Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
K
Kẻ
Ăn Mày: Beggar.
Kẻ
Cầu Nguyện: Those who pray by dedicating of merit or by merit transference,
or sharing one’s own merits and virtues with others.
Kẻ
Cướp: Robber .
Kẻ
Đào Thoát: An escapist.
Kẻ
Lừa Đảo: Swindler.
Kẻ
Thù: Adversary—Enemy.
Kẻ
Trộm: Burglar—Thief
Kẻ
Vạch: To get someone into trouble
Kẻ
Xấu Xa: Demon—Devil—Mara.
Kẻ
Yếu Hèn: The weak.
Kẽ
Tóc Chân Tơ: In detail.
Kém:
Less.
Kém
Quan Trọng: Of less importance.
Kén
Ăn: To be fastidious about one’s food.
Kén
Chọn: To choose—To select.
Keo:
Tên khác của chùa là Trần Quang Tự, tọa lạc tại thôn Dũng
Nhuệ, xã Duy Nhất, huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình. Chùa được
xây dựng năm 1608 bên bờ sông Hồng Hà, nên bị nước xoáy
mòn dần. Năm 1930, Quận Công Nguyễn Quyên đã cúng dường
đất để xây lại ngôi chùa. Trong chùa có đại hồng chung
được đúc vào thời nhà Lê—Another name for Trần Quang Tự
Temple, a famous ancient temple, located in Dũng Nhuệ hamlet, Duy Nhất
village, Vũ Thư district, Thái Bình province. It was built in 1608
by the bank of the Red River, so it has gradually been eroded. In 1930,
Duke Nguyễn Quyên donated his own land for rebuilding the temple. The
great bell of the temple cast during the Lê dynasty.
Keo
Kiệt: Stingy—Misery.
Kê:
1)
Con gà: Kukkuta (skt)—A cock—A fowl—Chicken—Hen.
2)
Kê cứu: To investigate.
3)
Kê đầu kỉnh lễ: To prostrate oneself.
Kê
Cẩu Giới: Ngoại đạo vùng Bắc Ấn, có loại trí thủ kê
giới, cẩu giới, kê thì suốt ngày đứng một chân, cẩu
thì ăn phân nhơ bẩn—Heterodox sects in northern India follow cock
or dog discipline, e.g. standing on a leg all day, or eating ordure, like
certain ascetics.
Kê
Dẫn Bộ: Gokulikas, Kukkulikas, Kukkutikas, or Kaukkutikas (skt)—Một
trong 20 bộ của Tiểu Thừa, còn gọi là Khôi Sơn Trụ Bộ,
Quật Cự Bộ, Cao Câu Lê Ca Bộ, một trong 20 bộ của Tiểu
Thừa, thành lập khoảng 200 năm sau ngày Phật nhập diệt và
biến mất ngay sau đó—One of the twenty Hinayana branches, a branch
of the Mahasanghikas which established around 200 years after the Buddha’s
nirvana and early disappeared.
Kê
Độc: Thân Độc—India—Hindu.
Kê
Khai: To enumerate—To make a list.
Kê
Khương Na: Kikana (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ
Điển, Kê Khương Na là một dân tộc ở A Phú Hãn, trú ngụ
khoảng giữa miền đông Kandhar và miền nam Ghazna, vào khoảng
những năm 630 sau Tây Lịch được cai trị bởi những vị
lãnh chúa độc lập, có lẽ theo niên kỷ của Ả Rập đây
là dân tộc Kykanan—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English
Buddhist Terms, Kikana is a people in Afghanistan, east of Kandahar, south
of Ghazna, ruled 630 A.D. by independent chieftains, perhaps identical
with the Kykanan of Arabic chroniclers.
Kê
Quý:
1)
Người Tây Trúc gọi nước Cao Ly là Câu Câu Tra-Y Thiết La
(Câu Câu Tra là kê, Y Thiết La là quý)—Indian people called Korea
by Kukkutesvara.
2)
Tôn quý loài gà: Honouring or reverencing the cock.
Kê
Tác La: Kesara (skt).
1)
Tóc hay lông: Hair.
2)
Lông bờm của sư tử: Mane of a lion.
3)
Lông quắn: Curly hair.
4)
Tên một loại bảo châu: Name of a gem.
Kê
Thủ: Phủ phục—To make obeisance by prostration.
Kê
Túc Sơn: Kukkutapada (skt).
1)
Núi Chân Gà, nơi tôn giả Ca Diếp nhập diệt ở xứ Ma Kiệt
Đà, nhưng người ta tin ngài hãy còn sống: Cock’s foot mountain,
in Magadha, on which Kasyapa entered into nirvana, but where he is still
supposed to be living.
2)
Còn gọi là núi Lang Tích (dấu chó sói): Also called the Wolf-Track.
3)
Tôn Túc Sơn: Gurupada (skt)—Buddha’s Foot Mountain.
Kê
Viên: Kukkutarama (skt)—Theo Tây Vực Ký, Kukkutarama còn gọi
là Kê Đầu Ma Tự hay Kê Tước Tự, một ngôi chùa trên núi
Kê Đầu do vua A Dục xây (ở phía đông nam cổ thành có ngôi
già lam Quật Quật Tra A Lạm Ma mà đời Đường gọi là Kê
Viên, do vua Vô Ưu xây dựng. Vua Vô Ưu tín ngưỡng Phật pháp,
kính cẩn dựng chùa, chăm làm việc thiện, chiêu tập hàng
ngàn Tăng chúng)—According to The Great T’ang Chronicles of the
Western World, Kukkutarama, a monastery on the Kukkuta Mountain, built
by Asoka.
Kế:
1)
Búi tóc: Topknot—Tuft—The hair coil on top.
2)
Cỏ gai: A thistle.
3)
Kế bên: Annex.
4)
Kế thừa: To inherit—To adopt.
5)
Kế tục: Tiếp tục hay tương tục—To continue.
6)
Kế toán: Accounting—To reckon.
Kế
Bảo: Theo Kinh Pháp Hoa, “Kế Bảo” là hạt ngọc báu quý
nhất cài trên mái tóc của vị quốc vương (theo Kinh Pháp
Hoa thì có một người có công to, nhà vua bèn cởi viên minh
châu cài trên tóc ban cho, để ví với việc Đức Phật giảng
thuyết Kinh Pháp Hoa cho hạng người đã ra khỏi sinh tử phân
đoạn, mà tinh tấn để lìa hẳn sinh tử biến dịch)—According
to The Lotus Sutra, this is the precious stone worn in the coiled hair
on top of the king’s head. It is the king’s most prized possession.
Kế
Châu: See Kế Bảo.
Kế
Danh Tự Tướng: Theo Đại Thừa Khởi Tín Luận, đây là sự
y vào vọng chấp mà lập ra danh từ hư giả (chỉ sự suy tính
so đo giữa vật nầy với vật nọ)—According to The Awakening
of Faith, this is the stage of giving names (to seeming things, etc.).
Kế
Đô: Ketu (skt).
1)
Sao kế đô, tên của hai chòm sao nằm bên trái và phải của
chòm sao Aquila: A comet, name of two constellations to the left and right
of Aquila—See Cửu Diệu.
2)
Bất cứ vẻ sáng rực nào: Any bright appearance.
Kế
Độ: Tarka or Vitarka (skt)—Tính toán—Phân biệt—To calculate—To
differentiate—To reckon.
Kế
Hoạch: Plan.
Kế
Lợi Cát La: Kelikila (skt)—Kế Lợi Tích La—Kế Lý Kế La—Tên
của một vị Kim Cang Thủ Bồ Tát—The attendant of a deva, one
of the Vajrapanis.
Kế
Lợi Da: Surya (skt).
1)
Mặt Trời: The sun.
2)
Thần mặt trời: The sun-god.
Kế
Mẫu: Stepmother.
Kế
Ngã Thực Hữu Tông: Kế Ngã Luận—Một trong 16 tông phái
ngoại đạo. Tông nầy vọng chấp vào ngã ly uẩn và phi ngã
phi ly uẩn (cho rằng cái ta là có thực, là thường nhất;
do chấp có ta nên chấp có cuộc sống, từ đó mà sanh ra 5
cơ quan cảm giác)—The sect that reckons on, or advocates, the reality
of personality, one of the sixteen heterodox sects.
Kế
Sinh Nhai: Means of living.
Kế
Tát La: Kesara (skt)—Tóc—Hair—Filament.
Kế
Tân: Vương quốc cổ Kế Tân, bây giờ là Kashmir, nằm về
phía tây bắc Ấn Độ—Ancient Kashmir kingdom, situated in the
north-east of India—See Kashmir in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Kế
Thừa: To inherit something from someone.
Kế
Tiếp: To succeed.
Kế
Tục: To continue—To follow.
Kế
Vị: To succeed to the throne.
Keà:
Close to—Near to.
Kể:
To count—To mention—To enumerate.
Kể
Trên: Above-mentioned.
Kể
Truyện: To tell story—To relate.
Kệ:
Gatha (skt)—Già Đà—Già Tha—Phúng Tụng (gồm bốn câu với
số chữ nhứt định trong mỗi câu)—Chant—Metrical hymn or
chant—Poem—Stanza—Verse.
Kệ
Đà: Hymn—Chant—To hymn.
Kệ
Huệ Năng: The verse of Hui Neng.
Bồ đề vốn không cây,
Gương sáng cũng chẳng đài,
Xưa nay không một vật,
Chỗ nào dính bụi bặm?
Originally Bodhi has no tree,
The bright mirror has no stand.
Originally there is not a single thing,
Where can dust alight?
Kệ
Khai Kinh: Verse for opening a Sutra.
·
Vô thượng thậm thâm vi diệu pháp (Phật pháp rộng sâu rất
nhiệm mầu)
The
unsurpassed, deep, profound, subtle wonderful Dharma.
·
Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ (Trăm ngàn muôn kiếp khó tìm
cầu)
In
a hundred thousand million eons, it is difficult to encounter.
·
Ngã kim kiến văn đắc thọ trì (Con nay nghe được xin trì
tụng)
Now
that I have come to receive and hold it, within my sight and hearing.
·
Nguyện giải Như Lai chân thiệt nghĩa (Nguyện rõ Như Lai nghĩa
nhiệm mầu)
I vow
to fathom the Thus Come One’s true and actual meaning.
Kệ
Phá Địa Ngục: Stanza that destroys hell:
Nhược
nhơn dục liễu tri.
If
people want to really know.
Tam
thế nhứt thiết Phật
All
Buddhas of all times.
Ưng
quán pháp giới tánh
They
should contemplate the nature of the cosmos.
Nhứt
thiết duy tâm tạo
All
is but mental construction
(Everything
is made from mind).
Kệ
Sám Hối: Verse of Repentance:
Từ vô thỉ con tạo bao nghiệp ác
From beginningless, I had done so
many vicious deeds
Do bởi tham, sân, si,
Only because of Greed, Anger and
Stupidity,
Từ thân, khẩu, ý mà sanh ra
They are coming from body, mouth
and mind
Nay con xin thành tâm sám hối tất cả.
Now I sincerely ask for forgiveness in my
repentance.
Kệ
Tán: Dùng câu kệ tán thán công đức của người khác—To
sing in verse the praises of the object adored.
Kệ
Tha: See Kệ.
Kệ
Thần Tú: The verse of Shen Hsiu.
Thân là cội Bồ đề,
Tâm như đài gương sáng.
Luôn luôn phải lau chùi,
Chớ để dính bụi bặm.
The body is a Bodhi tree,
The mind like a bright mirror stand.
Time and again brush it clean,
And let no dust alight.
Kệ
Tụng: Kệ đà—Hymn—Chant.
Kệ
Tứ Liệu Giản Của Đại Sư Vĩnh Minh: Four options or choices
from Yung Ming Master:
Có
Thiền có Tịnh, như cọp mọc sừng, đời nầy làm thầy người,
đời sau làm Phật.
To
practice bothe Zen and the Pure Land, one is like a tiger with horns, in
the present life the cultivator is a teacher of man, in the future he will
be a Buddha or a patriarch.
Có
Thiền không Tịnh, mười tu chín lạc đường
To
practice Zen without the Pure Land, nine out of ten seekers of the way
will take the wrong road.
Không
Thiền có Tịnh, vạn tu vạn chứng.
To
practice the Pure Land without the Zen, ten thousand practice, ten thousand
will go to the right way.
Kệ
Tự Tánh Của Lục Tổ Huệ Năng: The verse on the Self-Nature of
the Sixth Patriarch Hui neng.
Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,
Đâu ngờ tự tánh vốn không sanh diệt,
Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,
Đâu ngờ tự tánh vốn không dao động,
Đâu ngờ tự tánh hay sanh muôn pháp.
How unexpected!
The self-nature is pure in itself.
The self-nature is orginally neither produced nor destroyed.
The
self-nature is originally complete in itself.
The self-nature is originally without movement,
The self-nature can produce the ten thousand dharmas.
Kệ
Vô Tướng Của Lục Tổ Huệ Năng: No-Mark Stanza from Hui-Neng
Patriarch—Lục tổ muốn nhắc nhở người tu không nên tìm
lỗi người, vì càng dùng thời gian để tìm lỗi người chúng
ta càng xa đạo—Patriarch Hui-neng wanted to remind the cultivators
try not to see anybody’s faults, but our own because the more time we
spend to find other people’s faults the farther we are away from the
Path:
·
Nhược kiến tha nhơn phi (nếu là bậc chân tu, chúng ta không
bao giờ thấy lỗi đời)
He
who treads the path in earnest, see not the mistake of the world.
·
Tự phi khước thị tả (Nếu như thấy lỗi người, mình chê
thì mình cũng là kém dỡ)
If
we find faults with others, we ourselves are also in the wrong.
·
Tha phi ngã bất phi (Người quấy ta đừng quấy).
When
other people are in the wrong, we should ignore it.
·
Ngã phi tự hữu quá (Nếu chê là tự ta đã có lỗi).
For
it is wrong for us to find faults.
·
Đản tự khước phi tâm.
By
getting rid of the habit of fault-finding,
·
Đả trừ phiền não phá (Muốn phá tan phiền não).
We
cut of a source of defilement.
·
Tắng ái bất quan tâm (Thương ghét chẳng để lòng).
When
neither hatred nor love disturb our mind.
·
Trường thân lưỡng cước ngọa (Nằm thẳng đôi chân nghỉ).
Serenely
we sleep.
Kềm
Chế: To refrain.
Kềnh
Càng: Bulky.
Kết:
(A)
Nghĩa của “Kết”—The meanings of “Bond”
·
Trói buộc: To tie a knot—Bound—Tie—Knot—Settle—Wind up—To
form.
·
Trói buộc của luân hồi sanh tử: The bond of transmigration.
(B)
Phân loại “Kết”—Categories of “bonds”
1)
Tam Kết: Three bonds—See Tam Kết.
2)
Ngũ Kết: Five bonds to mortality—See Ngũ Kết.
3)
Ngũ Hạ Phần Kết: The five bonds in the lower desire-realms or the
lower fetters—See Ngũ Hạ Phần Kết.
4)
Ngũ Thượng Phần Kết: The five higher bonds of desire still exist
in the upper realms of form and formlessness—See Ngũ Thượng Phần
Kết.
5)
Cửu Kết: The nine bonds that bind men to mortality—See Cửu Kết.
Kết
Án: To condemn—To sentence—To convict.
Kết
Bạn: To make friends.
Kết
Bệnh: Bệnh của sự trói buộc vào dục vọng và sanh tử
luân hồi—The disease of bondage to the passions and reincarnation.
Kết
Cuộc: The end.
Kết
Duyên: Kết duyên (với Phật Pháp) để được độ sau nầy.
Căn bản 84.000 kiếp qua mà Đức Đại Thông Trí Thắng Như
Lai đã dạy trong Kinh Pháp Hoa cho 16 vị đệ tử để trở
thành 16 vị Phật, mà Phật Thích Ca là lần tái sanh thứ 16—To
form a cause or basis, to form a connection, e.g. for future salvation.
The basis or condition laid 84,000 kalpas ago by Mahabhijna-jnanabhibhu
in his teaching of the Lotus Sutra to 16 disciples who became incarnate
as 16 Buddhas, for the subsequent teaching of the Lotus scriptures by Sakyamuni,
the last of the 16 incarnations, to his disciples.
Kết
Duyên Chúng: Một trong Tứ Chúng, do duyên kiếp trước còn
nông cạn, chưa được độ nên kết nhân duyên đắc đạo
sau nầy, với hy vọng cải thiện nghiệp chướng trong tương
lai—The company or multitude of those who noe become Budhists in the
hope of improved karma in the future, one of the four groups of disciples.
**
For more information, please see Tứ Chúng
(B) (4).
Kết
Giải:
1)
Trói buộc và giải thoát: Bị phiền não trói buộc và giải
thoát tự tại—Bondage and release.
2)
Giải thoát khỏi sự trói buộc: Giác ngộ được lý mà giải
thoát—Release from bondage.
Kết
Giảng: Kết thúc một bài thuyết trình trong buổi bế mạc
(kỳ an cư kiết hạ hay buổi nhóm họp chư Tăng Ni)—Concluding
an address, or the address, i.e. the final day of an assembly.
Kết
Giao: Làm bạn với ai—To form a friendship with someone.
Kết
Giới: See Kiết Giới.
Kết
Hà: Dòng sông trói buộc của khổ đau hay phiền não—The river
of bondage, i.e. of suffering or illusion.
Kết
Hạ: See Kiết Hạ.
Kết
Hợp: To associate—To unite—To combine.
Kết
Kinh: See Kiết Kinh.
Kết
Lậu: Kết và lậu là tên gọi khác của phiền não. Trói buộc
và luân hồi sanh tử là do bởi dục vọng—Bondage and reincarnation
because of the passions.
Kết
Liên: To League—To unite—To ally.
Kết
Liễu: To finish—To conclude—To close—To end.
Kết
Luận: To end—To conclude—To come to a conclusion (an end)—Conclusion.
Kết
Nạp: To admit.
Kết
Nghĩa: To make friends—To be friends with someone.
Kết
Nghiệp: Sự trói buộc của nghiệp, hay nghiệp là kết quả
của sự trói buộc của dục vọng—The bond of karma, the karma
resulting from the bondage to passions or delusions.
Kết
Nguyện:
1)
Kết thúc hay hoàn thành lời nguyện: To conclude a vow.
2)
Ngày bế mạc đại hội an cư kiết hạ: The last day of an assembly
(of a summer retreat).
Kết
Oán: To create enemies.
Kết
Phược: Tên khác của phiền não, dục vọng hay phiền não
trói buộc thân tâm—To tie and knot, i.e. in the bondage of the passions,
or delusion.
Kết
Quả Của Nghiệp: Karmic results—The natural reward or retribution
for a deed, brought about by the law of karma.
Kết
Sanh: Sự trói buộc vào tái sanh hay thân trung hữu chết đi
để thác sanh vào thai mẹ (theo Câu Xá Luận: “lúc lâm chung
thì trung hữu đối với hai tâm niệm trái ngược nhau là yêu
và ghét sẽ hiện khởi, đến khi nhập thai thì đẩy bỏ cái
tâm ghét chỉ chừa lại cái tâm yêu, bảo đây là của mình,
rồi từ đó sinh vui mừng, nên các uẩn lớn thêm lên, thân
trung hữu liền mất đi và sinh hữu hay kết sanh đã thành)—The
bond of rebirth.
Kết
Sử: See Kiết Sử.
Kết
Tặc: Những kẻ trói buộc hay những tên giặc, ý nói dục
vọng và phiền não—Binders and robbers, the passions, or delusion.
Kết
Tập Kinh Điển: Đức Phật đã nhập diệt, nhưng giáo lý
của Ngài vẫn còn lưu truyền đến ngày nay một cách trọn
vẹn. Mặc dù giáo huấn của Đức Thế Tôn không được ghi
chép ngay thời Ngài còn tại thế, các đệ tử của Ngài luôn
luôn nhuần nhã nằm lòng và truyền khẩu từ thế hệ nầy
sang thế hệ khác. Vào thời Đức Phật còn tại thế, biết
chữ là đặc quyền của giới thượng lưu ở Ấn Độ, vì
thế truyền khẩu giáo lý là một dấu hiệu cho thấy dân
chủ được coi trọng trong truyền thống Phật giáo đến mức
cách trình bày giáo pháp bằng văn chương đã bị bỏ quên.
Nhiều người không biết chữ, cho nên truyền khẩu là phương
tiện phổ thông và hữu hiệu nhứt để gìn giữ và
phổ biến giáo pháp. Vì có nhiều khuynh hướng sai lạc về
giáo pháp nên ba tháng sau ngày Đức Thế Tôn nhập diệt, các
đệ tử của Ngài đã triệu tập Đại Hội Kết Tập Kinh
Điển Phật Giáo để đọc lại di ngôn của Phật. Lịch sử
phát triển Phật giáo có nhiều Hội Nghị kết tập kinh điển
với những hoàn cảnh vẫn có phần chưa rõ. Lúc đầu các
hội nghị nầy có thể là những hội nghị địa phương chỉ
tập hợp vài cộng đồng tu sĩ. Sau đó mới có những nghị
hội chung—The Buddha has passed away, but His sublime teaching still
exists in its complete form. Although the Buddha’s Teachings were not
recorded during His time, his disciples preserved them, by committing to
memory and transmitted them orally from generation to generation. At the
time of the Buddha, literacy was a privilege of the elite in India, and
this another indication of the premium placed on democracy within the Buddhist
tradition that literary formulation of the teaching was neglected for so
long. Many people were not literate, so word of mouth was the universal
medium for preservation and dissemination of the Dharma. Three months after
the Buddha’s Parinirvana, there were some tendencies to misinterpret
or attempts were being made to pollute His Pure Teaching; therefore, his
disciples convened Councils for gathering Buddha’s sutras, or the collection
and fixing of the Buddhist canon. In the development of Buddhism, several
councils are known, the history of which remains partially obscure. These
Councils were originally probably localassemblies of individual monastic
communities that were later reported by tradition as general councils.
(I)
Hội Nghị Kết Tập Lần Thứ Nhất—The First Council: Ba tháng
sau ngày Đức Phật nhập diệt (vào khoảng năm 543 trước
Tây Lịch), do nhận thấy có khuynh hướng diễn dịch sai lạc
và xu hướng suy yếu về giới luật trong nội bộ Tăng Già
sau khi Phật nhập diệt, nên Đại Hội kết tập kinh điển
lần thứ nhất được vua A Xà Thế tổ chức tại hang Pippala,
có sách lại ghi là hang Saptaparni, trong thành Vương Xá thuộc
xứ Ma Kiệt Đà. Dù vị trí và tên của hang vẫn chưa được
xác định rõ ràng, nhưng không có gì nghi ngờ là Hội Nghị
thứ nhất đã diễn ra tại thành Vương Xá. Các học giả
đều thừa nhận rằng Hội Nghị Kết Tập lần thứ nhất
nầy chỉ bàn về Kinh Tạng (Dharma) và Luật Tạng (Vinaya),
phần Luận Tạng không được nói đến ở đây. Trong hội
Nghị nầy có 500 vị Tỳ Kheo tham dự, trong đó có ngài Đại
Ca Diếp, người được trọng vọng nhất và là bậc trưởng
lão, và hai nhân vật quan trọng chuyên về hai lãnh vực khác
nhau là Pháp và Luật là ngài A Nan và Ưu Ba Li đều có mặt.
Chỉ hai phần Pháp và Luật là được trùng tụng lại tại
Đại Hội lần thứ nhất. Tuy không có nhiều ý kiến dị
biệt về Pháp, có một số thảo luận về Luật. Trước khi
Đức Phật nhập diệt, Ngài có nói với ngài A Nan rằng nếu
Tăng Đoàn muốn tu chính hay thay đổi một số luật thứ yếu
cho hợp thời, họ có thể làm được. Tuy nhiên, vào lúc đó
ngài A Nan vì quá lo lắng cho Đức Phật nên quên không hỏi
những luật thứ yếu là những luật nào. Vì các thành viên
trong Hội Nghị không đi đến thỏa thuận về những luật
nào thuộc về thứ yếu nên ngài Ma Ha Ca Diếp quyết định
không có luật lệ nào đã được đặt ra bởi Đức Phật
có thể được thay đổi, và cũng không có luật lệ mới
nào được đưa ra. Ngài Đại Ca Diếp nói: “Nếu ta thay đổi
luật, người ta sẽ nói đệ tử của Đức Cồ Đàm thay đổi
luật lệ trước khi ngọn lửa thiêu Ngài chưa tắt.” Trong
Hội Nghị nầy, Pháp được chia làm hai phần và mỗi
phần được trao cho một vị trưởng lão cùng với đệ tử
của vị ấy ghi nhớ. Pháp được truyền khẩu từ thầy đến
trò. Pháp được tụng niệm hằng ngày bởi một nhóm Tỳ
Kheo và thường được phối kiểm lẫn nhau để bảo đảm
không có sự thiếu sót cũng như không có gì thêm vào. Các
sử gia đều đồng ý truyền thống truyền khẩu đáng tin
cậy hơn văn bản của một người viết lại theo trí nhớ
của mình vài năm sau hội nghị. Nhiều người nghi ngờ hiện
thực lịch sử của Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần đầu
nầy, nhưng có thể là việc biên soạn những văn bản Kinh
Luật thiêng liêng đầu tiên diễn ra tương đối sớm. Vào
lúc Đại Hội sắp kết thúc, có vị Tăng tên là Purana được
những người tổ chức mời tham gia vào giai đoạn bế mạc
của Đại Hội, Purana đã khước từ và nói rằng ông chỉ
thích nhớ lại những lời dạy của Đức Phật như ông đã
từng nghe từ chính kim khẩu của Đức Phật. Sự kiện nầy
cho thấy tự do tư tưởng đã hiện hữu từ thời khai mở
của cộng đồng Phật giáo—Three months after the passing of the
Buddha (in about 543 B.C.), detecting tendencies within the Sangha toward
loss of discipline, as well as misinterpreting His Pure Teaching, the First
Council was organized by King Ajatasatru, and held at the Pippala cave,
some said near the Saptaparni cave, at Rajagriha in Magadha. Even though
the site and name of the cave have not yet been definitely identified.
Nonetheless, there is no dispute about the fact that it is at Rajagrha
that the First Council met. It is accepted by critical scholars that the
First Council settled the Dharma and the Vinaya, and there is no ground
for the view that Abhidharma formed part of the canon adopted at the First
Council. In this Council, there were 500 Bhiksus, among them Maha-Kasyapa
was the most respected and elderly monk, and two very important persons
who specialized in the two different areas which are sutras and vinaya
were present. One was Ananda and the other was Upali. Only these two sections,
the Dharma and the Vinaya, were recited at the First Council. Though there
were no differences of opinion on the Dharma, there was some discussion
about the Vinaya rules. Before the Buddha’s Parinirvana, he had told
Ananda that if the Sangha wished to amend or modify some minor rules, they
could do so. However, on that occasion Ananda was so overpowered with grief
because the Buddha was about to pass away, he forgot to ask the Master
what the minor rules were. As the members of the Council were unable
to agree as to what constituted the minor rules, Maha-Kasyapa finally ruled
that no disciplinary rule laid down by the Buddha should be changed, and
no new ones should be introduced. Maha-Kasyapa said: “If we changed the
rules, people will say that the Buddha’s disciples changed the rules
even before his funeral fire has ceased burning.” At the Council, the
Dharma was divided into various parts and each part was assigned to an
Elder and his pupils to commit to memory. The Dharma was then passed on
from teacher to pupil orally. The Dharma was recited daily by groups of
people who often cross check with each other to ensure that no omissions
or additions were made. Historians agree that the oral tradition is more
reliable that a report written by one person from his memory several years
after the event. The historicity of this Council is doubted by many. Nevertheless,
it is likely that the first collection of writings took place relatively
early. At the end of the First Council, a monk named Purana was invited
by the organizers to participate in the closing phases of the council,
but he declined, saying that he would prefer to remember the teachings
of the Buddha as he had heard it from the Buddha himself. This fact indicates
the freedom of thought existed at the time of the beginning of Buddhist
community.
a)
Ngài Đại Ca Diếp, người được mọi người trọng vọng
nhất mà cũng là bậc trưởng lão, là chủ tịch Hội Nghị—Maha
Kasyapa, the most respected and elderly monk, presided at the First Council.
b)
Kế đó, ngài Đại Đức Ưu Ba Li/Upali trùng tụng lại những
giới luật của Phật bao gồm luật cho cả Tỳ Kheo và Tỳ
Kheo Ni. Ngài Ưu Ba Li đã tụng đọc 80 lần các văn luật trong
90 ngày mới hoàn tất nên còn gọi là “80 tụng luật.”
Đây cũng là giới luật căn bản cho Phật giáo về sau nầy
bao gồm những văn bản sau đây—Then, Venerable Upali remembered
and recited all the rules set forth by the Buddha (rules of the Order),
including all rules for monks and nuns. Venerable Upali recited eighty
times all these rules in 90 days. These rules include:
·
Luật Thập Tụng: Sarvastivada-Vinaya.
·
Luật Tăng Kỳ: Samghika-Vinaya.
·
Luật Tứ Phần: Dharmagupta-Vinaya.
·
Luật Ngũ Phần: Mahissasaka-Vinaya.
c)
Kế đó nữa là ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất
của Phật trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất
sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành viên Hội Nghị.
Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các
Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa
đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức
cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng
từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp
chấp nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả
những gì mà Đức Phật nói, gồm những bộ kinh sau đây—Then,
Venerable Ananda, the closest disciple and the attendant of the Buddha
for 25 years. He was endowed with a remarkable memory. First Ananda was
not admitted to the First Council. According to the Cullavagga, later other
Bhikhus objected the decision. They strongly interceded for Ananda, though
he had not attained Arhathood, because of the high moral standard he had
reached and also because he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha
himself. Ananda was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council,
and was able to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines),
including the following sutras:
d)
Năm bộ kinh A Hàm, còn gọi là A Kiệt Ma—Five Agamas.
·
Trường A Hàm: Dirghagama Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp
dài—Collection of Long Discourses.
·
Trung A Hàm: Madhyamaga Sutra (skt)—Ghi lại những bài pháp dài
bậc trung—Collection of Middle-Length Discourses.
·
Tăng Nhất A Hàm: Anguttara-agama Sutra (skt)—Ghi lại những bài
pháp sắp xếp theo số—Collection of Gradual Sayings.
·
Tạp A Hàm: Samyuktagama Sutra (skt)—Ghi lại những câu kinh tương
tự nhau—Collection of Kindred Sayings.
·
Tiểu A Hàm: Khuddaka-agama (skt)—Ghi lại những câu kệ ngắn—Smaller
Collection.
***
For more information, please see A Nan Đà in Vietnamese-English Section.
(II)
Đại Hội Kết Tập Lần Hai—The Second Council:
(A)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ hai được tổ chức
tại thành Xá Vệ (Tỳ Xá Ly), 100 năm sau ngày Phật nhập diệt.
Đại Hội nầy được tổ chức để bàn luận về một số
giới luật (có sự không thống nhứt về giới luật). Không
cần thiết phải thay đổi những giới luật ba tháng sau ngày
Đức Phật nhập diệt vì lẽ không có gì thay đổi nhiều
về chính trị, kinh tế và xã hội trong khoảng thời gian ngắn
ngủi nầy. Nhưng 100 năm sau, một số chư Tăng (theo giáo lý
nguyên thủy) nhận thấy cần phải có sự thay đổi một số
giới luật thứ yếu. Các nhà sư thuộc phái Vaisali đã chấp
nhận vàng và bạc của thí chủ cúng dường. Yasha, một môn
đồ của A Nan, còn đưa ra chín điều trách cứ đối với
các thành viên của cộng đồng Vaisali, nhứt là việc ăn uống
vào những thời điểm bị cấm, về việc dùng rượu, về
việc các nhà sư cùng một cộng đồng lại làm lễ Bố Tát
một cách phân tán, vân vân. Hội Nghị lần thứ hai được
mô tả cụ thể hơn nhiều trong các văn bản, nói chung được
thừa nhận vững chắc về mặt lịch sử—The Second Council
was held at Vaisali 100 years after the passing of the Buddha. This Council
was held to discuss some Vinaya rules (there was some disunity concerning
matter of discipline). There was no need to change the rules three months
after the Buddha’s Parinirvana because little or no political, economic
or social changes took place during that short interval. But 100 years
later, some monks saw the need to change certain minor rules One hundred
years after the First Council, the Second Council was held to discuss some
Vinaya rules. There was no need to change the rules three months after
the Parinirvana of the Buddha bcause little or no political, economic or
social changes took place during that short interval. But 100 years later,
some monks saw the need to change certain minor rules. The Second
Council is considerably better documented in the texts that the first and
is generally recognized as a historical event. The Vaisali monks had accepted
gold and silver from lay adherents in violation of the Vinaya rules. Moreover,
they were accused by Yasha, a student of Ananda’s, of nine further violations,
including taking food at the wrong time, separate observance of the Uposatha
by monks of a community, and drinking alcoholic beverages.
(B)
Những nhà sư chính thống cho rằng không có gì nên thay đổi,
trong khi những vị khác thuộc phái Bạt Kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali)
đã khai trừ trưởng lão Da Xá (Yasha) ra khỏi cộng đồng
với nhiều lời buộc tội ngài. Họ đã đề nghị mười
điểm thay đổi như sau—The orthodox monks said that nothing should
be changed, while the monks of the Vajji from Vaisali expelled Yasha from
the community because of his accusations. They insisted on modifying some
rules as follows:
1)
Cho phép đựng muối trong sừng trâu hay các đồ chứa bằng
sừng: Singilonakappa (p)—Gián tiếp cho phép sát sanh để lấy
sừng, trong khi phái chính thống cho rằng việc mang muối đựng
trong cái sừng rỗng bị coi như phạm giới cấm Ba Dật Đề
thứ 38, về việc cấm tồn trữ thực phẩm và giới sát sanh—Allowing
monks and nuns to store salt in buffalo’s horns, while the orthodox monks
considered carrying salt in a hollowed horn. This practice is contrary
to Pacittiya 38, which prohibits (forbids) the storage of food and killing.
2)
Buổi trưa khi mặt trời đã qua bóng hai ngón tay vẫn ăn được:
Dvangulakappa (p)—Vẫn được phép ăn sau giờ ngọ. Việc nầy
coi như bị cấm trong Ba Dật Đề thứ 37 về giới không được
ăn sau giờ ngọ—Allowing monks and nuns to eat in the afternoon:
The practice of taking meals when the shadow is two fingers broad. This
practice against Pacittiya 37 which forbids the taking of food after midday.
3)
Được đi qua một làng khác ăn lần thứ hai: Gamantarakappa
(p)—Sau khi ăn rồi, đi đến nơi khác vẫn ăn lại được
trong cùng một ngày. Việc làm nầy coi như bị cấm trong Ba
Dật Đề thứ 35 về giới cấm ăn quá nhiều—Allowing monks
and nuns to eat the second time in a day: The practice of going to another
village and taking the second meal there on the same day. This practice
forbids in Pacittiya 35 which forbids over-eating.
4)
Cho Bố tát ở riêng trong một khu: Avasakappa (p & skt)—Thực
hiện nghi thức Bố Tát (Uposatha) tại nhiều nơi trong cùng
một giáo khu. Điều nầy trái với các giới luật Mahavagga
về sự cư trú trong một giáo khu—Allow retreats for spiritual
refreshment in a private place: The observance of the Uposatha ceremonies
in various places in the same parish. This practice contravenes the Mahavagga
rules of residence in a parish (sima).
5)
Được phép hội nghị với thiểu số: Anumatikappa (p).
a)
Dù không đủ số quy định như tam sư thất chứng, hội nghị
vẫn có hiệu lực như thường—Allowing ordination to proceed
even though there are not enough three superior monks and seven witnesses
(see Tam Sư Thất Chứng).
b)
Được phép yêu cầu chấp nhận một hành động sau khi đã
làm. Đây là vi phạm kỹ luật—Obtaining sanction for a deed after
it is done. This also amounts to a breach of monastic discipline.
6)
Cho làm theo các tập quán trước: Acinakappa (p)—Đây cũng là
vi phạm kỹ luật—Allowing monks and nuns to follow their customs
and habits (customary practices and precedents): This is also opposed to
the rules.
7)
Cho uống các loại sữa sau bữa ăn: Amathitakappa (p)—Cho phép
uống các loại sữa dù chưa được lọc. Điều nầy trái
với Ba Dật Đề thứ 35 về luật ăn uống quá độ—Allowing
monks and nuns to drink unrefined milk after the meal. This practice is
in contravention of Pacittiya 35 which prohibits over-eating.
8)
Được uống rượu mạnh hòa với đường và nước nóng:
Jalogim-patum (p)—Việc làm nầy trái với Ba Dật Đề thứ
51, cấm uống các chất độc hại—Allow monks and nuns to drink
the drinking of toddy. This practice is opposed to Pacittiya 51 which forbids
the drinking of intoxicants.
9)
Được ngồi tự do khắp nơi: Adasakam-nisidanam (p)
a)
Được phép ngồi các chỗ rộng lớn, không cần phải theo
quy định ngày trước của Đức Phật—Allowing monks and nuns
to sit down wherever they like to, not to follow rules set forth by the
Buddha before.
b)
Được dùng tọa cụ không có viền tua. Việc nầy trái với
Ba Dật Đề thứ 89, cấm dùng tọa cụ không có viền—Allow
using a rug which has no fringe. This is contrary to Pacittiya 89 which
prohibits the use of borderless sheets.
10)
Được giữ vàng bạc: Jataruparajatam (p)—Tỳ Kheo và Tỳ Kheo
Ni được phép cất giữ vàng bạc, cũng như được nhận vàng
bạc từ đàn na tín thí. Điều nầy trái với giới luật
thứ 18 trong Nissaggiya-pacittiya—Allowing monks and nuns to store
gold and silver, and they are allowed to accept gold and silver.
This practice is forbidden by rule 18 of the Nissaggiya-pacittiya.
(C)
Đại Đức Da Xá công khai tuyên bố những việc làm nầy là
phi pháp. Sau khi nghe phái Bạt Kỳ phán xử khai trừ mình ra
khỏi Tăng Đoàn, Da Xá (Yasha) liền đi đến Kausambi để tìm
kiếm sự bảo hộ của các nhà sư có thế lực trong các vùng
mà Phật giáo bắt đầu phát triển (Avanti ở phía tây và
ở miền nam). Da Xá mời họ họp lại và quyết định để
ngăn chận sự bành trướng của việc chà đạp đạo giáo
và bảo đảm việc duy trì luật tạng. Sau đó Da Xá đi đến
núi A Phù, nơi trưởng lão Tam Phù Đà đang sống để trình
lên trưởng lão mười điều đề xướng của các tu sĩ Bạt
Kỳ. Da Xá yêu cầu trưởng lão Tam Phù Đà xem xét tánh cách
nghiêm trọng của vấn đề. Trong khoảng thời gian nầy có
sáu mươi vị A La Hán từ phương Tây đến và họp lại tại
núi A Phù, cũng như tám mươi tám vị khác từ Avanti và miền
Nam cũng gia nhập với họ. Các vị nầy tuyên bố đây là
vấn đề khó khăn và tế nhị. Họ cũng nghĩ đến trưởng
lão Ly Bà Đa ở Soreyya, vốn là người nổi tiếng uyên bác
và từ tâm. Nên họ quyết định cùng nhau đến gặp trưởng
lão để xin sự hỗ trợ của ngài—The Venerable Yasha openly
declared these practice to be unlawful. After the sentence of excommunication
had been passed on him, he then went to Kausambi to seek support from influential
monks in all areas to which Buddhism had spread (the western country of
Avanti and of the southern country). He invited them to assemble and decide
the question in order to stop the growth of irreligion and ensure the preservation
of the Vinaya. Next, he proceeded to Mount Ahoganga where Sambhuta Sanavasi
dwelt to show him the ten thesis advocated by the Vajjian monks. He asked
the venerable to examine the question in earnest. About the same time,
some sixty Arhats from the Western Country and eighty-eight from Avanti
and the Southern Country came to assemble on Mount Ahoganga. These monks
declared the question to be hard and subtle. They thought of the Venerable
Revata who was at Soreyya and was celebrated for his learning and piety.
So they proposed to met him and enlist his support. After a good deal of
travelling they met the Venerable Revata at Sahajati. On the advice of
Venerable Sambuta Sanavasi, Yasha approached the Venerable Revata and explained
the issue to him. One by one, Bhikshu Yasha brought up the ten points and
asked for his opinion. Each one of them was declared to be invalid by the
Venerable Revata.
(D)
Trong khi đó, các tu sĩ Bạt Kỳ cũng chẳng ngồi yên. Họ
cũng đến Câu Xá Di để xin được trưởng lão Ly Bà Đa ủng
hộ. Họ dâng cho ông nhiều lễ vật hậu hỷ nhưng đều bị
ông từ chối. Họ lại dụ dỗ được đệ tử của ông là
Đạt Ma thỉnh cầu dùm họ, nhưng trưởng lão vẫn một mực
chối từ. Trưởng lão Ly Bà Đa khuyên họ nên trở về Tỳ
Xá Ly là nơi xuất phát vấn đề để mở ra cuộc tranh luận:
Meanwhile, the Vajjian monks were not idle. They also went to Sahajati
in order to enlist the support of the Venerable Revata. They offered him
a lot of presents, but he refused with thanks. They also induced his disciple,
Uttara, to take up their cause, but he failed. At the suggestion of Revata,
the monks proceeded to Vaisali in order to settle the dispute at the place
of its origin.
(E)
Cuối cùng, nghị hội Vaisali tập hợp 700 nhà sư, tất cả
đều là A La Hán, còn gọi là hội nghị các trưởng lão.
Tỳ Kheo A Dật Đa được chỉ định làm người tổ chức.
Trưởng lão Sabbakhami được bầu làm chủ tịch ủy ban. Từng
điểm một của mười điều cho phép của phái Bạt Kỳ được
xem xét kỹ càng. Vì thấy 10 điều thay đổi trên hoàn toàn
vô lý nên một phán quyết của hội nghị đồng thanh tuyên
bố việc làm của các nhà sư Bạt Kỳ là phi pháp. Kết quả
là các nhà sư Bạt kỳ ở Tỳ Xá Ly (Vaisali) đã bị một
ủy ban gồm bốn nhà sư thuộc cộng đồng phương tây và
bốn vị thuộc cộng đồng phương đông coi là có tội.
Họ đều chấp nhận sự phán quyết mà không phản kháng.
Những thầy tu vi phạm giới luật coi như đã không tôn trọng
luật chính thống và đã bị khiển trách tùy theo lỗi lầm.
Do đó giới luật trong lần kết tập nầy hầu như không thay
đổi. Trong văn bản tiếng Pali và Sanskrit của Luật Tạng
đều có kể lại hội nghị nầy: Finally a council composed of
700 monks, all arhats, also called the Council of the Theras. Bhikshu Ajita
was appointed the seatregulator. The Venerable Sabbakami was elected president.
The ten points were examined carefully one by one. After seeing these above
ten changes were so unreasonable. The unanimous verdict of the assembly
declared the conduct of the Vajjian monks to be unlawful. As a result,
they (Vajjian monks of Vaisali) were found guilty by a committee composed
of four monks from eastern and four from western regions, respectively.
The Vaisali monks accepted this judgment without any opposition. The erring
monks were declared in violation of the orthodox code of discipline and
censured accordingly. Thus, in this council, rules of monastic discipline
have remained virtually unchanged. Records of this council are found in
both the Pali and Sanskrit versions of the Vinaya-Pitaka.
(F)
Nghị Hội lần thứ hai đánh dấu sự phân phái giữa phe bảo
thủ và phe tự do. Người ta kể lại, nhóm sư Bạt Kỳ đã
triệu tập một Hội Nghị khác có mười ngàn tu sĩ tham dự
với tên là Đại Chúng Bộ. Vào thời đó, dù được gọi
là Đại Chúng Bộ, nhưng chưa được biết là Đại Thừa:
The Second Council marked a division between the conservative and the liberal.
It is said that Vajjian monks of Vaisali held another Council which
was attended by ten thousand monks. It was called The Great Council (Mahasangiti).
Even though it was called Mahasanghika, it was not yet known as Mahayana
at that time).
(III)
Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Lần Thứ Ba—The Third Council:
Hội nghị thứ ba được tổ chức tại thành Hoa Thị dưới
sự bảo trợ của vua A Dục, một Phật tử tại gia nổi tiếng—The
Third Council was held at Pataliputra, sponsored by King Asoka, a celebrated
Buddhist layman.
(A)
Nguyên nhân đưa đến Hội Nghị—Reasons for the Third Concil:
a)
Một nhà sư thuộc thành Hoa Thị tên là Đại Thiên đưa ra
luận điểm cho rằng một vị A La Hán có thể để cho mình
bị cám dỗ, nghĩa là có những sự xuất tinh ban đêm và không
trừ bỏ được sự ngu si cũng như những nghi ngờ về giáo
thuyết. Cuối cùng A La Hán có thể tiến bước theo con đường
giải thoát, theo Đại Thiên, nhờ ở một sự giúp đở bên
ngoài và nhờ gia tăng khả năng tập trung, do đó những cơ
may cứu rỗi của người đó là nhờ ở việc lặp đi lặp
lai một số âm thanh. Những ý kiến khác nhau về những luận
điểm ấy dẫn tới sự phân chia các sư thành hai phe: A monk
from Pataliputra, Mahadeva, put forward the following position: An arhat
is still subject to temptation, that is, he can have nocturnal emissions.
He is not yet free from ignorance. In addition, he is still subject to
doubts concerning the teaching. Moreover, according to according to Mahadeva’s
view, an arhat can make progress on the path to enlightenment through the
helpof others and, through the utterance of certain sounds, he can further
his concentration and thus advance on the path. Differing views on these
points led to division of the monks into two camps.
b)
Tự cho mình đông hơn, những người bảo vệ những luận
điểm của Đại Thiên tự gọi mình bằng cái tên Mahasanghika
hay cộng đồng lớn, còn những đối thủ của họ, do những
người “Cũ” đại diện, đó là những vị nổi bậc về
đại trí và đại đức, thì tự gọi mình là “Sthavira”:
Those who affirmed these points of Mahadeva’s, and who believed themselves
to be in the majority, called themselves Mahasanghika or Great Community.
Their opponents, represented by the “elders,” who were distinguished
by outstanding wisdom and virtue, called themselves Sthavira.
c)
Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh
chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một
đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã
bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên,
dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành
trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý
đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên
Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi
hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo
và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân
chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự
viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu
sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những
người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy
của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát.
Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ
nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai
mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chịu
thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã
cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về để tổ
chức hội nghị: With the conversion of King Asoka, the material prosperity
of the monasteries grew by leaps and bounds and the monks lived in ease
and comfort. The heretics who had lost their income were attracted by these
prospects to enter the Buddhist Order. They continued, however, to adhere
to their old faiths and practices and preached their doctrines instead
of the doctrines of the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa
who retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for
seven years. The number of heretics and false monks became far larger than
that of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha
or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The
community of the faithful monks refused to observed these festivals with
the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the
Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a
grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this
task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their
refusal to carry out the King’s order. When this sad news reported to
Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then
invited Maggaliputta Tissa to hold the Third Council.
d)
Do đó mà Hội Nghị thứ ba được tiến hành với nhu cầu
thanh khiết hóa Phật pháp đang lâm nguy do sự xuất hiện của
nhiều hệ phái khác nhau với những luận điệu, giáo lý và
cách hành trì đối nghịch nhau: Thus the Third Council was held
by the need to establish the purity of the Canon which had been imperilled
by the rise of different sects and their rival claims, teachings and practices.
(B)
Thấy thế vua A Dục cho tổ chức Đại Hội kết tập kinh
điển lần thứ ba tại thành Ba Tra Lợi Phất (Hoa Thị Thành,
thủ đô cổ của Tích Lan), khoảng vào thế kỷ thứ ba trước
Tây Lịch. Vua A Dục đã đích thân chọn 60.000 vị Tỳ Kheo
tham dự Hội Nghị. Trong khi đó trưởng lão Mục Kiền Liên
Tư Đế Tu đã phụng mệnh vua A Dục chọn ra một ngàn vị
Tăng tinh thông tam tạng kinh điển kết tập chánh pháp. Hội
nghị đã bàn thảo trong chín tháng về những ý kiến dị
biệt giữa những Tỳ Kheo của nhiều phái khác nhau. Tại Đại
Hội nầy, sự khác biệt không chỉ hạn hẹp trong Giới Luật,
mà cũng liên quan đến Giáo Pháp nữa. Đây không phải là
một hội nghị toàn thể mà chỉ là một cuộc nhóm họp nhỏ
thôi. Lúc kết thúc Hội Nghị, ngài Mục Kiền Liên Tư Đế
Tu (see Mục Kiền Liên Tư Đế Tu), đã tổng hợp vào một
cuốn sách gọi là Thuyết Sự Luận (Kathavatthupakarana), bác
bỏ những quan điểm và lý thuyết dị giáo cũng như những
sai lầm của một số giáo phái. Giáo lý được phê chuẩn
và chấp thuận bởi Đại Hội được biết là Theravada hay
Nguyên Thủy. Vi Diệu Pháp được bao gồm trong Đại Hội nầy—Seeing
this division, King Asoka organized the Third Council (in the Third Century
B.C.) at Pataliputra, the old capital of Ceylon. King Asoka himself assigned
60,000 monks to participate in this Council. To obey the order of
king Asoka, Thera Tissa thereafter elected a thousand monks who were well
versed in the three Pitakas to make a compilation of the true doctrine.
The Council lasted for nine months to discuss the different opinion
among the Bhiksus of different sects. At this Council the differences were
not confined to the Vinaya but also connected with the Dharma. This was
not a general Council, but rather a party meeting. At the end of this Council,
the President of the Council, Moggaliputtra-Tissa, compiled a book called
the Kathavatthu refuting the heretical, false views and theories held by
some sects. The teaching approved and accepted by this Council was known
as Theravada. The Abhidharma Pitaka was included at this Council.
·
Bố Tát Thuyết Giới: Upavasatha-Sila.
·
Kết Tập Tam Tạng Kinh, Luật, Luận: Tripitaka, Sutra, Vinaya,
and Abhidharma.
(C)
Một trong những thành quả quan trọng của Hội Nghị lần
thứ ba là nhiều phái đoàn truyền giáo đã được gởi đi
khắp các xứ để hoằng dương Phật pháp. Sau Đại Hội kết
tập lần thứ ba, người con của Vua A Dục, ngài Hòa Thượng
Mahinda,và người con gái tên Tăng Già Mật Đa, đã mang Tam
Tạng Kinh Điển đến Sri-Lanka, cùng với những lời bình luận
của Hội Nghị nầy. Họ đã đạt được thành công rực
rỡ tại đảo quốc nầy. Những kinh điển được mang về
Sri-Lanka vẫn được giữ gìn cho đến ngày nay không mất một
trang nào. Những kinh điển nầy được viết bằng chữ Pali,
căn cứ vào ngôn ngữ của xứ Ma Kiệt Đà là ngôn ngữ của
Đức Phật. Chưa có gì gọi là Đại Thừa vào thời bấy
giờ. Ngoài ra, qua những chỉ dụ của vua A Dục, chúng ta được
biết thêm về những phái đoàn truyền giáo Phật giáo được
nhà vua cử đi đến các nước xa xôi ở Á Châu, Phi Châu và
Âu Châu. Phật giáo đã trở thành một tôn giáo quan trọng
của nhân loại phần lớn là nhờ ở các hoạt động
của phái đoàn nầy—One of the important results of thei Council
was the dispatch of missionaries to different countries of the world for
the propagation of Buddhism. After the Third Council, Asoka’s son, Venerable
Mahinda, and the king’s daughter, Sanghamitta, brought the Tripitaka
to Sri-Lanka, along with the commentaries that were recited at the Third
Council. They were extraordinarily successful in this island. The texts
brought to Sri-Lanka were preserved until today without losing a page.
The text were written in Pali which was based on the Magadhi language spoken
by the Buddha. There was nothing known as Mahayana at that time. Besides,
from the edicts of king Asoka, we know of various Buddhist missions he
sent to far-off countries in Asia, Afirca, and Europe. It is to a large
extent due to these missionary activities that Buddhism became one of the
most important religions of mankind.
(D)
Sự xuất hiện của Đại Thừa—Coming of Mahayana: Giữa thế
kỷ thứ nhất trước Tây Lịch và thế kỷ thứ hai sau Tây
Lịch, hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa xuất hiện trong Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa. Vào thế kỷ thứ hai sau Tây Lịch, Đại
Thừa được định nghĩa rõ ràng. Ngài Long Thọ triển khai
triết học “Tánh Không” của Đại Thừa và chứng minh tất
cả mọi thứ đều là “Không” trong một bộ luận ngắn
gọi là Trung Quán Luận. Vào khoảng thế kỷ thứ tư sau Tây
Lịch, hai ngài Vô Trước và Thế Thân viết nhiều tác phẩm
về Đại Thừa. Sau thế kỷ thứ nhất sau Tây Lịch, những
nhà Phật giáo Đại Thừa giữ vững lập trường rõ ràng
nầy, từ đó hai từ Đại Thừa và Tiểu Thừa được nói
đến. Chúng ta không nên lẫn lộn Tiểu Thừa với Nguyên Thủy,
vì hai từ nầy hoàn toàn khác nhau. Nguyên Thủy Phật Giáo
nhập vào Sri-Lanka vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch, lúc
chưa có Đại Thừa xuất hiện. Phái Tiểu Thừa xuất hiện
tại Ấn Độ, có một bộ phận độc lập với dạng thức
Phật Giáo tại Sri-Lanka—Between the First Century B.C. to the First
Century A.D., the two terms Mahayna and Hinayana appeared in the Saddharma
Pundarika Sutra or the Sutra of the Lotus of Good Law. About the Second
Century A.D. Mahayana became clearly defined. Nagajuna developed the Mahayana
philosophy of Sunyata and proved that everything is void in a small text
called Madhyamika-karika. About the Fourth Century, there were Asanga and
Vasubandhu who wrote enormous amount of works on Mahayana. After the First
Century A.D., the Mahayanists took a definite stand and only then the terms
of Mahayana and Hinayana were introduced. We must not confuse Hinayana
with Theravada because the terms are not synonymous. Theravada Buddhism
went to Sri-Lanka during the Third Century B.C. when there was no Mahayana
at all. Hinayana sects developed in India and had an existent independent
from the form of Buddhism existing in Sri-Lanka.
(IV)
Hội Nghị lần thứ tư—The Fourth Council:
(A)
Hội nghị nầy dường như chỉ là hội nghị của một phái,
phái Sarvastivadin, hơn là một hội nghị chung thật sự—The
fourth council seems also to have been the synod of a particular school,
the Sarvastivadins, more than a general council.
(B)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ tư được tổ chức
tại thành Ca Thấp Di La (Kashmir) khoảng năm 70 trước Tây Lịch,
dưới sự tổ chức của Vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka), nhưng
lần nầy chỉ có sự tham dự bởi phái Nhất Thiết Hữu Bộ,
chứ không được phái Nguyên Thủy thừa nhận (Sau thời vua
A Dục khoảng 300 năm tức là vào khoảng năm 70 trước Tây
Lịch, miền tây bắc Ấn Độ có vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka),
rất kính tin Phật pháp, thường thỉnh chư Tăng vào triều
thuyết pháp. Vì thấy pháp không đồng và luật lệ của nhóm
nầy khác với nhóm kia, nên vua bèn chọn 500 Tăng sĩ kiến
thức uyên bác, và triệu thỉnh ngài Hiếp Tôn Giả (Parsvika)
tổ chức hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Hội
nghị đề cử Thượng Tọa Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ tọa,
còn ngài Mã Minh được mời từ Saketa đến để soạn thảo
Luận Thư (commentaries) đồng thời là Phó chủ tọa, địa
điểm là tịnh xá Kỳ Hoàn ở Ca Thấp Di La (Kashmir). Mục
đích kỳ kết tập nầy là giải thích rõ ràng ba tạng kinh
điển, gồm 300.000 bài tụng. Sau đó chế ra bản đồng, đúc
chữ in lại tất cả, cho xây bửu tháp để tàng trử kinh
điển. Không phải như ba lần kết tập trước, lần nầy
nghĩa lý kinh điển được giải thích rõ ràng. Tuy nhiên, ngài
Hiếp Tôn Giả Parsvika) là một vị đại học giả về Hữu
Bộ, vua Ca Nị Sắc Ca (Kanishka) cũng tin theo Hữu Bộ, nên sự
giải thích trong lần kết tập nầy đều y cứ vào “Nhất
Thế Hữu Bộ (Sarvastivadah).” Chủ đích của Hội Nghị là
phân tích lại một phần Vi Diệu Pháp nhằm ngăn ngừa một
số khuynh hướng cải cách bên trong cộng đồng. Nhiều nguồn
tin cho biết có sự tham dự của 500 vị A La Hán và 600 vị
Bồ Tát tại hội nghị nầy. Nghị Hội được triệu tập
theo sự đề xuất của một cao tăng uyên thâm Phật pháp là
Hiếp Tôn Giả. Ngài Thế Hữu (Vasumitra) làm chủ tịch Hội
Nghị, trong khi ngài Mã Minh được mời đến từ Saketa, làm
Phó chủ tọa, và cũng là người lo biên soạn quyển
Mahavibhasa, một quyển bình giải về Vi Diệu Pháp. Hội Nghị
nầy chỉ giới hạn trong việc kết tập những lời bình.
Có vẻ như là chủ thuyết nào tranh thủ được sự đồng
ý rộng rãi nhất thì được chú ý nhất. Mà dường như các
tu sĩ của trường phái Nhất Thiết Hữu Bộ chiếm đa số.
Và rất có thể là các chi nhánh quan trọng của trường phái
Sarvastivada gồm những hệ phái không chính thống cũng đã
tham dự với số lượng khá đông. Không có chứng cớ là
Phật giáo Đại Thừa và Nguyên Thủy đã tham dự. Tuy nhiên,
do sự bành trướng quan trọng sau đó của phong trào Sarvastivadin,
người ta thừa nhận hội nghị nầy có tầm quan trọng chung
như một Đại Hội Kết Tập Kinh Điển Phật Giáo—The fourth
Great Council was held around 70 B.C. in Kashmir under the patronage of
King Kanishka, but as the doctrine promulgated were exclusively Sarvastivada
school. It is not recognized by the Theravada. The Council was held to
discuss new interpretation of part of the Abhidharma that was intended
to forestall reformatory tendencies. According to various sources, this
Council was attended by 500 arhats as well as 600 Bodhisattvas. King Kanishka
summoned this Council at the instigation of an old and learned monk named
Parsva. The principal role is ascribed to Vasumitra, while Asvaghosa, who
was invited from Saketa to help supervised the writing of the Mahavibhasa,
a commentary on the Abhidharma. There is no evidence that Mahayana Buddhism
was represented in this Council. However, because of the great importance
later attained by the Sarvastivadins, this synod came to be evaluated as
a Council having general authority.
·
Mười muôn (100.000) bài tụng để giải thích Kinh Tạng: Sutra
Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luật Tạng: Vinaya Pitaka.
·
Mười muôn bài tụng để giải thích Luận Tạng: Hiện nay
vẫn còn 200 quyển A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận do Ngài
Huyền Trang dịch—Abhidharma Pitaka.
·
See Ca Ni Sắc Ca in Vietnamese-English Section.
(V)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ năm được vua Mindon
của Miến Điện tổ chức năm 1871 (Buddhist year 2414). Người
ta nói có khoảng 2.400 tu sĩ có học vấn cùng các giáo sư
tham dự. Các trưởng lão Jagarabhivamsa, Nirindabhidhaja và Sumangala
Sami luân phiên chủ trì hội nghị. Công việc kết tập và
ghi lại Tam Tạng kép dài trên năm tháng trong hoàng cung và
kinh điển được khắc vào 729 bản đá cẩm thạch và lưu
trữ tại Mandalay. Điều đáng chú ý là nhiều ấn bản khác
nhau đã được xử dụng để đối chiếu trong hội nghị
nầy: The fifth council was held in 1871 at the instance of King Mindon
of Burma. It is said that about 2,400 learned monks and teachers participated
in the Council. The elders Jagarabhivamsa, Narindabhidhaja and Sumangala
Sami presided in turn. The recitation and recording of the Tripitaka on
marble continued for about five months in the royal palce and the Tipitika
was carved on 729 marble slabs and preserved at Mandalay. It should be
noted that various available editions of the Tripitaka were used for comparison
and references in this Council.
(VI)
Đại hội kết tập kinh điển lần thứ sáu được tổ chức
tại Ngưỡng Quang, thủ đô của Miến Điện vào năm 1954.
Có khoảng 2500 Tỳ Kheo uyên bác trên khắp thế giới (từ
Ấn Độ, Miến Điện, Tích Lan, Népal, Cam Bốt, Thái Lan, Lào,
và Pakistan) tham dự, trong đó có khoảng năm trăm Tỳ Kheo Miến
Điện, uyên thâm trong việc nghiên cứu và hành trì giáo lý
của Đức Phật, được mời đảm nhận việc kiểm lại văn
bản tam tạng kinh điển Pali. Hội nghị khai mạc năm 1954,
và hoạt động liên tục đến ngày trăng tròn Vaisakha năm
1956, nghĩa là trong dịp kỷ niệm 2.500 năm ngày Đức Phật
nhập Niết Bàn: The sixth Great Council was held in Rangoon in 1954.
About 2,500 learned bhikkhus of the various countries of the world (from
India, Burma, Ceylon, Nepal, Cambodia, Thailand, Laos, and Pakistan), among
which 500 bhikshus from Burma, who were well versed in the study and practice
of the teachings of the Buddha, were invited to take the responsibility
for re-examining the text of the entire Pali canon. The Great Council was
inaugurated in 1954, was to go on till the completion of its task at the
full moon of Vaiskha in 1956, that is, 2,500th anniversary of the Buddha’s
mahaparinirvana.
**
Nhiều người cho rằng Đại Hội Kết Tập lần thứ năm và
sáu là không cần thiết vì Kinh Điển đã hoàn chỉnh mỹ
mãn sau lần kết tập thứ tư. Ngoài ra, còn có nhiều Hội
Nghị khác ở Thái Lan và Tích Lan, nhưng không được coi như
là Nghị Hội đúng nghĩa—Many people believed that the fifth and
the sixth councils were not necessary because after the Fourth Council,
all Tripitaka scriptures were collected satisfactorily. Besides, there
were many other Councils in Thailand and Ceylon, but they were not considered
Councils in the true sense of the term.
·
Hội nghị được triệu tập dưới triều vua Devanampiya Tissa
(247-207 trước Tây Lịch). Hội nghị được chủ tọa bởi
tôn giả Arittha. Hội nghị nầy được tổ chức sau khi phái
đoàn truyền giáo của Hòa Thượng Ma Thẩn Đà, con vua A Dục,
đến Tích Lan. Theo lời kể thì có sáu vạn A La Hán tham dự.
Thượng Tọa Arittha (người Tích Lan, đại đệ tử của Ma
Thẩn Đà thuộc dòng Thera Simhala) tuyên đọc Pháp điển: A
Council was held during the reign of King Devanampiya Tissa (247-207 B.C.)
under the presidentship of Venerable Arittha Thera. This Council was held
after the arrival in the island of Buddhist missionaries, headed by Thera
Mahinda, a son of Emperor Ashoka. According to tradition, sixty thousand
Arhats took part in the assembly. Venerable Thera Arittha, a Simhalese
Bhikshu, a great disciple of Thera Mahinda in the line of Simhalese Theras,
recited the Canon.
·
Theo Sangitisamva thì một Hội Nghị được triệu tập dưới
triều vua Mahanama vào năm 516 Phật Lịch. Trong hội nghị nầy
chỉ có các bài luận giải được dịch từ tiếng Simhala
(Tích Lan) ra tiếng Ma Kiệt Đà (pali) bởi tôn giả Bhadhanta
Busshaghosa: As mentioned in the Sangitivamsa, another Council was held
during the reign of King Mahanama in 516 Buddhist calendar in which only
the commentaries were translated from Sinhalese into Magadhi (Pali) by
Bhadanta Buddhaghosa.
·
Một hội nghị khác diễn ra tại Sri-Lanka vào năm Phật Lịch
1587 dưới triều vua Parakramabahu. Hội nghị nầy diễn ra trong
hoàng cung và kéo dài một năm. Các đại trưởng lão tuyên
tụng lại luận tạng của các Đại Trưởng Lão dưới sự
chủ trì của tôn giả Đại Ca Diếp: Another Council was held
in 1587 Buddhist Calendar in the reign of King Parakramabahu. The conference
took place in the royal palce and lasted for one year. The Council was
presided by Venerable Mahakapsyapa, and it is said to have revised only
the commentaries of the tripitaka of the Mahatheras.
·
Một Hội Nghị khác đã diễn ra tại Thái Lan trong khoảng
những năm 2000 hay 2026 Phật Lịch, và kéo dài một năm.
Nhằm xây dựng Phật giáo trên một nền tảng vững chắc,
vua Sridharmacakravarti Tilaka Rajadhiraja, vị vua trị vì miền Bắc
Thái Lan, đã triệu tập hội nghị nầy tại Chieng-Mai, lúc
đó là kinh đô nước này: Another Council took place in Thailand
either in 2,000 or in 2,026 Buddhist Calendar, and it lasted for
one year. In order to establish Buddhism on a firm basis, King Sridharmacakravarti
Tilaka Rajadhiraja, the ruler of Northern Thailand called this Council
in Chieng-Mai, his capital.
·
Một hội nghị khác ở Thái Lan, diễn ra vào năm 2331 Phật
Lịch, sau một cuộc chiến tranh giữa Thái Lan và một nước
láng giềng. Kinh đô cũ của Thái là Ayuthia bị thiêu rụi
và nhiều bộ sách cùng tam tạng cũng ra tro. Lại thêm Tăng
chúng bị rối loạn và đạo đức sa sút vì tình trạng thù
địch kéo dài. Thế nên vua Rama I cùng hoàng đệ của ông
triệu tập hội nghị để lấy lại niềm tin của mọi người.
Dưới sự bảo trợ của vương triều, có 218 trưởng lão
và 32 học giả cư sĩ họp lại làm việc liên tục trong một
năm để kết tập bộ tam tạng: Another Council was held in Thailand
in 2331 Buddhist Calendar. After a war with its neighboring country, the
old capital Ayuthia was destroyed by fire and many books and manuscripts
of the Tripitaka were reduced to ashes. Moreover, the Sangha was disorganized
and morally weakened by reason of prolonged hostility. Thus, King Rama
I and his brother called for a Buddhist Council to restore the faith from
everyone. Under the royal patronage, 218 elders and 32 lay scholars assembled
together and continued the recitation of the Tripitaka for about a year.
Kết
Thán: Tán thán phần kết của bài kinh hay đoạn kinh—A sigh
of praise at the close of a passage of a sutra.
Kết
Thân: To join by marriage.
Kết
Thúc: See Kết luận.
Kết
Tóc Xe Tơ: To get married.
Kết
Trụ: Làm dấu kim cang ái trụ, như dấu hiệu của Đức Tỳ
Lô Giá Na để kiểm soát quỷ thần—Đây là một phương
pháp của Mật Tông—To make the sign of the Vajra armour and helmet,
i.e. of Vairocana, in order to control the spirits—A method of the esoteric
sects.
Kêu
Án: To convict—To sentence—To condemn.
Kêu
Ca: To complain.
Kêu
Cứu: To call (cry) for help.
Kêu
La: To yell—To shout.
Kêu
Na: To beseech.
Kêu
Oan: To claim one’s innocence.
Kêu
Rêu: To backbite.
Kêu
Van: See Kêu nài.
Kích
Bác: To criticize—To find fault with.
Kiêm:
Cả hai—Both—Also.
Kiêm
Đản Đối Đới: Bốn thời kỳ đầu của giáo thuyết Phật
Đà được tông Thiên Thai định nghĩa là Kim Đản Đối Đới
(bốn thời kỳ nầy đều nói về tướng)—The first four of
the five periods of Buddha’s teaching defined by the T’ien-T’ai sect.
1)
Kim: Thời Hoa Nghiêm nói về Viên Giáo và Biệt Giáo—Combined
teaching, including the complete and differentiating doctrines, the period
of Avatamsaka Sutra.
2)
Đản: Thời A Hàm chỉ nói về Tạng Giáo Tiểu Thừa—Sole,
i.e. Hinayana only, that of Agamas.
3)
Đối: Thời Phương Đẳng, bốn giáo Tạng Thông Biệt Viên
được thuyết giảng đối chiếu với nhau—Comparative, all
four forms of doctrines being compared, the period of the Vaipulya Sutras.
4)
Đới: Thời Bát Nhã Viên giáo được hé mở để hoàn thiện
những giáo thuyết ở Tạng Thông Biệt—Inclusive, that of the
Prajna, when the perfect teaching was revealed as the fulfilment of the
rest.
Kiêm
Lợi: Cả hai cùng có lợi (cả mình lẫn người đều được
lợi lạc)—Mutual benefit; to benefit self and others.
Kiếm:
1)
Lưỡi Kiếm: A sword (a two-edged sword).
2)
Tìm kiếm: To search for—To look for.
Kiếm
Ba: Kampa or Bhukampa (skt)—Chấn Địa Thiên—Deva of earthquakes.
Kiếm
Chác: To make profit
Kiếm
Chuyện: To find fault with—To seek/pick a quarrel with.
Kiếm
Lâm Địa Ngục: Asipattra (skt)—Một trong mười sáu tiểu địa
ngục, địa ngục rùng kiếm—One of the sixteen small hells, the
hell of the forest of swords, or sword-leaf trees.
Kiếm
Luân Pháp: Một hệ thống kiếm xoay để hàng phục ma quân—A
system of revolving swords for subduing demons.
Kiếm
Ma Xá Đề: Kiếm Ma Xá Đế.
1)
Ma quân: A spirit or demon.
2)
Con đẻ của dục vọng không kềm chế được: The ungovernable,
son of Kama (Love and Lust).
Kiếm
Sơn: Kiếm Lâm Địa Ngục, and Địa Ngục in Vietnamese-English
Section.
Kiếm
Thụ Địa Ngục: See Kiếm Lâm Địa Ngục.
Kiềm
Chế: To subdue—To master one’s passions—To overcome.
Kiềm
Chế Dục Vọng: To dominate one’s passions.
Kiềm
Hãm: To check—To control.
Kiềm
Tỏa: To restrain—To bind.
Kiểm:
To check—To revise.
Kiểm
Duyệt: To censor—Censorship.
Kiểm
Soát: Samyama or Sannama (p)—Control—Restraint—Self-control.
Kiểm
Soát Các Căn: Samyatendriyah (p)—Control of senses.
Kiểm
Soát Và Quân Bình: Checks and balances
Kiểm
Tra: To examine—To inspect.
Kiên:
1)
Vai: Shoulder.
2)
Kiên định: Drdha (skt)—Firm—Firmly fixed—Reliable.
Kiên
Chí: Persevering—Constant—Patient
Kiên
Cố: Vững chắc không thay đổi hay không bị lay chuyển—Firm
and sure.
Kiên
Cố Huệ: Trí huệ không gì lay chuyển được—Strong in wisdom.
Kiên
Cố Lâm: Rừng cây Sa La nơi Đức Phật nhập diệt (vì rừng
cây Sa La không hề tàn dù hạ hay dù đông nên gọi là Kiên
Cố Lâm)—The grove of Sala trees, in which Sakyamuni died.
Kiên
Cố Ý: Ý chí vững chắc không gì lay chuyển được—Firm-willed.
Kiên
Cố Ý Bồ Tát: Kiên Cố Ý Bồ Tát trong Thai Tạng Giới—Firm-Willed
Bodhisattva in the Garbhadhatu.
Kiên
Định: To be determined.
Kiên
Gan: Persevering—Patient.
Kiên
Hạ: Vai kề vai—Shoulder by shoulder—One next to another.
Kiên
Lao: Chỉ sự vững chắc của đất—Firm and stable; that which
is stable, the earth.
Kiên
Lao Địa Thần: Còn gọi là Kiên Lao Địa Thiên, hay Kiên Lao
Địa Kỳ, tên của vị Nữ Thần Đại Địa, tức là đất
vững bền và Thần kiên cố—The earth-goddess, or deity, or spirit.
Kiên
Mãn Bồ Tát: Dhrtiparipurna (skt)—Vị Bồ Tát kiên cố viên
mãn, về sau thành Phật hiệu là Hoa Túc An Hành Phật—The
firm and complete bodhisattva, who is to be Buddha Padma-vrsabha-vikramin,
attending on Padmaprabha.
Kiên
Nhẫn: Persevering—Patient.
Kiên
Pháp: Ba việc bảo đảm cho những người tín tâm vào tái
sanh (ý nói nếu quên đi thân mệnh, vứt bỏ của cải thế
tục mà tu đạo thì sẽ có được cái thân vô cực, cái mệnh
vô cùng, và cái tài vô tận)—The three things assured to the faithful
in reincarnation.
1)
Thân tướng hảo: Người tu đạo sẽ được cái thân vô cực—A
good body.
2)
Trường Thọ: Mệnh vô cùng—A long life.
3)
Tài sản vô biên: Tài vô tận—Boundless wealth.
Kiên
Quyết: Firm—Determined.
Kiên
Thân: See Kim Cang Thân.
Kiên
Thệ Sư Tử: Sư Tử Kiên Thệ, hay thệ nguyện xả thân của
sư tử khi đã ngộ đạo. Đức Thích Ca Mâu Ni trong tiền kiếp
khi còn ở nhân vị đã nói về công đức của áo cà sa cho
sư tử Kiên Thệ lông vàng nghe. Nghe xong sư tử bèn thể nguyện
xả thân—The firmly vowing lion, i.e. Sakyamuni in a previous incarnation.
Kiên
Thực: Kiên thật—Firm and solid.
Kiên
Thực Tâm: Tâm kiên thật không gì có thể thay đổi hay lay
chuyển được—Firm heart.
Kiên
Trí:
1)
Trí huệ không có gì có thể thay đổi hay lay chuyển được:
Firm knowledge or wisdom.
2)
Tên của Kim Cang Thần: Name of Vajrapani—See Vajrapani in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kiên
Trì: To persevere.
Kiên
Tuệ: See Kiên Ý.
Kiên
Ý: Sthiramati (skt)—Còn gọi là Kiên Tuệ—Firm mind, also called
firm wisdom.
1)
Tâm ý hay trí tuệ kiên cố không gì có thể thay đổi hay
lay chuyển được: Firm mind or wisdom.
2)
Bồ Tát Sa La Mạt Để, thuộc Phật Giáo Đại Thừa, xuất
hiện sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 700 năm: Name of Sthramati
Bodhisattva, an early Indian monk of the Mahayana, about 700 years after
the Buddha’s nirvana.
3)
Bồ Tát Tất Xỉ La Mạt Để, soạn bộ Nhập Đại Thừa Luận:
Sthiramati Bodhisattva who composed The Commentaries on Entering Mahayana.
Kiến:
(A)
Nghĩa của Kiến—The meanings of “Kiến.”
1)
Giáo lý: Theory—Doctrine.
2)
Kiến lập:
·
Kiến lập cơ sở: To found—To set up—To establish—To build a
school, a market, a house, etc.
·
Kiến lập môn phái: To found or to set up a school of thought or practice.
3)
Kiến Giải (thấy): Darsana (skt)—Nại Lạt Xả Nang—Suy nghĩ
tìm tòi để hiểu rõ mà chọn lựa (khẳng định sự lý,
kể cả ý nghĩa chính đáng và không chính đáng)—Seeing—Discerning—Views—Opinions—Judgment—Thinking—Reasoning—Discriminating—Selecting
truth.
4)
Niềm tin: Belief.
5)
Thấy: Seeing—Thấy bằng—Seeing by:
a)
Cái thấy của phàm phu—The seeing of ordinary people: Dassanam (p)—Darsana
(skt).
·
Quan sát: Observing.
·
Chú ý: Noticing.
·
Khảo sát: Examining.
·
Trầm ngâm suy tưởng: Contemplating.
b)
Cái thấy của bậc Thánh nhân—The seeing of saintly people: Darsayati
(p)—Drisdarsam (skt).
·
Thấy bằng trực tâm: Seeing with the mind.
·
Thấy bằng trực giác: Seeing by divine intuition.
(B)
Phân Loại Kiến—Categories of “Kiến.”—For more information,
please see Nhị Kiến, Ngũ Kiến Thô Thiển, Ngũ Kiến Vi Tế,
Tà Kiến and Hữu Kiến.
Kiến
Ái: Tất cả mọi mê hoặc về lý như ngã kiến tà kiến,
cũng như tất cả mọi mê hoặc về tham, sân, si đều là gốc
rễ của khổ đau phiền não—Views and desires are the root of
all suffering, i.e. the illusion that the ego is a reality and the consequent
desires and passions.
**
For more information, please see Kiến
Hoặc Tư Hoặc and Tam Hoặc.
Kiến
Chánh:
1)
Thấy đúng theo Chánh Pháp: Seeing correctly.
2)
Tên của một đệ tử Đức Phật, nghi ngờ về hậu thế:
Name of a disciple of the Buddha who doubted a future life.
Kiến
Chánh Kinh: Một vị đệ tử của Phật tên là Kiến Chánh,
nghi ngờ về hậu thế. Nhân đó Phật đã đưa ra nhiều thí
dụ để bác bỏ những thiên kiến mê chấp (đoạn kiến và
thường kiến) của Tỳ Kheo Chánh Kiến—A Bodhisattva name “Correct
Vision,” a disciple of the Buddha who doubted a future life, to whom
the Buddha is said to have delivered the contents of the Correct Vision
Sutra.
Kiến
Chân: Tattva-dris (skt)—Perceiving truth—Thấy được chân tánh
tuyệt đối của vạn hữu—To behold truth or ultimate reality.
Kiến
Chấp: View-attachment.
Kiến
Chí Bộ La: Kancipura (skt)—Kiến Chí Thành—Kinh đô của Dravida,
bây giờ là Conjevaram, khoảng chừng 48 dậm về phía tây nam
Madras—Capital of Dravida, the modern Conjevaram, about 48 miles south-west
of Madras.
Kiến
Chính: See Kiến Chánh.
Kiến
Chướng: Các loại tà kiến dấy lên gây chướng ngại cho
Bồ Đề Tâm—The obstruction of heterodox views to enlightenment.
Kiến
Đà Ca: Kanthaka (skt)—Ngựa “kiền trắc” mà Thái tử Tất
Đạt Đa đã cỡi ra khỏi kinh thành để xuất gia (người
ta nói con ngựa nầy là hóa thân của Đế Thích)—The horse
on which Sakyamuni rode when he left home.
Kiến
Đại: Kiến tính bao trùm khắp pháp giới, một trong thất
đại như sắc tính bao trùm khắp pháp giới—Visibility or perceptibility
as one of the seven elements of the universe.
Kiến
Đạo:
1)
Con đường của sự thấy biết chân lý: Darsanamarga (skt)—Ditthimagga
(p)—The path of insight.
2)
Ditthapada (p)—Thấy được chân lý chấm dứt luân hồi sanh
tử, như các bậc Thanh Văn và Sơ Địa Bồ Tát (bậc đã thấy
được chân lý)—Theory, the way or stage of beholding the truth,
i.e. that of the Sravakas and the first stage of Bodhisattva (one who has
seen the Truth).
**
For more information, please see Tam Đạo
(B).
Kiến
Đế: Chứng ngộ chân lý—The realization of correct views.
1)
Bậc Thánh chứng quả Dự Lưu trong Tiểu Thừa: The Hinayana
stage of one who entered the stream of holy living.
2)
Bồ Tát Kiến Địa trong Đại Thừa (trên bậc sơ địa): The
Mahayana stage after the first Bodhisattva stage.
Kiến
Địa: Thấy được chân lý Tứ Đế, vị thứ tư trong thập
địa, tương đương với quả vị “Dự Lưu” trong Tiểu
Thừa—The stage of insight—The discernment of reality of the four
Noble Truths, the fourth in the ten stages of progress toward Buddhahood,
agreeing with the fruit of stream-entry of Hinayana.
**
For more information, please see Thập Địa
Bồ Tát Tam Thừa.
Kiến
Điên Đảo: Mắt nhận biết ngoại cảnh điên đảo hư ảo
mà cho là thực, một trong ba điên đảo—To see things upside
down—To regard illusion as reality, one of the three subversions (subverters).
**
For more information, please see Tam Điên
Đảo.
Kiến
Độc: Chất độc hay sự độc hại của tà kiến—The poison
of wrong views.
Kiến
Giải: Samakhya (skt)—Comprehension—Understanding.
Kiến
Hành: Rational behaviour—See Ái Hành.
Kiến
Hiệu: Effective.
Kiến
Hoặc: Các loại phiền não và cám dỗ khởi lên từ tà kiến—Perplexities
or illusions and temptations arise from false views or theories—Delusive
views—Delusions of views.
Kiến
Hoặc Tư hoặc: Ảo tưởng đưa đến tà kiến—Illusory or
misleading views and thoughts:
1)
Kiến Hoặc: Các loại vọng kiến, phân biệt tà vạy, gây
ra những mê hoặc—Delusions in the visible world.
2)
Tư Hoặc: Lấy tình cảm mê chấp tham, sân, si, mà nghĩ cảm
về vạn hữu trên thế gian—Illusions in the mental or moral world.
**
For more information, please see Tam
Hoặc.
Kiến
Huệ: Do sự tu tập thiền định mà được phát trí tuệ về
các thứ kiến chấp—The wisdom of right views, arising from dhyana
meditation.
Kiến
Kết: Phiền não do tà kiến gây ra khiến chúng sanh lăn trôi
trong luân hồi sanh tử, một trong cửu kết—The bond of heterodox
views, which fastens the individual to the chain of transmigration, one
of the nine attachments.
**
For more information, please see Cửu Kết
and Cửu Phược.
Kiến
Lập: Samaropa (skt).
·
Xây dựng—Thành lập—Sáng lập—To build—To establish—To
errect—To set up—To found a school, sect, thought or practice.
·
Sự khẳng định hay sự thiết lập lý trí, trái lại với
đối lập: Assertion, or theory-making. Samaropa stands against refutation
(apavada).
Kiến
Lập Trí: Pratishthapikabuddhi (skt)—Cái trí nhờ đó một mệnh
đề được thiết lập—The intelligence whereby a proposition is
set up.
Kiến
Lậu: Ảo tưởng tà kiến cho rằng những thứ giả hợp là
có thật—The illusion of viewing the seeming as real.
Kiến
Nghị: Motion.
Kiến
Phân Biệt: Drishtivikalpa (skt)—Các thứ kiến giải dựa vào
sự phân biệt nhị biên về hiện hữu –Views based on the dualistic
discrimination of existence.
Kiến
Phật: Thấy báo thân và ứng thân của Phật—Beholding Buddha—To
see Buddha.
1)
Hàng phàm phu và nhị thừa, do cái biết phân biệt nên chỉ
thấy được ứng thân của Phật: Due to clinging to discrimination,
ordinary people and Hinayana see only the nirmanakaya or body of incarnation
of the Buddha.
2)
Bồ Tát và Đại Thừa, không còn phân biệt nên thấy cả
ứng thân và báo thân Phật: Bodhisattvas and Mahayana, without clinging
to discrimination, see both the body of incarnation (nirmanakaya) and the
spiritual body or body in bliss (sambhogakaya) of the Buddha.
3)
Những người không có duyên lành (không trồng căn lành) ở
kiếp trước không thấy cả hai thứ ứng thân và báo thân:
Those who did not cultivate good roots in their past lives, see neither
nirmanakaya nor sambhogakaya of the Buddha.
Kiến
Phi Kiến: Những cái dễ thấy dễ biết và những điều sâu
sắc huyền diệu—The visible and the invisible—Phenomenal and noumenal.
Kiến
Phược: Phiền não do tà kiến (cho những thứ giả hợp là
có thật) gây ra, trói buộc con nguời vào vòng sanh tử—The
bond of the illusion of heterodox opinions which binds men and robs them
of freedom (mistaking the seeming for the real).
**
For more information, please see Cửu Kết
and Cửu Phược.
Kiến
Quốc: To found (build up) a state.
Kiến
Sơ: Tên của một ngôi chùa tọa lạc tại làng Phù Đổng,
huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Theo Thiền
Uyển Tập Anh và Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, chùa
được xây vào trước năm 820 bởi Thiền Sư Cẩm Thành người
huyện Tiên Du. Trước kia sư tu ở chùa Phật Tích, sau được
một ông phú hộ họ Nguyễn mời về Kiến Sơ lập chùa. Đến
năm 820, bên Tàu là đời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn
Thông, trụ trì chùa Hòa An, thuộc tỉnh Quảng Châu, Trung Quốc,
sang nước ta, đến làng Phù Đổng, được Thiền Sư Cảm
Thành tôn làm Thầy, mời ở lại trụ trì chùa Kiến Sơ. Từ
đó Kiến Sơ trở thành trung tâm của Thiền Phái Vô Ngôn Thông.
Hiện tại trong chùa vẫn còn tượng Lý Công Uẩn và mẹ ông
ở hai bên điện thờ Tam Bảo. Trong điện thờ Tổ có gác
chuông với kiến trúc nổi bậc và chiếc khánh bằng đá cổ,
đường kính 2 mét 3, chiếu cao sáu tấc, bề dầy 17 phân.
Kiến Sơ là một trong những ngôi chùa cổ của Việt Nam được
xây cất trước thế kỷ thứ 5, chùa đã được trùng tu nhiều
lần—Name of a temple, located in Phù Đổng village, Gia Lâm district,
Hà Nội province, North Vietnam. According to Thiền Uyển Tập Anh
and Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Lục, the temple was built
before 820 by Ch’an Master Cẩm Thành from Tiên Du district. He previously
practised Buddhism at Phật Tích Pagoda, then was requested by a rich
landlord, whose last name was Nguyễn, to move to Kiến Sơ temple and
built it. In 820, during the T’ang dynasty, Ch’an Master Wu Yun T’ung,
Head of Hòa An Temple in Kuang-Chou province, in China, arrived in Vietnam.
He went to Phù Đổng village and later became Ch’an Master Cẩm Thành’s
teacher. He, then, was invited to stay and appointed to be head of Kiến
Sơ Temple. Since then, the temple has become the center of the Wu-Yun-T’ung
Sect. At present, the statues of Lý Công Uẩn and his mother are placed
on the left and right sides of the temple’s Buddhist Trinity. Inside
the Patriarch Hall is a remarkably architectural bell tower and an old
stone gong, 2.3 meters wide, 0.60 meter high, 0.17 meter thick, has still
been kept in the temple. Kiến Sơ is one of the most ancient temples
in Vietnam which was constructed before the fifth century. It has been
rebuilt many times—See Cảm Thành.
Kiến
Tâm Kiến Tánh: Seeing (beholding) the Mind, beholding the Nature.
Kiến
Tánh: Nhìn thấy được Phật tánh hay nhìn thấy bản tánh
thật của chính mình. Về mặt từ nghĩa, “kiến tánh” và
“ngộ” có cùng một ý nghĩa và chúng thường được dùng
lẫn lộn với nhau. Tuy nhiên khi nói về sự giác ngộ của
Phật và chư tổ, người ta thường dùng chữ “ngộ” hơn
là “kiến tánh” vì ngộ ám chỉ một kinh nghiệm sâu hơn.
Đây là một câu nói thông dụng trong nhà Thiền—To behold
the Buddha-nature within oneself or to see into one’s own nature. Semantically
“Beholding the Buddha-nature” and “Enlightenment” have virtually
the same meaning and are often used interchangeably. In describing the
enlightenment of the Buddha and the patriarchs, however, it is often used
the word “Enlightenment” rather than “Beholding the Buddha-nature.”
The term “enlightenment” implies a deeper experience. This is a common
saying of the Ch’an (Zen) or Intuitive School.
Kiến
Tánh Thành Phật: Thấy được tự tánh và thành Phật—To
see one’s own nature and become a Buddha—To behold the Buddha-nature
to reach the Buddhahood or to attain enlightenment.
Kiến
Tạo: To build—To errect—To construct.
Kiến
Thiết: See Kiến Tạo.
Kiến
Thủ: Kiến chấp tà vạy, một trong tứ thủ—Clinging to heterodox
views, one of the four kinds of clinging.
**
For more information, please see Tứ Thủ.
Kiến
Thủ Kiến: Drstiparamasra (skt).
·
Những tranh cãi do chấp vào ý kiến cố chấp vào thiên kiến
của mình, một trong ngũ Kiến—Wrong views caused by attachment
to one’s own erroneous understandings—To hold heterodox doctrines and
be obsessed with the sense of the self.
·
Kiến thủ kiến (khư khư bảo thủ ý kiến của mình)—Conservative
standpoint: Lối nầy là khuynh hướng của những người giữ
lấy ý mình và chống lại sự thay đổi. Không ý thức được
sự sai quấy, mà vẫn giữ ý, không thèm nghe người khác;
hoặc vì tự ái hay vì cứng đầu ngang ngạnh cứ tiếp tục
giữ cái sai cái dở của mình. Chẳng hạn như ở Việt Nam
người ta có thói quen đốt giấy vàng mã theo phong tục của
Trung Hoa trong đám tang. Kỳ thật, đám tang theo nghi thức Phật
giáo thật đơn giản. Thân bằng quyến thuộc tề tựu về
tụng Kinh A Di Đà để hộ niệm cho người chết thoát khổ.
Phật tử, nhất là chư Tăng Ni thích được hỏa táng hơn
là địa táng vì cách nầy vừa đở tốn kém lại vừa hợp
vệ sinh hơn. Hơn nữa, theo thời gian đất chôn sẽ tăng một
cách đáng kể làm giảm đi đất dành cho sự canh tác và xây
cất các công thự tiện ích khác—That is the tendency of those
who maintain their point of view or resist and oppose change. For example,
there are some out-dated customs still practiced in Vietnam such as using
Chinese money papers and burning them at funeral ceremonies. In fact, Buddhist
funeral rites are simple. Relatives and friends recite the Amitabha Sutra
to help free the dead from suffering. Buddhists, especially monks and nuns,
prefer cremation to burial, since the first mode is more economic, and
hygienic than the second one. Moreover, with time, the burial grounds would
extend considerably, reducing thus the land reserved for cultivation and
other utilities.
**
For more information, please see Ngũ Kiến
Thô Thiển and Ngũ Kiến Vi Tế.
Kiến
Thủ Sứ: The trials of delusion and suffering from holding heterodox
doctrines.
Kiến
Thức: Learning—Knowledge.
Kiến
Thức Phàm Phu: Worldly knowledge.
Kiến
Thức Phân Biệt Của Phàm Phu: Kiến thức biện biệt của
phàm phu, phân biệt ta và người, đúng và sai—Differentiating
knowledge—For ordinary beings, it is the everyday mind continually making
distinction between self and others, right and wrong—Provisional wisdom.
Kiến
Thức Rộng: Wide knowledge.
Kiến
Tính: See Kiến Tánh.
Kiến
Tranh: Cố chấp nơi ý kiến sai lầm của mình mà tranh cãi—Wrangling
on behalf of heterodox views; striving to prove them.
Kiến
Trọc: See Kiến Trược.
Kiến
Trược: Drsti-kasaya (skt)—Tà kiến khởi lên làm vẩn đục
Chánh Pháp, một trong ngũ trược—Wrong views which cause corruption
of doctrinal views, one of the five corruptions.
**
For more information, please see Ngũ
Trược.
Kiến
Tu: Kiến hoặc và tu hoặc (kiến hoặc là mê hoặc về nghĩa
lý mà bậc kiến đạo phải dứt bỏ; tu hoặc là mê hoặc
về sự việc mà người tu phải loại trừ)—Wrong views and
wrong views in practice (heterodoxy).
Kiến
Tuệ: See Kiến Huệ.
Kiến
Tư: Views and thoughts—See Kiến Hoặc and Tư Hoặc.
Kiến
Tư Giới: The realm of view and thought.
Kiến
Tướng: Chuyển Tướng—Theo Khởi Tín Luận, do cái nghiệp
tướng thứ nhất mà chuyển hóa thành các tướng có thể
thấy được—The state or condition of visibility, which according
to the Awakening of Faith, arises from motion.
Kiến
Văn:
1)
Thấy và nghe—Experience—Knowledge—Learning—Seeing and hearing.
2)
Thấy Phật bằng mắt và nghe Phật pháp bằng chính tai của
mình—Beholding the Buddha with the eyes and hearing his truth with the
ears.
Kiến
Võng: Lưới bủa của tà kiến (trói buộc không cho thân tâm
ta giải thoát khỏi luân hồi sanh tử)—The net of heterodox views,
or doctrines, which binds men and rob them of freedom.
Kiến
Vương Trai: Lễ cúng Trai Tăng ba ngày sau khi có người chết,
khi mà vong linh người chết đang chầu Diêm Vương (Lễ
Kiến Diêm Vương)—The service on the third day when the deceased
goes to see King Yama.
Kiến
Xứ: Ngay nơi tà kiến khởi sanh luân hồi—The state of wrong
views—The state of wrong views gives rise to transmigration.
Kiền
Đạt Bà: Càn Thát Bà—See Gandharva in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Kiền
Trắc: Kanthaka (skt & p)—Tên con ngựa mà Đức Phật đã
dùng để cỡi khi Ngài rời bỏ cung điện để đi xuất gia—The
name of the steed (horse) on which Sakyamuni Buddha was mounted when he
left his palace to renounce the world (rode away from home).
Kiện:
1)
Bò thiến: A gelded bull, an ox.
2)
Chốt khóa hay chốt bánh xe: The bolt of a lock.
3)
Khóa lại: To lock.
4)
Kiện cáo: To sue—To have a law-suit against someone.
5)
Mạnh mẽ: Strong—Sturdy—Hard—Unwearied.
6)
Một loại động vật nửa người nửa báo: A creature half man,
half leopard.
Kiện
Cáo: Law suit—Case.
Kiện
Dũng Tọa: Cách ngồi kiết già của Đức Phật, hai bàn chân
tréo lên hai đùi—The heoric posture of the Buddha with his feet on
his thighs soles upward.
Kiện
Đà La: Gandhara (skt)—Tên vương quốc cổ Kiện Đà La ở vùng
bắc Ấn Độ—Name of an ancient kingdom, north of India.
Kiện
Đà Lê: Gandhara (skt)—Loại mật chú cho ta khả năng bay được—A
spell that gives power to fly.
Kiện
Đạt: Gandha (skt).
1)
Hương thơm: Smell—Scent.
2)
Một loại cây làm nhang thơm: A tree producing incense.
Kiện
Địa: Khanda (skt)—See Kiện Độ.
Kiện
Độ: Khanda (skt).
1)
Một miếng, một mảnh, một phần, một chương sách—A piece,
a fragment, a portion, a section, a chapter.
2)
Quy luật tự viện: Monastic rules.
Kiện
Đức: See Kiền Trắc.
Kiện
Hoàng Môn: Cung điện của quan thái giám—Palace eunuchs.
Kiện
Khang: To be in good health—See Kiện (4).
Kiện
Nam:
1)
Người bị thiến: Pandaka (skt)—A eunuch by castration (deprive
of testes, or ovaries; render impotent).
2)
Thời kỳ thứ tư trong năm thời kỳ của bào thai, tức là
47 ngày sau khi thọ thai (thời kỳ kiên hậu): Ghana (skt)—The
fourth in the five periods of a foetus, a foetus of forty-seven days.
3)
Vững chắc: Solid—Compact—Firm.
Kiện
Từ: Kiến Chi—Kiến Từ—Kiền Từ—Thiển Thiết Bát hay
chiếc bát cạn bằng sắt, loại bát sắt nhỏ, một trong 8
vật cần có của một vị Tỳ Kheo—A bowl, small almsbowl, one
of the eight requisites of monks and nuns (attha-parikkhara).
**
For more information, please see Tám Món
Cần Dùng Của Phật.
Kiêng:
To abstain from—To forbear—To be on a diet.
Kiêng
Cữ: Abstinence—Forbearance—Abstention---To abstain.
Kiêng
Dè: To economize—To save.
Kiêng
Nể: To have regard and consideration for—To respect.
Kiêng
Thịt: To abstain from eating meat.
Kiêng
Tránh: To abstain
Kiếp:
Kalpa (skt).
(I)
Nghĩa của Kiếp—The meanings of Kalpa:
1)
Một khoảng thời gian rất dài: Aeon—Life—An infinitely long
time.
2)
Khoảng thời gian một ngày một đêm trên cõi Trời Phạm Thiên
(tương đương với 4 tỷ 320 triệu năm): The length of a day and
night of Brahma (4.320.000.000 years).
3)
Khoảng thời gian từ lúc vũ trụ được thành lập, đến
hoại diệt rồi lại được thành lập: A period of time between
the creation and recreation of a world or universe.
4)
Lấy áo trời vỗ vào một tảng đá dài 40 dậm, cứ mỗi
trăm năm lại vỗ một lần, cứ thế cho đến khi áo trời
rách nát, tiểu kiếp vẫn chưa hết—To pass a heaven cloth over
a solid rock 40 li in size once in a hundred years, when finally the rock
has been thus worn away a kalpa will not yet have passed.
(II)
Phân loại Kiếp—Categories of Kalpas:
(A)
Phân loại theo Phương cách, có ba loại—Methodologically speaking,
there are three types of kalpas:
1)
Tiểu Kiếp: Small kalpa—See Tiểu Kiếp.
2)
Trung Kiếp: Middling Kalpa—See Trung Kiếp.
3)
Đại Kiếp: Mahakalpa—See Đại Kiếp.
(B)
Phân loại theo sự cấu tạo vụ trụ—Có bốn loại kiếp—Categories
based on the formation of the universe—The kalpa is divided into four
parts:
1)
Thành Kiếp: The period of world formation.
2)
Trụ Kiếp: The period of world-continuation (stability or development).
3)
Hoại Kiếp: The period of the world-dissolution.
4)
Không Kiếp: The period of void.
Kiếp
Ba: Kalpa (skt)—See Kiếp.
Kiếp
Bất Hạnh: A wretched life
Kiếp
Bố Đảm: Kapotana or Kebudhana (skt)—Vương quốc cổ, bây giờ
là Kebud, về phía Bắc của Samarkand—An ancient kingdom, the modern
Kebud, north of Samarkand.
Kiếp
Bố La: Karpura (skt)—Hương long não—Camphor, described as dragon-brain
scent.
Kiếp
Con Người Ngắn Ngủi: The shortness of our lifespan on earth.
Kiếp
Diệm: Kalpa-flames—See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Độc: Kiếp bất tịnh, khi mà tuổi thọ giảm và bệnh hoạn
hoành hành chúng sanh—The impure or turbid kalpa, when the age of
life is decreasing and all kinds of diseases afflict men.
Kiếp
Hải: Số lượng kiếp rất nhiều, ví như lượng nước biển—The
ocean of kalpas, great in number.
Kiếp
Hỏa: Kiếp Diệm—Kiếp Tận Hỏa—Kiếp Thiêu—Hỏa tai trong
thời hoại kiếp, một trong đại tam tai (kiếp hỏa tai sẽ
đốt hết từ mặt đất cho đến cõi sơ thiền)—The fire
in the kalpa destruction, one of the three great calamities.
Kiếp
Hôi: Kiếp tro, thời kỳ chỉ toàn những tro, ngay sau sự tàn
phá của kiếp hỏa—Kalpa-ash, the ash after the fire kalpa of destruction.
Kiếp
Kiếp: Generations after generations.
Kiếp
Luân Hồi: In Samsara.
Kiếp
Nầy Và Nhơn Quả: Kiếp nầy và nhơn quả theo Kinh Nhân Quả—Present
life and cause and effect according to Cause and Effect Sutra.
1)
Kiếp Nầy Canh Cô Quạnh Quẻ Cũng Vì Kiếp Trước Hay Hãm
Hại Người Khác: Being all alone in this life is the consequence of
harming other people with a wicked mind in previous life.
2)
Kiếp Nầy Câm, Điếc, Đui Mù Cũng Vì Kiếp Trước Hay Phỉ
Báng (Người Tụng Đọc) Kinh Điển Đại Thừa: Being dumb,
deaf, or blind in this life is the consequence of slandering (people who
read or recite) Mahayana sutras in previous life.
3)
Kiếp Nầy Chẳng Tu Còn Đợi Đến Kiếp Nào ? If we do not cultivate
in this life, then when will we do so ?
4)
Kiếp Nầy Có Xe Có Ngựa Vì Tiền Kiếp Hay Sửa Cầu Vá Lộ:
Having the previlege to ride on a horse or travel in luxurous sedan cars
in this life is the consequence of one’s contribution made to public
welfare by building the bridges and repairing the roads in his previous
life.
5)
Kiếp Nầy Con Cháu Đầy Đàn Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Phóng
Sanh Lợi Vật: Having so many children and grandchildren in this life
is the consequence of setting free birds, animals as well as doing good
deeds to other beings in previous life.
6)
Kiếp Nầy Được Kính Trọng Nể Vì Cũng Nhờ Tiền Kiếp
Hay Kính Trọng Nể Vì Người Khác: Being respectful in this life
is the consequence of paying respect to other people in previous life.
7)
Kiếp Nầy Hay Gây Hờn Chuốc Não Cho Người, Kiếp Sau Sẽ
Bị Cọp Beo Rắn Hãm Hại: To create hatred and afflictions to other
people in this life, next life will be harmed by tigers, bears or snakes.
8)
Kiếp Nầy Hay Nói Thị Phi, Kiếp Sau Câm Điếc Không Ra Một
Lời: Frequent gossip in this life, will be born dumb and deaf in the
next life.
9)
Kiếp Nầy Giàu Có Với Quần Là Áo Lụa Cũng Vì Tiền Kiếp
Hay Cúng Dường Vải Và Áo Cho Chư Tăng Ni: Being so rich as to
wear in silk fabrics or in satin dress in this life is the consequence
of one’s offerings of robes to the monks and nuns in his previous life.
10)
Kiếp Nầy Hại Người Để Hưởng Lợi Thì Kiếp Sau Làm Thân
Trâu Ngựa Để Đền Trả Và Cuối Cùng Bị Giết Làm Thịt:
To benefit oneself by bringing harm to others, next life will become a
buffalo or a horse to pay retribution and at the end of the life will be
killed for meat.
10)
Kiếp Nầy Hạnh Phúc Vì Kiếp Trước Không Làm Khổ Người
Khác: Being happy in this life is the consequence of not causing physical
or mental harm or damage to any being in previous life.
11)
Kiếp Nầy Hay Khinh Miệt Người, Kiếp Sau Sanh Vào Chỗ Hạ
Tiện Cho Người Miệt Khinh: To look down upon other people in this
life, will be reborn in the mean and poor family and looked down by other
people in the next life.
12)
Kiếp Nầy Hay Ly Gián Đố Kỵ Kẻ Khác, Kiếp Sau Hôi Thúi
Không Ai Tới Gần: To be jealous of others or to cause disputes among
other people, will have a body with bad odour (nobody dares to come near)
in the next life.
13)
Kiếp Nầy Không Đau Ốm Bịnh Hoạn Cũng Nhờ Kiếp Trước
Hay Giúp Đở Thuốc Men Cho Người Nghèo: Being free from illness
in this life is the consequence of donating medicines to the poor in previous
life.
14)
Kiếp Nầy Không Tin Phật Pháp, Kiếp Sau Câm Điếc Để Không
Nghe Gì: Don’t believe in the Buddhist doctrines in this life, will
be dumb and deaf (not be able to read and hear) in the next life.
15)
Kiếp Nầy Làm Thân Làm Tôi Tớ Người Cũng Vì Kiếp Trước
Hay Hành Hạ Tôi Tớ Hay Nợ Nần Không Trả: Working as a servant
in this life is the consequence of ill-treating servants or not paying
debts in previous life.
16)
Kiếp Nầy Làm Thân Trâu Ngựa Cũng Vì Kiếp Trước Ác Độc
Và Giựt Nợ: Becoming a cow or horse in this life is the consequence
of wicked deeds and not paying debts in previous life.
16)
Kiếp Nầy Lường Gạt Giựt Tiền Chùa, Kiếp Sau Phải Làm
Thân Trâu, Bò, Heo Chó Để Đền Trả: To deceive the monks and
nuns to get the money from the temple in this life, will become a buffalo,
a cow, a pig or even a dog to pay retribution in the next life.
17)
Kiếp Nầy Ngược Đãi Súc Vật, Kiếp Sau Sanh Thân Súc Vật
Đền Trả: To maltreat animals, will be reborn as animals to pay retribution
in the next life.
18)
Kiếp Nầy Nhà Cao Cửa Rộng Nhờ Tiền Kiếp Hay Cúng Dường
Gạo Thóc Cho Chùa: Being so rich as to be able to live in luxurious
life is the consequence of offerings rice to the temples in previous life.
19)
Kiếp Nầy No Cơm Ấm Áo Vì Tiền Kiếp Hay Giúp Đở Người
Nghèo: Being sufficient with food and dress in this life is the consequence
of giving alms to the poor in one’s previous life.
20)
Kiếp Nầy Nói Xấu Người Tu, Kiếp Sau Mang Thân Làm Thằn
Lằn Tắc Lưỡi Mỗi Đêm: To slander the monks and nuns (not to
slander the Triratna) in this life, will be reborn as a lizard to click
the tongue every night.
20)
Kiếp Nầy Phú Quí Thịnh Vượng Vì Tiền Kiếp Hay Xây Chùa
Cất Miễu Cũng Như Dựng Nhà Chẩn Tế: Being sufficient with
luck, nobility and prosperity in this life is the consequence of one’s
generous offerings made in the construction of the temples and monasteries
as well as building of the shelters for the needy in previous life.
21)
Kiếp Nầy Thấy Nạn Mà Cười, Kiếp Sau Hoạn Nạn Triền
Miên Một Đời: To feel happy when seeing the misfortunes of others
in this life, will be in constant troubles and sicknesses in the next life.
22)
Kiếp Nầy Thấy Nguy Không Cứu, Kiếp Sau Phải Mang Thân Tù
Đày: To refuse to rescue others when they are in danger, will have the
bad fate of staying in prison in the next life.
23)
Kiếp Nầy Thông Minh Đại Trí Cũng Nhờ Tiền Kiếp Hay Tụng
Kinh Niệm Phật: Being full of great intelligence and wisdom in this
life is the consequence of praying and reciting Amitabha Buddha’s name
in previous life.
24)
Kiếp Nầy Trường Thọ Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay Phóng Sanh
Lợi Vật: Enjoying longevity in this life is the consequence of setting
free animals as well doing good deeds to other people in previous life.
25)
Kiếp Nầy Tướng Mạo Khôi Ngô Cũng Nhờ Kiếp Trước Hay
Thành Tâm Dâng Hoa Cúng Phật: Being so beautiful and dignified in
outer aspects in this life is the consequence of sincere offerings flowers
to the Buddha (statue or image) in previous life.
26)
Kiếp Nầy Vinh Hiển Làm Quan Cũng Vì Tiền Kiếp Đắp Vàng
Tượng Phật: Holding the position of high ranking officer in this life
is the consequence of one’s decorating the statue of the Buddha with
gold leaf in his previous life.
27)
Kiếp Nầy Vu Oan Giá Họa Cho Người, Kiếp Sau Sẽ Bị Người
Vu Oan Giá Họa Để Hãm Hại: To bring harm to others by spreading
false rumours, will be harmed by false rumours in the next life.
Kiếp
Người: Human life (condition).
Những
lời Phật dạy trong Kinh Pháp Cú—The Buddha’s teachings on Human
Life in the Dharmapada Sutra:
1)
Được sinh làm người là khó, được sống còn là khó, được
nghe Chánh pháp là khó, được gặp Phật ra đời là khó—It
is difficult to obtain birth as a human being; it is difficult to have
a life of mortals; it is difficult to hear the Correct Law; it is even
rare to meet the Buddha (Dharmapada 182).
2)
“Mùa mưa ta ở đây, đông hạ ta cũng ở đây,” đấy là
tâm tưởng của hạng người ngu si, không tự giác những gì
nguy hiểm—Here I shall live in the rainy season, here in the winter
and the summer. These are the words of the fool. He fails to realize the
danger (of his final destination) (Dharmapada 286).
3)
Người đắm yêu con cái và súc vật thì tâm thường mê hoặc,
nên bị tử thần bắt đi như xóm làng đang say ngủ bị cơn
nước lũ lôi cuốn mà không hay—Death descends and carries away
that man of drowsy mind greedy for children and cattle, just like flood
sweeps away a sleeping village (Dharmapada 287).
4)
Một khi tử thần đã đến, chẳng có thân thuộc nào có thể
thế thay, dù cha con thân thích chẳng làm sao cứu hộ—Nothing
can be saved, nor sons, nor a father, nor even relatives; there is no help
from kinsmen can save a man from death (Dharmapada 288).
Kiếp
Người Hữu Hạn: Human life is limited.
Kiếp
Người Mong Manh Ngắn Ngủi: Human life is uncertain and ephemeral.
Kiếp
Sau: Future life.
Kiếp
Sơ: Thời kỳ đầu của Thành Kiếp hay lúc mới hình thành
của thế giới—The beginning of the kalpa of formation.
Kiếp
Tai: Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời
hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp
có ba tai nạn hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại
hết thế giới)—The calamity of fire, wind and water during the kalpa
of destruction.
Kiếp
Tân Na: Kapphina (skt)—Kiếp Thí Na—Kiếp Tỷ Na—Kiếp Tỳ
Nô—Một đệ tử của Phật Thích Ca, tên trong Tăng đoàn
là Đại Kiếp Tân Na. Ngài rất giỏi về tinh tú, sau nầy
sẽ thành Phật danh hiệu Phổ Minh Như Lai—A disciple of Sakyamuni,
whose monastic name was Mahakappina. He was very good at astronomy and
constellations. He is to be reborn as Samantaprabhasa Buddha.
Kiếp
Tận Hỏa: See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Thiêu: See Kiếp Hỏa.
Kiếp
Thủy: Đại thủy tai sanh ra vào thời hoại kiếp, một trong
tam đại tai—The flood in the kalpa of destruction, one of the three
great calamities.
Kiếp
Trước: Past life.
Kiếp
Tỳ La: Kapila (skt).
1)
Hoàng xích: Màu vàng đỏ hay nâu—Brown.
2)
Vị Thánh Kiếp Tỳ La, người sáng lập ra Số Luận và trường
phái Số Luận: The sage Kapila, founder of the classical
Samkhya philosophy and the school of that name.
Kiếp
Tỳ La Phạt Thốt Đổ: Kapilavastu (skt)—Nước Kiếp Tỳ La
Phạt Thốt Đô hay Kiếp Tỳ La Quốc, trước kia là Ca Tỳ
La Vệ hay Ca La, đây là xứ sở của vua cha Tịnh Phạn của
Đức Phật Thích Ca. Đất nước nầy bị tiêu diệt ngay khi
Đức Phật còn tại thế. Theo truyền thuyết thì xứ nầy
khoảng 100 dậm về phía Bắc của thành Ba La Nại, tây bắc
của Gorakhpur bây giờ—Capital of the principality occupied by the
Sakya clan; destroyed during Sakyamuni’s life, according to legend; about
100 miles due north of Benares, northwest of present Gorakhpur.
Kiếp
Tỳ La Thiên: Tên của một loại chư thiên hay một loại quỷ—Deva
or demon, called Kapila, or Kumbhira, or Kubera.
Kiếp
Tỳ Tha: Kapittha (skt).
1)
Tăng Khư Thi: Một vương quốc cổ ở Trung Ấn—An ancient kingdom
of Central India.
2)
Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là một vị
Bà La Môn đối xử tệ với Phật tử, sau đó tái sanh làm
một loài cá, và cuối cùng được Đức Thích Ca chuyển hóa:
According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms,
this is a Brahman of Vrji who ill-treated the Budhists of his time,
was reborn as a fish, and was finally converted by Sakyamuni.
Kiếp
Tỳ Xá Dã: Nơi mà bây giờ người ta gọi là Kashmir—Said
to be presently Kashmir.
Kiết:
1)
Da dê—Deer-skin.
2)
Thiến: To castrate.
3)
Tốt: Sri (skt)—Auspicious—Lucky—Fortunate.
Kiết
Ấn: Phép truyền trao của Mật Giáo (người nhận Kết Ấn
phải phát Bồ Đề Tâm và phải thụ nhận phép quán đảnh)—A
binding agreement sealed as a contract, employed by the esoteric sects.
Kiết
Bệnh: See Kết Bệnh.
Kiết
Bố La: Karpura (skt)—Long não—Dragon-brain scent—Camphor.
Kiết
Địa Lạc Ca: Khadiraka (skt)—Vòng thứ ba trong bảy vòng quanh
núi Tu-Di—The third of the seven circles or concentric mountains around
Meru (Sumeru).
Kiết
Già: Padmasana (skt)—Thế ngồi hoa sen, theo kiểu ngồi của
Phật Tổ Thích Ca, hai chân tréo nhau, bàn chân ngửa lên—The
Buddha’s sitting posture with legs crossed and soles upward—To sit
cross-legged.
a)
Hàng Ma Kiết Già: Chân trái tréo lên chân phải—The left leg
is over right, the left hand is over the right hand for being subduing
of demons.
b)
Cát Tường Kiết Già: Chân phải tréo lên chân trái, bàn tay
phải đặt trên bàn tay trái—The right leg is over left for blessing,
the right hand is being placed over the left one.
Kiết
Già Bà Sa: Khadga-visana (skt)—Kiết Già Tỳ Sa Nã—Sừng tê
giác—A rhinoceros’ horn.
Kiết
Già Phu Tọa: See Kiết Già.
Kiết
Giới:
1)
Kết thành giới luật để hộ trì—Bound by the commandments.
2)
Bàn thờ Phật được đặt tại một nơi cố định, hay một
vùng cố định trong tự viện: A fixed place, or territory; a definite
area; to fix a place for a monastery, or an altar;
3)
Một số nhất định cho buổi họp chúng Tăng: A determined number,
e.g. for an assembly of monks.
4)
Kiết Giới Ngũ Tướng: It is a term specially used by the esoteric
sects for an altar and its area, altar being of five different shapes.
·
Phương Tướng: A square shape.
·
Viên Tướng: A round shape.
·
Cổ Tướng: Rectangular shape.
·
Bán Nguyệt Tướng: Semi-circle.
·
Tam Giác: Triangle.
Kiết
Giới Ngũ Tướng: The five different shapes of an altar—See Kiết
Giới (4).
Kiết
Giới Nhị Bất Định: Aniyata (skt)—Hai giới quan hệ tới
vấn đề tình dục, nhưng sự vi phạm lại mơ hồ không rõ—Two
offences which are connected with activities of sex, but the violation
is not clear—See Nhị Bất Định Giới.
Kiết
Giới Thập Tam Tăng Tàn: Sanghadisesa (skt)—Mười ba giới Tổn
Hại Tăng Tàn khiến cho Tăng Ni phạm phải bị tạm thời trục
xuất khỏi giáo đoàn—Thirteen offences which entail upon a monk
temporary expulsion from the Order—See Thập Tam Giới Tăng Tàn.
Kiết
Giới Tứ Ba La Di: Parajika (skt)—See Tứ Đọa.
Kiết
Hà: A river of bondage (suffering or illusion).
Kiết
Hạ: Chấm dứt kỳ an cư kiết hạ—The end of the summer retreat.
Kiết
Kinh: Chấm dứt bài—The end of a sutra.
Kiết
La Nã Tô Phạt Lạt Na: Karnasuvarna (skt)—See Yết La Nã Tô Phạt
Lạt Na.
Kiết
Lật Đà: Grdhra (skt)—Linh thứu (kênh kênh)—Vulture.
Kiết
Lợi La: Một trong những vị Thế Tôn trong nhóm Kim Cang giới—One
of the honourable ones in the Vajra-dhatu groups.
Kiết
Lợi Vương: Kaliraja (skt)—Tiền kiếp của Kiều Trần Như,
khi còn làm quốc vương ông đã cắt tay chân của Ksanti-rsi
vì những thê thiếp của ông đã lạc vào thiền thất của
vị nầy. Do sự tự tại của vị ẩn sĩ nầy mà ông đã
cải đổi và người ta đoán rằng về sau nầy ông sẽ là
đệ tử của Phật Thích Ca—A former incarnation of Kaundinya,
when as king he cut off the hands and feet of Ksanti-rsi because his concubines
had strayed to the hermit hut. He was converted by the hermit’s indifference,
it was predicted that he would become a disciple of Buddha.
Kiết
Ma: Karma (skt)—See Yết Ma.
Kiết
Nghiệp: See Kết Nghiệp.
Kiết
Nhật: A good or an auspicious day.
Kiết
Ni Ca: Kanaka (skt).
1)
Tên của một vài loại cây màu vàng: Name of several yellow plants.
2)
Táo gai: Thorn apple.
3)
Một loại đàn hương: A species of sandalwood.
Kiết
Nô Bộc: Kanabhuj or Kanada (skt)—Người sáng lập trường
phái Triết Lý Ấn Độ Vaisasika—Founder of Vaisesika school of
Indian philosophy.
Kiết
Phược: See Kết Phược.
Kiết
Sử: Fetters.
1)
Kiết và sử, hai tên gọi khác nhau của phiền não, kiết là
trói buộc thân tâm kết thành quả khổ, sử là theo đuổi
và sai sử chúng sanh—The bondage and instigators of the passions,
two other names for afflictions.
2)
Theo Thanh Tịnh Đạo, kiết sử là mười pháp khởi từ sắc
tham; gọi là kiết sử vì chúng trói buộc các uẩn trong đời
nầy với các uẩn đời kế tiếp, hoặc trói buộc nghiệp
với quả, hoặc trói buộc hữu tình vào đau khổ. Vì bao lâu
cái nầy còn hiện hữu thì cái kia không chấm dứt: The fetters
are the ten states beginning with greed for the fine-material, so called
because they fetter aggregates in this life to aggregates of the next,
or karma to its fruit, or beings to suffering. For as so long the ones
exist there is no cessation of the others—See Ngũ Hạ Phần Kết,
and Ngũ Thượng Phần Kết in Vietnamese-English Section.
**
For more information, please see Sử (3).
Kiết
Tặc: See Kết Tặc.
Kiết
Tập: The collecting and fixing of the Buddhist canon. The first assembly
was presided by Kasyapa (Ca Diếp), Ananda for the Sutras (Kinh)
and the Adhidharma , and Upali for the Vinaya (Luật)—See Kết Tập.
Kiết
Thán: See Kết Thán.
Kiết
Thất: Retreats.
Kiết
Thất Định Kỳ: Periodic retreats.
Kiết
Tra Bố Đảm Na: See Yết Tra Bố Đảm Na.
Kiết
Tường: See Cát Tường.
Kiết
Xác: Very poor.
Kiệt:
1)
Đơn vị tương đương với một phần 32.000 do tuần—A unit
equivalent to the 32,000th part of a yojana.
2)
Kiệt sức: Exhausted—Used up—Finished.
3)
Kiệt xuất: Utmost.
Kiệt
Chi: See Tăng Kỳ Chi.
Kiệt
Đà La: Khadira or Karavira (skt)—Loại gỗ cứng—Hard wood.
Kiệt
Liệt:Very famous.
Kiệt
Lực: To be exhausted.
Kiệt
Quệ: Exhausted.
Kiệt
Sức: To be burned out—To be worn out—To be exhausted.
Kiệt
Tác: Masterpiece.
Kiệt
Xoa: Một nơi trên núi Karakoram mà theo ngài Pháp Hiền, nơi
đây các vương triều đã từng tổ chức những cuộc cúng
dường Trai Tăng hay những chúng hội thật vĩ đại. Theo Eitel
trong trung Anh Phật Học Từ Điển, thì đây là vùng Khasa,
nơi trú ngụ của một bộ tộc cổ Kasioi trong vùng Paropamisus;
trong khi những học giả khác thì cho rằng đây có lẽ là
những vùng bây giờ là Kashmir, Iskardu, hay Kartchou—A place said
to be in Karakoram mountains, where according to Fa-Hsien formerly great
assemblies were held under royal patronage and with royal treatment. Eitel,
in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, gives it as Khasa,
and says an ancient tribe on the Paropamisus, the Kasioi of Plotemy; others
give different places, i.e. Kashmir, Iskardu, Kartchou.
Kiệt
Xuất: Outstanding
Kiêu:
1)
Sự kiêu ngạo (cậy vào sự việc trôi chảy hay tài của mình
mà sanh lòng kiêu ngạo): Arrogant—Haughty—Proud—Boastful—Bragging—Self-indulgent—Indulgent.
2)
Tưới nước: To sprinkle—To water.
Kiêu
Đàm Di: Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English
Section.
Kiêu
Khang: Hầm hố của ngã mạn cống cao—The pit of pride and arrogance.
Kiêu
Mạn: Kiêu mạn là tên một loại phiền não, một trong ngũ
thượng phần kết—Arrogance and pride, a kind of klesa, one of the
five higher bonds of desire—See Ngũ Thượng Phần Kết.
Kiêu
Ngạo: See Kiêu.
Kiêu
Phạm Ba Đề: Gavampati (skt)—Còn gọi là Ca Phạm Ba Đề, Cấp
Phòng Bát Để, Kiêu Phạm Bát Đề, Kiều Phạm Ba Đề, hay
Kíp Phòng Bát Để, dịch là Ngưu Thi hay Ngưu Vương, là tên
một vị Tỳ Kheo có cái miệng cứ nhai tới nhai lui như trâu
nhai lại vì tội của đời quá khứ (theo Pháp Hoa Huyền Nghĩa,
tiếng Phạn Gavampati dịch là Ngưu Vương. Ngài do ở đời
quá khứ có ngắt một nhánh lúa ném xuống đất, nên trong
500 đời phải làm kiếp trâu để đền bù, nay tuy mang thân
người, nhưng có hình tướng và tiếng nói giống như loài
trâu)—Interpreted as chewing the cud; lord of cattle, etc. (with the
feet and cud-chewing characteristic of an ox) A man who became a monk,
born with a mouth always ruminating like a cow because of former oral sins;
he had spilled some grains from an ear of corn he plucked in a former life.
Kiêu
Tát La: Kosala (skt)—See Kiều Tát La
Kiêu
Thi: See Kiêu Thi Ca.
Kiêu
Thi Ca: Kausika or Kusika (skt).
1)
Còn gọi là Kiêu Chi Ca, họ của Đế Thích (trong Đại Trí
Độ Luận, theo Kinh Tạp A Hàm: “Vị Tỳ Kheo lại bạch với
Đức Phật rằng: Bạch Thế Tôn, do duyên gì mà ngài Đế
Thích Đề Hoàn lại có tên là Kiêu Thi Ca? Đức Phật nói
với vị Tỳ Kheo rằng: Ngài Thích Đề Hoàn ấy khi còn là
người có họ là Kiêu Thi Ca. Vì nhơn duyên ấy mà ngài có
tên là Kiêu Thi Ca.”)—Kausika, of the family of Kusika, family name
of Indra. This story is mentioned in the Maha-Prajna Sastra.
2)
Có người cho rằng Đức Phật A Di Đà cũng có họ Kiêu Thi
Ca: One account says Amitabha was of the same family name.
Kiêu
Thưởng Di: Kausambi (skt)—Một thành phố cổ nằm bên bờ
sông Hằng, nằm bên dưới Doab. Có nhiều người cho rằng
đây là vùng Kusia gần Kurrah, nhưng Kusia bây giờ là làng Kosam
nằm bên bờ nhánh sông Jumna, khoảng 30 dậm bên trên vùng
Allahabad—An ancient city on the Ganges, in the lower part of Doab. It
has been identified by some with Kusia near Kurrah, but is the village
of Kosam, on the Jumna, 30 miles above Allahabad.
Kiêu
Trần Na: Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.
Kiêu
Trần Như: Kaundinya (skt)—See Kiều Trần Như.
Kiêu
Xa: Proud and luxurious
Kiêu
Xa Da: Kauseya (skt)—Cao Thế Da—Kiêu Xá—Vải làm bằng lụa
thô—Cloth made of wild silk.
Kiếu
Hoán: See Khiếu Hoán.
Kiều:
1)
Cầu: Bridge—Cross-beam.
2)
Kiều Diễm: Beautiful.
Kiều
Diễm: Charming—Graceful.
Kiều
Đàm Ni: Gautami (skt)—See Ma Ha Ba Xà Ba Đề in Vietnamese-English
Section.
Kiều
Lương: Nhẫn nại—A bridge, trampled on by all but patiently bearing
them, a synonym for patience, or endurance.
Kiều
Mỵ: Beautiful.
Kiều
Nhi: Beloved daughter.
Kiều
Nữ: See Kiều Nhi.
Kiều
Phạm Ba Đề: Gavampati (skt)—See Kiêu Phạm Ba Đề.
Kiều
Tát La: Kosala (skt)—Còn gọi là Câu Sa La, Câu Tát La, hay Cư
Tát La.
1)
Bắc Kiều Tát La: Uttarakosala (skt)—Một vương quốc cổ mà
bây giờ là vùng Oude, nằm về miền Trung Ấn Độ (theo Truyện
Pháp Hiển, Bắc Kiều Tát La là tên một vương quốc cổ ở
miền Trung Ấn, khác với nước Nam Kiều Tát La. Đây là một
trong 16 vương quốc lớn thời Đức Phật còn tại thế, thủ
phủ là thành Xá Vệ, nơi Đức Phật đã lưu trú trong một
thời kỳ dài)—Northern Kosala—An ancient kingdom in Central India,
the modern Oude. Its capital is Sravasti, where the Buddha and his
order stayed for a long period of time—See Xá Vệ Quốc.
2)
Nam Kiều Tát La: Daksinakosala (skt)—Vương quốc cổ mà bây
giờ thuộc về các tỉnh trung tâm Ấn Độ (theo Tây Vực Ký
thì ngài Huyền Trang cho rằng vùng nầy là vùng Trung Ấn. Theo
Truyện Pháp Hiển, đây là nước Đạt Thân hay Nam Kiều Tát
La, để phân biệt với Bắc Kiều Tát La, còn gọi là Đại
Kiều Tát La. Đây là nơi mà ngài Long Thọ đã từng lưu trú,
được vua Sa Đa Bà Ha rất kính trọng. Nhà vua đã cho xây
một ngôi chùa lớn năm tầng tại Bạt La Vị La. Vị trí thủ
phủ của nước nầy ngày nay chưa ai định rõ)—Southern Kosala—An
ancient kingdom, also in Central India, part of the present Central Provinces.
Kiều
Trần Như: Kaundinya (skt).
1)
Ajnata-Kaundinya (skt)—Kondanna (p)—Tên của một trong năm vị
đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Ông là người trẻ tuổi
nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh
đến lễ quán đảnh Thái Tử sơ sinh. Ông nguyên là thái tử
xứ Ma Kiệt Đà, là cậu của Đức Phật, và cũng là bạn
cùng tu khổ hạnh với Đức Phật khi Ngài mới xuất gia (Nhóm
ông Kiều Trần Như có năm người, trước kia theo làm bạn
tu khổ hạnh với Đức Phật. Sau khi thấy Đức Phật thọ
nhận bát sữa của nàng Mục Nữ cúng dường, cho rằng Đức
Phật đã thối tâm trên đường tìm đạo giải thoát nên
họ đã ly khai với Phật. Sau khi Đức Phật thành đạo, năm
vị nầy lại gặp Đức Phật tại vườn Lộc Uyển/Mrgadava
trong thành Ba La Nại/Varanasi, được Phật thuyết giảng về
Tứ Diệu Đế để độ họ trở thành những vị Tỳ Kheo
đầu tiên. Đây là năm vị đệ tử đầu tiên của Đức
Phật)—Name a prince of Magadha, uncle and one of the first five disciples
of Sakyamuni. He was the youngest and cleverst of the eight brahmins who
were summoned by King Suddhodana to name the infant prince. He used to
practise ascetic practices with Prince Siddhartha when he just left home.
2)
Vyakarana-Kaundinya (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ
Điển, thì Vyakarana-Kaundinya là vị tôn giả, xuất thân từ
một gia đình Bà La Môn giàu có trong thành Ca Tỳ La Vệ, sanh
ra trước Đức Phật. Người đã được Đức Phật bảo rằng
một Đức Phật quả là quá thiêng liêng để mà để lại
bất cứ xá lợi nào trên trần thế nầy—According to Eitel
in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Vyakarana-Kaundinya,
son of a very wealthy Brahman family near Kapilavastu, and was born before
the Buddha. He was the one, who was told by the Buddha that a Buddha is
too spiritual to leave any relics behind.
Kim:
1)
Kim Tinh: Sukra (skt)—Venus.
2)
Vàng hay quý kim: Hiranya (skt)—Y Lại Nã—Gold or any precious
metal.
3)
Bây giờ: Now—The present—At present.
4)
Màu sặc sỡ: Suvarna (skt)—Tô Phạt Thích—Of a good or beautiful
colour—Golden—Yellow.
Kim
Ba: The moonlight.
Kim
Cang: Vajra (skt)—Diamond or adamantine—Biểu tượng năng lực
tâm linh vô thượng được so sánh với viên ngọc quý nhất,
kim cương với sự trong suốt và sáng ngời của nó, các màu
khác được phản chiếu trong ấy, mà nó vẫn giữ được
tính không màu sắc của nó. Nó có thể cắt đứt được
mọi vật rắn khác, trong khi một một thứ gì có thể cắt
đứt được nó—The symbol of the highest spiritual power, which
is compared with the gem of supreme value, the diamond, in whose purity
and radiance other hues are reflected while it remains colorless, and which
can cut every other material, itself is being cut by nothing.
(A)
Nghĩa của Kim Cang—The meanings of Vajra:
1)
Kim Cang chùy của vua Trời Đế Thích: The thunderbolt of Indra,
often called the diamond club.
2)
Biểu tượng của mặt trời: A sun symbol.
3)
Một trong thất bảo: One of the seven precious stones (saptaratna).
(B)
Ba đặc tánh của Kim Cang—Three special natures of diamond:
1)
Cứng rắn: Solid—Firm.
2)
Chiếu sáng: Bright—It has brilliance.
3)
Sắc bén: Sharp—It is piercing—Trong Phật giáo, kim cang có thể
cắt đứt mọi phiền não, khiến cho chúng sanh có được đại
trí để tiến đến tâm Bồ đề—In Buddism, vajra can cut off
all afflictions of living beings so that they can open great wisdom and
advance to bodhi-mind.
Kim
Cang Bảo Giới: Nhất Tâm Kim Cang Bảo Giới hay Đại Thừa
giới trình bày trong Kinh Phạm Võng—The Mahayana rules according
to the Brahma Net sutra.
**
For more information, please see Bốn Mươi
Tám Giới Khinh.
Kim
Cang Bảo Tạng: Theo Kinh Niết Bàn, Bảo Tạng Kim Cang gồm Niết
Bàn và Bồ Đề tâm, là nguồn tâm của mọi chúng sanh—According
to the Nirvana Sutra, the “Diamond” treasury, i.e. nirvana and the
pure bodhi-mind, as the source of the mind of all sentient beings.
Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa: Vajracchedika Prajnaparamita—See Kinh
Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa in Appendix A (6).
Kim
Cang Bất Hoại:
1)
Tánh chất bất hoại của kim cương: The indestructibility of the
diamond.
2)
Kim Cang thân bất hoại của Đức Phật: The diamond indestructible
body of the Buddha.
Kim
Cang Bồ Tát: There are several Vajra-bodhisattvas:
1)
Kim Cang Nhân Bồ Tát: Vajrahetu bodhisattva.
2)
Kim cang Thủ Bồ Tát: Vajrapani bodhisattva.
3)
Kim Cang Bảo Bồ Tát: Vajraratna bodhisattva.
4)
Kim Cang Tạng Bồ Tát: Vajragarbha bodhisattva.
5)
Kim Cang Châm Bồ Tát: Vajrasuci bodhisattva.
6)
Kim Cang Tướng Bồ Tát: Vajrasena bodhisattva.
7)
Kim Cang Tác Bồ Tát: Vajrapasa bodhisattva.
8)
Kim Cang Câu Bồ Tát: Vajrankusa bodhisattva.
9)
Kim Cang Hương Bồ Tát: Vajradhupa bohisattva.
10)
Kim Cang Quang Bồ Tát: Vajratejah bodhisattva.
11)
Kim Cang Pháp Bồ Tát: Vajradharma bodhisattva.
12)
Kim Cang Lợi Bồ Tát: Vajratiksna bodhisattva.
Kim
Cang Bộ: Vajrapani (skt)—Nhóm Kim Cang trong Kim Cang Giới hay Thai
Tạng Giới (các vị tôn tay cầm chày Kim Cang nêu cao trí của
Đức Như Lai, 13 vị tôn trong Kim Cang Thủ bên trái của Đức
Đại Nhật Như Lai) —Groups of the same in the Vajradhatu or Garbhadhatu
mandalas.
Kim
Cang Bộ Bồ Tát: Vajrapani-bodhisattva (skt)—Kim Cang Bộ Tát Đỏa—Vị
Bồ Tát trong Kim Cang Bộ như Bồ tát Phổ Hiền—Vajrapani-bodhisattva,
especially P’u-Hsien (Samantabhadra).
Kim
Cang Câu Vương: The Vajra Hook King.
Kim
Cang Châm: Vajrasena (skt)—Kim kim cang—The straight vajra.
Kim
Cang Chúng: Quyến thuộc của chư Kim Cang Thần—The retinue of
the Vajradevas.
Kim
Cang Chử: Chày Kim Cang rất bén—The Vajra or thunderbolt. It is
generally sharp as such, but has various other forms.
1)
Một loại vũ khí của binh lính Ấn Độ: The Vajra is also interpreted
as a weapon of Indian soldier.
2)
Mật giáo và những tông phái khác dùng Kim Cang Chử như một
biểu tượng của trí tuệ và sức mạnh để chặt đứt phiền
não và khắc phục ma chướng: It is employed by the esoteric sects,
and others, as a symbol of wisdom and power over illusion and evil spirits.
3)
Độc Cổ Kim Cang Chữ: Khi thẳng thì Kim Cang Chử được gọi
là “Độc Cổ”—When straight as a sceptre it is one limbed vajra.
4)
Tam Cổ Kim Cang Chử: Khi có ba chia thì gọi là “tam cổ”—When
it has three prongs, it is called “three-pronged” vajra.
5)
Ngũ Cổ Kim Cang Chử: Khi có năm chia thì gọi là “ngũ cổ”—When
it has five prongs, it is called “five-pronged” vajra.
6)
Cửu Cổ Kim Cang Chử: Khi có chín chia thì gọi là “cửu cổ”—When
it has nine prongs, it is called “nine-pronged” vajra.
Kim
Cang Dạ Xoa: Vajrayaksa (skt).
1)
Vị Thần Hộ Pháp thường được đặt ngay cổng của các
chùa. Kim Cang Dạ Xoa hay Phẫn nộ Minh Vương, là một trong
năm vị Minh Vương, người hộ trì Phật pháp, nhưng lại là
kẻ thù của ma quỷ. Vị nầy có ba mặt sáu tay hay một mặt
bốn tay, trụ tại phương Bắc, là vị Phẫn Nộ Tôn Bất
Không Thành Tựu Như Lai ở phương Bắc trong ngũ trí Như Lai
(ngũ Phật) của Kim Cang Giới—The guardian spirits represented
on the temple gates. One of the five kings of hells or messengers and manifestation
of Vairocana. The fierce maharaja as an opponent of evil, he is one of
the guardians of Buddhism. He has either three faces and six arms,
or one face and four arms. He is a fierce guardian of the north in the
region of Amoghasiddhi in the Vajradhatu—See Ngũ Phật.
2)
Vị Bồ Tát có răng nanh: A Bodhisattva with the fangs.
Kim
Cang Diệt Định: Kim cang diệt định là giai đoạn sau cùng
của Bồ Tát với trí tuệ bất hoại—Diamond meditation, the
last stage of a bodhisattva, characterized by firm and indestructible knowledge,
penetrating all reality.
Kim
Cang Dụ Định: Vajra-meditation—See Kim Cang Định and Kim Cang
Tam Muội.
Kim
Cang Đài: Diamond Lotus.
Kim
Cang Đàm: Hỏa Viện—Giới Ấn—Mật Phong Ấn—Vòng tròn
lửa ngăn cấm sự xâm nhập của ma quỷ—Diamond-blaze, acircle
of fire to forbid the entry of evil spirits.
**
For more information, please see Hỏa Ấn,
Hỏa Giới, and Hỏa Viện.
Kim
Cang Đảnh:
1)
Vương miện Kim Cang: The vajra (diamond) apex or crown.
2)
Tên gọi chung các kinh của Mật Giáo: A general name of the esoteric
doctrine and sutras of Vairocana.
Kim
Cang Đảnh Kinh: Kim Cang Đảnh Kinh là kinh chính của Kim cang
Đảnh Tông, một trong ba bộ kinh chính của Chân Ngôn Giáo—Vajra-crown
sutra, the authority for the Vajra-Crown sect, one of the three main sutras
of the Shingon.
Kim
Cang Định: Vajrasamadhi (skt)—Kim Cang Dụ Định—Kim Cang Tam
Muội—Thiền định của Bồ tát ở ngôi tối hậu. Người
tu hành và đắc phép thiền định nầy sẽ được trí bền
vững, sắc bén và bất hoại như kim cương, có thể cắt đứt
tất cả phiền não và tà kiến thiên lệch—Vajra-meditation—Samadhi
as a state of great stability, that of the last stage of the Bodhisattva,
characterized by firm, indestructible knowledge, penetrating all reality;
attained after all remains of illusion and wrong views have been cut off.
**
For more information, please see Kim Cang
Tam Muội.
Kim
Cang Đoạn: Vajracchedika (skt)—Cắt đứt Kim Cang, một đoạn
văn ngắn trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa—Diamond cutter, a short
paragraph in the Perfection of Wisdom Sutra (Prajnaparamita Sutra)—See
Kinh Kim Cang in Appendix G.
Kim
Cang Đồng Tử: Vajrakumara (skt).
1)
Kim Cang Sứ Giả của chư Phật và chư Bồ Tát: A Vajra-messenger
of the Buddhas or Bodhisattvas.
2)
Hóa thân của Đức Phật A Di Đà thành một đứa trẻ tay
cầm kim cương chùy, mặt có vẻ phẫn nộ: An incarnation of
Amitabha in the form of a youth with fierce looks holding a vajra.
Kim
Cang Giới: Vajradhatu (skt).
·
Kim Cang giới là một phần tử của vũ trụ; nó là TRÍ ĐỨC
bất hoại của Đức Tỳ Lô Giá Na; nó khởi lên từ trong
Thai Tạng Giới—The Diamond or Vajra realm, element of the universe;
it is the wisdom of Vairocana in its indestructibility and activity; it
arises from the Garbhadhatu (the womb of all things).
·
Kim Cang Giới được diễn dịch là “Trí” giới—Vajradhatu
is interpreted as the realm of intellection.
·
Kim cang giới tiêu biểu cho thế giới tâm linh của sự toàn
giác: The Vajradhatu represents the spiritual world of complete enlightenment.
·
Mật Giáo coi Kim Cang Giới là Pháp Thân, trong khi Hiển Giáo
thì coi nó như là Hóa Thân: The esoteric Dharmakaya doctrine as contrasted
with the exoteric Nirnamakaya.
·
Kimg Cang Giới là yếu tố thứ sáu của tâm, nó biểu hiệu
bằng một hình tam giác mũi chúi xuống và mặt trăng tròn
tượng trưng cho trí tuệ hay sự hiểu biết—It is the sixth
element of “Conscious mind,” and is symbolized by a triangle with the
point downwards and by the full moon, which represents “wisdom” or
“understanding.”
·
Kim Cang Giới tương ứng với “quả.”—Vajradhatu corresponds
to fruit or effect.
·
Kim Cang giới là vũ trụ được nhìn như là sự thể hiện
của Đức Phật Tỳ Lô Giá Na mà hình ảnh của Ngài được
phản chiếu trong tâm của mọi chúng sanh: Vajradhatu is the universe
viewed as the manifestation of Vairocana Buddha whose image is reflected
in the heart of every being.
Kim
Cang Giới Ngũ Bộ: Five divisions of the Vajradhatu represented by
five Dhyani-Buddhas:
1)
Trung Đài Đại Nhựt Như Lai: Vairocana in the center.
2)
Đông Độ A Súc Bệ Phật: Aksobhya in the east.
3)
Nam Phương Bảo Sanh Phật: Ratnasambhava in the south.
4)
Tây Phương A Di Đà Phật: Amitabha in the west.
5)
Bắc Phương Bất Không Thành Tựu: Amoghasiddhi or Sakyamuni in
the north.
**
For more information, please see Ngũ Phật
Kim
Cang Giới Thai Tạng Giới: Vajradhatu and Garbhadhatu (skt).
(I)
Kim Cang Giới: Vajradhatu (skt)—See Kim Cang Giới.
(II)
Thai Tạng Giới: Garbhadhatu (skt).
1)
Thai Tạng Giới là kho chứa mọi lý luận của trí: Garbhadhatu
is the womb or store of the Vairocana reason or principles of the wisdom.
2)
Nơi tồn chứa tất cả mọi LÝ LUẬN của Tỳ Lô Giá Na bất
hoại trí—The womb or store of the Vairocana reason or principles of
the Vairocana’s indestructible wisdom—The womb or store of all things.
3)
Thai Tạng Giới được diễn dịch như là chất liệu căn bản
của Kim Cang Giới—Garbhadhatu is interpreted as the substance underlying
the Vajradhatu (realm of intellection).
4)
Thai Tạng Giới tương ứng với nhân: Garbhadhatu corresponds to
the cause.
Kim
Cang Hộ Bồ Tát: Vị Bồ Tát bảo hộ che chở cho con người
với lòng đại bi như một chiếc nón sắt bao bọc—The Bodhisattva
Vajra pala, who protects men like a helmet and surrounds them like mail
by his great pity.
Kim
Cang Huệ: Trí tuệ thấu rõ lý của thực tướng mà phá vỡ
chư tướng hay trí tuệ ảo giác—Diamond-wisdom, which by its
reality overcomes all illusory knowledge.
Kim
Cang Khẩu: Lời nói hay giáo thuyết xuất ra từ kim khẩu của
Phật bền vững như kim cương bất hoại—Diamond mouth (of a
Buddha)—The diamond-like firmness of the Buddha doctrine.
Kim
Cang Kinh: Vajracchedika-prajnaparamita-sutra—Kim cang Năng Đoạn
Bát Nhã Ba La Mật Kinh, tóm lược cô đọng của Kinh Bát Nhã
Ba La Mật Đa Kinh, trước tiên được dịch sang Hoa ngữ bởi
ngài Cưu Ma La Thập, sau đó có nhiều bản dịch khác—The
Diamond Sutra, a condensation of the Prajnaparamita; first translated into
Chinese Kumarjiva, later by others.
**
For more information, please see Kinh Kim
Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Kim
Cang Linh: Chuông Kim Cang có công dụng làm tăng sự chú tâm
và phấn chấn người nghe—The diamond or vajra bell for attracting
the attention of the objects of worship, and stimulating all who hear it.
Kim
Cang Linh Bồ Tát: Vajra-ghanta (skt)—Vị Bồ Tát tay cầm chuông
trong Kim Cang Mạn Đồ La—A Bodhisattva holding a bell in the Vajradhatu
mandala.
Kim
Cang Luân:
1)
Kim Cang Pháp Luân: Bánh xe Pháp Kim cang—The diamond or vajra wheel.
2)
Kim Cang Thừa: Vajrayana (skt)—Symbolical of the esoteric sects.
3)
Kim luân của tầng đất thấp nhất: The lowest of the circles
beneath the earth.
Kim
Cang Luân Sơn: See Kim Cang Vi Sơn.
Kim
Cang Luân Tọa: See Đại Nhân Đà La Tọa.
Kim
Cang Lực: Sức mạnh như kim cương, sức mạnh không ai chống
nổi—Vajra-power—Irresistible strength.
Kim
Cang Lực Sĩ: See Kim Cang Thần, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim Cang Mật
Tích.
Kim
Cang Mạn Đồ La: See Kim Cang Giới, and Kim cang Giới Ngũ Bộ.
Kim
Cang Mật Tích: Mật Tích Kim Cang—Mật Tích Lực Sĩ—Kim Cang
Lực Sĩ—Kim Cang Thủ—Chấp Kim Cang—Những vị tay cầm chày
kim cang thể hiện đại uy ủng hộ Phật pháp. Đức Đại
Nhật Như Lai lấy các vị Kim Cang Mật Tích nầy làm nội quyến;
lấy các vị Phổ Hiền, Văn Thù làm đại quyến hay ngoại
quyến. Cũng như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lấy các vị Thanh
Văn như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên…, làm nội quyến,
lấy các vị Bồ Tát làm đại quyến—The deva-guardians of the
secrets of Vairocana, his inner or personal group of guardians in contrast
with the outer or major group of P’u-Hsien, Manjusri, etc. Similarly,
Sariputra, or Maudgalyayana, the sravakas, etc., are the inner guardians
of Sakyamuni, the Bodhisattvas being the major group.
Kim
Cang Môn: Cổng Kim Cang trong Thai Tạng Mạn Đồ La—The diamond
door of the Garbhadhatu mandala.
Kim
Cang Ngữ Ngôn: See Kim Cang Niệm Tụng.
Kim
Cang Niệm Tụng: Kim cang Ngữ Ngôn—Niệm thầm—Silent repetition.
Kim
Cang Phan: Vajraketu (skt)—Cờ treo trên cột đầu rồng—A flag
hung to a pole with a dragon’s head.
Kim
Cang Phan Bồ Tát: Vajraketu Bodhisattva (skt)—Vị Bồ Tát cầm
cờ, một trong 16 vị Bồ Tát trong nhóm Kim Cang Giới—The flag-bearer,
one of the sixteen in the Vajradhatu group.
Kim
Cang Pháp Giới Cung: Cung điện của Thai Tạng Giới, nơi trụ
của Đức Đại Nhật Như Lai (kim cương là thực tướng của
Như Lai, pháp giới là trí thể của thực tướng. Pháp thân
của Đức Đại Nhật Như Lai trụ ở trí thể của thực tướng)—The
palace or shrine of Vairocana in the Garbhadhatu.
Kim
Cang Phật: Vajra-buddha (skt)—Đức Đại Nhật Như Lai, có lúc
chỉ Đức Thích Ca Mâu Ni như là hóa thân của chân lý, trí
tuệ và thanh tịnh—Vairocana, the Sun-Buddha; sometimes applied to
Sakyamuni as embodiment of the Truth, of Wisdom, and of Purity.
Kim
Cang Phật Tử: Con của Kim Cang Phật hay con của Đức Đại
Nhật Như Lai, từ dùng để chỉ những người mới được
làm phép gia nhập vào Mật Giáo—Son of the Vajra-buddha, i.e.
of Vairocana, a term applied to those newly baptized into the esoteric
sect.
Kim
Cang Quán: Phép Kim Cang quán là phép quán xuyên qua chân lý—The
diamond insight or vision which penetrates into reality.
Kim
Cang Quyền: Nắm tay Kim Cang hay hai tay nắm lại và để ngay
trước ngực (có bốn loại quyền: nắm tay thông thường,
để ngón cái nằm thẳng, đặt ngón cái vào lòng bàn tay,
nắm tay lại với nhau)—Vajra-fist—The hands doubled together on
the breast.
Kim
Cang Quyền Bồ Tát: Một trong những vị Bồ Tát trong nhóm
Kim Cang—One of the Bodhisattvas in the Diamond group.
Kim
Cang Sát: Vajraksetra (skt)—Tên gọi các chùa hay tự viện—Buddhist
monastery or building.
Kim
Cang Tác: Vajrapasa (skt)—Dây thòng lọng kim cang trong tay của
Bất Động Minh Vương—The diamond lasso or noose in the hand of
the subduer of demons (Arya-achlanatha-raja) and others.
Kim
Cang Tác Bồ Tát: Kim Cang Tác Bồ Tát trong Kim cang Giới Mạn
Đồ La, người mang lưới từ bi quấn lấy tâm hồn của chúng
sanh hữu tình—Vajrapasa-bodhisattva in the Vajradhatu mandala, who
carries the snare of compassion to bind the souls of the living.
Kim
Cang Tam Muội: Vajravimbopama (skt)—Tam muội thông suốt các pháp
giống như Phật tánh chân như. Đây là loại tam muội cao nhất
mà người tu Phật có thể đạt được. Nhờ tam muội nầy
mà người tu có thể đoạn diệt cái hình thức vi tế nhất
của phiền não—A samadhi on the idea that all things are of the same
Buddha-nature. This is the highest samadhi attainable by the Buddhist yogin
who by this destroys the subtlest form of the klesa.
**
For more information, please see Kim Cang
Định.
Kim
Cang Tạng: Vajragarbha (skt).
1)
Kho Tạng Kim Cang: The Diamond treasury.
2)
Vị Bồ Tát trong Kinh Lăng Già: The Bodhisattva in the Lankavatara
sutra.
Kim
Cang Tạng Bồ Tát: Vajra Treasury Bodhisatva.
Kim
Cang Tạng Vương:
1)
Kiếp kế tiếp của Kim cang Tạng Bồ Tát: A form of the next
entry of the Vajra Treasury Bodhisattva.
2)
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Sakyamuni Buddha.
Kim
Cang Tát Đỏa: Vajrasattva-mahasattva (skt)—Kim Cang Thủ.
1)
Bí Mật Chủ Phổ Hiền, vị tổ thứ hai trong tám vị tổ
Chân Ngôn, vị tổ thứ nhất là Đức Đại Nhật Như Lai:
A form of P’u-Hsien (Samantabhadra), reckoned as the second of the eight
patriarchs of the Shingon, Vairocana was the first.
2)
Các vị Chấp Kim Cang Thần, hay các vị Bồ Tát, đặc biệt
chỉ ngài Kim Cang Nguyệt Luân ở Đông độ của Kim Cang Mạn
Đồ La: All vajra-beings, or vajra-bodhisattvas; especially those in
the moon circle in the east of the Diamond mandala.
3)
Ngài Nhất Thiết Nghĩa Thành Tựu Bồ tát (tiền thân của
Đức Phật Thích Ca): Sakyamuni in a previous incarnation as a vajrasattva.
4)
Tất cả chúng hữu tình đều là “Kim cang Tát Đỏa” vì
tất cả đều có Phật tính: All beings are vajrasattva, because
of their Buddha-nature.
5)
Tất cả những người sơ cơ tín hành đều là Kim Cang tát
Đỏa: All beginners in the faith and practice are vajrasattva.
6)
Tất cả quyến thuộc của Ngài A Súc Bệ Phật đều là Kim
Cang Tát Đỏa: All the retinue of Aksobhya are vajrasattva.
7)
Bất cứ vị Đại Phổ Hiền (bất cứ ai thành tựu mười
thệ nguyện lớn đều là trưởng tử Như Lai, và đều được
gọi là Phổ Hiền) nào cũng đều là Kim Cang Tát Đỏa: Any
Great P’u-Hsien is a vajrasattva.
Kim
Cang Tâm: Cái tâm lớn của Bồ Tát bền vững và bất hoại
như kim cương—Diamond heart, that of a bodhisattva, i.e. infrangible,
unmoved by illusion.
Kim
Cang Tâm Điện: Bất Hoại Kim Cang Quang Minh Tâm Điện hay Kim
Cang Giới Mạn Đà La, nơi trụ của Phật Tỳ Lô Giá Na—The
shrine of the indestructible diamond-brillant heart—The Vajradhatu (mandala)
in which Vairocana dwells.
Kim
Cang Thân: Kiên Thân (thân kiên cố)—Chân Thân (thân chân thật)—Thân
kim cang bất hoại của Phật—Golden body—The diamond body, the
indestructible body of Buddha.
Kim
Cang Thần:
1)
Vị Thần hộ pháp (bảo hộ chư Tăng)—The guardian spirits
of the Buddhist order.
2)
Tượng hộ pháp lớn nơi cổng các tự viện: The large idols
at the gate (entrance) of Buddhist monasteries.
**
For more information, please see Kim
Cang Thủ, Kim Cang Dạ Xoa, and Kim
Cang Mật Tích.
Kim
Cang Thể: Thân thể bền vững như kim cương, nói về công
đức của Phật thân (thân của Như Lai là thể kim cương.
Mọi thứ ác đều đã cắt đứt, mọi điều vui sướng đều
đã huân tập)—The diamond body, that of Buddha and his merit.
Kim
Cang Thiên: Vị Trời hộ pháp trong nhóm Kim Cang Giới—The vajra-deva
in the Vajradhatu group.
Kim
Cang Thủ: Vajrapani (skt)—
1)
Vị Thần tay cầm Kim Cang Chùy: A holder (protector) of the vajra.
2)
Hình ảnh hay dấu hiệu Kim Cang Chùy: Any image or symbol of a Vajra.
**
For more information, please see Đại
Thắng Kim Cang and Kim Cang Mật Tích.
Kim
Cang Thủy: Nước Kim Cương, tên một thứ nước mà người
thọ giới phải uống khi làm nghi thức quán đảnh trong Mật
Giáo—Diamond or Vajra-water, drunk by a person who receives the esoteric
baptismal rite.
Kim
Cang Thừa:Vajrayana (skt)—Tên khác của tông phái Chân Ngôn,
giáo pháp sắc bén như kim cương. Kim Cang Thừa thường được
gọi đơn giản là Phật Giáo Tây Tạng và nó được chia ra
làm bốn tông phái chính: Nyingmapa, Kagyupa, Sakyapa và Gelugpa—The
Diamond Vehicle, another name of the Shingon. The Vajrayana is simply often
called Tibetan Buddhism, and it is divided into four main sects: Nyingmapa,
Kagyupa, Sakyapa and Gelugpa.
1)
Nyingmapa: Giáo phái Nyingmapa là giáo phái cổ nhất của Phật
giáo Tây Tạng, được ngài Liên Hoa Sinh hay Đạo sư Rinpoche
sáng lập vào thế kỷ thứ 8 dưới triều vua Trisong Detsen:
The Nyingmapa sect is the oldest Tibetan Buddhism, founded by Padmasambhava
or Guru Rinpoche in the 8th century under the reign of King Trisong Detsen
(742-797).
2)
Kagyupa: Phái Kagyupa được thành lập bởi Marpa Chokyi Lodoe,
một dịch giả Tây Tạng nổi tiếng vào thế kỷ 11 và vị
đại đệ tử của ngài là ngài Milarepa vào thế kỷ thứ
12: The Kagyupa sect was founded by Marpa Chokyi Lodoe (1012-1099), a famous
Tibetan translator in the 11th century and his outstanding disciple Milarepa
(1040-1123) in the 12th century.
3)
Sakyapa: Phái Sakyapa được vị dịch giả Tây Tạng là Drogmi
Sakya Yeshe sáng lập vào thế kỷ thứ 11: The Sakyapa sect was
founded by the Tibetan translator Drogmi Sakya Yeshe (992-1074) in the
11th century.
4)
Gelugpa: Phái Gelugpa là phái trẻ nhất và đông nhất trong các
phái Tây Tạng, được ngài Tông Khách Ba hay Je Rinpoche sáng
lập vào thế kỷ thứ 14: The Gelugpa sect, the youngest and largest
among the schools of Tibetan Buddhism, was founded by Thongkhapa (1357-1419)
or Je Rinpoche in the 14th century.
Kim
Cang Tọa: Vajrasana (skt).
1)
Kim Cang Tòa nơi Đức Phật ngồi khi đắc Chánh Đẳng Chánh
Giác—Bodhimanda—Buddha’s seat on attaining enlightenment—The Diamond
throne.
2)
Dáng vẻ lúc ngồi: The posture or manner of sitting.
Kim
Cang Trí:
1)
For more information, please see Tự Giác
Thánh Trí.
3)
Kim Cang Trí Pháp Sư—Dharma Master Vajrabodhi:
·
Tên của một vị sư người Tây Ấn, đến
Trung Quốc vào khoảng năm 619 sau Tây Lịch, dưới thời nhà
Đường; người ta nói ông chính là người đầu tiên giới
thiệu Du Già Luận và là sơ tổ của Mật Tông tại Trung Quốc,
nhưng có thuyết lại cho rằng chính A Mục Khư Bạt Triết
La mới chính là Sơ Tổ Mật Tông Trung Quốc—Name of an Indian
monk who came to China around 619 A.D., during the T’ang dynasty; he
is said to have introduced the Yogacara system and founded the esoteric
school, but this is attributed to Amoghavajra.
·
Kim Cương Trí (Vajrabodhi 663-723): Ông là người Nam Ấn, học
đạo tại Na Lan Đà. Năm 15 tuổi ông sang Tây Ấn và học
tập Nhân Minh Luận trong bốn năm với Pháp Xứng (Dharmakirti),
nhưng trở về Na Lan Đà để thọ đại giới. Trong sáu năm,
ông chuyên học Luật (Vinaya) và trung Quán Luận (Madhyamika)
với Santabodhi, ba năm kế đó ông nghiên cứu Du Già Luận (Yogacara)
của Vô Trước, Duy Thức Luận (Vijnaptimatra) của Thế Thân
và Biện Trung Biên Luận (Madhyanta-vibhanga) của An Huệ (Sthiramati)
với Jinabhadra tati Ca Tỳ La Vệ, vùng Bắc Ấn. Rồi bảy năm
sau nghiên cứu Kim Cang Đảnh (Vajra-sekhara) và các kinh Mật
giáo khác với Long Trí (Nagabodhi) ở Nam Ấn. Sau cùng, ông đáp
thuyền theo đường Nam Hải đến Lạc Dương vào năm 720. Ông
dịch thuật nhiều kinh điển quan trọng của Mật giáo,
như Kim Cang Đảnh, vân vân. Năm 741, trong lúc ở Trường An,
ông được phép trở về Ấn Độ nhưng mất trên đường
về Lạc Dương: Vajrabodhi came from South India, became a novice at
Nalanda. At the age of fifteen he went to West India and studied logic
for four years under Dharmakirti, but came again to Nalanda where he received
full ordination at twenty. For six years he devoted himself to the study
of Discipline (Vinaya) text and the Middle Doctrine (Madhyamika)
under Santabodhi; for three years he studied the Yogacara by Asanga, the
Vijnaptimatra by Vasubandhu and the Madhyanta-vibhanga by Sthiramati under
Jinabhadra, at Kapilavastu, North India; and for seven years he studied
the Diamond Head (Vajra-sekhara) and other mystical texts under Nagabodhi,
in South India. At last, he sailed to the southern sea and reached Lo-Yang,
China, in 720. He translated several important mystical texts, such as
the Vajra-sekhara. In 741, while in Ch’ang-An, he obtained permission
to return to India, but on his way he died in Lo-Yang.
Kim
Cang Trí Tam Tạng: Vajrabodhi (skt)—Bạt Viết La Bồ Đề—See
Kim Cang Trí (2).
Kim
Cang Trượng: See Kim Cang Chử.
Kim
Cang Tuệ: Diamond wisdom—See Kim Cang Huệ.
Kim
Cang Tử: Rudraksa (skt)—Hạt kim cang để làm chuỗi—A seed
similar to a peachstone used for beads.
**
For more information, please see Ác Xoa,
and Ác Xoa Tụ.
Kim
Cang Tự: Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong ấp Bình Cang,
xã Bình Thạnh, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An, Nam Việt Nam.
Chùa Kim cang được dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 17 và
đã được trùng tu nhiều lần. Trong chùa hiện còn bản Kinh
Kim Cang bằng chữ Hán được khắc trên gỗ—Name of a pagoda
located in Bình Cang hamlet, Bình Thạnh village, Thủ Thừa district,
Long An province, South Vietnam. Kim Cang Pagoda was built in the middle
of the nineteenth century and has been rebuilt many times. The copies of
the Diamond Sutra in Chinese character, engraved in wood, has still been
kept in the pagoda.
Kim
Cang Vi Sơn:
1)
Núi Thiết Vi bao quanh thế giới: The concentric iron mountains about
the world.
2)
Núi Tu Di: The Sumeru.
3)
Kim Sơn, tên của một ngọn núi trong huyền thoại: Golden Mountain,
name of a fabulous mountain.
Kim
Cang Viêm: See Hỏa Giới and Hỏa Viện.
Kim
Cang Vương: Cái thù thắng (mạnh nhất và tốt nhất) của
kim cang—The Vajra-king, i.e. the strongest, or finest, e.g. a powerful
bull.
Kim
Cang Vương Bảo Giác: Ngọc Ma Ni nẩy nở trong Vô Thượng Giác,
đức hiệu của Như Lai Chánh Giác—The diamond royal-gem enlightenment,
i.e. that of the Buddha.
Kim
Cang Vương Bồ Tát: Một trong 16 vị Bồ Tát trong Kim Cang Giới—The
Diamond King Bodhisattva, one of the sixteen bodhisattvas in the Diamond
realm.
Kim
Chi Ngọc Diệp: Gold branches and jade leaves—Noble.
Kim
Cốt: Xá lợi của Đức Phật—Golden bons, i.e. Buddha’s relics.
Kim
Cương: See Kim Cang.
Kim
Đại Vương: Vị Thần bảo hộ khách lữ hành, Thiên Thủ
Quán Âm—Protector of travellers, shown in the train of the 1,000-hand
Kuan-Yin.
Kim
Đề: Kanthaka-asvaraja (skt)—Tên của con ngựa Kiến Trắc mà
Đức Phật đã cỡi đi trong đêm xuất gia—Name of the steed
on which Sakyamuni left his home.
Kim
Địa: Kim Điền—Tự viện Phật giáo (do tích trưởng giả
Tu Đạt lấy vàng mua Kỳ Viên)—A Buddhist monastery.
Kim
Địa Quốc: Suvarnabhumi (skt)—Một nước về phía nam thành
Hoa Tử, vua A Dục đã gửi đoàn truyền giáo Phật giáo đến
hoằng pháp tại đây—A country south of Sravasti, to which Akosa
sent missionaries.
Kim
Gia: Trường phái mà mình đang theo—The present school—My school
or sect.
Kim
Hà: See Kim Sa Hà.
Kim
Kê: Gà vàng và hạt thóc trong miệng. Đem gà vàng ví với
lời sấm của Tổ Bồ Đề Đạt Ma—The golden cock or fowl,
with a grain of millet in its beak, a name for Bodhidharma.
Kim
Khẩu: The golden mouth of the Buddha.
Kim
Khẩu Quỷ: Châm khẩu quỷ—Quỷ có cổ nhỏ như cây kim—Needle-mouth
ghosts, with mouth so small that they cannot satisfy their hunger or thurst.
Kim
Khu: See Kim Thân.
Kim
Lai: The present and the future.
Kim
Lan Cà Sa: See Kim Lan Y.
Kim
Lan Y: Kim Sắc Y—Kim Lan Cà Sa—Áo cà sa dệt bằng sợi vàng—A
kasaya or robe embroidered with gold; a golden robe.
Kim
Liên:
1)
Hoa sen vàng: Golden lotus bloom.
2)
Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong làng Nghi Tàm, xã
Quảng An, huyện Từ Liên, Hà Nội, Bắc Việt Nam. Nguyên xưa
là chùa Đống Long, dựng từ thời nhà Trần (1225-1413) trên
một nền nhà cũ, nơi công chúa Từ Hoa, con gái vua Lý Thần
Tông ra đời. Về sau chỗ nầy lập trại trồng dâu nuôi tằm
nên gọi là làng Nghi Tàm. Năm 1639, chùa được tu sử lại,
gọi là chùa Đại Bi, đến năm Lê Cảnh Hưng thứ 32 (1771),
lại được trùng tu, và chùa được mang tên Kim Liên từ đó.
Vào năm 1792, chùa lại được trùng tu và nhiều lần về sau
nầy nữa. Chùa hiện nay được coi như là di sản kiến trúc
thời Tây Sơn. Cổng tam quan của chùa có kiến trúc gỗ độc
đáo, đượm dáng vẻ cung đình. Nổi bậc còn có những bức
chạm trỗ hình rồng và hoa nổi trên mặt gỗ hết sức tinh
xảo: Name of an ancient temple, located in Nghi Tàm hamlet, Quảng
An village, Từ Liêm disrict, Hanoi, North Vietnam. Its old name was
Đống Long Temple, built in the Trần dynasty (1225-1413) on an old
floor of a house where Princess Từ Hoa, King Lý Thần Tông’s daughter,
was born. The house was once turned into a plantation for growing mulberry
and silk worms. This is why the village is called Nghi Tàm. In 1639, the
temple was repaired and renamed Đại Bi. In the thirty-second Lê
Cảnh Hưng year (1771), it was rebuilt again, and given the present name,
Kim Lien Temple. In 1792, it was restored on the larger scale and has been
resconstructed many times. At present, Kim Liên Temple is an architectural
artistic vestige of the Tây Sơn dynasty. The three-entrance gate is of
distinctive wooden structure styled Vietnamese royal palace. Distinguished
from the three-entrance structure are the skillfully carved wooden bas-reliefs
representing the image of flowers and dragons.
Kim
Liên Tịch Truyền: Zen Master Kim Liên Tịch Truyền (1745-1816)—Thiền
sư Kim Liên, người Việt Nam, quê ở Thượng Phước, Bắc
Việt. Ngài xuất gia từ thuở bé tại chùa Vân Trai. Sau dó
ngài đến chùa Liên Tông và trở thành đệ tử của ngài
Từ Phong Hải Quýnh. Hầu hết cuộc đời ngài hoằng pháp
tại miền Bắc Việt Nam. Ngài thị tịch năm 1816, thọ 70 tuổi—A
Vietnamese Zen master from Thượng Phước, North Vietnam. He left home
and stayed at Vân Trai Temple when he was very young. Later he went to
Liên Tông Temple and became a disciple of Zen Master Từ Phong Hải
Quýnh. He spent most of his life to expand the Buddha Dharma in North
Vietnam. He passed away in 1816, at the age of 70.
Kim
Luân:
1)
Nơi thấp nhất của thế giới là phong luân; phong luân dựa
vào hư không (bề dầy là 16 ức do tuần, bền vững như kim
cương). Trên phong luân có thủy luân (sâu 8 ức do tuần). Trên
thủy luân có kim luân (dầy 3 ức 2 vạn do tuần do có hình
bánh xe nên gọi là kim luân). Trên kim luân là địa luân (gồm
9 núi 8 biển)—The metal circle on which the earth rests, above the
water circle which is above the wind or air circle which rests on space.
2)
Kim Luân là một trong bảy báu vật của Chuyển Luân Thánh
Vương—The cakra or wheel or disc, emblem of sovereignty, one of the
seven precious possessions of a Cakra-King—See Tứ Luân (D).
Kim
Luân Phật Đảnh: See Đại Thắng Kim Cang.
Kim
Luân Phật Đảnh Tôn: Đại Xí Thạnh Quang—The Great Blazing
Perfect Light.
Kim
Luân Vương: A Golden-wheel (cakra) king—See Tứ Luân (D).
Kim
Mao Quỷ: Ghosts with needle hair, distressing to themselves and others.
Kim
Mao Sư Tử:
1)
Sư tử lông vàng mà ngài Văn Thù Sư Lợi cỡi—The lion with
golden hair on which Manjusri rides.
2)
Sư Tử lông vàng cũng là tiền thân của Đức Phật: A previous
incarnation of the Buddha.
Kim
Môn: Golden door (gate).
Kim
Ngân: Gold and silver.
Kim
Ngọc: Gold and jade.
Kim
Ngôn: Lời vàng của Phật—Golden words, i.e. those of Buddha.
Kim
Nhân: Tượng Phật bằng kim loại hay bằng vàng—A image of
Buddha of metal or gold.
Kim
Ô: The sun.
Kim
Phật: See Kim Nhân.
Kim
Quang: Golden light.
Kim
Quang Đồng Tử: Kim Quang Minh Cổ—Người trẻ tuổi dòng Thích
Ca trong thành Ca Tỳ La Vệ, có thân hình đẹp đẽ như ánh
kim quang, xuất gia và gia nhập Tăng đoàn của Đức Phật—Golden
Light Drum—A youth of the Sakya tribe in Kapilavastu, who had a beautiful
golden light body, left home and joined the Order.
Kim
Quang Minh: Ánh sáng vàng chói sáng—The golden light.
Kim
Quang Minh Kinh: Suvarna-prabhasa-uttamaraja (skt)—Kim Quang Minh Kinh
được dịch sang Hoa ngữ vào thế kỷ thứ sáu và hai bản
dịch khác về sau nầy (có 3 bản dịch: Đàm Vô Sám đời
Bắc Lương, Nghĩa Tịnh đời Đường, Thiên Thai Trí Giả).
Kinh được sơ tổ tông Thiên Thai là ngài Trí Giả dịch và
dùng cho tông phái mình—Golden Light Sutra, translated in the sixth
century and twice later, used by the founder of T’ien-T’ai.
Kim
Quang Minh Nữ: Phu nhân của Kim Quang Đồng Tử—Wife of Golden
Light Drum—See Kim Quang Đồng Tử.
Kim
Quang Phật Sát: Cảnh giới thấp nhất của Phật Giới—The
lowest of the Buddha-ksetra.
Kim
Quang Tự: Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt.
Kim Quang ban đầu có tên là Tường Quang, là một ngôi chùa
do dì của Vua Thành Thái là bà Nguyễn Thị Lựu xây dựng
năm 1871. Bốn năm sau khi lên ngôi, vua Thành Thái đã sắc
tứ biển ngạch đổi tên là Kim Quang Tự, và cấp tiền để
phụng thờ tiên tổ. Hoàng Thái Hậu Từ Minh, thân mẫu của
vua Thành Thái ban tiền để thếp vàng tượng Phật và mở
rộng nhà Tăng cũng như hậu liêu. Sau cơn bão lịch sử năm
1904, chùa bị hư hại nặng, nên nhà vua cấp tiền trùng tu,
qui mô chùa lại một lần nữa đổi mới. Năm 1962, sư Bích
Phong chùa Qui Thiện đôn đốc trùng tu. Năm 1963 sư Toàn Lạc
xây cổng tam quan, trùng tu bình phong, làm cho cảnh chùa trở
nên uy nghi hơn. Chùa Kim Quang gắn liền với họ ngoại của
vua Thành Thái. Ảnh của hai vị vua Thành Thái và Duy Tân đã
được thờ trên án thờ phía sau chùa. Chùa Kim Quang là nơi
lưu niệm của hai vì vua yêu nước—Name of an ancient temple
in Huế, Central Vietnam. The temple’s original name was Tường Quang.
It was built in 1871 by one of king Thành Thái’s aunts, Mrs. Nguyễn
Thị Lựu. In 1892, four years after he came to the throne, king
Thành Thái officially recognized the temple and renamed it Kim Quang,
and allotted land for the use of the temple to keep up worship services.
The Từ Minh, the king’s mother, granted money for the statues to be
gilted and the staff house as well as the house enlarged. After the historic
storm in 1904, the temple was badly damaged, so the king granted money
for an overall reconstruction. The structure of the temple once more changed
for the better. In 1962, Venerable Bich Phong from Qui Thiện temple
supervised the reconstruction of the temple. In 1963, Venerable Toàn Lạc
built the three-entrance gate, restored the screen wall, giving the temple
a more impressive appearance. Kim Quang temple was closely linked with
the maternal family of king Thành Thái. Portraits of king Thành Thái
and king Duy Tân were positioned on the altar in the back room of the
temple. Kim Quang temple is also a souvenir to the above two patriotic
kings.
Kim
Quy: Con rùa vàng mà cả thế giới phải tựa vào—The golden
tortoise on which the world rests.
**
For more information, please see Kim
Luân.
Kim
Sa: Cát vàng—Golden sand.
Kim
Sa Hà: Một dòng sông tưởng tượng ở Niết Bàn—An imaginary
river in the Nirvana.
Kim
Sát:
1)
Kim Tháp: A golden pagoda.
2)
Cửu Kim Luân đặt trên đỉnh tháp: The nine golden circles on
top of a pagoda.
Kim
Sắc: Có màu vàng—Golden coloured.
Kim
Sắc Ca Diếp: Tên của Ngài Đại Ca Diếp. Ngài có tên Kim
Sắc Ca Diếp do bởi tương truyền ngài nuốt ánh sáng, nên
thân tỏa ra kim sắc—Name of Mahakasyapa, as he is said to have swallowed
light, hence his golden hue.
Kim
Sắc Khổng Tước Vương: Vị Thiên Thần hỗ trợ người tu
hành, là quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm—The golden-hued
peacock king, protector of travellers, in the retinue of the 1,000-hand
Kuan-Yin.
Kim
Sắc Nữ: Công chúa Kim Sắc Nữ, người mà người ta nói rằng
đã ưng chịu Thái Tử Tất Đạt Đa vì màu da của Ngài giống
màu da “kim sắc” của bà—The princess of Varanasi, who is said
to have ben offered in marriage to Sakyamuni because he was of the same
colour as herself.
Kim
Sắc Thế Giới: Cõi trời Kim Sắc hay cõi Tịnh Độ của ngài
Văn Thù Sư Lợi—The golden coloured heaven of Manjusri.
Kim
Sắc Vương: Tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni—A previous
incarnation of the Buddha.
Kim
Sắc Y: See Kim Lan Y.
Kim
Sơn:
1)
Núi Thiết Vi hay Tu Di: Metal or golden mountain or Sumeru.
2)
Thân Phật: The Buddha’s body.
**
For more information, please see Thất Kim
Sơn.
3)
Tên một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Kim Sơn trước
đây tên là Bửu Sơn, rồi Ngọc Sơn. Không ai biết chùa được
xây dựng từ đời nào, nhưng hiện nay tại sân Bảo Tàng
Cổ Vật Huế vẫn còn một tấm bia đá chùa Bửu Sơn đề
năm 1667. Năm 1904, cơn bão lớn đã làm cho chùa sụp đổ.
Qua năm 1908, vua Duy Tân cho đem tượng Phật và pháp khí về
chùa Thiên Mụ. Trên nền cũ chỉ dựng lại một nhà từ đường
để thờ những vị Tăng quá cố. Vào khoảng cuối thập niên
1970s, chùa được tái thiết, vẫn tọa lạc trên ngọn đồi
tròn thuộc làng Bảo Hựu, cuối một dãy đồi thấp về phía
tây của Huế—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam.
The temple was first named Bửu Sơn, then Ngọc Sơn. No one knows when
the temple was built; however, there is still a stele of the temple positioned
in the yard of the Museum of Historic Antiques of Huế which dated 1667.
In 1904, a big storm badly damaged the temple. In 1908, king Duy Tân ordered
to dismantle the temple and to transfer Buddha statues and ritual
instruments to Thiên Mụ temple. On the old side, only a worhsip house
was built for the worship of the dead monks. In the 1970s, the temple was
rebuilt on the the round hill at Bảo Hựu village, at one end of a range
of low hills west of Huế.
Kim
Sơn Vương: Phật, đặc biệt là Phật A Di Đà—Buddha, especially
Amitabha.
Kim
Tạng: Kim Tạng là tạng chứa châu báu vàng bạc, như là Phật
tánh trong mỗi chúng sanh—Golden treasury, i.e. the Buddha-natue
in all the living.
Kim
Tạng Vân: Khi Hiền Kiếp mới hình thành, giữa bầu trời
Quang Âm đầy mây kim sắc (sắc vàng), mang lại trận mưa đầu
tiên—The first golden treasury cloud when a new world is completed,
arising in the abhasvara heaven and bringing the first rain.
Kim
Thai: See Kim Cang Giới Thai Tạng Giới.
Kim
Thân: Thân Kim Sắc của Đức Phật—The golden body or person,
that of Buddha—The whole body of the Buddha.
Kim
Thóc Như Lai:
1)
Kim Thóc Như Lai: Hạt thóc vàng Như Lai—The golden grain Tathagata.
2)
Danh hiệu của Duy Ma Cật trong một tiền kiếp: A title
of Vimalakirti in a previous incarnation.
Kim
Thời: Present time.
Kim
Thủy: Nước vàng, ám chỉ trí tuệ—Golden water, i.e. wisdom.
Kim
Tiên:
1)
Thần Tiên: Golden rsi or immortal.
2)
Người tu Tiên (đạo Lão): Taoist genii.
3)
Tiếng tôn xưng để gọi Đức Phật: A venerable term for Buddha.
4)
Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Tuy không phải
là tổ đình của một hệ phái nào nhưng chùa Kim Tiên là
một ngôi chùa được xây dựng rất sớm ở Huế. Hòa Thượng
Bích Phong là vị sư đầu tiên trùng tu chùa Kim Tiên vào khoảng
thế kỷ 17. Sau đó chùa trở thành phế tích, chỉ còn là
một mái thảo am. Đến khoảng giữa triều Gia Long, Hòa Thượng
Đức Hóa tái thiết lại mái thảo am. Mấy mươi năm sau, dưới
triều Tự Đức, chùa được Hòa Thượng Thánh Thông Nhất
Trí, một Tăng Cang của triều đình tại chùa Thiên Mụ trùng
tu chùa trên qui mô rộng lớn hơn, và giao cho Hòa Thượng Tâm
Chính Hải Từ trụ trì. Năm 1888, Hòa Thượng Hải Từ với
sự trợ giúp của Hòa Thượng Diệu Giác đã tái thiết ngôi
chùa lần nữa. Năm 1930, chùa được Hòa Thượng Thanh Đức
Tâm Khoan, Tăng Cang chùa Diệu Đế trùng tu lần nữa. Sau đó
Hòa Thượng Hưng Mãn Trừng Gia trùng tu lại chánh điện, tái
thiết phương trượng, xây dựng lại Tăng xá, hậu liêu. Ngày
nay, dù chùa đã trải qua nhiều cuộc trùng tu nhưng vẫn giữ
được nét kiến trúc cổ kính—Name od an old temple in Huế,
Central Vietnam. Though it is not a temple that has relations with a certain
venerable patriarch of a Buddhist sect, Kim Tiên was one of the oldest
temples in Huế. Most Venerable Bích Phong was the first monk who
rebuilt the temple in the seventeenth century. Sometime later, the temple
became a ruin, only a thatched small temple survived. In the middle of
King Gia Long'’ reign, Most Venerable Đức Hóa Đạo Thành rehabilitated
the thatched temple in a small structure. Several decades later, during
the reign of king Tự Đức, the temple was rebuilt on a larger scale
by Most Venerable Tánh Thông Nhất Trí, who was a royal-recognized
monk of Thiên Mụ Temple. In 1888, with the help of Most Venerable Diệu
Giác, Most venerable Tâm Chính Hải Từ rebuilt the temple again.
In 1930, Most Venerable Thanh Đức Tâm Khoan, a royal-recognized monk
from Diệu Đế temple rebuilt the temple again. Though it has been rebuilt
so many times, it still maintains its ancient architectural style.
Kim
Tinh:
1)
Sukra (skt)—The planet Venus.
2)
Tóc của Phật: The Buddha’s hair.
Kim
Trượng: Đức Phật lấy cây gậy và mảnh áo xé (thụ ký
việc chia thành 18 bộ Tiểu Thừa trong giấc mơ của vua Tần
Bà Sa La thấy một chiếc áo bị xé làm 18 mảnh, một cây
gậy vàng gẫy thành 18 đoạn. Ông lo sợ bèn hỏi Đức Phật.
Đức Phật nói: “Sau khi ta diệt độ hơn 100 năm sẽ có vị
vua tên A Dục uy danh lẫy lừng. Lúc ấy về Luật thì chia
làm 18 môn phái khác nhau, nhưng cứu cánh vẫn là tu giải thoát)—The
golden staff broken into eighteen pieces and the skirt similarly torn,
seen in a dream by king Bimbisara (eighteen divisions of Hinayana as in
a dream of King Bimbisara).
Kim
Tự Tháp: Pyramid.
Kim
Tỳ La: Kumbhira (skt)—Kim Ba La-Cấm Tỳ La.
1)
Cá Sấu—A crocodile—Alligator.
2)
Vua Dạ Xoa, quy-y và trở thành vị hộ pháp: A Yaksa-king, who
was converted and became a guardian of Buddhism.
Kim
Tỳ La Đà Ca Tỳ La: Kampilla (skt)—Kim Tỳ La Thần—Kim Tỳ
La Đại Tướng.
1)
Quyến thuộc của Thiên Thủ Quán Âm: The retinue of 1,000-hand
Kuan-Yin.
2)
Kim Tỳ La Tỳ Kheo: Một vị sư Ấn Độ: An Indian monk.
Kim
Văn: Modern literature.
Kim
Viên: Thuật ngữ mà tông Thiên Thai dùng để chỉ “viên giáo”
của Pháp Hoa, so với Tích Viên trước đó—A T’ien-T’ai
term indicating the “perfect” teaching, that of the Lotus, as compared
with the old “perfect” teaching which preceded it.
Kim
Xí Điểu Vương: Garuda-raja (skt)—Ca Lâu La Vương.
1)
Vua của loài chim Kim Xí (Loài chim thù thắng nhất trong các
loài chim Kim Xí), bạn đồng hành của thần Visnu—The king
of birds, with golden wings, companion of Visnu.
2)
Kim Xí Điểu Vương còn được dùng để ví với các bậc
đại nhân, trong khi tiểu nhân được ví với loài quạ: Garuda-raja
or king of birds are used to compare with the great people, while the crow
are used to compare with the wicked people.
3)
Kim Xí Điểu Vương còn để chỉ Đức Phật: The king of birds
is a symbol of the Buddha.
Kín:
Secret.
Kinh:
1)
Gai: Thorns.
2)
Sutras (skt)—Sutta (p)—Prayer book—Nghĩa đen của tiếng Phạn
là “sợi chỉ xâu các hạt châu.” Kinh là Thánh Thư của
Phật giáo, tức là những cuộc đối thoại có định hướng,
những bài thuyết pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni. Người ta
nói có hơn vạn quyển, nhưng chỉ một phần nhỏ được dịch
ra Anh ngữ. Các kinh Tiểu Thừa được ghi lại bằng tiếng
Pali hay Nam Phạn, và các kinh Đại Thừa được ghi lại bằng
tiếng Sanskrit hay Bắc Phạn. Đa số các tông phái Phật giáo
được sáng lập theo một kinh riêng từ đó họ rút ra uy lực
cho tông phái mình. Phái Thiên Thai và Pháp Hoa (Nhật Liên Tông
ở Nhật—Nichiren in Japan) thì dùng Kinh Pháp Hoa; Tông Hoa Nghiêm
thì dùng Kinh Hoa Nghiêm. Tuy nhiên, Thiền Tông không liên hệ
với kinh nào cả, điều nầy cho phép các thiền sư tự do
sử dụng các kinh tùy ý khi các thầy thấy thích hợp, hoặc
có khi các thầy không dùng bộ kinh nào cả. Có một câu quen
thuộc trong nhà Thiền là “Bất lập văn tự, giáo ngoại
biệt truyền,” nghĩa là không theo ngôn ngữ văn tự, giáo
lý biệt truyền ngoài kinh điển. Điều nầy chỉ có
nghĩa là với Thiền Tông, chân lý phải được lãnh hội trực
tiếp và không theo uy thế của bất cứ thứ gì ngay cả uy
thế của kinh điển—Literally sutra means a thread on which jewles
are strung. The sutras are Buddhist scriptures, that is, the purported
dialogues and sermons of sakyamuni Buddha. There are said to be over ten
thousand, only a fraction of which have been translated into English. The
so-called Hinayana were originally recorded in Pali, the Mahayana in Sanskrit.
Most Buddhist sects are founded upon one particular sutra from which they
derive their authority. The T’ien-T’ai and Lotus Sects from the Lotus
sutra; the Hua-yen from the Avatamsaka Sutra. The Zen sects, however, is
associated with no sutra, and this gives Zen masters freedom to use the
scriptures as and when they see fit or to ignore them entirely. There is
a familiar statement that Zen is a special transmission outside the
scriptures, with no dependence upon words and letters. This only means
that for the Zen sect, truth must be directly grasped and not taken on
the authoriry of any thing, even the sutras.
Kinh
A Di Đà: Sukhavati Vyuha Sutra—Một trong ba bộ kinh chủ yếu
của trường phái Tịnh Độ. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập
dịch sang Hán tự—Sutra of Amitabha—Short form of Amitabha Sutra.
One of the three basic sutras of the Pure Land sect. It was translated
into Chinese by Kumarajiva. This is the short form of Amitabha Sutra.
**
See Kinh A Di Đà trong phần Appendix A.
Kinh
A Di Đà Bổn Nguyện: Longer Sukhavativyuha Sutra—Longer Amitabha
Sutra—See Tây Phương Cực Lạc và Kinh A Di Đà.
Kinh
A Di Đà Tiểu Bổn: Sukhavati-vyuha (skt)—Kinh A Di Đà Tiểu Bổn
là một bản toát yếu hay trích yếu của Đại phẩm Đại
Vô Lượng Thọ Kinh (Sukhavati-Vyuha). Bộ chót trong số ba kinh,
Quán Vô Lượng Thọ Kinh (Amitayr-dhyana-sutra) cho chúng ta biết
nguyên lai của giáo lý Tịnh Độ do Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni thuyết. Nguyên do Đức Phật thuyết Kinh A Di Đà là
khi thái tử A Xà Thế nổi loạn chống lại vua cha là Tần
Bà Sa La và hạ ngục nhà vua nầy. Hoàng hậu Vi Đề Ha cũng
bị giam vào một nơi. Sau đó Hoàng Hậu thỉnh Đức Phật
chỉ cho bà một chỗ tốt đẹp hơn, nơi không có những tai
biến xãy ra như vậy. Đức Thế Tôn liền hiện thân trước
mặt bà và thị hiện cho thấy tất cả các Phật độ, và
bà chọn quốc độ của Đức Phật A Di Đà coi như là tối
hảo. Phật bèn dạy bà cách tụng niệm về quốc độ nầy
để sau cùng được thác sanh vào đó. Ngài dạy bà bằng giáo
pháp riêng của Ngài, và đồng thời giảng giáo pháp của
Phật A Di Đà. Đức Phật đã căn dặn ngài A Nan như sau: “Này
A Nan! Hãy ghi nhớ bài thuyết pháp nầy và lặp lại cho đại
chúng ở Kỳ Xà Quật nghe. Thuyết giáo nầy, ta gọi đấy
là Kinh A Di Đà.” Đối tượng của bài thuyết pháp nầy
của Phật là sự tôn thờ Phật A Di Đà, và từ đó chúng
ta cũng thấy rằng giáo thuyết của Đức Phật Thích Ca Mâu
Ni cuối cùng cũng không khác với giáo thuyết của Phật A
Di Đà. Kinh A Di Đà Tiểu Bổn là giáo tụng chính yếu của
tông Tịnh Độ. Theo Tịnh Độ tông, việc chuyên tâm niệm
Phật là cần thiết để đào sâu đức tin, vì nếu không
có đức tin nầy thì không bao giờ có sự cứu độ trọn
vẹn—The smaller text of Sukhavati-vyuha is a résumé or abridged text
of the larger one. The last of the three texts, the Amitayur-dhyana Sutra,
tells us the origin of the Pure Land doctrine taught by Sakyamuni Buddha.
The reason for the Buddha to preach this sutra was from the following story,
Ajatasatru, the prince heir-apparent of Rajagriha, revolted against his
father, King Bimbisara, and imprisoned him. His consort, Vaidehi, toow
was confined to a room. Thereupon the Queen asked the Buddha to show her
a better place where no such calamities could be encountered. The World-Honored
One appeared before her and showed all the Buddha lands and she chose
the Land of Amitabha as the best of all. The Buddha then taught her how
to meditate upon it and finally to be admitted there. He instructed her
by his own way of teaching and at the same time by the special teaching
of Amitabha. That both teachings were one in the end could be seen from
the words he spoke to Ananda at the conclusion of his sermons. “Oh Ananda!
Remember this sermon and rehearse it to the assembly on the Vulture Peak.
By this sermon, I mean the name of Amitabha." ” From this we can see
that the object of the sermon was the adoration of Amitabha. Thus, we see
that Sakyamuni Buddha’s teaching was after all not different from that
of Amitabha. The smaller Sakhavati-vyuha is the main text for reciting
of the Pure Land Sect. With the Pure Land, the devotional repetition of
the Buddha's name is a necessary action of the pious to deepen the faith,
without which salvation will never be complete.
**
For more information, please see Kinh A Di
Đà in Appendix A.
Kinh
A Dục Vương: Asokaraja Sutra (skt)—Kinh nói về vua A Dục, vị
vua thứ ba của triều đại Mauryan của xứ Ma Kiệt Đà, thuộc
Trung Ấn. Một quân vương Phật tử đã cải từ Ấn
giáo sang đạo Phật sau cuộc trường chinh—The sutra written
about the life of King Asoka, a Buddhist ruler and the third king of the
Maurya Dynasty of Magadha, in central India. He converted from Hinduism
to Buddhism after a long period of war and conquest.
Kinh
A Hàm: Agamas (for Hinayana).
Kinh
Bát Châu Tam Muội: Pratyutpannabuddhasammukha-Vasthitasamadhi-Sutra—Kinh
nói về trạng thái tâm linh được dùng để quán tưởng các
vị Phật hay quán chư Phật hiện tiền Tam muội. Kinh được
Ngài Chi Lô Ca Sám dịch sanh Hán tự—The sutra shows ways of contemplations
of any Buddhas. The sutra was translated into Chinese by Lokaksema.
Kinh
Bát Đại Nhân Giác: Sutra on the Eight Awakenings of Great People.
(A)
Lịch sử và công năng của Kinh Bát Đại Nhân Giác—History
and usage of the Sutra on the Eight Awakenings of Great People:
a)
Sa môn An Thế Cao, người Parthia, dịch từ Phạn sang Hán vào
khoảng năm 150 sau Tây Lịch (đời Hậu Hán) tại Trung Tâm
Phật Giáo Lạc Dương . Hòa Thượng Thích Thanh Từ dịch từ
Hán sang Việt vào khoảng thập niên 70s. Nguyên văn bản kinh
bằng Phạn ngữ không biết còn lưu truyền tới ngày nay hay
không. Kinh nầy thích hợp với cả hai truyền thống Phật
giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa—Shramana An Shi Kao, a Partian
monk, translated from Sanskrit into Chinese in about 150 A.D. (during the
Later Han Dynasty). Most Venerable Thích Thanh Từ translated from Chinese
into Vietnamese in the 1970s. The original text of this sutra in Sanskrit
is still extant to this day. This sutra is entirely in accord with
both the Theravada and Mahayana traditions.
b)
Kỳ thật, từng điều trong tám điều giác ngộ của các bậc
vĩ nhân trong kinh nầy có thể được coi như là đề tài thiền
quán mà hàng Phật tử chúng ta, đêm lẫn ngày hằng giữ thọ
trì, chí thành tụng niệm ghi nhớ, tám điều giác ngộ của
các bậc vĩ nhân—In fact, each of the eight items in this sutra can
be considered as a subject of meditation which Buddhist disciples should
at all times, by day and by night, with a sincere attitude, recite and
keep in mind eight truths that all great people awaken to.
c)
Tám Chơn Lý mà chư Phật, chư Bồ Tát và các bật vĩ nhân
đã từng giác ngộ. Sau khi giác ngộ, các vị ấy lại tiến
tu vô ngần từ bi đạo hạnh để tăng trưởng trí huệ. Dùng
thuyền Pháp Thân thong dong dạo chơi cõi Niết Bàn, chỉ trở
vào biển sanh tử theo đại nguyện cứu độ chúng sanh. Các
bậc nầy lại dùng tám Điều Giác Ngộ để khai lối dắt
dìu chúng sanh, khiến cho ai nấy đều biết rành sự khổ não
của tử sanh sanh tử, để từ đó can đảm xa lìa ngũ dục
bợn nhơ mà quyết tâm tu theo Đạo Thánh—Eight Truths that all
Buddhas, Bodhisattvas and great people awaken to. After awakening, they
then energetically cultivate the Way. By steeping themselves in kindness
and compassion, they grow wisdom. They sail the Dharma-body ship all the
way across to Nirvana’s other shore, only to re-enter the sea of death
and rebirth to rescue all living beings. They use these Eight Truths to
point out the right road to all beings and in this way, help them to recognize
the anguish of death and rebirth. They inspire all to cast off and forsake
the Five Desires, and instead to cultivate their minds in the way of all
Sages.
d)
Nếu là Phật tử phải nên luôn trì tụng kinh nầy, hằng
đêm thường trì tụng và nghĩ tưởng đến tám điều nầy
trong mỗi niệm, thì bao nhiêu tội lỗi thảy đều tiêu sạch,
thong dong tiến vào nẻo Bồ Đề, nhanh chóng giác ngộ, mãi
mãi thoát ly sanh tử, và thường trụ nơi an lạc vĩnh cửu—If
Buddhist disciples recite this Sutra on the Eight Awakenings, and constantly
ponder its meaning, they will certainly eradicate boundless offenses, advance
toward Bodhi, quickly realize Proper Enlightenment, forever be free of
death and rebirth, and eternally abide in joy.
(B)
Hình thức của kinh—The form of the sutra: Xét về phương diện
hình thức thì kinh văn rất đơn giản. Kinh văn rất cổ, văn
thể của kinh thuộc loại kết tập như Kinh Tứ Thập Nhị
Chương và Kinh Lục Độ Tập. Tuy nhiên, nội dung của kinh
rất sâu sắc nhiệm mầu—The form of the sutra is very simple.
The text form is ancient, just like the Forty-Two Chapters and the Sutra
on the Six Paramitas. However, its content is extremely profound and marvelous.
(C)
Nội dung của kinh—The content of the Sutra:
1)
Điều Giác Ngộ thứ nhất—The First Awakening:
·
Đời vô thường quốc độ bở dòn—The world is impermanent,
countries are perilous and fragile.
·
Tứ đại khổ không—The body’s four elements are a source of pain;
ultimately, they are empty.
·
Năm ấm vô ngã có còn chi đâu—The Five Aggregates (Skandhas)
are not me.
·
Đổi đời sanh diệt chẳng lâu—Death and rebirth are simply a
series of transformations.
·
Giả dối không chủ lý mầu khó tin—Misleading, unreal, and uncontrollable.
·
Tâm là nguồn ác xuất sanh—The mind is the wellspring of evil.
·
Thân hình rừng tội mà mình chẳng hay—The body is the breeding
ground of offenses.
·
Người nào quán sát thế nầy—Whoever can investigate and contemplate
these truths,
·
Lần hồi sanh tử sớm chầy thoát ra—Will gradually break free
of death and rebirth.
2)
Điều Giác Ngộ thứ hai—The Second Awakening:
·
Tham dục nhiều, khổ thiệt thêm nhiều—Too much desire brings
pain.
·
Nhọc nhằn sanh tử bao nhiêu—Death and rebirth are tiresome ordeals.
·
Bởi do tham dục, mà chiêu khổ nầy—They stem from our thoughts
of greed and desire.
·
Bớt lòng tham dục chẳng gây—By reducing desires.
·
Thân tâm tụ tại vui nầy ai hơn—We can realize absolute truth
and enjoy independence and well-being in both body and mind.
3)
Điều Giác Ngộ thứ ba—The Third Awakening:
·
Đắm mê trần mải miết chẳng dừng—Our minds are never satisfied
or content with just enough.
·
Một bề cầu được vô chừng—The more we obtain, the more we
want.
·
Tội kia thêm lớn có ngừng được đâu—Thus we create offenses
and do evil deeds.
·
Những hàng Bồ Tát hiểu sâu—Bodhisattvas do not make mistakes.
·
Nhớ cầu tri túc chẳng lâu chẳng sờn—Instead, they are always
content.
·
Cam nghèo giữ đạo là hơn—Nurture the way by living a quiet life
in humble surroundings.
·
Lầu cao trí huệ chẳng khờn dựng lên—Their sole occupation
is cultivating wisdom.
4)
Điều Giác Ngộ thứ tư—The Fourth Awakening:
·
Kẻ biếng lười hạ liệt trầm luân—Idleness and self-indulgence
will be our downfall.
·
Thường tu tinh tấn vui mừng—With unflagging vigor,
·
Dẹp trừ phiền não ác quân nhiều đời—Great people break
through their afflictions and baseness.
·
Bốn ma hàng phục như chơi—They vanquish and humble the Four Kinds
of Demons.
·
Ngục tù ấm giới thảnh thơi ra ngoài—And they escape from the
prison of the Five Skandhas.
5)
Điều Giác Ngộ thứ năm—The Fifth Awakening:
·
Ngu si là gốc khổ luân hồi—Stupidity and ignorance are the cause
of death and rebirth.
·
Bồ Tát thường nhớ không ngơi—Bodhisattvas are always attentive
to.
·
Nghe nhiều học rộng chẳng lơi chút nào—And appreciative of
extensive study and erudition.
·
Vun bồi trí tuệ càng cao—They strive to expand their wisdom.
·
Biện tài đầy đủ công lao chóng thành—And refine their eloquence.
·
Đặng đem giáo hóa chúng sanh—Teaching and transfoming living beings.
·
Niết bàn an lạc còn lành nào hơn—Nothing brings them greater
joy than this.
6)
Điều Giác Ngộ thứ sáu—The Sixth Awakening:
·
Người khổ nghèo lắm kết oán hờn—The suffering of poverty
breeds deep resentment.
·
Không duyên tạo tác ác đâu sờn—Wealth unfairly distributed
creates ill-will and conflict among people.
·
Bồ Tát bố thí, ai hơn kẻ nầy, lòng không còn thấy kia đây—So,
Bodhisattvas practice giving and treat friend and foe alike.
·
Ít khi nhớ đến buồn gây thuở nào. Dù nguời làm ác biết
bao, một lòng thương xót khổ đau cứu giùm—They neither harbor
grudges nor despite evil-natured poeple.
7)
Điều Giác Ngộ Thứ Bảy—The Seventh Awakening:
·
Năm dục gây lầm lỗi ngất trời. Tuy người thế tục ngoài
đời—Great people, even as laity, are not blightly by worldly pleasures.
·
Mà lòng không nhiễm vui chơi thế tình, ba y thường nhớ của
mình, ngày nào sẽ được ôm bình ngao du—Instead, they constantly
aspire to take up the three precepts-robes and blessing-bowl of the monastic
life.
·
Chí mong lìa tục đi tu, đạo gìn trong sạch chẳng lu không
mờ—Their ideal and ambition is to leave the household and family life
to cultivate the way in immaculate purity.
·
Hạnh lành cao vút kính thờ, thương yêu tất cả không bờ
bến đâu—Their virtuous qualities are lofty and sublime; their attitudes
toward all creatures are kind and compassionate.
8)
Điều Giác Ngộ Thứ Tám—The Eighth Awakening:
·
Tử sanh hoài đau khổ vô cùng—Rebirth and death are beset with
measureless suffering and afflictions, like a blazing fire.
·
Phát tâm dõng mãnh đại hùng—Thus, great people make the resolve
to cultivate the Great Vehicle.
·
Quyết lòng độ hết đồng chung Niết bàn—To rescue all beings.
·
Thà mình chịu khổ muôn vàn, thay cho tất cả an nhàn thảnh
thơi—To endure endless hardship while standing in for others.
·
Mọi người đều được vui tươi, đến bờ giác ngộ rạng
ngời hào quang—To lead everyone to ultimate happiness.
**
For more information, please see Bát Đại
Nhân Giác.
Kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh: Prajnaparamitahrdaya-Sutra—Bát
Nhã Ba La Mât Đa Tâm Kinh hay gọi tắt là Tâm Kinh, là phần
kinh ngắn nhất trong 40 kinh tạo thành Đại Bát Nhã Ba La Mật
Đa Kinh. Đây là một trong những kinh văn quan trọng nhất trong
Phật giáo Đại thừa. Kinh được nhấn mạnh về tánh không.
Kinh thường được các Phật tử tụng thuộc lào trong các
tự viện. Một trong những câu nổi tiếng trong kinh là “Sắc
bất dị không, không bất dị sắc” (hình thức chỉ là hư
không, hư không chỉ là hình thức), một công thức được
lập đi lập lại trong nhà thiền. Toàn bộ văn kinh của Bát
Nhã Ba La Mật có nghĩa là “trí huệ đáo bỉ ngạn.” Kinh
được Ngài Huyền Trang dịch sang Hán tự—The Heart of the Prajna-Paramita-Sutra
or Heart Sutra, the shortest of the forty sutras that constitute the Prajanparamita-sutra.
It is one of the most important sutras of Mahayana Buddhism. The sutra
is especially emphasized on emptiness (Shunyata). It is recited so frequently
in the temple that most Buddhists chant it from memory. One of the most
famous sentences in the sutra is “Form is no other than emptiness; emptiness
is no other than form,” an affirmation that is frequently referred to
in Zen. The Prajna-Paramita Heart Sutra literally means “the wisdom that
leads to the other shore.” The sutra was translated into Chinese by Hsuan-Tsang.
**
See Bát Nhã Tâm Kinh trong phần
Appendix A.
Kinh
Biệt Giải Thoát: Pratimoksa sutra (skt)—Kinh Biệt Giải Thoát
là cốt lõi của Tạng Luật. Đây là phần cổ xưa nhất của
Luật Tạng bằng tiếng Ba Li—Pratimoksa sutra is the nucleus of
the Vinaya-pitaka. It is the oldest part of the Pali Pitaka—See Cụ
Túc Giới Tỳ Kheo in Vietnamese-English Section, and Pratimoksa and
Pratimoksa-sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Kinh
Bồ Đề Hành Kinh: Bodhicaryavatara Sutra—Kinh nói về “Đi vào
con đường Giác Ngộ” được Ngài Long Thọ soạn—Entering
the Path of Enlightenment, composed by Nagarjuna.
Kinh
Bổn: Sutra (skt)—Kinh điển trong Tam Tạng được Đức Phật
thuyết giảng—The sutras in the Tripitaka are the sermons attributed
to the Buddha.
**For
more information, please see Kinh.
Kinh
Bổn Sanh: Jataka—Kinh nói chi tiết về tiền thân Đức Phật,
các đệ tử cũng như những kẻ chống phá Ngài. Kinh chỉ
bày những hành động trong tiền kiếp ảnh hưởng thế nào
đến những hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại theo đúng
luật nghiệp quả—Narratives of birth stories detail past (previous)
lives of the Buddha and of his followers and foes. The sutra shows how
the acts of previous lives influence the circumstances of the present life
according to the law of karma.
Kinh
Bổn Sự: Itvritaka—Narratives of past lives of the Buddha’s disciples.
Kinh
Chúng Tập: Sangiti Sutta (p).
Kinh
Cô Khởi: Phúng Tụng—Gatha—Verses containing ideas not expressed
in prose.
Kinh
Di Bộ Tông Luân Luận: Samayabhedo Sutra—Kinh được soạn bởi
Ngài Thế Hữu vào khoảng 100 năm sau khi Phật nhập diệt,
sau được Ngài Huyền Trang dịch ra Hoa ngữ, nói về thời
kỳ phân rẽ thành hai phái của Phật giáo là Thượng Tọa
Bộ và Đại Chúng Bộ—The sutra was composed by Vasumitra about
100 years after the death of the Buddha, later was translated into Chinese
by Hsuan-Tsang. The sutra mentioned about the first division of Buddhism
into two divisions: The Theravada (elder monks or intimate disciples) and
Mahasanghika (general body of disciples).
Kinh
Dị: Frightened.
Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa: Saddharma-pundarika-Sutra (skt)— Wonderful Law
Lotus Flower—The Lotus of the True Law—Thời gian giữa Đại Hội
Kết Tập lần thứ nhì và thế kỷ thứ nhất trước Tây
Lịch, văn hóa Đại Thừa phát triển tại Ấn Độ và sự
phổ biến một số kinh điển quan trọng. Sau đó là hàng trăm
kinh điển Đại Thừa được viết bằng tiếng Phạn xuất
hiện. Liên Hoa Kinh, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau
Tây Lịch, một trong những kinh chính của Phật giáo Đại
thừa vì nó chứa đựng những ý tưởng chủ yếu của Đại
thừa, ý tưởng về bản chất siêu việt của Phật và việc
phổ cứu chúng sanh. Trong nhiều phương diện, kinh Pháp Hoa
được xem là kinh căn bản của truyền thống Phật giáo Đại
Thừa. Kinh nầy ảnh hưởng rất lớn đến thế giới Phật
tử Đại Thừa, không những chỉ ở Ấn Độ mà còn tại
các xứ khác như Trung Hoa, Nhật Bản, và Việt Nam, qua các
tông Thiên Thai, Nhật Liên và những tông khác. Hơn nữa, kinh
nầy dẫn giải con đường từ bi vô lượng, cũng như cốt
lõi hướng đi căn bản của truyền thống Đại Thừa, đó
là tâm đại từ bi. Phật giáo Đại thừa coi Kinh Liên Hoa
là bộ kinh chứa đựng toàn bộ học thuyết của Phật. Kinh
nầy được Phật thuyết giảng trên núi Linh Thứu. Kinh Pháp
Hoa là một trong những bộ kinh lớn trong giáo pháp của Phật.
Ý nghĩa của kinh nầy là Đức Phật đã gom tam thừa Thanh
Văn, Duyên Giác, và Bồ Tát về một thừa duy nhất là Phật
Thừa. Trong kinh nầy Đức Phật đã giải thích rõ ràng về
nhiều phương pháp đạt tới đại giác như Thanh văn, Duyên
giác, Bồ tát, v.v. chỉ là những phương tiện được đặt
ra cho thích hợp với trình độ của từng người. Thật ra
chỉ có một cỗ xe duy nhất: Phật thừa dẫn đến đại giác
cho chúng sanh mọi loài. Kinh Pháp Hoa tiêu biểu cho giai đoạn
chuyển tiếp từ Phật giáo Tiểu Thừa sang Đại Thừa. Phần
lớn kinh được dùng để chứng minh rằng Đức Phật đã
giảng giáo pháp Tiểu Thừa cho lớp người đầu óc thấp
kém, vì đối với những người nầy không thể giải bày
toàn bộ chân lý được. Các Phật tử Tiểu Thừa được
Phật khuyên nên hành trì ba mươi bảy phẩm trợ đạo, hay
các phép tu dẫn đến sự giác ngộ để rũ sạch phiền não,
nên hiểu rõ Tứ Diệu Đế, luật Nhân Quả và nhận thức
Nhân Không hay Vô Ngã, để qua đó có thể đạt được niết
bàn. Sau đó Đức Phật nhấn mạnh rằng những người nầy
cần nỗ lực thêm nữa ở đời sau, tạo được những công
đức và phẩm hạnh cần thiết của một vị Bồ Tát để
chứng đắc Phật quả. Kinh được Ngài Dharmaraksa dịch ra
Hán văn năm 268 và Cưu Ma La Thập dịch năm 383. Chúng ta nên
nhớ rằng Kinh Pháp Hoa, nguyên đã được ngài Cưu Ma La Thập
phiên dịch thành bảy quyển gồm 27 phẩm. Pháp Hiển, tìm
kiếm một phẩm nữa nên du hành sang Ấn Độ vào năm 475.
Khi đến Khotan, ông tìm thấy phẩm về Đề Bà Đạt Đa. Đề
Bà Đạt Đa là anh họ và cũng là kẻ phá hoại Phật. Ông
trở về, và yêu cầu Pháp Ý, người Ấn, phiên dịch phẩm
nầy. Phẩm nầy về sau được phụ thêm vào bản kinh trước.
Do đó kinh Pháp Hoa hiện thời có 28 phẩm. Năm 602 hai vị Jnanagupta
và Dharmagupta cũng dịch bộ kinh nầy sang Hán văn—The period
between the Second Council and the first century B.C., Mahayana literature
developed in India, and the emergence of a number of important texts. After
that, hundreds of Mahayana sutras were composed in Sanskrit. Sutra of the
Lotus Flower, sutra of the Lotus of the Good Dharma, written in the first
century A.D., one of the most important sutras of Mahayana Buddhism because
it contains the essential teachings of Mahayana, including the doctrines
of the transcendental nature of the buddha and of the possiblity of universal
liberation. In many ways, the Lotus is the foundation sutra of the Mahayana
tradition. It has great influence in the Mahayana Buddhist world, not only
in India, but also in China, Japan, and Vietnam, where it is the favorite
text of the T’ien-T’ai, Nichiren and some other schools. Moreover,
it expounds the way of great compassion, the lotus sutra represents the
essence of the Mahayana tradition’s fundamental orientation, which is
great compassion. It is considered in the Mahayana as that sutra
that contains the complete teaching of the Buddha. The Lotus Sutra is a
discourse of the Buddha on Vulture Peak Mountain. Dharma Flower Sutra or
the Maha Saddharma-pundarika Sutra, or the Lotus Sutra, is one of the greatest
sutras taught by the Buddha. Its significance is that the Buddha united
all three vehicles of Sravaka-Yana (Sound-Hearer Vehicle), Pratyeka-Buddha-Yana,
and Bodhisattva-Yana and said there is only one vehicle and that is the
vehicle of Buddhahood. In it the Buddha shows that there are many
methods through which a being can attain enlightenment such as shravaska,
pratyekabuddha and bodhisattva, etc. These are only expedients adapted
to varying capabilities of beings. In reality, there is only one vehicle:
Buddhayana (Buddha vehicle), which leads all beings to enlightenment, including
Mahayana and Hinayana. The Saddharma-pundarika sutra represents the period
of transition from Hinayana to Mahayana Buddhism. A large part of this
sutra is devoted to proving that Hinayana Buddhism was preached by the
Buddha for the benefit of people of lower intelligence, to whom the whole
truth was not divulged. Hinayana Buddhists were adivised to practise the
thirty-seven limbs of enlightenment in order to rid themselves of moral
impurities, to comprehend the Four Noble Truths and the Law of Causation,
and to realize the absence of soul or individuality whereby they can reach
a place of rest or nirvana. The Buddha then advises those who had
reached perfection in these attainments, to exert themselves further in
their future existences in order to acquire the merits and virtues prescribed
for the Bodhisattvas for the attainment of Buddhahood. The sutra was translated
into Chinese by Kumarajiva. We should bear in mind that the Lotus Sutra
was originally translated into Chinse by Dharmaraksa in 268 and Kumarajiva
in 383 in seven volumes of twenty-seven chapters. Fa-Hsien, in quest
of another chapter, started for India in 475 A.D. When he reached Khotan,
he found the chapter on Devadatta, a treacherously acting cousin of the
Buddha. He eturned and requested Fa-I, an Indian monk, to translate it.
This translation was later added to the earlier text. Thus, there are twenty-eight
chapters in the present text. In 601A.D., Jnanagupta and Dharmagupta
also translated this sutra into Chinese.
**
For more information, please see Diệu
Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên Hoa
Kinh.
Kinh
Duy Ma Cật: Vimalakirtinirdesa-Sutra—Kinh Duy Ma Cật là một bộ
kinh Đại thừa quan trọng, đặc biệt cho Thiền phái và một
số đệ tử trường phái Tịnh Độ. Nhân vật chính trong
kinh là Ngài Duy Ma Cật, một cư sĩ mà trí tuệ và biện tài
tương đương với rất nhiều Bồ Tát. Trong kinh nầy, Ngài
đã giảng về Tánh Không và Bất Nhị. Khi được Ngài Văn
Thù hỏi về Pháp Môn Bất Nhị thì Ngài giữ im lặng. Kinh
Duy Ma Cật nhấn mạnh chỗ bản chất thật của chư pháp vượt
ra ngoài khái niệm được ghi lại bằng lời. Kinh được Ngài
Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The Vimalakirti Sutra, a key
Mahayana Sutra particularly with Zen and with some Pure Land followers.
The main protagonist is a layman named Vimalakirti who is equal of many
Bodhisattvas in wisdom and eloquence. He explained the teaching of
“Emptiness” in terms of non-duality. When asked by Manjusri to define
the non-dual truth, Vimalakirti simply remained silent. The sutra emphasized
on real practice “The true nature of things is beyond the limiting concepts
imposed by words.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva.
Kinh
Dược Sư Lưu Ly Quang Bản Nguyện Công Đức: Bhaisaya-guru-vaiduryaprabhasapurvapranidhanavisesavistara—Kinh
nhấn mạnh về những công đức của Đức Dược Sư Như Lai
và khuyên chúng sanh hãy tin tưởng vị Phật nầy để được
vãng sanh Thiên đường Đông Độ; tuy nhiên, kinh không phủ
nhận Tây phương Cực Lạc. Kinh được Ngài Huyền Trang dịch
sang Hán tự—The Medicine Buddha Sutra—The sutra stresses on the
merits and virtues of Bhaisaya-Guru and encourages sentient beings to have
faith in this Buddha so that they ca be reborn in the Eastern Paradise;
however, the sutra never denies the Western Paradise. The Sutra was translated
into Chinese by Hsuan-Tsang—See Mười Hai Lời nguyện của Đức
Dược Sư Lưu Ly Quang Phật.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn: Mahaparinirvana-Sutra—Kinh thuyết về Phật
nhập diệt và nhữõng giáo lý của Ngài, còn gọi là Kinh
Thiên Đường. Kinh cũng bàn về lý thuyết bản tánh Phật
vốn có ở mọi thực thể. Kinh được Ngài Đàm Vô Sám dịch
sang Hán tự—Maha Parinirvana Sutra—Great Nirvana—The sutra or
sermon of the Great Decease or passing into final Nirvana—A long sutra
containing a description of the Buddha’s passing and his teaching—The
Paradise Sutra. The sutra also deals with the doctrine of Buddha-nature,
which is immanent in all beings. The sutra was translated into Chinese
by Dharmaksema.
Kinh
Đại Bi Tâm Đà La Ni: Mahakaruna Dharani Sutra—A Sutra of the Esoteric
Buddhist tradition—The Teaching of the powerful effect of the Avalokitesvara
Maha-Bodhisattva Great Compassion Mantra.
Kinh
Đại Bửu Tích: Maha Ratnakuta Sutra—Kinh được ngài Bồ Đề
Lưu Chi dịch sang Hoa ngữ, là một trong những kinh điển xưa
nhất của Phật Giáo Đại Thừa. Trong Đại Bảo Tích, tư
tưởng Trung Đạo được triển khai. Kinh cũng nói về trí
huệ siêu việt (Bát Nhã Ba La Mật Đa trong trường Kinh A Di
Đà)—Tạng kinh điển rất quan trọng gồm 6000 trang trong chín
quyển chứa đựng hầu hết những giáo điển trọng đại
của Đại Thừa nhằm đưa chúng sanh đến chỗ Giác Ngộ Tối
Thượng của Phật quả—The sutra was translated into Chinese by
Bodhiruci, one of the oldest sutras of Mahayan. In the Ratnakuta, the thought
of the Middle Way is developed. It also contains sutras on transcendental
wisdom (Prajan Paramita Sutra and Longer Amitabha Sutra)—A very important
sutra (6000 pages in nine volumes) which contains almost all the most critical
teaching of the Mahayana Tradition (Great Vehicle) to carry sentient beings
to the Ultimate Enlightenment of Buddhahood.
Kinh
Đại Lạc Kim Cang Bất Không Chân Thật Tam Ma Đà: Adhyardhasatika-Prajnaparamita-Sutra—Còn
được gọi là “Lý Thú Kinh” hoặc “Bát Nhã Lý Thú Kinh.”
Đây là tinh yếu giáo lý của Mật Tông, dạy cách tu hành
thành Phật ngay trong đời nầy. Kinh được Ngài Bất Không
dịch sang Hán tự—Also called “The Interesting Sutra” or “The
Interesting Prajna Sutra.” It stressed on the essence of the Tantric
schools that taught how to practice and become a Buddha in this very life.
The sutra was translated into Chinese by Amoghavajra.
Kinh
Đại Niết Bàn: Maha-Parinirvana Sutra—Great Nirvana Sutra—See
Kinh Đại Bát Niết Bàn.
Kinh
Đại Phương Quảng Hoa Nghiêm: MahaVaipulya-Avatamsaka-Sutra—Buddhavatamsaka
Sutra—Kinh điển Đại Thừa gồm những giáo lý căn bản của
trường phái Hoa Nghiêm, nhấn mạnh ý tưởng về “Sự thâm
nhập tự do lẫn nhau” của tất cả mọi sự vật. Kinh cũng
dạy rằng nhơn tâm là cả một vũ trụ và đồng nhất với
Phật. Do đó, tâm, Phật, và chúng sanh không sai khác. Trường
phái Thiền đặc biệt nhấn mạnh đến khía cạnh nầy của
học thuyết Đại thừa. Kinh được Ngài Phật Đà Bạt Đà
La dịch sang Hán tự—The Sutra of the Garland of Buddhas. Mahayana
sutra that constitutes the basis of the teachings of the Avatamsaka school
(Hua-Yen), which emphasizes above all “mutually unobstructed interpenetration.”
The sutra also teaches that the human mind is the universe itself and is
identical with the Buddha. Indeed, the mind, Buddha and all sentient beings
are one and the same. This aspects of the Mahayana teaching was especially
stressed by the Chinese Zen. The sutra was translated into Chinese by Buddhabhadra.
Kinh
Đại Tập: Great Heap Sutra.
Kinh
Đại Thừa: Mahayana sutras—Trong số các bộ kinh của Đại
Thừa, có chín kinh sách được xem là quan trọng nhất. Các
bộ kinh nầy được gọi là các kinh Phương Quảng (Vaipulya
sutras)—Among the Mahayanist sutras, nine texts are regarded as the most
important. These are called the Vaipulya sutras:
1)
Bát Thiên Tụng: Astasahasrika-prajna-paramita.
2)
Diệu Pháp Liên Hoa: Sadharma-pundarika.
3)
Lăng Già: Lankavatara.
4)
Phổ Diệu: Lalitavistara.
5)
Kim Quang Minh: Suvarna-prabhasa.
6)
Hoa Nghiêm: Gandavyuha.
7)
Như Lai Mật: Tathagata-guhyaka.
8)
Tam Muội Vương: Samadhi-raja.
9)
Thập Địa Tự Tại: Dasabhumisvara.
Kinh
Đại Tỳ Lô Giá Na Thành Phật Thần Biến Gia Trì Kinh: Mahavairocanabhisambodhivikur-Vitadhisthanna-vaipulya-Sutrendra-Raja-Nama-Dharmaparyaya—Đây
là một trong những kinh điển căn bản của Phật giáo Mật
tông, còn được gọi là Kinh Đại Nhựt Như Lai. Kinh được
các Ngài Thiện Vô Úy và Nhứt hạnh cùng dịch sang Hán tự—This
is one of the fundamental sutras in Tantric Buddhism. It is also called
“Mahavairocana Sutra.” The sutra was translated into Chinese by Subhakarasimha
and I-hsing.
Kinh
Đại Vô Lượng Thọ: The Great Infinite Life Sutra.
Kinh
Đạo: Giáo thuyết của kinh—The doctrine of the sutras.
Kinh
Đạt Ma Đa La Thiền Kinh: Yogacharabhumi-Sutra—Đây là kinh điển
do Đạt Ma Đa La và Phật Đại Tiên biên soạn để phổ biến
về phương pháp thiền định cho các trường phái Tiểu thừa
vào thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch. Kinh được Ngài Phật Đà
bạt Đà La dịch sang Hán tự. Kinh chia làm năm phần—This
sutra is composed by Dharmatrata and Buddhasena in the 5th century AD on
the methods of meditation for the Hinayana. The sutra was translated into
Chinese by Buddhabhadra. The sutra was divided into five parts:
1)
Mười bảy vùng đất đánh dấu sự tiến bước trên đường
đại giác với sự trợ giúp của giáo lý Tiểu thừa Yogachara.
Đây là phần quan trọng nhất: The seventeen stages presenting the
progression on the path to enlightenment with the help of the Yogachara
teaching, this is the most important part.
2)
Những lý giải về những vùng đất khác nhau ấy: Interpretations
of these stages.
3)
Giải thích các kinh điển làm chỗ dựa cho giáo điều về
các vùng đất Yogachara: Explanation of these sutras from which the
Yogachara doctrine of the stages draws support.
4)
Các phạm trù chứa đựng trong các kinh điển ấy: Classifications
contained in these sutras.
5)
Các đối tượng của kinh điển Phật giáo (kinh, luật, luận):
Topics from the Buddhist canon (sutra, Vinaya-pitaka, Abhidharma).
Kinh
Địa Tạng: Ksitigarbhapranidhana-Sutra—Kinh Địa Tạng, nói về
một vị Bồ Tát ở vào thời kỳ vô Phật, tức là thời
kỳ giữa lúc Phật Thích Ca nhập diệt và Phật Di Lặc ra
đời. Trong thời ký nầy không có một vị Phật nào cả;
tuy nhiên, thế giới Ta Bà vẫn có Bồ Tát Địa Tạng với
bổn nguyện rộng lớn là cứu độ mọi chúng sanh đau khổ
của địa ngục. Kinh được Ngài Thật Xoa Nan Đà dịch sang
Hán tự—Earth Store Sutra mentioned about the Buddhaless period, the
period from the time the nirvana of the historical Buddha until the time
the coming Buddha Maitreya descends. In this period, ther is no Buddha;
however, the Saha world still has Earth-Store Bodhisatva who vows
to save all beings in hells. The sutra was translated into Chinese by Siksananda.
Kinh
Điển: Tipitaka (skt)—Những bài thuyết giảng của Đức Phật
Thích Ca. Tam tạng Kinh Điển bao gồm Kinh, Luật và Luận. Phật
Giáo Nguyên Thủy thừa nhận kinh điển được ghi lại bằng
tiếng Ba Li (Nam Phạn). Phật giáo Đại Thừa thừa nhận kinh
điển được ghi lại bằng tiếng Bắc Phạn—Canon—Buddhist
Sutras—The discourses of Buddha—Canon—Three baskets in Pali recognized
by Theravada school. Sutras were written down in Sanskrit recognized by
the Mahayana school, including the sutras (kinh), Tantras (luật), and
the Commentary (luận).
Kinh
Điển Đại thừa: Mahayana sutras.
Kinh
Đường: Sutra Hall.
Kinh
Gia: Người kết tập kinh điển, như Ngài A Nan, theo truyền
thống được ghi lại thì chính ông là người đầu tiên đã
kết tập kinh điển Phật giáo—One who collected or collects the
sutras, especially Ananda, who according to tradition recorded the first
Buddhist sutras.
Kinh
Giả:
1)
Bậc uyên thâm và có khả năng thuyết giảng thông suốt kinh
luật: One who expounds the sutras and sastras.
2)
Bậc uyên thâm và giảng giải thông suốt kinh Pháp Hoa: One
who keeps the teaching of the Lotus Sutra.
Kinh
Giải Thâm Mật: Samdhinirmocana-Sutra—Đây là kinh điển căn
bản của Pháp Tướng Tông, nội dung nói về tư tưởng của
trường phái Duy Thức. Mọi hiện tượng đều là trạng thái
của tâm thức. Các đối tượng chỉ tồn tại qua quá trình
trí tuệ, chứ không tồn tại như vốn có. Kinh được Ngài
Huyền Trang dịch sanh Hán tự —This is the basic sutra for the
Dharmalaksana sect. The sutra based on the central notion of the Yogachara,
everything experienceable is mind only. Things exist only as processes
of knowing, not as objects. The sutra was translated into Chinese
by Hsuan-Tsang.
Kinh
Giáo: The teaching of the sutras—See Kinh Lượng Bộ.
Kinh
Giới: Kinh và giới luật,hay những giới luật được tìm
thấy trong kinh điển. Những giới luật được coi là căn
bản bất hư—Sutras and commandments; the sutras and morality or discipline.
The commandments found in the sutras. The commandments regarded as permanent
and fundamental.
Kinh
Hạ Sanh Di Lặc Thành Phật: Maitreyavyakarana Sutra—Kinh ghi lại
rằng sau thời Phật Thích ca nhập diệt thì thế giới Ta Bà
bước vào một thời kỳ không có Phật. Hiện thời Đức
Di Lặc đang thuyết pháp trên cung trời Đâu Suất, Ngài sẽ
xuất hiện và thành Phật trong hội Long Hoa. Kinh được Ngài
Cưu Ma La Thập dịch sang Hán tự—The sutra mentioned that after
the historical Buddha sakyamuni’s Nirvana, the whole Saha world entered
a period without any Buddha (a Buddhaless period). At this time, the Buddha-to-be
is still preaching in the Tushita. He will descend and become the Buddha
in the “Long Hoa” assembly. The sutra was translated into Chinese
by Kumarajiva.
Kinh
Hãi: To be frightened.
Kinh
Hành: Cankrama (skt).
1)
Hành thiền bằng cách đi tới đi lui để tránh buồn ngủ
(có thể đi trong sân nhà, sân chùa, hay quanh Phật điện):
Meditative walking by walking up and down. To walk about when meditating
to prevent sleepiness.
2)
Tập dưỡng thân phòng bệnh trong hành lang tự viện: Exercise
to keep in health; the cankramana was a place for such exercise, i.e. a
cloister, a corridor.
Kinh
Hoa Nghiêm: Avatamsaka (skt)—Flower Ornament Sutra—Nhan đề Phạn
ngữ của Hoa Nghiêm là Avatamsaka, nhưng Pháp Tạng trong bản
chú giải kinh Hoa Nghiêm bộ 60 quyển nói nguyên ngữ chính
là Gandavyuha. Avatamsaka có nghĩa là “một tràng hoa” trong
khi nơi chữ Gandavyuha, thì ganda là “tạo hoa” hay một loại
hoa thường và “vyuha” là “phân phối trật tự” hay “trang
sức.” Hoa Nghiêm có nghĩa là trang hoàng bằng hoa. Hoa Nghiêm
là một trong những bộ kinh thâm áo nhất của Đại Thừa,
ghi lại những bài thuyết pháp của Đức Phật sau khi Ngài
đã đạt giác ngộ viên mãn. Gandavyuha là tên phẩm kinh
kể lại công trình cầu đạo của Bồ Tát Thiện Tài Đồng
Tử. Bồ Tát Văn Thù hướng dẫn Đồng Tử đi tham vấn hết
vị đạo sư nầy đến vị đạo sư khác, tất cả 53 vị,
trụ khắp các tầng cảnh giới, mang đủ lốt chúng sanh. Đây
là lý thuyết căn bản của trường phái Hoa Nghiêm. Một trong
những kinh điển dài nhất của Phật giáo, cũng là giáo điển
cao nhất của đạo Phật, được Đức Phật thuyết giảng
ngay sau khi Ngài đại ngộ. Người ta tin rằng kinh nầy được
giảng dạy cho chư Bồ tát và những chúng hữu tình mà tâm
linh đã phát triển cao. Kinh so sánh toàn vũ trụ với sự chứng
đắc của Phật Tỳ Lô Giá Na. Kinh cũng nhấn mạnh rằng mọi
sự vật và mọi hiện tượng đồng nhất thể với vũ trụ.
Sau khi khảo sát về nội dung của Kinh Hoa Nghiêm, chúng ta thấy
kinh khởi đầu bằng những bản kinh độc lập và về sau
được tập hợp thành một dòng thơ, mỗi thể tài được
trình bày trong các kinh đó đều được xếp loại theo từng
thể và được gọi chung là Hoa Nghiêm—The Garland Sutra—The
Sanskrit title is Avatamsaka, but it is Gandavyuha according to Fa-Tsang’s
commentary on the sixty-fascile Garland Sutra. Avatamsaka means a ‘garland,’
while in Gandavyuha, ganda means ‘a flower of ordinary kind,’ and vyuha
‘an orderly arrangement’ or ‘array.’ Gandavyuha means ‘flower-decoration.’
Avatamsaka is one of the profound Mahayana sutras embodying the sermons
given by the Buddha immediately following his perfect enlightenment. The
Gandavyuha is the Sanskrit title for a text containing the account of Sudhana,
the young man, who wishing to find how to realize the ideal life of Bodhisattvahood,
is directed by Manjusri the Bodhisattva to visit spiritual leaders one
after another in various departments of life and in various forms of existence,
altogether numbering fifty-three. This is the basic text of the Avatamsaka
school. It is one of the longest and most profound sutras in the Buddhist
Canon and records the highest teaching of Buddha Sakyamuni, immediately
after enlightenment. It is traditionally believed that the sutra was taught
to the Bodhisattvas and other high spiritual beings while the Buddha was
in samadhi. The sutra has been described as the “epitome of Budhist thought,
Buddhist sentiment, and Buddhist experiences” and is quoted by all schools
of Mhayana Buddhism. The sutra compares the whole Universe to the realization
of Vairocana Buddha. Its basic teaching is that myriad things and phenomena
are the oneness of the Universe, and the whole Universe is myriad things
and phenomena. After examining the sutra, we find that there were in the
beginning many independent sutras which were later compiled into one encyclopaedic
collection, as the subject-matters treated in them are all classified under
one head, and they came to be known as Avatamsaka.
Kinh
Hoàng: Terrified—Scared—Consternated.
Kinh
Hoảng: See Kinh hoàng.
Kinh
Hồn: Frightened out of one’s wits.
Kinh
Kệ: See Kinh điển.
Kinh
Khê: Tức Trạm Nhiên Đại Sư, vị tổ thứ chín của tông
Thiên Thai ở Trung Hoa—Ching-Ch’i, thorn stream, name of the ninth
T’ien-T’ai patriarch Chan-Jan.
Kinh
Khủng: Dreadful—Fearful—Frightened.
Kinh
Kim Cang: See Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Kinh
Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa: Vajracchedika-Prajna-Paramita (skt)—Kinh
Kim Cang, một trong những kinh thâm áo nhứt của kinh điển
Đại Thừa. Kinh nầy là một phần độc lập của Kinh Bát
Nhã Ba La Mật Đa. Kinh Kim Cang giải thích hiện tượng không
phải là hiện thực, mà chỉ là những ảo giác hay phóng chiếu
tinh thần riêng của chúng ta (Bất cứ hiện tượng và
sự vật nào tồn hữu trong thế gian nầy đều không có thực
thể, do đó không hề có cái gọi là “ngã”). Chính vì thế
mà người tu tập phải xem xét những hoạt động tinh thần
của hiện tượng sao cho tinh thần được trống rỗng, cởi
bỏ và lắng đọng. Nó có tên Kim cương vì nhờ nó mà chúng
sanh có thể cắt bỏ mọi phiền não uế trược để đáo
bỉ ngạn. Kinh được kết thúc bằng những lời sau: “Sự
giải bày thâm mật này sẽ gọi là Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba
La Mật Đa. Vì nó cứng và sắt bén như Kim Cương, cắt đứt
mọi tư niệm tùy tiện và dẫn đến bờ Giác bên kia.” Kinh
đã được Ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hán tự—Sutra of the
Diamond-Cutter of Supreme Wisdom, one of the most profound sutras in the
Mahayana, an independent part of The Vairacchedika Prajanparamita Sutra.
The Diamond Sutra shows that all phenomenal appearances are not ultimate
reality but rather illusions or projections of one’s mind (all mundane
conditioned dharmas are like dreams, illusions, shadow and bubbles). Every
cultivator should regard all phenomena and actions in this way, seeing
them as empty, devoid of self, and tranquil. The work is called Diamond
Sutra because it is sharp like a diamond that cuts away
all necessary conceptualization and brings one to the further shore
of enlightenment. The perfection of wisdom which cuts like a diamond. The
sutra ends with the following statement: “This profound explanation is
called Vajracchedika-Prajna-Sutra, for the diamond is the gem of supreme
value, it can cut every other material (thought) and lead to the other
Shore.” The sutra was translated into Chinese by Kumarajiva—A gatha
of the Diamond Sutra states:
*Nhứt
thiết hữu vi pháp,
Như mộng huyễn bào ảnh,
Như lộ, diệc như điện,
Ưng tác như thị quán.
*All
phenomena in this world are
Like a dream, fantasy, bubbles,
shadows;
They are also like dew, thunder, and
lightening;
One must understand life like that.
Kinh
Kim Cang Đảnh Nhất Thiết Như Lai Chân Thật Nhiếp Đại Thừa
Hiện Chứng Đại Giáo Vương Kinh: Sarva-tathagatatattvasamgrahama-Hayanabhisamayamahakaparaya—Kinh
điển căn bản của Mật giáo, nói về các nghi thức đặc
thù Mật giáo. Kinh được Ngài Bất Không dịch sang Hán tự—This
is the basic sutra of the Tantric Buddhism, stressed on special tantric
rituals. The sutra was translated by amoghavajra.
Kinh
Kim Quang Minh: Suvarnaprabhasa-Sutra—Kinh Kim Quang Minh Tối Thắng
Vương—Kinh Đại thừa cho rằng đọc tụng sẽ được sự
hộ trì của Tứ Thiên Vương. Chính vì thế mà thời trước
kinh đóng một vai trò quan trọng trong việc du nhập đạo Phật
vào Nhật bản. Kinh nhấn mạnh tới khía cạnh chánh trị của
đạo Phật, và vì lý do đó nó được nhiệt liệt hưởng
ứng bởi giai cấp lãnh đạo Nhật. Ý tưởng chánh của kinh
là đức trí năng phân biệt thiện ác. Mọi người từ lãnh
đạo đến tiện dân đều phải tuân theo “ánh sáng bên trong”
ấy. Kinh được Ngài Nghĩa Tịnh dịch sang Hán tự—Suvarnaprabhasa-sutra
(skt)—The Sutra of Golden Light—Golden Light Supreme King Sutra, A
Mahayana sutra mentioned that those who recite it will receive the support
and protect from the four heavenly kings. That was why it played a major
role in establishing Buddhism in Japan. It stressed the political aspect
of Buddhism and thus was highly regarded by the Japanese ruling class.
The main theme of the sutra is the virtue of wisdom (inner light) which
discriminates good and evil. Each person from the ruler to those in the
lowest state, must follow this “inner light.” The sutra was translated
into Chinese by I-Ching.
Kinh
Lăng Già: Lankavatara Sutra (skt)—Kinh Lăng Già là giáo thuyết
triết học được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết trên núi
Lăng Già ở Tích Lan. Có lẽ kinh nầy được soạn lại vào
thế kỷ thứ tư hay thứ năm sau Tây Lịch. Kinh nhấn mạnh
về tám thức, Như Lai Tạng và “tiệm ngộ,” qua những tiến
bộ từ từ trong thiền định; điểm chính trong kinh nầy coi
kinh điển là sự chỉ bày như tay chỉ; tuy nhiên đối
tượng thật chỉ đạt được qua thiền định mà thôi.
Kinh có bốn bản dịch ra Hán tự, nay còn lưu lại ba bản.
Bản dịch đầu tiên do Ngài Pháp Hộ Đàm Ma La sát dịch giữa
những năm 412 và 433, nay đã thất truyền; bản thứ nhì do
ngài Cầu Na Bạt Đà La dịch vào năm 443, gọi là Lăng Già
A Bạt Đa La Bảo Kinh, gồm 4 quyển, còn gọi là Tứ Quyển
Lăng Già; bản thứ ba do Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch sang Hán
tự vào năm 513, gồm 10 quyển, gọi là Nhập Lăng Già Kinh;
bản thứ tư do Ngài Thực Xoa Nan Đà dịch vào những
năm 700 đến 704 đời Đường, gọi là Đại Thừa Nhập Lăng
Già Kinh, gồm 7 quyển, nên còn gọi là Thất Quyển Lăng Già.
Đây là một trong những bộ kinh mà hai trường phái Du Già
và Thiền tông lấy làm giáo thuyết căn bản. Kỳ thật bộ
kinh nầy được Tổ Bồ Đề Đạt Ma chấp thuận như là bộ
giáo điển được nhà Thiền thừa nhận. Trong Kinh Lăng Già,
Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã tiên đoán rằng, “về sau nầy
tại miền nam Ấn Độ sẽ xuất hiện một vị đại sư đạo
cao đức trọng tên là Long Thọ. Vị nầy sẽ đạt đến sơ
địa Bồ Tát và vãng sanh Cực Lạc.”—A philosophical discourse
attributed to Sakyamuni as delivered on the Lanka mountain in Ceylon. It
may have been composed in the fourth of fifth century A.D. The sutra stresses
on the eight consciousness, the Tathagatha-garbha and gradual enlightenment
through slow progress on the path of meditative training; the major idea
in this sutra is regarding that sutras merely as indicators, i.e. pointing
fingers; however, their real object being only attained through personal
meditation. There have been four translations into Chinese, the first by
Dharmaraksa between 412-433, which no longer exists; the second was by
Gunabhada in 443, 4 books; the third by Bodhiruci in 513, 10 books; the
fourth by Siksananda in 700-704, 7 books. There are many treatises and
commentaries on it, by Fa-Hsien and others. This is one of the sutras upon
which the Zen and Yogacara schools are based. In fact, this was the sutra
allowed by Bodhidharma, and is the recognized text of the Ch’an School.
In the Lankavatara Sutra, Sakyamuni Buddha predicted, “In the future,
in southern India, there will be a great master of high repute and virtue
named Nagarjuna. He will attain the first Bodhisattva stage of Extreme
Joy and be reborn in the Land of Bliss.”
Kinh
Lăng Nghiêm: Surangama Sutra (skt)—Tên đầy đủ là Kinh Đại
Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm, là bộ kinh thâm sâu nguyên tác
bằng tiếng Phạn, được viết vào thế kỷ thứ nhất sau
Tây Lịch. Kinh Lăng Nghiêm được ngài Paramartha (Chơn Đế)
đem sang Trung quốc và được thừa tướng Vương Doãn giúp
dịch vào khoảng năm 717 sau Tây Lịch (có người nói rằng
vì vụ dịch kinh không xin phép nầy mà hoàng đế nhà Đường
nổi giận cách chức thừa tướng Vương Doãn và trục xuất
ngài Chơn Đế về Ấn Độ). Bộ kinh được phát triển và
tôn trọng một một cách rộng rãi ở các nước Phật Giáo
Đại Thừa. Cùng với các vấn đề khác, kinh giúp Phật tử
tu tập Bồ Tát Đạo. Kinh còn nói đầy đủ về các bước
kế tiếp nhau để đạt được giác ngộ vô thượng. Kinh
cũng nhấn mạnh đến định lực, nhờ vào đó mà đạt được
giác ngộ. Ngoài ra, kinh còn giải thích về những phương pháp
“Thiền Tánh Không” bằng những phương thức mà ai cũng
có thể chứng ngộ được—Also called the Sutra of the Heroic
One. This profound writing, originally in sanskrit, written in the first
century A.D. The sutra was brought to China by Paramartha and translated
into Chinese with the assistance of Wang Yung about 717 A.D. (some said
that it was angered the T’ang Emperor that this had been done without
first securing the permission of the government, so Wang-Yung was punished
and Paramartha was forced to return to India)—It is widely developed
and venerated in all the Mahayana Buddhist countries. Among other
things, the sutra helps Buddhist followers exercising Bodhisattva magga.
It deals at length with the successive steps for the attainment of supreme
enlightenment. It also emphasizes the power of samadhi, through which enlightenment
can be attained. In addition, the sutra also explains the various methods
of emptiness meditation through the practice of which everyone can realize
enlightenment.
Kinh
Lễ Sáu Phương: Worship in the Six Directions Sutra—See Kinh Lễ
Sáu Phương in Appendix A (7).
Kinh
Liên Đới: Book of Relations.
Kinh
Luân: To adminster—To manage.
Kinh
Luận: The sutras and sastras—See Kinh Luật Luận.
Kinh
Luận Nghị: Upadesa—Thuyết về Lý Luận—Discussions of doctrine.
Kinh
Luật Luận: Sutras, Vinaya, Abhidharma sastras (skt)—Tam Tạng Kinh
Điển Phật—The three divisions of the Buddhist canon.
1)
Kinh: Sutra (skt)—See Kinh and Kinh Bổn.
2)
Luật: Vinaya (skt)—See Vinaya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
3)
Luận: Sastra (skt)—See Abhidharma in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section,
and Luận A Tỳ Đạt Ma Câu Xá in Vietnamese-English Section.
Kinh
Lượng Bộ: Sautrantika or Santrantivadin (skt)—Thuyết Độ Bộ—Thuyết
Chuyển Bộ—Giáo thuyết trong kinh điển (một trong 18 bộ
của Tiểu Thừa. Sau khi Đức Phật nhập diệt 400 năm, nó
được tách ra từ Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ. Trong số Tam
Tạng chỉ có bộ nầy dùng kinh làm chính lượng nên gọi
là Kinh Lượng Bộ, người khai sáng ra bộ nầy là Cưu Ma La
Đà (bộ phái nầy chỉ lấy Kinh làm chính lượng, chỉ dùng
kinh điển để chứng minh). Bộ nầy cho rằng có sự chuyển
thực thể từ kiếp nầy sang kiếp khác. Theo các Phật tử
của phái nầy thì trong ngũ uẩn của con người, chỉ có một
uẩn vi tế nhất chuyển từ kiếp nầy sang kiếp khác, trái
với Chánh Lượng Bộ cho rằng toàn bộ ‘pudgala’ đều được
chuyển đi. Phái nầy cũng tin rằng mỗi người đều có một
khả năng tiềm ẩn trở thành Phật, đây vốn là chủ thuyết
của giáo phái Đại Thừa. Do những quan điểm đó nên bộ
phái nầy được xem là một cầu nối giữa Thanh Văn Thừa
(thường được gọi là Tiểu Thừa) và Đại Thừa—The teaching
of the sutras, an important Hinayana school, which based its doctrine on
the sutras alone, the founder of this division is Kumara-labha. This school
believed in the transmigration of a substance (sankranti) from one life
to another. According to its followers, of the five skandhas of an individual,
there is only one subtle skandha which transmigrates, as agianst the whole
of the pudgala of the Sammitiyas. It also believed that every man had in
him the potentiality of becoming a Buddha, a doctrine of the Mahayanists.
On account of such views, this school is considered to be a bridge between
the Sravakayana (often called the Hinayana) and the Mahayana.
Kinh
Ma Đăng Già: Matangi-Sutra—Kinh đặc trọng tâm vào câu chuyện
về một phụ nữ tên Ma Đăng Già, thuộc giai cấp thấp nhất
trong xã hội Ấn Độ, đã được Phật Thích Ca thu nhận làm
đệ tử. Trong nầy, Đức Phật cũng giảng tỉ mỉ rằng mọi
giai cấp đều bình đẳng. Kinh được Ngài Trúc Luật Viêm
và Chi Khiêm dịch sang Hán tự—The sutra stressed on the story
of a lady named Matangi, she belonged to the lowest class in Indian society.
In this sutra, the Buddha also expounded clearly on the “Equality”
of all classes. The sutra was translated into Chinese by Chu-lu-Yen and
Chih-Ch’ien.
Kinh
Ma Ha Tăng Chỉ Luật: Mahasanghika-Vinaya—Sau khi Phật nhập diệt
100 năm thì cộng đồng Phật giáo thời bấy giờ chia làm
hai phái, Thượng Tọa và Đại Chúng. Bên Đại Chúng Bộ đã
tự kết tập thành bộ luật Ma Ha Tăng Chỉ, nói về chi tiết
những giới luật của chư Tăng Ni. Kinh được Ngài Phật Đà
Bạt Đà La và Pháp Hiển dịch sang Hán tự—100 years after
the Buddha’s nirvana, Buddhist community was divided into two divisions:
Theravada and Mahasanghika. The Theravada wanted to keep the same
rules since the Buddha’s time; however, the Mahasanghika, the majority,
believed proposed five points which laid foundation for the Mahasanghika-Vinaya:
1)
Một vị A La Hán vẫn còn bị cám dỗ: An arhat is still subject
to temptation.
2)
Một vị A La Hán vẫn còn dấu vết của sự ngu dốt: An arhat
is still not yet free from ignorance.
3)
Một vị A La Hán vẫn còn nghi ngờ về học thuyết: An arhat
is still subject to doubts concerning the teaching.
4)
Một vị A La Hán có thể tu hành giác ngộ nhờ sự giúp đở
của tha lực: An arhat can make progress on the path to enlightenment
through the help of others.
5)
Một vị A La hán có cơ may được cứu rỗi bằng việc lập
đi lập lại những âm thanh: An arhat can advance on the path through
utterance of certain sounds.
**
This sutra was translated into Chinese by
Buddhabhadra and Fa-Hsien.
Kinh
Na Tiên Tỳ Kheo: Sutra on Questions of King Milinda—See Milindapanha.
Kinh
Ngạc: Surprised—Amazed—Stupified—Astounded.
Kinh
Nghi: To fear and to suspect.
Kinh
Nghiệm: Anubhava (skt)—Experience—Sự hiểu biết xuất phát
từ sự quan sát của cá nhân hay thực nghiệm; ấn tượng
của tâm chứ không từ ký ức—Experience means knowledge derived
from personal experiment; impression on the mind not from memory.
Kinh
Nghiệm Bây Giờ: Immediate experience.
Kinh
Nguyệt Đăng Tam Muội: Samadhirajacandrapradipa-Sutra—Kinh ghi lại
một cuộc đối thoại giữa một người trẻ tuổi tên là
Nguyệt Đăng và Đức Phật Thích Ca, trong đó Đức Phật
chỉ bày cách quán tánh “Bình Đẳng” cho tất cả mọi
vật. Kinh cũng nhấn mạnh về bản chất đồng nhất của
mọi sự vật, mọi vật tồn hữu đều không có thực thể,
giống như giấc chiêm bao hoặc như ảo tưởng. Nhận chân
được như vậy là đạt tới cảnh giới giác ngộ vậy. Kinh
được Ngài Na Liên Đề Da Xá dịch sang Hán tự—The sutra
mentioned a dialogue between a young person named Candragupta and the Buddha
Sakyamuni. In which the Buddha taught about “Emptiness or Sunyata”
in all things. The sutra also emphasized on the essential identity of all
things, everything exists without its own reality, it is like a dream or
illusion. To realize this means to reach the realm of enlightenment. The
sutra was translated into Chinese by Narendrayasas.
Kinh
Nguyệt Thượng Nữ Kinh: Candrottaradarikapariprccha-Sutra—Kinh
nói về nàng Nguyệt Thượng, con gái của ông trưởng giả
Duy Ma Cật (không phải là Cư Sĩ Duy Ma Cật). Nàng được đức
Phật thọ ký rằng trong một kiếp tương lai sẽ trở thành
một vị Phật. Kinh được Ngài Xà Na Quật Đa dịch sang Hán
tự—The sutra mentioned about Candrottara, a daughter of a rich old
man named Vilamakirti (not the layman Vilamakirti). She was predicted by
the Buddha that she would become a Buddha in a future life. The sutra was
translated into Chinese by Jnanaguptaad.
Kinh
Nhơn Duyên: Nidana—Narratives of the past which explain a person’s
present state.
Kinh
Nhơn Vương Bát Nhã Ba La Mật: Karunikaraja-Prajnaparamita-Sutra—Kinh
nhấn mạnh đến “Trí huệ Phật” trong việc duy trì
an ninh phúc lợi trong quốc gia. Kinh được Ngài Cưu Ma La Thập
dịch ra Hán tự—The sutra stressed on the “Buddha wisdom” for
rulers to maintain security and welfare for the country. The sutra was
translated into Chinese by Kumarajiva.
Kinh
Niên: Chronic—Lasting for a long time.
Xem
Tiếp Trang 2