Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
Mo
Mò:
To grop—To feel about with the hand as one does in the dark.
Mò
Ra: To grop out.
Mò
Mẫm: See Mò.
Mõ:
See Mộc Ngư.
Mỏi:
Tired—Weary.
Mỏi
Chân: To be tired of walking.
Mỏi
Miệng: To talk oneself tired.
Mọi:
1)
Slave.
2)
Every.
Mọi
Người: Everybody.
Mọi
Nơi: Everywhere.
Mọi
Vật: Everything.
Mọi
Việc: See Mọi vât.
Món:
Article—Thing—Item.
Mòn:
To wear.
Mòn
Chí: Discouraged—Broken-spirited—Despondent.
Mòn
Hơi: Out of breath.
Mòn
Mắt: To be tired of waiting.
Mòn
Sức: To wear oneself out.
Mọn:
1)
Little—Small.
2)
Mean—Humble (hèn mọn).
Mong:
To expect and desire—To hope.
Mong
Chờ: To wait for.
Mong
Đợi: See mong chờ.
Mong
Manh: Mỏng Mảnh—Không chắc chắn:
1)
Small—Slender—With little hope.
2)
Slim—Faint—Uncertain.
Mong
Mỏi: To desire eagerly—To expect—To aspire.
Mong
Ước: To wish—To hope.
Móng:
1)
Talon—Claw (móng vuốt).
2)
Foundation—Base (nền móng).
3)
Nail (móng tay chân).
Mỏng:
Slender—Thin—Slim.
Mỏng
Mảnh: Fragile.
Mỏng
Tanh: Very thin.
Mót:
To glean—To gather what has been left over.
Mọt:
Wood-eater.
Mơ
Hồ: Ambiguous—Vague.
Mơ
Màng: To sleep slightly.
Mơ
Mộng: Daydreaming
Mơ
Ngủ: To drop off to sleep.
Mớ:
1)
A bundle (wood).
2)
To talk in one’s sleep.
Mờ:
Dim—Blurred.
Mờ
Mịt: Viparyasa (skt)—Confusion—Obscure.
Mơû:
To open.
Mở
Hé: To half-open.
Mở
Lòng: To open one’s heart.
Mở
Mang Tâm Trí: To develop one’s mind.
Mở
Mắt: To open the eyes.
Mở
Mắt Tâm: To open the mind’s eye—Đây là một cách khác để
diễn tả về kinh nghiệm giác ngộ hay sự tự nhận ra tự
tánh, từ đó thấy biết tất cả tự tánh của vạn hữu—This
is another way of speaking of the experience of enlightenment or self-realization.
Awakening to one’s true nature and hence of the nature of all existence.
Mở
Ra Một Con Đường: To offer a way—To open a way—Buddha Dharma
offers a safe way to the Deathless, to Nirvana.
Mở
Rộng: To widen—To expand—To broaden—To enlarge.
Mở
Trói: To untie.
Mới:
New—Recent—Fresh.
Mới
Đây: Recently—Lately.
Mời:
To invite.
Mời
Lơi: To invite for form’s sake.
Mớm:
To feed from mouth to mouth.
Mơn
Mởn: Tender—Young.
Mơn
Trớn: To caress.
Mô:
1)
Lần mò (như người mù mò đường): To feel, or to grope, e.g.
as a blind man.
2)
Mô đất: Mound.
3)
Mưu mô: Plans—Schems—Counterfeit—Forge.
Mô
Hạ: See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Mô
Phạm: Model—Pattern—Example.
Mô
Phỏng: To copy—To imitate.
Mô
Tả: Describe.
Mô
Tượng: Kinh Niết Bàn nói đến người mù diễn tả voi bằng
cách rờ voi (hễ rờ ngà thì nói voi cứng như đá và nhọn
như mũi tên)—The Nirvana Sutra mentioned about the blind man who tried
to describe an elephant by feeling it.
Mồ:
Tomb—Grave.
Mồ
Côi: To be orphaned.
Mồ
Côi Cha: Fatherless.
Mồ
Côi Mẹ: Motherless.
Mồ
Hôi Nước Mắt: Sweat and tears.
Mổ:
1)
To peck (birds).
2)
To operate (dissect).
3)
To kill an animal for food.
Mộ:
1)
Ái mộ: To love—To long for.
2)
Luyến ái: To love—To hanker after.
3)
See Mồ.
Mộ
Đạo: To devote oneself to religion affairs—To be devout.
Mộ
Duyên: To collect subscription (of Buddhist monk).
Mộ
Hà: Moha (skt)—Ngu si—Unenlightened—Stupid—See Moha in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Mộ
La: Mula (skt)—Căn—Fundamental—Root—See Mula in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Mộ
La Tát Bà Tất Để Bà Đà Ni Ca: Mula-sarvastivadah-nikaya (skt)—Căn
bản thuyết Nhứt Thiết Hữu Bộ—The fundamental works, original
texts of the Hinayana school of Sarvastivadah.
Mộ
Nại La: Mudra (skt)—Dấu ấn—A seal—A sign—Token—hand or
finger signs—See Mudra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Mộc:
1)
Cây: Wood—A tree.
2)
Kastha (skt)—A piece of wood—Timber.
3)
Tắm: To bathe
Mộc
Diệu: Mộc tinh, một trong cửu diệu, nằm về phía nam Kim
Cang Viện, bên ngoài Thai tạng Mạn Đà La—Jupiter, one of the
nine luminaries, on the south of the Diamond hall, outside the Garbhadhatu
mandala.
Mộc
Đắc La: Mudra (skt)—A seal—Mystic signs with the hands.
Mộc
Đầu:
1)
Người đần độn: Block-head—A stupid person.
2)
Kẻ phá giới: One who breaks the commandments.
Mộc
Đề: Mukti (skt)—Mộc Để—Mục Đế La—Deliverance (giải
thoát)—Liberation—Emancipation—The getting rid of evils one by one.
Mộc
Hoa Lâm: Papaya forest—See Khổ Hạnh Lâm.
Mộc
Hoạn Tử: Vô Hoạn Tử—Một loại cây có khả năng tránh
được tà quỷ. Hạt của nó có thể dùng làm tràng hạt.
Cây còn mang ý nghĩa bất hại hay an toàn. Nó còn là tên của
một loại trái dâu dùng làm xà bông—A tree whose wood can exorcise
evil spirits, or whose seeds are used as rosary beads. It is said to be
the arista, which means unharmed, secure; it is the name of the soap-berry
and other shrubs.
Mộc
Hương: Kunduruka or Putchuk (skt)—Căn Hương—Huân Lục Hương—Đa
Già La—Một loại trầm hương—An incense-yielding tree—The
resin of the plant.
Mộc
Loan Tử: Seeds used for rosary beads.
Mộc
Luật Tăng: A rigid formalist—A wooden pettifogging monk.
Mộc
Mã: Con ngựa gỗ, một biểu tượng của sự giải thoát—A
wooden horse—A symbol of emancipation.
Mộc
Ngư: Mõ cá bằng cây hay khúc gỗ tròn, móc bọng ruột, làm
theo hình cá, với một khe đục nằm ngang để tạo âm hưởng,
được dùng để gõ nhịp tụng kinh trong các tự viện. Khi
được gõ bằng cái dùi có đầu bọc vải, sẽ phát ra những
âm thanh rõ ràng và đặc biệt. Mõ được dùng đầu tiên
bên Trung Quốc, nhưng lý nguyên thủy của việc dùng mõ gỗ
vẫn chưa được biết rõ. Mõ lớn có thể cao một thước
hay mõ nhỏ có thể để được trong lòng. Mõ thường được
đánh bóng bằng sơn mài màu đỏ sáng. Người ta nói rằng
vì cá luôn mở mắt cả ngày lẫn đêm (không bao giờ ngủ),
nên đây là một thí dụ điển hình cho sự tỉnh thức và
chăm chú trong nhà Thiền. Có hai loại mõ—The wooden fish is
a hollowed-out roundish wooden block, fashioned after some sort of sea
creature, with a long horizontal slit for resonance, employed as an accompaniment
to sutra chanting in Buddhist temples. When struck by a padded stick it
emits a clear and distinctive sound. Wooden fish was first used in China,
but the origin of the use of a wooden fish is unknown. This wooden drum
may be as large as three feet in height or small enough to hold in the
lap. Usually it is lacquered bright red. It is said that a fish always
has its eyes open day and night (never sleep), so it is a good example
for alertness and watchfulness in Zen. There are two kinds:
1)
Hình tròn như vãy cá dùng để gõ khi tụng đọc: A round one
for use to keep time in chanting.
2)
Một loại giống như hình cá dựng đứng thường treo ở nhà
trù, đánh lên khi tới giờ cơm: A long one hanged in front of the
mess hall for calling to meals.
Mộc
Phách Thái Tử: Một trong những tiền thân của Đức Phật
Thích Ca—One of the former incarnations of Sakyamuni.
Mộc
Phật: Tượng Phật bằng gỗ—A Buddha of wood—An image of wood.
Mộc
Thực: Living on wild fruits and nuts.
Mộc
Thượng Tòa:
1)
Cây già: The elder with the tree.
2)
Người thâm niên (trưởng lão): The elder’s staff.
Mộc
Tinh: Brhaspati (skt).
1)
Lord of increase.
2)
The planet Jupiter.
Mộc
Xoa: Moksa (skt)—Giải thoát—Deliverance—Emancipation.
**
For more information, please see
Pratimoksa.
Mộc
Xoa Cúc Đa: Moksagupta (skt)—A monk of Karashahr, protagonist of the
Madhyamayana school whose ignorance Hsuan-Tsang publicly exposed.
Mộc
Xoa Đề Bà: Moksadeva (skt)—Môn đồ Tiểu Thừa ở Tây Trúc
tôn kính ngài Huyền Trang nên gọi ngài là Mộc Xoa Đề Bà
hay là Giải Thoát Thiên—A title given by Hinayanists in India to
Mahayanadeva, such as Hsuan-Tsang.
Môi
Giới: To go between—Intermediary.
Mối:
1)
Con mối: Termite.
2)
Đầu mối: Cause.
Mối
Họa: Cause of misfortune.
Mối
Lợi: Advantage.
Mối
Nguy Hại: A nuisance.
Mối
Thù: A feud.
Mồi:
Bait—Lure.
Mỗi:
Each—Every.
Mỗi
Đát Lý: Maitreya (skt)—Di Lặc.
Mỗi
Đát Lý Mạt Na: Maitrimanas (skt)—Kindly mind—Merciful.
Môn:
1)
Cửa: Cửa ra vào của mọi nhà—Gate—Door—Entrance.
2)
Tông Phái: Sect—School.
3)
Giáo Thuyết: Đặc biệt là giáo thuyết dẫn đến cứu độ
hay Niết Bàn—Teaching, especially one leading to salvation or nirvana.
4)
Subject (study).
5)
Event (sport).
Môn
Bài: License.
Môn
Chủ: Vị kiểm soát cửa hay coi tổng quát một tông phái—The
controller of a gate, or sect.
Môn
Đăng Hộ Đối: Marriage of the same (equal) class or property.
Môn
Đệ: Follower—Disciple.
Môn
Đồ: See Môn đệ.
Môn
Kinh: Bài Kinh về tang lễ và đọc ngay tại cửa trước nhà—The
funeral service and read at the house-door.
Môn
Lữ: Bạn cùng học hay cùng tu—Disciple—Fellow-student.
Môn
Lưu: See Môn Phái, and Môn Tích.
Môn
Phái: Sect—School
Môn
Sinh: See Môn đệ.
Môn
Sư: Vị sư được công nhận như vị Thầy của gia đình—Preceptor—The
monk who is recognized as teacher by any family.
Môn
Thần: Vị Thần giữ cửa—The gate-gods or guardians.
Môn
Thủ: See Môn Chủ.
Môn
Tích: Môn đồ hay sự phát triển của môn phái—The followers,
or development of any sect.
Môn
Trạng: Tham Bảng—Tham Trạng—Danh Thiếp—A name paper, card,
or visiting card.
Mông:
1)
Bao trùm: To cover.
2)
Mông muội: Stupid—Ignorant.
Mông
Cổ: Nước Mông Cổ—Mongolia—Mongol.
Mông
Hoặc: Stupid and deluded.
Mông
Mênh: Immense—Vast.
Mông
Quạnh: Desert.
Mống:
Rainbow.
Mộng:
1)
Giấc mộng: Những cái hiện ra trong mộng là không có thực—A
dream.
2)
Sự huyễn giả của chư pháp: Chư pháp thế gian không có thực
tính—A simile of the things of the world.
Mộng
Ảo: Illusion—Visionary.
Mộng
Du: Sleep-walking.
Mộng
Huyễn: Tính chất của mọi hiện tượng là không thực như
mộng như huyễn—Dream and illusion, the characteristics of all phenomena.
Mộng
Kiến: Tưởng tượng cái mình thấy hay đã thấy trong mộng,
hay những cái thấy không có thực—To see in a dream—To imagine
one sees, or has seen.
Mộng
Sơn Đức Dị: (?-1104)—Ông thuộc đời thứ tám của dòng
Thiền Ngũ Tổ Pháp Diễn. Mộng Sơn đã kể lại những kinh
nghiệm Thiền của mình như sau—Mung-Shan-Te-I, who was the eighth
descendant of Fa-Yen of Wu-Tsu. Mung-Shan told the following stories of
his experience in Zen:
·
Năm 20 tuổi tôi mới quen biết với Thiền, cho đến năm 32
tuổi, tôi đã thăm viếng 17 hay 18 Thiền sư, hỏi họ về
cách thực hành pháp môn Thiền, nhưng không ai chỉ ra manh mối.
Sau nầy khi đến tìm trưởng lão Hoàn Sơn, ngài dạy tôi hãy
nhìn vào ý nghĩa của ‘Vô,’ và nói thêm ‘hãy chăm
chú vào chữ Vô suốt cả ngày đêm không ngừng nghỉ, như
con chuột đang rình mèo, như gà mái ấp trứng. Khi chưa thấy
rõ, hãy như con chuột gặm nhắm cái rương gỗ và đừng bao
giờ xao lãng công phu. Thực hành công phu như vậy, chắc chắn
thời cơ bừng sáng của tâm ngươi sẽ đến—When I was twenty
years old, I became acquainted with Zen, and before I was thirty-two
I had visited seventeen or eighteen Zen masters asking them as to their
method of discipline, but none were able to enlighten me on the most important
point. When later I came to the master Huan-Shan, he told me see into the
meaning of ‘Wu,’ and added, ‘Be vigilant over your WU through all
the periods of the day, as constantly vigilant as a cat is when she tries
to catch a rat, or as a hen is while sitting on the eggs. As long
as you have as yet no insight, be like a rat gnawing at the coffin-wood
and never vacillate in your exertion. As you go on with your task like
that, the time will surely come when your mind will become enlightened.”
·
Y theo lời dạy nầy, tôi chăm chỉ thực hành, ngày đêm không
nghỉ. Rồi trải qua 18 ngày. Bỗng nhiên khi đang uống trà
tôi chợt hiểu cái cười nụ của Ca Diếp khi Đức Phật
đưa lên một cành hoa trước đại chúng. Tôi mừng rỡ khôn
xiết; đi cầu một vài vị trưởng lão của Thiền, nhưng
các ngài không trả lời rõ rệt, có vị bảo tôi hãy dùng
bảo ấn tam muội mà ấn chứng mười phương thế giới, chứ
đừng bận lòng đến thứ gì khác. Tôi tin lời nầy, trải
qua hai năm, năm hiệu Cảnh Định thứ năm (1265), tôi đang
lở tại tỉnh Tứ Xuyên, phủ Trùng Khánh, đang nguy kịch vì
bị bệnh kiết nặng. Không còn chút lực nào, cả đến hải
ấn tam muội cũng không giúp gì trong lúc nầy. Kể cả cái
hiểu về Thiền đã từng có cũng chẳng giúp tôi được.
Lưỡi không chịu nói, thân thể không chịu cử động; chỉ
còn chờ chết là hết. Quá khứ diễn ra trước mắt: những
điều đã làm, những cảnh ngộ đã từng trải; thế là tôi
ở trong một trạng thái tuyệt vọng ghê gớm và hết còn
biết cách nào thoát khỏi cái dày vò của nó. Sau cùng cố
gắng tự chủ, tôi phân phó ý muốn của mình, rồi lặng
lẽ đứng dậy, thắp một ít nhang, dọn lại cái bồ đoàn
cũ kỹ; làm lễ Tam Bảo, Thiên Long và thầm sám hối những
tội chướng tiền khiên. Tôi khấn nguyện rằng nếu tôi hết
kiếp nầy thì mong nhờ năng lực của Bát Nhã mà tái sinh
trong một gia đình tốt đẹp và được xuất gia từ khi hãy
còn bé bỏng. Nhưng nếu tôi được lành bệnh, tôi muốn được
xuất gia ngay và hiến cả cuộc đời còn lại để học Thiền.
Nếu được giác ngộ, tôi sẽ cứu giúp mọi người cũng
được giác ngộ như mình. Sau lời khấn nguyện này, tôi đề
khởi chữ Vô trong lòng vá quay ánh sáng soi vào trong mình.
Không lâu, tôi nghe trong tạng phủ máy động đôi ba lần,
nhưng không để tâm đến; một lúc sau lông mày tôi nghe cứng
không chịu chớp, và lát nữa tôi hết biết đến thân thể
của mình; chỉ có chữ Vô còn lại trong lòng thôi. Đến chiều
tôi rời chỗ ngồi và thấy bệnh mình bớt được một nửa;
tôi ngồi xuống trở lại cho đến khi gần sáng. Bấy giờ
bệnh hoàn toàn biến mất. Giờ đã bình phục, thân tâm như
thơ thới—Following this instruction, I steadily applied myself to
the work, day and night. Eighteen days thus elapsed. Suddenly, when I was
taking tea, I cam upon the meaning of Kasyapa’s smile, which was elicited
when the Buddha produced a flower before a congregation of his disciples.
I was overjoyced; I wished to find out whether my understanding was correct
and called upon a few masters of Zen. They, however, gave me no definite
answer; some told me to stamp the whole universe with the stamp of Sagara-mudra-samadhi,
and not to pay attention to anything else. Believing this, I passed two
years. In the sixth month of the fifth year of Ching-Ting (1265), I was
in Ch’ing-Ch’ing, Szu-Ch’uan, and suffering a great deal from dysentary,
was in a most critical condition. No energy was left in me, nor was the
Sagaramudra of any avail at this hour. Whatever understanding of Zen I
had all failed to support me. The tongue refused to speak, the body to
move; all that remained was to greet death. The past unrolled itself before
me, the things I had done, as well as the situations I had been in; I was
thus in a ghastly state of despondency and completely at a loss as to how
to escape from its torture. At last, determining to be master of myself,
I managed to make my will. I then got up quietly, lit some incense, arranged
the invalid cushions; I made bows to the Triple Treasure and also to the
Naga gods, and silently confessed my previous sins before them. I prayed
that if I were to pass away at this time I might be reborn through the
power of Prajna in a good family and become a monk in my early years. But
if I should be cured of this disease I wanted to become a monk at once
and devote the rest of my life entirely to the study of Zen. If an illumination
should come I would help others even as myself to get enlightened. After
making this prayer, I set up “WU” before my mind and turned the light
within myself. Before long I felt my viscera twist for a few times, but
I paid no attention; it was after some time that my eyelids became rigid
and refused to blink, and later on I became unconscious of my own body;
the “WU” alone occupied my consciousness. In the evening I arose
from my seat and found that I was half cured of the disease; I sat down
again until the small hours of the morning when the physical disorder completely
disappeared. I was myself again, well and in good spirits.
·
Tháng tám năm ấy, tôi đến Giang Lăng thí phát làm sư. Gần
hết một năm tôi đi hành cước, và lúc đang thổi cơm thì
thấy ra rằng việc tu tập công án phải giữ không gián đoạn
và với công phu liên tục. Rồi tôi đến trú ngụ tại Hoàng
Long. Lần thứ nhất buồn ngủ, tôi vận dụng ý chí chống
lại và vẫn ngồi như cũ, cơn buồn ngủ bị chinh phục dễ
dàng. Lần thứ hai buồn ngủ, tôi tống khứ nó y như lần
trước. Lần thứ ba cơn buồn ngủ xâm chiếm nặng nề, tôi
bước xuống khỏi chỗ ngồi và đi lễ Phật, nhờ vậy mà
thấy tỉnh táo lại. Trở lại chỗ ngồi và tiếp tục tiến
tới. Nhưng sau hết lúc phải đi ngủ tôi dùng gối kê đầu
và ngủ được một chút; sau đó, lấy cánh tay làm gối, và
cuối cùng hoàn toàn khỏi phải nằm dài xuống. Qua hai đêm
như thế, đến đêm thứ ba, tôi mệt nhọc đến độ như
thấy chân không chấm đất. Bỗng đâu đám mây mù như che
mắt nay được quét sạch, tôi thấy như vừa tắm xong, hoàn
toàn mát mẻ—In the eighth month of the same year I went to Chiang-Ling
and had my head shaved to become a monk. Before the year was over, I went
on a pilgrimate, and while cooking rice I found out that the koan exercise
must be carried on uninterruptedly and with continuous effort. I then settled
myself at Huang-Lung. When I felt sleepy for the first time I exercised
my will to resist it and kept on sitting, when the sleepiness was early
vanquished. When I became sleepy a second time, I drove it away in a similar
manner. A third attack was too strong; I got down from my seat and made
bows to the Buddha, which revived me. I resumed my seat and the process
had to be repeated. But when at last I had to sleep I used a pillow and
slept a little; later my elbow was substituted for the pillow, and finally
I altogether avoided lying down. Two nights were thus passed; on the third
night I was so fatigued that I felt as if my feet did not touch the ground.
Suddenly the dark cloud that seemed to obstruct my vision cleared away,
and I felt as if I had just come from a bath and was thoroughly rejuvenated.
·
Còn về công án thì nghi tình là nặng nhất và công án sừng
sững ra đấy mà không cần dụng công. Tất cả những
cảm giác ngoại thân, những ngũ dục và bát phong không còn
quấy phá nữa; tự mình trong suốt như một chén pha lê đầy
tuyết, như trời thu quang đãng không mây. Công phu cứ
diễn tiến rất tốt đẹp như thế, nhưng chưa có chút dứt
khoát nào. Sau đó tôi giã từ chùa du hành sang Chiết Giang.
Dọc đường vì quá nhiều mệt nhọc nên công phu Thiền cũng
suy giảm. Tôi đến chùa Thừa Thiên, nơi đây Cô Thiềm Hòa
Thượng đang trụ trì, và tạm thời dừng chân ở đó. Tôi
tự thệ sẽ không rời khỏi nơi nầy cho đến khi nào lãnh
hội được đạo Thiền. Hơn một tháng sau, tôi lấy lại
công phu đã mất. Bấy giờ khắp mình ghẻ lỡ; nhưng vẫn
quyết tâm giữ vững công phu dù có đánh đổi cả cuộc đời.
Nhờ đó mà tâm lực được mạnh mẽ thêm nhiều, và biết
giữ vững công phu của mình ngay cả lúc bệnh hoạn—As to
the koan, a state of mental fixation prevailed, and the koan occupied the
centre of attention without any conscious striving on my part for it. All
external sensations, the five passions, and the eight disturbances, no
longer annoyed me; I was as pure and transparent as a snow-filled silver
bowl or as the autumnal sky cleared of all darkening clouds. The exercise
thus went on quite successfully but as yet with no turning point. Later
I left this monastery and travelled to Chê-Chiang. On the way I experienced
many hardships and my Zen exercise suffered accordingly. I came to the
Ch’eng-T’ien monastery which I was presided over by the Master Ku-Ch’an,
and there took up my temporal habitation. I vowed to myself that I would
not leave this place until I realized the truth of Zen. In a little over
a month I regained what I had lost in the exercise. It was then that my
whole body was covered with boils; but I was determined to keep the discipline
even at the cost of my life. This helped a great deal to strengthen my
spiritual powers, and I knew how to keep up my seeking and striving even
in illness.
·
Một hôm được mời đi thọ trai, suốt trên đường đến
nhà trai chủ, vừa đi vừa đeo đuổi công án, mãi miết trong
công phu tu tập cho tới ngang qua nhà mà vẫn không hay mình
đang ở đâu. Nhờ vậy mà tôi hiểu ra thế nào gọi là thực
hành công phu ngay trong mọi động dụng. Đến đây thì tâm
cơ của tôi như mặt trăng phản chiếu từ lòng sâu của dòng
nước đang chảy; mặt nước tuy chảy xiết, nhưng mặt trăng
vẫn y nhiên bất động—One day, being invited out to dinner I walked
on with my koan all the way to the devotee’s house, but I was so absorbed
in my exercise that I passed by the house without even recognizing where
I was. This made me realized what was menat by carrying on the exercise
even while engaged in active work. My mental condition then was like the
reflection of the moon penetrating the depths of a running stream the surface
of which was in rapid motion, while the moon itself retained its perfect
shape and serenity in spite of the commotion of the water.
·
Ngày mồng sáu tháng ba, tôi đang ngồi trên bồ đoàn, tâm
niệm chữ Vô như thường lệ thì vị Tăng thủ tòa bước
vào Thiền đường. Tình cờ thầy làm rơi hộp nhang trên nền
nhà, khua lên một tiếng. Tiếng động chợt khơi tỏ tâm mình
thấy một viễn tượng tâm linh mới mẻ, và cùng với tiếng
kêu tôi thấu triệt tự thể của mình, chộp được ông già
Triệu Châu (tác giả chữ Vô). Tôi buộc miệng đọc ngay một
bài tụng:
“Một
hứng lộ đầu cùng
Đạp phiên ba thị thủy
Triệu Châu lão siêu quần
Diện mục chỉ như thị
(Đường đi chợt hết bước
Dẫm ngược, sóng là nước
Già Triệu Châu quá chừng
Mặt mày chẳng chi khác).
On
the sixth of the third month I was holding “WU” in my mind as usual
while sitting on the cushion, when the head-monk came into the meditation
hall. Accidentally he dropped the incense-box on the floor, making a noise.
This at once opened my mind to a new spiritual vista, and with a cry I
obtained a glimpse into my inner being, capturing the old man Chao-Chou
(the author of WU). I gave voice to the following stanza:
“Unexpectedly the path comes to an end
When stamped through, the waves are the
water itself.
They say, old Chao-Chou stands
supremely above the rest,
But nothing extraordinary I find in his
features.”
·
Suốt mùa thu, tôi tham vấn các đại danh Tăng như Tuyết Nham,
Thối Canh, Thạch Khanh và Hư Chu. Hư Chu khuyên tôi đến kiếm
Hoàn Sơn. Khi tôi đến gặp Hoàn Sơn, ngài hỏi: “Quang minh
tịch chiếu khắp cả hà sa thế giới, đây há không phải
là lời của tú Tài Trương Chuyết?” Tôi sắp mở miệng
thì Hoàn Sơn hét một tiếng và đuổi tôi đi chẳng chút lễ
độ. Nhờ đấy mà tôi đổi ngược hẳn, và từ đây, tâm
tôi chuyên chú vào thái độ này của ngài. Khi đi hay ngồi,
ăn hay uống, tâm tôi phó thác vào đó—During the autumn I interviewed
masters of high reputation such as Hsueh-Yen, T’ui-Kêng, Shih-Fan, and
Hsu-Chou. The last-mentioned advised me to to go to Huan-Shan. When I saw
Huan-Shan, he asked: “The light, serenely illuminating, fills all the
universe to its furthest limits, are these not the words of the literari
Chang-Chuo?” I was about to open my mouth when Huan-Shan gave a “Kwatz!”
and dismissed me unceremoniously. This upset me, and since then my thoughts
were concentrated on this attitude of the master. Walking or sitting, eating
or drinking, my mind was occupied with it.
·
Sáu tháng trôi qua, vào một ngày mùa xuân năm sau, khi đi dạo
từ ngoài thành trở về, vừa bước lên bực thang đá, thì
giá lạng đóng băng trong óc não từ lâu chợt tan chảy, tôi
quên mình đang đi trên đường. Tôi đi thẳng đến Hòa Thượng,
và ngay khi lập lại câu hỏi của tôi trước kia, tôi bèn
lật ngược Thiền sàng của ngài. Bây giờ tôi đã hiểu rõ
trọn vẹn công án mà những nút thắt thật là khó nối kết—Six
months passed when, one day in the spring of the following year, I was
returning from an out-of-town trip and was about to climb a flight of stone
steps, when the solid ice that had been clogging my brain for so long unexpectedly
melted away, and I forgot that I was walking on the roadway. I immediately
went to the master, and when he repeated the question I overturned his
seat. I now thoroughly understood the koan, whose knots had been so hard
to unite.
·
Này các nhân giả: Hãy đi cho trọn lối tham Thiền. Giả sử
tôi không bị bệnh ở Trùng Khánh, cuộc đời của tôi lẽ
ra đã trôi xuôi. Cần thiết phải gặp một vị thầy thật
sáng suốt. Hãy xem cổ nhân đã dốc lòng hăng hái và bền
bĩ cả ngày đêm tham thiền hầu dễ thấu đáo đạo lý cứu
cánh của Thiền—Oh Brother! Be thorough going in your Zen exercise.
If I had been taken ill when at Chung-Ch’ing my life might have been
almost wasted . The main thing is to be introduced to a master with really
spiritual insight. Consider how earnestly and steadily the ancient master
devoted themselves both day and night to the study of Zen in order to grasp
the ultimate truth of it.
Mộng
Tưởng: Nghĩ đến những điều trong mộng, tưởng tượng
hay nghĩ đến những chuyện không có thật—To dream a thing—To
think of a dream—To imagine.
Mộng
Yểm: Ác mộng—Nightmare.
Mốt:
1)
The day after tomorrow.
2)
Fashion.
Một:
1)
Số một: One.
2)
Chìm mất: Sunk.
3)
Qua đời: Gone.
Một
Ba Tỵ: Không có chóp mũi, không thể nắm được, không có
yếu lĩnh—No nose to lay hold of, no lead, no bases.
Một
Cách Có Văn Hóa: In a cultural manner
Một
Cách Cụ Thể: A concrete way.
Một
Duệ Đạt Lợi Sắt Chí: Mayadrsti (skt)—Ngã kiến, mê chấp
có cái ta—Illusion-views, interpreted by egoism, the false doctrine
that there is a real ego.
Một
Đặc Già La Tử: Maudgalaputra or Maudgalyayana (skt)—See Ma Ha Mục
Kiền Liên.
Một
Đề Mục Phân Tách: Phân tách về tứ đại—One analysis or
the analysis of the four elements—See Tứ Đại.
Một
Đề Mục Quán Tưởng: See Nhất Quán (2).
Một
Đời: A lifetime.
Một
Độ: Phật—Buddha.
Một
Giao Thiệp: Không liên quan, không ăn nhập với nhau—No inter-relation.
Một
Hai Khi: Sometimes.
Một
Lần: One time.
Một
Lứa: Of the same rank (class).
Một
Mạch: At one stretch.
Một
Mình: Alone.
Một
Nắm: A handful.
Một
Thế: See Một đời.
Một
Thể: At the same time.
Một
Tư Vị: Vô vị, vô giá, vô dụng, tỷ như những người mù
mà bàn luận về màu của sữa—Tasteless, valueless, useless,
e.g. discussion of the colour of milk by blind people.