc Phù Nam. Những
tác phẩm nghệ thuật bằng gỗ vẫn còn được lưu giữ trong
chùa, đặc biệt là các tượng Phật tròn, như bộ tượng
tam thế, Ngũ Hiền, vân vân, được chạm trổ từ khoảng
năm 1904 đến năm 1915 trong giai đoạn trùng tu chùa. Trong Chánh
điện có bộ tượng Ngũ Hiền, gồm năm tượng. Tượng Đức
Phật Thích Ca cưỡi sư tử; tượng Văn Thù cưỡi sư tử;
tượng Thế Chí cưỡi voi chín ngà; tượng Quán Âm cưỡi
cọp; và tượng Phổ Hiền cưỡi lân. Các pho tượng được
đặt trên đá chạm lởm chởm—Name of a famous ancient pagoda
located in the Eleventh district, Saigon City, South Vietnam. It is also
called Gò Pagoda. The pagoda was established by Most Venerable Liễu
Thông in the early nineteenth century. The Most Venerable Minh Tuệ rebuilt
it in 1904. Next to the pagoda is a five-meter white apricot raised in
1909. At one time, Gò Pagoda was a beauty spot of Gia Định province.
Recently, a group of archaeologists of Saigon City have found the remnants
of a Hinduist ancient temple built 1,500 years ago, and buried deep underground.
The temple symbolized the architecture of Founan Kingdom. The artistic
wooden masterpieces conserved in the pagoda primarily are round statues
such as those of the Buddhas of the Three Periods, the Five Sages, etc.,
cast from 1904 to 1915 during the reconstruction of the pagoda. In the
Main Hall, there are five statues of the Five sages. The statue of Sakyamuni
Buddha was cast riding a lion; that of Majusri Bodhisattva riding a lion;
Mahasthama statue sitting on a nine-tusk elephant; Avalokitesvara Bodhisattva
statue riding a tiger; and Samantabhadra Bodhisattva riding a unicorn.
These statues are placed on a ruggedly carved stone pedestal.
Phụng
Sự: To serve—To carry out an order.
Phụng
Sự Chúng Sanh Tức Là Cúng Dường Chư Phật: To serve (perform)
good deeds for sentient beings, you have also made offerings to the Buddhas.
Phụng
Thờ: To worship.
Phụng
Thừa: To follow blindly.
Phút
Chốc: In a moment.
Phụt:
1)
Phụt lên: To spring up (water).
2)
Bất chợt: Suddenly.
Phụt
Tắt: Chợt tắt—Suddenly went out.
Phức:
1)
Gấp hai: Double.
2)
Lập lại: Repeated.
3)
Loại áo kép—Double garments.
Phức
Tạp: Complicated.
Phưng
Phức: Rất thơm tho ngọt ngào—Very sweet-smelling.
Phừng:
To burst into.
Phước
Báo: Phước báo tưởng thưởng, như được tái sanh vào cõi
trời hay người—Merits—Blessings—A blessed reward, e.g. to be
born as a man or a deva.
Phước
Cái: Tàng lọng của phước báo—The cover, or canopy, of blessing.
Phước
Địa: See Phúc Địa.
Phước
Điền:
(I)
Nghĩa của Phước Điền—The meanings of Field of Blessedness: Ruộng
cho người gieo trồng phước báo. Người xứng đáng cho ta
cúng dường. Giống như thửa ruộng gieo mùa, người ta sẽ
gặt thiện nghiệp nếu người ấy biết vun trồng hay cúng
dường cho người xứng đáng. Theo Phật giáo thì Phật, Bồ
tát, A La Hán, và tất cả chúng sanh, dù bạn hay thù, đều
là những ruộng phước đức cho ta gieo trồng phước đức
và công đức—The field of blessedness or the field for cultivation
of happiness, meritorious or other deeds, i.e. any sphere of kindness,
charity, or virtue. Someone who is worthy of offerings. Just as a field
can yield crops, so people will obtain blessed karmic results if they make
offerings to one who deserves them. According to Buddhism, Buddhas, Bodhisattvas,
Arhats and all sentient beings, whether friends or foes, are fields of
merits for the cultivator because they provide him with an opportunity
to cultivate merits and virtues
(II)
Phân loại Phước Điền—Categories of Field of blessedness:
(A)
Nhị Phước điền—There are two kinds of felicity:
1)
Hữu lậu phước điền (giúp con người cải thiện điều
kiện sống trong kiếp lai sanh): Worldly field for cultivating of
happiness which helps the cultivator to have better living conditions
in the next life.
a.
Bi điền: Compassion fields—Chăm sóc cho người bịnh đáng thương
hay người nghèo khó—Tender the sick, the pitiable, or poor and needy
as the field or opportunity for charity.
b.
Kính điền: Revverence fields—Hộ trợ chư Tăng Ni. Kính trọng
Phật và Thánh chúng—Support the monks and the nuns. The field of
religion and reverence of Buddhas, the saints and the priesthood.
c.
Ân điền: Gratitude fields.
·
Gieo phước nơi cha mẹ: Cultivate blessedness in parents—Be dutiful
to one’s parents.
·
Gieo phước bằng cách đắp đường, đào giếng, xây cầu,
bồi lộ: Cultivate lessedness in making roads and wells, canels and
bridges; repair dangerous roads.
2)
Vô lậu phước điền: Niết bàn là ruộng phước vĩnh cửu—Nirvana
(out of passion) field for cultivating of an eternal happiness.
(B)
Tam Phước điền—Three sources of felicity—See Tam Phước.
(C)
Tứ Phước Điền—Four fields of felicity—See Tứ Phước Điền.
(D)
Bát Phước Điền: Eight fields for cultivating blessedness—see Bát
Phúc Điền.
Phước
Điền Tự: Còn gọi là chùa Hang, tọa lạc tại núi Sam, thị
xã Châu Đốc, tỉnh Châu Đốc, Nam Việt Nam. Chùa Hang là một
hang đá thiên nhiên. Chánh điện và nhà hậu tổ do bà Thợ
dựng lên từ năm 1840 đến 1845 bằng tre và lá đơn sơ. Đến
năm 1885, ông Phán Thông ở Châu Đốc cùng nhân dân trong
vùng dựng lại chùa. Năm 1946, Hòa Thượng Nguyễn Văn Luận
đứng ra trùng tu ngôi chùa như hiện nay. Chùa Hang là một
quần thể di tích có kiến trúc đẹp, nổi bậc nhất là các
hang đá thiên nhiên với nhiều huyền thoại hấp dẫn khách
thập phương—Name of a temple located in Mount Sam, Châu Đốc town,
Châu Đốc province, South Vietnam. Hang Temple is a natural cave where
the Main Hall and the Patriarch Hall were simply built by Ms. Thợ from
1840 to 1845. In 1885, a government clerk named Thông and the local people
rebuilt the temple. In 1946, Most Venerable Nguyễn Văn Luận rebuilt
it again. Hang temple is a beautiful complex of architecture. There one
can find many natural caverns relating to legends and myths attractive
to the pilgrims.
Phước
Điền Y: Y áo của ruộng phước, hay y áo của chư Tăng Ni—The
robe of a field of happiness (the garment of the field of blessing, or
the monk’s robe).
Phước
Đức: Punya (skt)—Phước đức do quả báo thiện nghiệp mà
có. Phước đức bao gồm tài sản và hạnh phước của cõi
nhân thiên, nên chỉ là tạm bợ và vẫn chịu luân hồi sanh
tử—Blessings and virtues—Merit—Blessed virtues—All good deeds,
or the blessing arising from good deeds. The karmic result of unselfish
action either mental or physical. The blessing wealth, intelligence of
human beings and celestial realms; therefore, they are temporary and subject
to birth and death.
Phước
Đức Công Đức Không Thể Nghĩ Bàn: Incomparable merit and virtue.
Phước
Đức Môn: Cửa phước đức, ba la mật thứ năm trong sáu ba
la mật—The gate of blessedness and virtue, the first five of the six
paramitas.
Phước
Đức Thân: Thân Phật trong niềm hỷ lạc tột cùng của phước
đức tam muội—The Buddhakaya, or body of Buddha, in the enjoyment
of the highest samadhi bliss.
Phước
Đức Trang Nghiêm: Tu thiện hạnh phúc đức mà đắc được
Phật quả trang nghiêm—The adornment of blessedness, i.e. of good
deeds
Phước
Đức Tư Lương: Những chất dinh dưỡng vun trồng phước đức,
như bố thí—The nutriment of blessedness, i.e. deeds of charity.
Phước
Hải: Tên của một ngôi chùa cổ tọa lạc trong quận nhất,
thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được một vị tổ
người Hoa tên Lưu Minh xây vào cuối thế kỷ 19, và được
khánh thành vào năm 1906. Trong Chánh điện có các tượng Ngọc
Hoàng, các Thiên Thần, như Thần Mây, Thần Mưa, Thần Sấm,
Thần Chớp, Tứ Thiên Vương. Giữa Chánh Điện thờ tôn tượng
Đức Phật Thích Ca—Name of a famous ancient pagoda, located in the
First district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was called Đa Kao
pagoda by the French. It was built by Liu-Ming, a Chinese Patriarch in
the late nineteenth century and inaugurated in 1906. In the Main Hall,
there are statues of the Emperor of Jade and other Deities as those of
Cloud, Wind, Rain, Thunder, Lightning, and the Four Kings of Heaven. The
statue of Sakyamuni Buddha is worshipped in the middle of the Main Hall.
Phước
Hành: Một trong tam hành làm ảnh hưởng đến nghiệp, hành
pháp cảm ứng phúc lợi của nhân thiên như ngũ giới và thập
thiện giới, vân vân—One of the three lines of actions that affect
karma, the life or conduct which results in blessing, e.g. being reborn
as a man or deva, as a result of the cultivation of the five basic commandments,
or the ten good deeds.
Phước
Hậu: Hòa Thượng Phước Hậu, một trong những đại đệ
tử của Hòa Thượng Tâm Truyền. Ngài là một Thiền sư lại
có khiếu làm thơ. Tiếc thay, qua bao biến cố, thơ văn của
ngài bị thất lạc, chỉ còn lại bài thơ sau đây, di ngôn
thấm nhuần đạo vị của ngài—Most Venerable Phước Hậu,
one of the most outstanding disciples of Most Venerable Tâm Truyền (Tâm
Truyền was a disciple of Diệu Giác; Diệu Giác was a disicple of
Nhất Định). He was both a Zen master and a poet. It was regrettable
that now, after so many changes, all that remains of his works is merely
a poem, as his last words imbued with Buddhist thoughts:
Kinh điển lưu truyền tám vạn tư
Học hành không thiếu cũng không dư,
Năm nay tính lại chừng quên hết
Chỉ nhớ trên đầu một chữ NHƯ!
Buddhist sutras are not few.
My learning cannot be said to be
satisfactory or poor.
I have forgotten all,
it seems, now looking back.
There only remains in my heart the word
“NHƯ.”
Phước
Hòa: Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng, tọa lạc trong quận
ba, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa đã được xây dựng
từ lâu lắm (không rõ niên đại) với kiểu kiến trúc cổ
của các chùa miền Nam. Năm 1958, chùa được trùng tu theo kiến
trúc như hiện nay. Trước đây chùa là trụ sở của
Hội Phật Học Nam Việt. Ngày 24 tháng 2 năm 1952, nhân ngày
đại hội, lá cờ Phật giáo đầu tiên ở miền Nam được
treo tại chùa. Ngày 1 tháng 4 năm 1956, nhiệm kỳ hai đại hội
Phật giáo cũng được triệu tập tại chùa Phước Hòa.
Trong Chánh điện có ba tượng gỗ, tượng Phật Thích Ca, tượng
Diệm Ma Vương, tượng Quán Thế Âm nghìn tay nghìn mắt, được
tạc vào khoảng từ năm 1960 đến năm 1962—Name of a famous
ancient pagoda located in the third district, Saigon City, South Vietnam.
The pagoda was built a long time ago, with its ancient architectural style
of South Vietnam’s pagodas. In 1958, it was rebuilt as it is seen today.
Formerly, the pagoda functioned as the office of South Vietnam Association
of Buddhist Studies. It was at this pagoda, the Buddhist flag was hung
for the first time on the occasion of the Congress of the Association on
February 24, 1952. On April first, 1956, the second session of Congress
of the Vietnam Buddhist Sangha organized its opening at Phước Hòa Pagoda.
In the Main Hall, there are three wooden statues of Sakyamuni Buddha, Yama
of Hell, and One-thousand-arm and one-thousand-eye Avalokitesvara Bodhisattva.
These statues were cast from 1960 to 1962. The statue of Sakyamuni Buddha
is 2.5 meters high, 2 meters wide.
Phước
Huệ:
1)
Phước đức và trí huệ—Blessings, or blessedness and wisdom—Virtue
and wisdom.
2)
Tên của một Pháp Sư người Việt Nam tại Úc, vị lãnh đạo
Phật giáo quan trọng tại Úc Châu và Tân Tây Lan. Ông còn
là chủ tịch Giáo Hội Việt Nam Thống Nhất tại Úc Châu
và Tân Tây Lan. Ông là người đã sáng lập ra Trung Tâm Văn
Hóa Việt Nam ở Sydney. Trước năm 1975, Hòa Thượng Phước
Huệ là giảng sư trong nhiều năm tại Ấn Quang, một trung
tâm Phật giáo nổi bậc của miền Nam Việt Nam thời bấy
giờ—Name of an important Vietnamese Buddhist leader in Australia and
New Zealand, and current head of the Vietnamese Unified Buddhist Congress
in Australia and New Zealand. He is a founder of Vietnam Cultural Center
in Sydney. Before 1975, Most Venerable Phước Huệ taught for many years
at An Quang Pagoda, the pre-eminent Buddhist Center in South Vietnam.
Phước
Huệ Song Tu, Đồng Đăng Bỉ Ngạn: To practice blessings (offerings
and charity) and wisdom (meditation) at the same time, you will surely
obtain enlightenment.
Phước
Hưng: Tên của một ngôi tự viện cổ nổi tiếng, tọa lạc
trong thị xã Sa Đéc, tỉnh Sa Đéc, Nam Việt Nam. Chùa được
Hòa Thượng Minh Phúc khởi công xây cất năm 1838. Chùa có
lối kiến trúc khá đặc sắc. Chánh điện hình chữ nhật
dài 19 mét 5, rộng 14 mét, trên nóc trang trí theo kiểu của
người Trung Hoa. Bên trong chánh điện được tôn trí trang
nghiêm. Ở đây có một pho tượng Phật A Di Đà cổ bằng
đất thếp vàng; một chiếc trống cổ khắc năm 1828 có bề
ngang 1 mét 4, đường kính 90 phân, và bức hoành sơn son thếp
vàng chạm trổ công phu, ở giữa có chạm chiếc lá Bồ Đề
có ghi ba chữ Hán: “Phước Hưng Tự 1882,” hai bên là hai
bản Lạc Hoa và Thạnh Hoa khắc năm 1846. Chùa hiện còn lưu
giữ nhiều bản kinh khắc gỗ chữ Hán hai mặt, mỗi tấm
bề ngang 20 phân, dọc 30 phân, dầy 3 phân, khắc các bộ kinh
Địa Tạng, Kim Cang, Ph