Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
Đa
Đa:
Bahu (skt)—Many.
Đa
Âm: Polysyllabic—Polyphonic.
Đa
Bảo:
1)
Đa Bảo Như Lai: Prabhutaratna Buddha (skt)—Một vị cổ Phật
(ở thế giới Đông Phương Bảo Tịnh) đã nhập Niết bàn,
đã xuất hiện nghe Phật Thích Ca thuyết kinh Pháp Hoa (phẩm
11), do sự hiện diện của Phật Đa Bảo, chúng ta thấy Niết
bàn không phải là sự hủy diệt. Phật Đa Bảo là một hình
ảnh quan trọng trong Kinh Pháp Hoa: một tòa bảo tháp cổ nổi
lên từ dưới đất (tòng địa dõng xuất), một vị cổ Phật
từ đó bước ra. Biểu tượng nầy tượng trưng cho chân lý
trường tồn, dù đôi khi chân lý ấy bị lu mờ hay chôn vùi;
cũng có lúc nó sẽ được phát hiện sáng ngời—Abundant-treasures
(Many Jewels) Buddha—The Ancient Buddha, who entered Nirvana a long long
time ago, who appeared in his stupa to hear the Buddha preach the Lotus
Sutra (chapter 11), by his presence revealing that nirvana is not annihilation.
Prabhutaratna Buddha, an important image in the Lotus Sutra: an ancient
monument emerges from the ground, opens up, and reveals an extinct Buddha,
named Prabhutaratna, who although extinct is still alive and teaching.
This symbolizes the idea that truth is eternal, even though it may sometimes
be concealed or forgotten, sometimes revealed or rediscovered.
2)
Đa Bảo Thiền Sư—Zen Master Đa Bảo: Một vị sư Việt Nam
nổi tiếng vào thế kỷ thứ mười một, pháp tử đời thứ
11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Không ai biết quê ngài ở đâu.
Khi ngài gặp Thiền sư Khuông Việt và trở thành một trong
những đệ tử xuất sắc của Thiền Sư Khuông Việt. Sau khi
đắc pháp, ngài trở thành du Tăng khất sĩ. Sau đó vua Lý
Thái Tổ cho trùng tu chùa Kiến Sơ và thỉnh ngài về trụ,
nhưng ít lâu sau đó ngài lại đi du phương hoằng hóa và không
ai biết ngài đi đâu và thị tịch hồi nào—A famous Vietnamese
monk in the eleventh century, dharma heir of the fifth lineage of the Wu-Yun-T’ung
Zen Sect. His origin was unknown. He met Zen Master Khuông Việt
at Khai Quốc Temple and became one of his most outstanding disciples.
After he became the Dharma heir of Khuông Việt, he became a wandering
monk for several years. Later, King Lý Thái Tổ ordered his mandarin
to rebuild Kiến Sơ Temple and invited him to stay there, but a short
time later he became a wandering monk again. His whereabout and when he
died were unknown.
Đa
Cảm: Sensitive—Emotional.
Đa
Dục: Sensual.
Đa
Đà A Già Đà: Tathagata (skt)—See Như Lai in Vietnamese-English
Section and Tathagata in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đa
Đà A Già Độ: Tathagata (skt)—See Đa Đà A Già Đa.
Đa
Đoan: Complicated affairs.
Đa
Già La: See Mộc Hương.
Đa
Hôn: Polygamy—Polygamous (a).
Đa
La:
1)
Tara (skt)—In the sense of starry, or scintillation.
2)
Tala (skt)—Cây Ta La cao khoảng 70 đến 80 bộ Anh, với trái
như những hạt gạo vàng, có thể ăn được. Lá được dùng
để viết, phần cánh xòe dùng làm quạt—The fan-palm tree.
The tree is described as 70 or 80 feet high, with fruit like yellow rice-seeds
(resembling the pomegranate) which is edible. Its leaves being used
for writing, their palm-shaped parts being made into fans.
Đa
La Bồ Tát: Vị Bồ Tát được sanh ra từ mắt của Bồ tát
Quán Thế Âm—Tara bodhisattva (said to have ben produced from the
eye of Kuan Shi Yin).
Đa
La Chưởng: Tala leaves—See Đa La (2).
Đa
La Diệp: Tala leaves—See Đa La (2).
Đa
La Thụ: Tara tree—See Đa La (2).
Đa
Ma La Bạt Chiên Đàn Hương: Tamalapattra-candana-gandha (skt).
1)
Chiên Đàn Hương Phật: A Buddha-incarnation of the 11th son of Mahabhijna,
residing north west of our universe.
2)
Tên của vị Phật mà Đức Thích Ca đã thọ ký cho ngài Mục
Kiền Liên: The name of the Buddha-incarnation of Mahamaudgalyayana.
Đa
Mang: To be occupied with many things at the same time.
Đa
Nghi: Distrustful—Suspicious
Đa
Ngôn: Loquacious.
Đa
Nguyên: Pluralism.
Đa
Phát:
1)
Kesini (skt)—Có tóc hay những búi tóc dài—Having long hair—Having
many locks of hair.
2)
Tên của một loài La Sát Nữ: Name of a kind of Raksasi (female
demon).
Đa
Phúc: To have many blessings.
Đa
Sầu: Very sad.
Đa
Sỉ Lộ Ca Minh Vương: Trailokyavijaya (skt)—Tam Thế Giáng Minh
Vương, một trong những Minh Vương trong tam giới—The Ming-Wang
Defeater of evil in the three spheres, one of the Ming-Wang.
Đa
Sinh: Kiếp sống trải qua nhiều kiếp của vòng luân hồi sanh
tử—Many births—Many reincarnations.
Đa
Số: Majority—Generality.
Đa
Sự: Meddling.
Đa
Tạ: Very grateful (thankful).
Đa
Tài Quỷ: Wealthy ghosts.
Đa
Tha:
1)
Tatha (skt)—Như thế ấy—In such a manner—Like—So.
2)
Nirvana (skt)—Diệt—Extinction.
Đa
Tham: Many desires.
Đa
Thần Giáo: Polytheism.
Đa
Thê: Polygamy.
Đa
Thể: Many bodies or forms.
Đa
Tình: Sentimental—Amorous.
Đa
Túc: Many-footed (legged)—Centipedes.
Đa
Văn: Bahu-sruta (skt)—Nghe và đọc nhiều kinh điển—To hear
and repeat many sutras—Wide erudition—Learned, one who has heard much.
Đa
Văn Bộ: Bahusrutiya (skt)—Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm
Trăm Năm Phật Giáo, Đa Văn Bộ được nói đến trong các
bia ký ở Amaravati, Nagarjunakonda và là một nhánh về sau của
Đại Chúng Bộ. Bộ phái nầy được đề xướng bởi một
luận sư rất uyên bác về triết lý Phật Giáo tên là Bahusrutiya.
Về giáo lý cơ bản, Đa Văn Bộ cho rằng các lời dạy của
Đức Phật về vô thường, khổ, không, vô ngã và Niết
Bàn đều có ý nghĩa xuất thế vì sẽ dẫn đến giải thoát.
Còn các lời dạy khác thì có giá trị thế tục. Ở điểm
nầy, Đa Văn Bộ có thể được xem như là những người đi
trước của phái Đại Thừa. Theo họ thì Tăng Già không phải
chịu sự chi phối của các luật lệ thế tục. Họ cũng chấp
nhận năm điều đề xướng của ngài Đại Thiên xem như quan
điểm của mình. Trong một số vấn đề, chủ thuyết của
họ có nhiều điểm tuơng đồng với phái Đông Tây Sơn
Trụ Bộ, còn trong một số vấn đề khác thì họ lại ngả
theo Nhất Thiết Hữu Bộ. Theo Paramartha, Đa Văn Bộ đã cố
gắng hòa hợp hai hệ phái Thanh Văn và Đại Thừa. Bộ luận
chính của hệ phái nầy là Thành Thật Luận. Đa Văn Bộ thường
được xem là một cầu nối giữa trường phái chính thống
và Đại Thừa, vì họ tìm cách phối hợp giáo lý của cả
hai phái nầy. Harivarman tin vào sự vô ngã nơi con người và
sự vô ngã nơi vạn pháp. Giống như những tín đồ của phái
chính thống, ông tin vào tính chất đa nguyên của vũ
trụ gồm tám mươi bốn yếu tố; và cũng giống như những
người thuộc phái Đại Thừa, ông cho rằng có hai loại chân
lý, chân lý quy ước và chân lý tuyệt đối. Đi xa hơn, ông
còn cho rằng xét trên quan điểm tục đế (chân lý quy ước)
thì có ngã thể (atma) hay sự phân xếp vũ trụ thành 84 pháp,
nhưng trên quan điểm chân đế thì chẳng còn thứ nào cả,
mà là sự rỗng không hoàn toàn (sarva-sunya). Ông tin vào thuyết
Phật thân (Buddha-kaya) và Pháp thân (Dharma0kaya) mà ông giải
thích là gồm có giới (sila), định (samadhi), tuệ (prajna),
giải thoát (vimukti) và tri kiến giải thoát (vimukti-jnana-darsana).
Mặc dù không thừa nhận bản chất siêu nhiên tuyệt đối
của Phật, nhưng ông vẫn tin vào các quyền năng đặc biệt
của Đức Phật, như thập Phật lực, và bốn điều tin chắc
(vaisaradya) mà cả Thượng Tọa Bộ cũng chấp nhận. Ông cho
rằng chỉ có hiện tại mới là có thực, còn quá khứ và
tương lai thì không hiện hữu—The Bahusrutiya school is mentioned
in the inscriptions at Amaravati and Nagarjunakonda and is a lter branch
of the Mahasanghikas. Its owes its origin to a learned teacher in Buddhist
lore. As for the fundamental doctrines of the Bahusrutiyas they maintained
that the teachings of the Buddha concerning transitoriness (anityata),
suffering (dhukha), the absence of all attributes (sunya), the non-existence
of the soul (anatman), and the emancipation (nirvana) were transcendental
(lokottara), since they ld to emancipation. His other teachings were mundane
(laukika). On this point the Bahusrutiyas may be regarded as the precursors
of the later Mahayana teachers. According to them, there was no mode which
led to salvation (nirvanika). Further, the Sangha was not subject to worldly
laws. They also accepted the five propositions of Mahadeva as their views.
In some doctrinal matters they had a great deal in common with the Saila
schools, while in others they were closely allied to the Sarvastivadins.
According to Paramartha, this sub-sect made an attempt to reconcile the
two principal systems of Buddhism, the Sravakayana and the Mahayana. Harivarman’s
Satyasiddhisastra is the principal treatise of tis school. The Bahusrutiyas
are often described as a bridge between the orthodox and the Mahayana school,
as they tried to combine the teachings of both. Harivarman believed in
the absence of the soul in individuals (atma-nairatmya) and the soullessness
of all things (dharma-nairatmya). Like the followers of the orthodox schools,
he believed in the plurality of the universe which, according to him, contained
eighty-four elements. Like the Mahayanists, he maintained that there were
two kinds of truth, conventional (samvrti) and absolute (paramartha). He
further maintained that, from the point of conventional truth, atma or
the classification of the universe into eighty-four elements existed, but,
from the point of view of the absolute truth neither existed. From the
point of view of absolute truth there is a total void (sarva-sunya). He
believed in the theory of Buddha-kaya as well as of Dharma-kaya,
which he explained as consisting of good conduct (sila), concentration
(samadhi), insight (prajna), deliverance (vimukti) and knowledge of and
insight into deliverance (vimukti-jnana-darsana). Although he did not recognize
the absolute transcendental nature of the Buddha, he still believed in
the special powers of the Buddha, such as the ten powers (dasa balani),
and the four kinds of confidence (vaisaradya) which are admitted even by
the Sthaviravadins. He believed that only the present was real, while the
past and the future had no existence.
Đa
Văn Đại Đệ Tử: Đa Văn đệ nhứt—The chief among the Buddha’s
hearer: Ananda.
Đa
Văn Kiên Cố: Firm erudition.
Đà
Diễn Na: Tĩnh Lự—See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đà
Đa Kiệt Đa: Như Lai—See Tathagata in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đà
Đô: Dhatu (skt)—See Giới in Vietnamese-English Section, and Dhatu
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đà
La: Tara (skt).
1)
Ngôi sao—Star.
2)
Chiếu sáng: Shining—Radiating.
3)
Một vị Thần Nữ: A female deity.
Đà
La La: Tên của một vị Tiên—Name of a rsi.
Đà
La Na: Tên của một loại quỷ Dạ Xoa—Name of a yaksa.
Đà
La Ni: Dharani (skt)—Đà La Na—Đà Lân Ni.
(A)
Nghĩa của Đà La Ni—The meanings of Dharani:
1)
Trì giữ, tổng trì hay bảo tồn huệ lực và trí lực, không
để cho thiện pháp bị tán loạn, ngăn che không cho các ác
pháp tăng trưởng: Maintain or preserve the power of wisdom or knowledge.
Able to hold on of the good so that it cannot be lost, and likewise of
the evil so that it cannot arise.
2)
Những phương thức nguyện cầu bí mật, thường bằng Phạn
ngữ, tìm thấy sớm nhất ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ
ba sau Tây Lịch; chúng là một phần của Đà La Ni Tạng của
Du Già hay Mật Giáo: Magical formulas, or mystic forms of prayer, or
spells of Tantric order, often in Sanskrit, found in China as early as
the third century A.D.; they form a portion of the Dharanipitaka; made
popular chiefly through the Yogacarya or esoteric school.
3)
Đà La Ni, đặc biệt Chú Đà La Ni được nhấn mạnh bởi
trường phái Chân Ngôn: Dharani: Dharani, especially mantra or spell,
is emphasized by the Shingon sect.
(B)
Phân loại Đà La Ni—Categories of Dharanis: Có bốn loại—There
are four divisions of dharanis:
1)
Pháp Đà La Ni: Văn Đà La Ni—Nghe giáo pháp của Phật liền
giữ gìn không quên—Able to Hear and maintain the Buddha’s
teaching without any retrogression.
2)
Nghĩa Đà La Ni: Nhớ nghĩa các Pháp mà không quên—Able to remember
the meanings of all dharmas without forgetting.
3)
Chú Đà La Ni: Nhớ tất cả những câu chú bí mật được
chư Phật và chư Bồ Tát truyền lại hầu giúp các bậc tu
hành trừ khử mọi ác pháp (đây là những câu nói bí mật
phát ra từ sự tu thiền định của chư Phật và chư Bồ Tát)—Able
to remember all mystic or tantric dharanis from the Buddhas and Bodhisattvas
which help cultivators eliminate the evil.
4)
Nhẫn Đà La Ni: Luôn nhẫn nhục đối với thực tướng của
chư pháp, và luôn an trụ sao cho thân tâm không bị xao động—Able
to be patient to all things, and not to let body and mind to be stirred.
Đà
La Ni Bồ Tát: Dharani-Bodhisattva (skt)—Vị có đại lực hộ
trì và cứu độ chúng sanh—One who has great power to protect and
save.
Đà
La Ni Phật Đảnh: Unisha Vijaja Dharani—See Phật Đảnh Tôn Thắng
Đà La Ni in Vietnamese-English Section.
Đà
La Ni Phiêu: Dravya (skt)—Thắng Luận thành lập thực pháp của
cửu đại đất, nước, lửa, gió, không, thời, phương, thần
(nghĩa), và ý—The nine “substances” in the Nyaya philosohy, earth,
water, fire, air, , ether, time, space, soul, and mind.
Đà
La Ni Tập Kinh: Du Già Sư Địa Luận—Của ngài Vô Trước,
sơ tổ của tông Du Già—Attributed to Asanga, founder of the Buddhist
Yoga school.
Đà
Na:
1)
Tĩnh Lự: See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
2)
Phú Đơn Na: Putana (skt)—A female demon—See Bố Đan Na and Phú
Đơn Na.
3)
Bố Thí: Dana (skt)—Ba La Mật đầu tiên trong lục Ba La Mật—Bestow—Alms,
the first of the six paramitas—See Đàn Na.
Đà
Na Bà: Danavat (skt)—Tên của một loại trời—Name of a god.
Đà
Na Bát Để: Danapati (skt)—Đàn Na Thí Chủ—Người bố thí—Almsgiver.
Đà
Na Diễn Na: Tĩnh Lự—See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đà
Na Già Tha: Danagatha or Daksinagatha (skt)—Lời khẩn nguyện của
người bố thí—The verse or utterance of the almsgiver.
Đà
Na Yết Kiệt (Trách) Ca: Dhanakataka or Amaravati (skt)—Một vương
quốc cổ nằm về phía đông bắc của khu vực mà bây giờ
người ta gọi là “Madras”—An ancient kingdom in the north-east
of modern Madras presidency.
Đà
Nam: See Dhyana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Đà
Phược Nhã: Dhvaja (skt)—Cờ phướn—A flag.
Đà
Tác Ca: Dasaka (skt)—Kẻ nô lệ—A slave (người nữ nô lệ—A
female slave or dasika).
Đả:
1)
Đánh: To beat—To strike.
2)
Làm: To make—To do.
Đả
Bản: Đánh vào miếng ván để thông báo sự việc gì—To
beat the board, or a wooden block as an announcement or intimation.
Đả
Bao: Khăn gói chuẩn bị lên đường của du Tăng—To wrap up
or carry a bundle for a wandering monk.
Đả
Cúng: Cúng dường—To make offering.
Đả
Động: To touch on—To mention.
Đả
Kích: To criticize—To attack.
Đả
Miên Y: Y của chư Tăng Ni mặc trong lúc ngủ—A monk’s or nun’s
sleeping garment.
Đả
Phạn: To eat rice or a meal.
Đả
Thành Nhứt Phiến:
1)
Làm thành một mối: Làm cho các sự vật khác biệt thành ra
giống nhau—To knock all into one.
2)
Hòa hợp làm một: To bring things together, or into order.
Đả
Thính: To make inquiries.
Đả
Tĩnh: Khi chúng hội bắt đầu ồn ào thì vị sư giám chúng
“đả tĩnh” để cho chúng hội im lặng trở lại—To beat
the silencer, or beat for silence.
Đả
Tọa: Ngồi kiết già hay bán già—To squat—To sit down crosslegged.
Đã
Lâu: Long ago—A long time ago.
Đã
Rồi: Accomplished.
Đã
Vậy: If so.
Đạc:
To measure.
Đạc
Điền: To measure (survey) land.
Đai:
1)
To bear.
2)
A belt.
Đái:
1)
Dây băng: Bondage—Tape.
2)
Dây nịch: Belt.
3)
Mang hay đội trên đầu—To wear on the head—To bear.
Đái
Tháp: Aryastupa-mahasri (skt)—Tháp tượng trên đỉnh đầu của
một vài hình tượng, như tượng Phật Di Lặc—To have a pagoda
represented on the head, as in certain images; a form of Maitreya.
Đái
Tháp Bồ Tát: Maitreya, bearer of the pagoda.
Đái
Tháp Kiết Tường: Tháp Kiết Tường trên đỉnh đầu của
Bồ Tát Quán Âm—A little auspicious pagoda on the head of Kuan-Yin’s
image.
Đái
Tháp Tôn: See Đái Tháp.
Đài:
1)
Đài: A flat place—Platform—Terrace—Plateau.
2)
Đài Hoa: Flower cup.
3)
Đài Tưởng Niệm: Monument.
4)
Đài Phát Thanh: Broadcasting station.
Đài
Bá Âm: Broadcasting station.
Đài
Đồ: Thiên Thai Đồ hay đồ chúng của tông phái Thiên Thai—The
disciples of the T’ien-Tai sect.
Đài
Gia: Thiên Thai Gia—The school of the T’ien-T’ai mountain—See
Thiên Thai Tông.
Đài
Giáo: Thiên Thai Giáo—The school on the T’ien-T’ai mountain—See
Thiên Thai Tông.
Đài
Loan: Taiwan—Fermosa.
Đài
Quan Sát: Observation station.
Đài
Sen: Lotus throne.
Đài
Thọ: To bear—To pay for.
Đài
Tông: Thiên Thai Tông—The sect of the T’ien-T’ai mountain—See
Thiên Thai Tông.
Đãi:
1)
Đợi: To wait—To wait for.
2)
Đối đãi: To behave to.
3)
Kịp đến: To reach—To catch up
4)
Rữa: To wash.
5)
Thiết đãi: To treat—To entertain.
Đãi
Bôi: To invite for form’s sake.
Đãi
Dạ: Còn gọi là Đại Dạ hay Túc Dạ, chỉ đêm trước của
ngày giỗ hay bất cứ buổi lễ nào—The night previous to a fast
day, or to any special occasion.
Đãi
Đằng: To treat.
Đãi
Đối: Sự liên hệ, hay bỉ thử đối đãi nhau, sự đối
lập của hai pháp (tất cả mọi sự do nhân duyên sinh ra đều
đãi đối nhau)—Relationship, in relation with, one thing associated
with another.
Đại:
1)
Lớn: Maha—Great—Large—Big.
2)
Yếu tố: The elements or essential things.
Đại
A Do Đa: Mười ngàn triệu—Ten thousand million—See Ayuta in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Đại
A La Hán: Great Arhats.
Đại
A Tỳ: Great Avichi.
Đại
Ác: Very cruel.
Đại
Ác Tượng: Voi cực kỳ hung ác, ví với tâm cuồng loạn không
thuần thục—The great wild elephant, the untamed heart.
Đại
Ái: Tên của Thần Biển—Name for sea-god.
Đại
Ái Đạo: Ma-ha-ba-xà-ba-đề—Mahaprajapati (skt).
·
Dì ruột, người chăm sóc và cũng là kế mẫu của Đức
Phật—Gautama’s aunt, nurse and foster mother.
·
Còn có tên là Kiều Đàm Ni, là vị Tỳ Kheo Ni đầu tiên trong
Phật giáo—Also named Gotami or Gautami, the first woman received into
the order (the first nun in Buddhism history).
·
Ni Chúng Chủ: Head of the community of nuns.
·
Sẽ trở thành Phật Sarvasattvapriyadarsana: She is to be reborn as
Buddha named Sarvasattvapriyadarsana.
Đại
An Đạt La: Mahendra (skt)—Mahendri—Tên của một thành phố
gần cửa sông Godavery, bây giờ là Rajamundry—Rajamahendri, a
city near the mouth of the Godavery, the present Rajamundry.
Đại
An Thiền Sư: Zen Master T’a-An—Thiền Sư Đại An sanh năm 793
tại Phước Châu (bây giờ thuộc tỉnh Phúc Kiến), đệ tử
của Bá trượng—Zen Master T’a-An was born in 793 in Fu-Chou (in
modern Fu-Jian Province), was a disciple of Zen master Bai-Zhang.
·
Khi Đại An gặp Bá Trượng, lễ bái xong, sư thưa: “Con muốn
cầu biết Phật, thế nào là phải?” Bá Trượng bảo: “Thật
là người cỡi trâu tìm trâu.” Đại An hỏi: “Sau khi biết
thì thế nào?” Bá Trượng nói: “Thì như người cỡi trâu
về đến nhà.” Đại An lại hỏi: “Chẳng biết trước
sau gìn giữ thế nào?” Bá Trượng bảo: “Như người chăn
trâu cầm roi dòm chừng không cho nó ăn lúa mạ của người.”
Sư nhơn đây lãnh hội ý chỉ, chẳng đi tìm đâu nữa—When
T’a-An met Bai-Zhang, he bowed and asked: “This student seeks to know
Buddha. How can I do so?” Bai-Zhang said: “It’s like riding the ox
looking for the ox.” T’a-An said: “After finding it, then what?”
Bai-Zhang said: “It’s like riding the ox and arriving home.” T’a-An
then asked: “How does one ultimately uphold and sustain this?” Bai-Zhang
said: “It’s like an oxherd who, grasping his staff, watches the ox
so that he doesn’t transgress by eating other people’s sprouts and
grain.” Upon receiving this instruction T’a-An sought nothing further.
·
Sư thượng đường dạy chúng: “Cả thảy các ngươi đến
Đại An nầy tìm cầu cái gì? Nếu muốn làm Phật, các ngươi
tự là Phật. Sao lại gánh Phật sang nhà bên cạnh tìm, luống
tự nhọc nhằn? Ví như con nai khát nước mà chạy theo ánh
nắng (ánh nắng giống như nước, con nai lầm tưởng là nước
cắm đầu chạy tìm), biết bao giờ được khế hợp. Các
ngươi muốn làm Phật, chỉ cần không có những tâm điên
đảo, vin theo, vọng tưởng, nghĩ ác, cấu dục, chẳng sạch
của chúng sanh, tức các ngươi là Phật chánh giác mới phát
tâm, lại đến chỗ riêng nào luận bàn. Sở dĩ, Đại An nầy
ở tại núi Qui ba mươi năm, ăn cơm núi Qui, đại tiện núi
Qui, mà không học thiền núi Qui, chỉ coi chừng con trâu. Nếu
nó lạc đường hay vào trong cỏ, liền lôi nó lại. Nếu nó
ăn lúa mạ của người, liền đánh đập điều phục nó.
Đáng thương đã lâu chịu người rầy rà, hiện giờ nó đổi
thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ
sờ đuổi cũng chẳng đi—Kui-Shan T’a-An addressed the monks,
saying: “What are you all seeking from me by coming here? If you want
to become a Buddha, then you should know that you yourself are Buddha.
Why are you running around from place to place, like a thirsty deer chasing
a mirage? When will you ever succeed? You want to be a Buddha, but you
won’t recognize that your topsy-turvy contradictory ideas; your deluded
understandings; your mind which believes in innumerable things, purity
and pollution; that it is just this mind that is the authentic original
awakened mind of Buddha. Where else will you go to find it? I’ve spent
the last thirty years here on Mount Kui, eating Kui-Shan’s rice, shitting
Kui-Shan’s shit, but not practicing Kui-Shan’s Zen! I just mind an
old water buffalo. If he wanders off the road into the grass then I pull
him back by his nose ring. If he eats someone else’s rice shoots then
I use the whip to move him away. After such long training period he’s
become very lovable, and he obeys my words. Now he pulls the Great Vehicle,
always staying where I can see him the whole day through, and he can’t
be driven away.
·
Cả thảy các ngươi, mỗi người có hòn ngọc lớn vô giá,
từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ
cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh
lành dữ, sáu cửa ngày đêm thường phóng quang, cũng gọi
là phóng quang tam muội. Các ngươi tự chẳng biết, lại nhận
bóng trong thân tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ
không dám chinh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu
khỉ, không dám để sẩy chân. Hãy nói vật gì có thể gìn
giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ, một sợi tóc
có thể thấy. Đâu chẳng nghe Hòa Thượng Chí Công nói: “Trong
ngoài tìm kiếm trọn không ra. Trên cảnh thi vi gôm tất cả.”
Trân trọng!—Each one of you has a priceless treasure. There is light
emanating from your eyes which illuminates mountains, rivers, and the great
earth. There is light radiating from your ears which apprehends all good
and evil dounds. The six senses, day and night they emanate light and this
is called the ‘light emanating samadhi.’ You yourself can’t comprehend
it, but it is reflected in the four great bodies. It is completely supported
within and without, and never unbalanced. It’s like someone with a heavy
load on his back, crossing a bridge made from a single tree trunk, but
never losing his step. And now if you ask what is it that provides this
support and where is it revealed, then I just say that not a single hair
of it can be seen. No wonder the monk Zhi-Kong said: ‘Searching inside
and out you’ll find nothing. Actions in the causational realm are a big
muddle.’ Take care!”
·
Có vị Tăng hỏi: “Tất cả thi vi là dụng của pháp thân,
thế nào là pháp thân?” Sư đáp: “Tất cả thi vi là dụng
của pháp thân.” Vị Tăng hỏi: “Lìa năm uẩn, thế nào
là thân xưa nay?” Sư đáp: “Đất, nước, lửa, gió, thọ,
tưởng, hành, thức.” Vị Tăng hỏi: “Cái ấy là năm uẩn
chứ gì?” Đại An đáp: “Chúng không là năm uẩn.”—A
monk asked: All actions are the function of the dharmakaya. What is the
dharmakaya?” T’a-An said: “All actions are the function of the dharmakaya.”
The monk asked: “Apart from the five skandhas, what is the original body?”
T’a-An said: “Earth, water, fire, wind (the four elements of form),
sensation, perception, mental action, and consciousness.” The monk asked:
“Aren’t these the five skandhas?” T’a-An said: “They are not
the five skandhas.”
·
Hòa Thượng Tuyết Phong nhơn vào núi lượm được một nhánh
cây hình giống con rắn, đề trên lưng một câu: “Vốn tự
thiên nhiên chẳng nhờ bào gọt,” gởi tặng sư. Sư nhận,
nói: “Ngươi bổn sắc ở núi, vẫn không vết dao búa.”—Xue-Feng
came to Mount Kui. While living there he found an unusual stick shaped
like a snake. On the back of it he wrote: “This is natural and was not
carved.” Xue-Feng gave the stick to T’a-An, who said: “Inhabitants
of this mountain have no ax with which to carve it.”
·
Có người hỏi sư: “Phật ở chỗ nào?” Sư đáp: “Chẳng
lìa tâm.” Vị Tăng lại hỏi: “Người trên hai ngọn có
được cái gì?” Sư đáp: “Pháp không có chỗ được, dù
có chỗ được, được vốn không được.”—A monk asked:
“Where is Buddha?” T’a-An said: “Not apart from mind.” The monk
said: “Then what were the attainments of the ancestors on Twin peaks?”
T’a-An said: “In the Dharma there is nothing attained. If there is
anything to be attained, it is that nothing is attained.”
·
Năm 883, sư trở về chùa Hoàng Bá và thị tịch tại đây.
Môn đồ xây tháp thờ sư trên núi Lăng Già. Sau khi thị tịch,
sư được vua ban hiệu “Viên Trí Thiền Sư”—In 883, he returned
to Mount Huang-Bo and died there. His stupa was constructed on Mount Lanka
and he received the posthumous title “Zen Master Perfect Wisdom.”
Đại
An Ủi: Một vị an ủi lớn, danh hiệu của Phật—The great
comforter—Pacifier—A Buddha’s title.
Đại
Ấm Giới Nhập:
1)
Tứ Đại: Four fundamentals—See Tứ Đại.
2)
Ngũ Ấm: Five aggregates—See Ngũ Uẩn.
3)
Thập Bát Giới: Eighteen spheres—See Thập Bát Giới.
4)
Thập Nhị Nhập: The twelve entrances—See Thập Nhị Nhập.
Đại
Ân: Great grace—Great favor.
Đại
Ân Giáo Chủ: Vị giáo chủ có ân lớn với nhân loại, chỉ
Đức Phật—The Lord of great grace and teacher of men—Buddha.
Đại
Ẩn Sĩ: Vị Tăng ở ẩn trong rừng sâu núi thẳm—Great hermit
who lives in the deep forests and mountains.
Đại
Ba La Mật: The great paramitas or perfections of bodhisattvas—The ten
paramitas.
Đại
Bà La Môn: Theo Kinh Niết Bàn thì vị Bà La Môn lớn ở Ấn
Độ, chỉ Đức Phật, vị đã có tư tưởng cho rằng không
chỉ giai cấp Bà La Môn mới là hiện thân của đạo đức—According
to the Nirvana Sutra, the great Brahmana, applied to the Buddha, who thought
not of Brahman caste was the embodiment of Brahman virtues.
Đại
Bà La Môn Kinh: Kinh nói lên quan điểm Phật giáo về giai cấp
Bà La Môn—A sutra dealing with Buddhist Aspect of the Brahman caste.
Đại
Bạch Đoàn Hoa: See Đại Bạch Hoa.
Đại
Bạch Hoa: Bông mạn đà la lớn—The great mandara flower.
Đại
Bạch Ngưu Xa:
1)
Xe Trâu trắng trong Kinh Pháp Hoa—The great white-bullock cart of
the Lotus Sutra.
2)
Ám chỉ Đại Thừa, đối lại với xe nai và xe dê ám chỉ
Thanh Văn và Duyên Giác của Tiểu Thừa—The Mahayana, as contrast
with the deer-cart and goat-cart of sravakas and pratyeka-buddhas of the
Hinayana.
Đại
Bạch Quang Thần: Sitamsu (skt)—The spirits with white rays.
Đại
Bạch Tản Cái Phật Mẫu: Mẹ của chư Phật, có đại uy lực
phóng quang minh, lấy lộng trắng che rợp khắp cả chúng sanh—The
“mother of Buddhas” with her great snow-white radiant umbrella, emblem
of her protection of all beings.
Đại
Bạch Y: Pandaravasini (skt)—Bạch Y Quán Âm, tất cả đều một
màu trắng, sen trắng, tòa trắng, vân vân—The great white-robed
one, a form of Kuan-Yin, all in white, with white lotus, white throne…
**
For more information, please see Bạch Y.
Đại
Bại: To suffer a heavy defeat—To suffer a big loss.
Đại
Bảo: Châu bảo lớn.
1)
Đại châu bảo: Great jewel—Most precious thing.
2)
Phật pháp: The dharma or Buddha-law.
3)
Bồ Tát: The Bodhisattva.
4)
Bàn thờ của Mật tông: The fire altar of the esoteric cult.
Đại
Bảo Hải: Biển công đức lớn của Đức Phật A Di Đà—The
great precious ocean of the merit of Amitabha.
Đại
Bảo Hoa: Bông quí hay sen được kết bằng ngọc—The great
precious flower—A lotus made of pearls.
Đại
Bảo Hoa Vương: King of Jewel-lotuses (the finest of such gem-flowers).
Đại
Bảo Hoa Vương Tọa: A throne of the King of Jewel-lotuses.
Đại
Bảo Ma Ni: Viên ngọc quí hay chân lý Phật giáo—The great precious
mani—Pure pearl—The Buddha-Truth.
Đại
Bảo Pháp Vương: Maharatna-dharma-raja (skt)—Danh hiệu của người
cải cách và sáng lập nên phái “Mũ Vàng” bên Tây Tạng,
được sùng bái như A Di Đà tái sanh. Ông nhận danh hiệu Tông
Khách Ba năm 1426 sau Tây Lịch—Title of the reformer of the Tibetan
church, founder of the Yellow Sect in 1417 A.D., worshipped as an incarnation
of Amitabha, now incarnate in every Bogdo-gegen-Hutuktu reigning in Mongolia.
He received this title in 1426 A.D, Tsong-Kha-Pa.
Đại
Bảo Phương: Vùng Đại Bảo, được diễn tả trong Kinh Đại
Bảo Tích, vùng nầy nằm giữa Dục giới và Sắc giới—The
great precious region, described in the Maharatnakuta Sutra, as situated
between the world of desire and the world of form.
Đại
Bảo Tạng: Đại Bảo Tạng chứa đựng chân lý Phật pháp—The
great precious treasury, containing the gems of the Buddha-truth.
Đại
Bảo Tích Kinh: Maharatnakuta-sutra (skt)—Bộ Kinh 49 quyển, trong
đó 36 quyển đã được Ngài Bồ Đề Lưu Chi dịch ra Hoa Ngữ—A
collection of forty-nine sutras, of which thirty-six were translated into
Chinese by Bodhiruci—See Kinh Đại Bảo Tích.
Đại
Bát Nê Hoàn Kinh: Nam bổn Đại Bát Nhã Kinh, 36 quyển được
Ngài Pháp Hiển dịch và sữa chữa lại từ Bắc Bổn Bát
Nhã Kinh—Mahaparinirvana Sutra, the southern version, a revision of
the northern version made by Fa-Hsien, in 36 books.
Đại
Bát Nhã Kinh: The Maha-prajna-paramita sutra—Kinh thuyết về triết
lý căn bản Đại Thừa và Lục Ba La Mật. Người ta nói rằng
Phật đã thuyết Kinh nầy cho 16 chúng hội ở bốn nơi khác
nhau: Linh Thứu Sơn, Thành Xá Vệ, Cung trời Tha Hóa Tự Tại,
và Trúc Lâm Tịnh Xá. Kinh gồm 600 quyển được Ngài Trần
Huyền Trang dịch sang Hoa Ngữ vào thời nhà Đường—The fundamental
philosophical work of the Mahayana school, the formulation of wisdom, which
is the sixth paramita. It is said to have been delivered by Sakyamuni in
four places at sixteen assemblies: Gridhrakuta near Rajagrha (Vulture Peak),
Sravasti, Paranirmitavasavartin, and Veluvana near Rajagrha (Bamboo Garden).
It consists of 600 books as translated by Hsuan-Tsang under the T’ang
dynasty.
Đại
Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh: Maha-Prajna-Paramita Sutra—See Đại
Bát Nhã Kinh.
Đại
Bát Niết Bàn: Mahaparinirvana—Great Nirvana (skt)—Đại nhập
diệt hay sự nhập diệt lớn. Đại Thừa giải thích đây
là sự chấm dứt dục vọng và ảo tưởng của mọi sinh hoạt
trong luân hồi sanh tử, nó vượt ra ngoài mọi khái niệm.
Đây không phải là một sự hoại diệt hoàn toàn hay chấm
dứt hiện hữu, sự tái xuất hiện của Nhiên Đăng Cổ Phật
cùng với Phật Thích Ca trên đỉnh Linh Thứu đã làm sáng
tỏ ý nghĩa nầy. Đây là một trạng thái vượt ra ngoài mọi
ngôn từ diễn đạt của con người—The great or final entrance
into extinction and cessation. It is interpreted in Mahayana as meaning
the cessation or extinction of passion and delusion of mortality, and of
all activities, and deliverance into a state beyond these concepts. In
Mahayana it is not understood as the annihilation, or cessation of existence;
the reappearance of Dipamkara (who had long entered nirvana) along with
Sakyamuni on the Vulture Peak supports this view. It is a state above all
terms of human expression.
Đại
Bát Niết Bàn Hậu Phần Kinh: Hậu Phần Niết Bàn Kinh, gồm
hai quyển, được ngài Nhạ Na Bạt Đà La dịch vào đời nhà
Đường, nói về sự nhập diệt của Phật và sự phân chia
xá lợi—Treaties on the Mahaparinirvana Sutra, two books, translated
into Chinese by Jnanabhadra under the T’ang dynasty, the sutra
explained about the passing away of the Buddha and the divisions of his
relics.
Đại
Bát Niết Bàn Kinh: Niết Bàn Kinh, được Phật Thích Ca thuyết
giảng trước khi Ngài nhập diệt, kinh giảng về đại nhập
diệt—The Maha parinirvana sutra—Nirvana Sutra which was delivered
by Sakyamuni before his death, explained the great or final entrance into
extinction and cessation.
(A)
Hai bản kinh của trường phái Tiểu Thừa được tìm thấy
trong Trường A Hàm Du Hành Kinh—The two Hinayana versions
are found in the Long Agama
(B)
Hai bản kinh bằng Hoa ngữ của Đại Thừa—The Mahayana has
two Chinese versions
1)
Bắc Bản Niết Bàn Kinh gồm 40 quyển: The Northern in 40 books.
2)
Nam Bản Niết Bàn Kinh gồm 36 quyển, được sữa lại từ
Bắc Bản: The Southern in 36 books, a revision of the Northern version.
Đại
Bát Niết Bàn Kinh Luận: Gồm một quyển được Ngài Thiên
Thân Bồ Tát biên soạn và Tổ Bồ Đề Đạt Ma dịch sang
Hoa ngữ—One book (sastra) on the Parinirvana Sutra, composed by Vasubandhu
and translated into Chinese by Bodhidharma.
Đại
Bát Niết Bàn Kinh Sớ: Gồm 33 quyển được dịch sang Hoa ngữ
dưới thời nhà Tùy—33 books on the treaties on Parinirvana Sutra,
translated into Chinese under the Sui dynasty.
Đại
Bạt Lam: Mahabala or Mahamudrabala (skt)—Một trăm triệu tỷ tỷ
tỷ tỷ—100 septillions (10042 ).
Đại
Bất Thiện Địa Pháp: Theo Câu Xá Luận, có hai loại tâm sở
pháp khởi lên cùng với mọi tâm bất thiện—According to the
Kosa Sastra, there are two great characteristics of the evil state:
1)
Vô Tàm: No sense of shame—Disgrace.
2)
Vô Quí: Shameless.
Đại
Bi: Mahakaruna (skt)—Most pitiful—Great pity—Lòng từ bi rộng
lớn hay tâm đầy lòng từ bi. Đại bi là lòng thương xót
vĩ đại của chư Phật và chư Bồ Tát. Đại bi còn có nghĩa
là lòng cứu độ chúng sanh đau khổ, chỉ chư Phật và chư
Bồ Tát, đặc biệt ám chỉ Phật Quán Âm, vì bổn nguyện
của các ngài phát sinh từ lòng đại bi rộng lớn—To be full
of compassion (greatly pitiful). Mahakaruna means the Great Compassion
of the Buddhas and Bodhisattvas. Also means a heart that seeks to
save the suffering (great compassion), applied to all Buddhas and Bodhisattvas,
especially to Kuan-Yin, for their original vows growing out of a great
compassionate heart.
Đại
Bi Bồ Tát: Tức Quán Âm Bồ Tát, một vị Bồ Tát với lòng
đại bi rộng lớn—Kuan-Shi-Yin, a Bodhisattva of great pity, or
the greatly pitiful regarder of the earth cires.
Đại
Bi Chú: Great Compassion Mantra—Một tên khác của Thiên Thủ
Kinh hay Thiên Thủ Đà La Ni Kinh, chứa đựng những bài chú
trừ khử dục vọng—Another name of the “Ten-Thousand Hands”
“ sutra or “Ten-Thousand Hands Dharani” sutra, containing spells
against lust.
Đại
Bi Cung: The bow of great pity—Bi và trí là hai pháp môn tu tập
được ví như cung và tên. Đại bi ví với tĩnh đức bên
tay trái; đại trí ví với động đức bên tay phải—The bow
of great pity includes pity and wisdom, compared with bow and arrow. Pity,
a bow in the left hand; and wisdom, an arrow in the right hand.
Đại
Bi Đại Quán Âm Thiên Thủ Địa Ngục: Đức Quán Âm đi vào
địa ngục chịu khổ và tìm cứu chúng sanh—Kuan-Yin Bodhisattva
who suffers when going into hells to seek and save the suffering.
Đại
Bi Đại Thọ Khổ: Công việc của chư Bồ Tát là chịu khổ
thế cho chúng sanh—Vicarious suffering (in purgatory) for all beings,
the work of bodhisattvas.
Đại
Bi Đàn: The altar of pity—Bàn thờ đại bi, một từ ngữ chỉ
pháp giới mạn đà la hay nhóm của Phật Thích Ca—The altar
of pity, a term for Garbhadhatu mandala, or for the Sakyamuni group.
Đại
Bi Giả: Bậc đại bi, chỉ Bồ Tát Quán Âm—Kuan-Shi-Yin—The
great pitiful one.
Đại
Bi Kinh: Mahakaruna-pundarika sutra (skt)—Năm quyển do ngài Na Liên
Đề Da Xá dịch sang Hoa ngữ năm 552 sau Tây Lịch—Five books
translated into Chinese by Narendrayasas in 552 A.D.
Đại
Bi Mạn Đà la: The great pity Mandala.
Đại
Bi Phổ Hiện: Đại Bi Phổ Hiện ám chỉ Đức Quán Thế Âm
Bồ Tát, vị đã hiện thân ra ba mươi ba chủng loại khác
nhau để tùy cơ cứu độ—Great pity universally manifested—Kuan-Yin,
who in thirty-three manifestations meets every need.
Đại
Bi Quán Thế Âm: Quán Âm, vị Bồ Tát lắng nghe những lời
than khóc trên mặt đất nầy mà đến để cứu độ—Kuan-Yin,
the greatly pitiful regarder of earth’s cries to come to save.
Đại
Bi Quán Thế Âm Bồ Tát: See Đại Bi Bồ Tát.
Đại
Bi Sinh Tâm Tam Muội: Tam muội của Phật Di Lặc—The samadhi
of Maitreya.
Đại
Bi Tam Muội: Tam muội của lòng đại bi, qua đó chư Phật và
chư Bồ Tát phát triển lòng đại bi của họ—The samadhi of
great pity, in which Buddhas and bodhisattvas developed their great pity—The
samadhi in which Vairocana evolves the group and it is described as the
"mother of all Buddha-sons.”
Đại
Bi Tâm: Mahakaruna (skt)—See Đại Bi.
Đại
Bi Thai Tạng: Thai tạng còn gọi là Hoa Tạng, là tâm Bồ Đề
sẳn có của chúng sanh. Thai tạng nầy giống như một bông
sen tám cánh , với Đức Tỳ Lô Giá Na ở trung tâm, ngài cũng
chính là cội nguồn của bi tâm—The womb-store of great pity,
the fundamental heart of Bodhi in all; this womb is likened to a heart
opening as an eight-leaved lotus, in the centre being Vairocana, the source
of pity.
Đại
Bi Thai Tạng Mạn Đồ La: Mạn Đồ La của Đại Bi Thai Tạng
hay Mạn Đồ La được sản sanh từ Đại Bi Thai Tạng—The
Mandala of the womb-store of pity—See Đại Bi Thai Tạng.
Đại
Bi Thai Tạng Tam Muội: Tam muội của Đại Bi Thai Tạng Mạn
Đồ La do Đức Đại Nhật Như Lai sản sanh ra. Tam muội nầy
là mẹ của tất cả Phật tử—The samadhi in which Vairocana
Buddha evolves the group , and it is described as the “mother of all
Budha-sons.”
Đại
Bi Thiên Thủ Địa Ngục: Đại bi đại thọ khổ—The hell
of vicarious suffering for all beings—See Đại Bi Đại Quán Âm
Thiên Thủ Địa Ngục.
Đại
Bi Tứ Bát Chi Ứng: Hai mươi hai hay hai mươi ba sự thị hiện
của Đức Quán Âm Đại Bi, nhằm đáp ứng với như cầu của
chúng sanh—The thirty-two or thirty-three manifestations of all pitiful
Kuan-Yin, responding to sentient beings’ needs.
Đại
Bi Xiển Đề: Tên gọi tắt của Nhất Xiển Đề, chỉ những
vị có lòng đại bi mà nguyện không thành Phật, như một
vị Bồ Tát nguyện không thành Phật cho đến khi nào cứu
độ hết thảy chúng sanh như ngài Quán Âm hay Địa Tạng—The
greatly pitiful icchantika (icchantika of great mercy), a Bodhisattva
who cannot or who vows not to become a Buddha until his saving work is
done (until all beings are saved) such as Kuan-Yin or Ti-Tsang.
Đại
Biến: Great change.
Đại
Biện Tài Thiên: The great eloquent deva, who was persuaded to descend
from heaven.
Đại
Biện Tài Thiên Nữ: The great eloquent goddess.
Đại
Biện Thiên: Sarasvati—The great eloquent deva (god).
Đại
Biểu: Representative—Delegate.
Đại
Bồ Đề: The great bodhi—See Đại Bồ Đề Tâm.
Đại
Bồ Đề Phướn: Phướn đại bồ đề, một biểu trưng của
Mật giáo về sự giác ngộ của Phật—The banner of great bodhi,
an esoteric symbol of Buddha-enlightenment.
Đại
Bồ Đề Tâm: Mahayana (skt)—The great bodhi mind—Tâm giác ngộ
bồ đề của Phật hay Đại thừa, ngược lại với tâm bồ
đề của hàng nhị thừa Thanh Văn và Duyên Giác—The mind of
Mahayana or Buddha-enlightenment, as contrast with the mind of inferior
bodhi of the sravakas and pratyeka-buddhas.
Đại
Bồ Tát: Bồ Tát lớn—Bodhisatva Mahasattva—Great Bodhisattva.
Đại
Bổn: Kinh Điển chánh hay cơ bản—The great, chief, major or fundamental
book or text.
Đại
Bổn A Di Đà Kinh: Kinh Đại Bổn Di Đà hay Kinh Vô Lượng Thọ
được trường phái Thiên Thai dùng như một trong ba bổn kinh
chính của Tịnh Độ Tông—The Major Amitabha Sutra (the Infinite
Life Sutra) which the T’ien-T’ai takes as the major of the three Pure-Land
sutras.
Đại
Bửu Tích Kinh: Maha-ratnakuta sutra—See Kinh Đại Bửu Tích.
Đại
Ca Chiên Diên: Đại Ca Đa Diễn Na—Mahakatyayana—Katyayana—Ma
Ha Ca Chiên Diên, một trong mười đại đệ tử của Đức
Phật—One of the ten great disciples of Sakyamuni Buddha—See Ma Ha
Ca Chiên Diên.
Đại
Ca Diếp: Maha Ca Diếp—Mahakasyapa (skt)—Một trong mười đệ
tử lớn của Đức Phật—One of the ten great disciples of Sakyamuni
Buddha—See Ma Ha Ca Diếp.
Đại
Ca Đa Diễn Na: See Đại Ca Chiên Diên.
Đại
Cảnh Trí: Tấm kiếng toàn giác phản chiếu Phật trí—Great
perfect mirror wisdom (perfect all-reflecting Buddha-wisdom).
Đại
Cảnh Trí Quán: Thiền quán phản ánh trí huệ Phật trong mọi
chúng sanh (Phật có thể đi vào trong ta và ta có thể đi vào
trong Phật)—A meditation on the reflection of the perfect Buddha-wisdom
in every being, that as an image may enter into any number of reflectors
(the Buddha can enter into me and I can enter into him too).
Đại
Cao Vương: Abhyudgata-ruja (skt)—Tên của một kiếp mà trong
đó Diệu Trang Nghiêm Vương tái sanh làm Diệu Trang Nghiêm Như
Lai—Great august monarch, name of the kalpa in which Subha-vyuha (Diệu
Trang nghiêm Vương) , who is not known in the older literature, is to
be reborn as a Buddha.
Đại
Cát Đại Minh Bồ Tát: Vị Bồ Tát thứ năm trong hàng thứ
hai thuộc nhóm Pháp Giới Quán Âm—The fifth bodhisattva in the
second row of the Garbhadhatu Kuan-Yin group.
Đại
Cát Tường Biến Bồ Tát: Vị Bồ Tát thứ sáu của hàng thứ
ba trong pháp giới—The sixth bodhisattva in the third row of the Garbhadhatu.
Đại
Cát Tường Kim Cang: See Kim Cang Thủ.
Đại
Cát Tường Minh Bồ Tát: Vị Bồ tát thứ sáu trong hàng thứ
hai trong Pháp Giới nhóm Quán Âm—The sixth bodhisattva in the second
row of the Garbhadhatu Kuan-Yin Group.
Đại
Cát Tường Thiên: The Good-Fortune Devis.
Đại
Cần Dũng: Kiên dũng tinh cần—Danh hiệu của Phật Tỳ Lô
Giá Na—Great Zealous and bold—A title of Vairocana (Tỳ Lô Giá
Na).
Đại
Câu Hy Na: Ma Ha Câu Hy Na, một trong những đại đệ tử của
Phật, cũng là cậu của Xá Lợi Phất, tác giả nổi tiếng
với bộ Luận Chánh Kiến và Chánh Pháp—one of eminent disciples
of Sakyamuni, a maternal uncle of Sariputra, reputed author of the Samgitiparyaya
sastra.
Đại
Câu Hy Na Kinh: Mahakausthila (skt)—Kinh ghi lại những vấn đáp
giữa Ngài Xá Lợi Phất và Ma Ha Câu Hy Na về chánh kiến và
chánh pháp—A sutra of Questions from Sariputra and Answers from Mahakausthila
on the right views and dharma.
Đại
Châu: A great continent, one of the four continents of the world.
Đại
Chu San Định Chúng Kinh Mục Lục: Danh mục của 14 quyển kinh
Phật được biên soạn dưới thời Võ Hậu đời Đường,
mà sau đó đổi thành nhà Châu—The catalogue of 14 Books of Buddhist
Scriptures made under the Empress Wu of the T’ang dynasty, the name of
which she changed to Chou.
Đại
Chuẩn Đề: Một hình thức khác của Đức Quán Âm. Có một
loại chú Đà La Ni bắt đầu với tên Chuẩn Đề—Maha-cundi,
a form of Kuan Yin. There are dharanis beginning with the name of Cundi.
Đại
Chung: Đại Hồng Chung đặt trên nóc tịnh xá—The great bell
in the bell tower of a large monastery.
Đại
Chúng: The people—The masses—Great assembly—Any assembly—All present—Everybody.
Đại
Chúng Ấn: Ấn của tự viện—The seal of a monastery.
Đại
Chúng Bộ: Ma Ha Tăng Kỳ Bộ: Mahasanghika (skt).
(A)
Lịch sử thành lập Đại Chúng Bộ—History of the formation
of the Mahasanghikas: Đại Chúng Bộ hay trường phái chủ trương
già trẻ cùng họp bên ngoài và cùng kết tập Luật bộ, một
trong hai trường phái đầu tiên. Tại cuộc hội nghị ở Tỳ
Xá Lê, đã có một số Tăng lữ bất đồng ý kiến trầm
trọng với một số Tăng lữ khác những điểm quan trọng
liên quan tới giáo pháp. Số Tăng lữ có những ý kiến khác
biệt tuy chiếm đa số nhưng họ lại bị một số Tăng lữ
khác lên án và gọi là Ác Tỳ Kheo và kẻ thuyết phi
pháp đồng thời đã trục xuất họ. Trong lịch sử Phật
giáo, số Tỳ Kheo nầy được gọi là Đại Chúng Bộ vì trong
cuộc hội tập họ đã chiếm đa số và phản ảnh được
ý kiến của đại đa số tục chúng. Những Tăng lữ đã xua
đuổi những vị nầy đã tự xưng là Thượng Tọa Bộ hoặc
Trưởng Lão vì họ tự cho là đại biểu chính thống giáo
nghĩa Phật Giáo Nguyên Thủy. Đại Chúng Bộ là những người
phân phái sớm nhất, và là tiền thân của Phật giáo Đại
Thừa. Họ bênh vực cho bộ phái mới của họ một cách tận
tình và chỉ sau vài chục năm đã phát triển đáng kể về
mặt quyền uy và đại chúng. Họ sửa đổi các giới luật
của bộ Luật Tạng (Vinaya) cho phù hợp với chủ thuyết của
họ và đưa thêm vào những giới luật mới, do đó đã có
sự cải cách canh tân đối với hàng Tăng già Phật Giáo.
Ngoài ra, họ còn thay đổi cách sắp xếp và cách luận giải
các đoạn văn của Kinh và Luật. Họ còn đưa ra một số
kinh mới, cho rằng đó là những lời do chính Đức Phật phán
truyền. Họ bác bỏ một số đoạn trong kinh điển đã được
Nghị Hội lần thứ nhất chấp nhận. Họ không thừa nhận
nhiều đoạn trong bộ kinh Bổn Sanh, phần phụ lục Parivara
trong Luật Tạng vì cho rằng đây là sáng tác của một tu
sĩ người Tích Lan. Họ không chấp nhận bộ Luận Tạng được
kết tập trong Nghị Hội thứ ba dưới sự bảo trợ của
vua A Dục. Họ cho rằng những quyển sách nầy chỉ mới được
soạn sau nầy, chỉ được xem như là phần phụ lục chứ
không được đưa vào trong bộ sưu tập kinh điển của
họ. Như thế họ đã kết tập lại lần nữa các bộ tạng
Kinh, tạng Luật, và đưa vào những phần đã bị Nghị Hội
Ca Diếp gạt bỏ. Do đó mà có sự phân chia giáo điển đến
hai lần. Bộ kết tập của Đại Chúng bộ mang tên Acariyavada,
khác với bộ kết tập của Thượng Tọa bộ tại Nghị Hội
lần thứ nhất—The general body of disciples or everybody who assembled
outside—The school of the community or majority; one of the chief early
divisions. At the council held at Vaisali, certain monks differed widely
from the opinions of other monks on certain important points of the dharma.
Though the monks that differed formed the majority, they were excommunicated
by the others who called them Papa-Bhikkhus and Adhamma-vadins. In Buddhist
history, these Bhikkhus were known as Mahasanghikas because they formed
the majority at the council or probably because they reflected the
opinions of the larger section of the laity. The Bhikkhus who excommunicated
them styled themselves Sthaviras or the Elders, because they believed that
they represented the original, orthodox doctrine of the Buddha. We have
seen that Mahasanghikas coined the term Mahayana to represent their system
of belief and practice, and called the Sthaviras Hinayana. It is universally
believed that the Mahasinghikas were the earliest seceders, and the forerunners
of the Mahayana. They took up the cause of their new sect with zeal and
enthusiasm and in a few decades grew remarkably in power and popularity.
They adapted the existing rules of the Vinaya to their doctrine and introduced
new ones , thus revolutionizing the Buddhist Sangha. Moreover, they made
alterations in the arrangement and interpretation of the Sutra and the
Vinaya texts. They also canonized a good number od sutras, which they claimed
to be the sayings of the Buddha. They rejected certain portions of the
canon which had been accepted in the First Council, and did not recognize
as the Buddha’s sayings (the Buddhavacana) parts of the Jataka, the Parivara
(an appendix to the Vinaya) for they believed that this portion was composed
by a Simhalese monk. They also rejected the Abhidharma which was compiled
in the Third Council held under the patronage of King Asoka. Opinion differs
as to their authenticity as canonical texts since these works were compositions
of a later period. All these texts are therefore additional and are not
included in the canonical collection of the Mahasanghikas. Thus they compiled
afresh the texts of the Dhamma and the Vinaya and included those texts
which had been rejected in Mahakasyapa’s Council. Thus arose a twofold
division in the Canon. The compilation of the Mahsanghikas was designated
the Acariyavada as distinguished from Theravada, compiled at the First
Council.
(B)
Sự tồn vong của Đại Chúng bộ—The survival of the Mahasanghikas:
Lúc đầu Đại Chúng bộ không phát triển được nhiều vì
sự chống đối mạnh mẽ của Thượng Tọa bộ. Họ đã phải
chiến đấu quyết liệt mới đứng vững được ở Ma Kiệt
Đà, nhưng rồi dần dần họ tạo được sức mạnh và trở
thành một bộ phái hùng mạnh. Điều nầy được chứng minh
qua việc họ đã thành lập được các trung tâm hoạt động
tại thành Hoa Thị, Tỳ Xá Ly và mở rộng cả về phía nam
lẫn phía bắc. . Tôn giả Huyền Trang cho chúng ta biết rằng
đa số các Tỳ Kheo cấp dưới ở thành Hoa Thị đều khởi
đầu bằng trường phái Đại Chúng bộ. Nghĩa Tịnh (671-695)
cũng nói rằng ông đã tìm thấy Đại Chúng bộ ở Ma Kiệt
Đà (miền Trung Ấn Độ), một ít ở Lata và Sindhu thuộc miền
tây Ấn, và một í