Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
VIETNAMESE -
ENGLISH VIỆT - ANH
Thiện
Phúc
D
Da
Bà: Yava (skt)—Một đơn vị đo lường tương đương với
một phần 2.688.000—Barley—Barleycorn, a unit of measurement which
is equivalent to the 2,688,000th part of a yojana.
Da
Bà Lô Cát Đế: Avalokitesvara (skt)—See Quán Thế Âm in Vietnamese-English
Section, and Avalokitesvara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Da
Bọc Xương: Nothing but skin and bones.
Da
Du Đà La: See Yasodhara in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Da
Thịt: Skin and flesh—Có da có thịt: To gain weigh.
Da
Xá: Yasas (skt)—Có hai Tỳ Kheo mang cùng tên nầy—There were
three persons of this same name:
1)
Người thứ nhất là đệ tử thứ sáu của Đức Phật: The
first person was the sixth disciple of the Buddha—See Yasas in English-Vietnamese
Section.
2)
Người thứ nhì là đệ tử của Ngài A Nan: The second person
was a disciple of Ananda.
3)
Người thứ ba, sanh sau khi Đức Phật Thích nhập diệt chừng
100 năm, người đã khuyến khích vua A Dục xây 8 vạn bốn
ngàn tháp Phật ở miền Bắc Ấn Độ, triệu tập 700 vị
Thánh Tăng, và liên hệ đến việc kết tập kinh điển lần
thứ hai: The third person, who was born about 100 years after the Buddha’s
nirvana, is said to encourage king Asoka to build 84,000 Buddha stupas
in northern India, convene (summon) 700 arhat saints (monks), and play
an important part in connection with the second synod.
Da
Xá Đà: Yasoja (skt)—See Da Xá.
Dã:
Hoang dã—The country—Wilderness—Wild—Rustic—Uncultivated—Rude.
Dã
Bàn Tăng: Một vị du Tăng rày đây mai đó, không có nơi trụ
xứ nhất định—A roaming monk without fixed abode.
Dã
Bố Thí: Cúng các âm hồn ngạ quỷ tại nhà mồ—To scatter
offerings at the grave to satisfy hungry ghosts.
Dã
Can: Srgala (skt)—Một loài thú giống như chồn, hay kêu la về
đêm—Jackal, or an animal ressembling a fox which cries at night.
Dã
Dượi: Tired—Worn out.
Dã
Độc: To neutralize (counteract) a poison.
Dã
Hồ: Một loại chồn hoang—A wild fox, a fos sprite.
Dã
Hồ Thiền: Thiền gia coi thiền ngoại đạo là “Dã Hồ Thiền”
(theo Tứ Gia Huyền Lục, có một cụ già đến nghe Bách Trượng
Đại Trí thuyết pháp. Cụ già nói: xưa tôi là Tăng trụ trì
ở núi nầy, có người đến hỏi, là một nhà đại tu hành
nhân gian thì có còn rơi vào vòng nhân quả nữa không? Tôi
nói: Không rơi vào vòng nhân quả nữa. Thế là tôi phải đọa
làm thân dã hồ. Xin Hòa Thượng cho một lời chuyển ngữ.
Bách Trượng nói: Cụ cứ hỏi tiếp đi. Cụ già lại hỏi
thêm. Cuối cùng sư nói: Cụ già đã hiểu được lẽ nhân
quả rồi đấy. Cụ già chợt tỉnh ngộ nói: nay thoát kiếp
dã hồ. Xin nhờ đại sư chiều lại ghé qua sau núi cho hỏa
táng theo lệ vong Tăng. Chiều lại Bách Trượng đi vòng sau
núi, quả nhiên thấy trong hang có một xác dã hồ, ngài bèn
cho mang về chùa hỏa táng theo lệ vong Tăng cho nó thoát kiếp)—Wild-fox
meditators, i.e. non-Buddhist ascetics, heterodoxy in general—See Bách
Trượng Hoài Hải.
Dã
Man: Barbarous—Savage—Barbaric.
Dã
Nhân: Gorilla.
Dã
Sử: Unofficial history.
Dã
Táng: See Lâm Táng.
Dã
Tâm: Bad ambition.
Dã
Thọ Bì Đà: Một trong bốn bộ Kinh Vệ Đà—One of the four
Vedas.
Dã
Thố Hình Thần: Sasi—The spirit with marks or form like a hare.
Dã
Thú: Wild beast.
Dạ:
Ban đêm—Night.
Dạ
Hành: Night trip (journey).
Dạ
Ma: See Yama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dạ
Ma Giới: See Yamaloka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dạ
Ma Lô Ca: Yamaloka (skt)—Dạ Ma Lư Ca—Cõi thế giới của Diêm
Ma Vương—The realm of Yama, the third devaloka.
Dạ
Ma Lư Ca: See Dạ Ma Lô Ca.
Dạ
Ma Sứ: Sứ giả của Diêm Vương—The messengers of Yama King.
Dạ
Ma Thiên: Tu Dạ Ma—Tô Dạ Ma—Thời Phân—Thiện Thời Phân—Dạ
Ma Thiên là cõi trời dục giới thứ ba, được giải thích
như là nơi luôn có thời gian và mùa màng lương hảo—Yama
deva; the third devaloka, interpreted as the place where the times, or
seasons, are always good.
Dạ
Ma Vương Sảnh: Sảnh đường của Diêm Vương, nơi phán quyết
tội nhân—Yama’s judgment hall.
Dạ
Mẫu Na: Yamuna (skt)—Sông Dạ Mẫu Na ở vùng bắc Ấn Độ—The
River Jumna in northern India.
Dạ
Minh Châu: Precious stone shining brightly at night.
Dạ
Tha Bạt: Yathavat (skt).
1)
Thích hợp: Suitably.
2)
Chính xác: Exactly.
3)
Rắn chắc: Solid.
4)
Thực sự: Really.
Dạ
Thù: Yajurveda (skt)—Nghi thức tế lễ Vệ Đà của Bà La Môn
giáo—The sacrificial veda of the Brahmans; the liturgy associated with
Brahmanical sacrificial services.
Dạ
Tọa: Thời tọa thiền ban đêm sau 9 giờ, là giờ ngủ trong
các thiền viện—Meditation done after 9:00 PM, the usual bedtime
hour in the Zen monastery.
Dạ
Xoa: See Yaksa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dai
Dẳng: Long lasting—To last a long time.
Dài
Dòng Văn Tự: Wordy—Lengthy.
Dại
Dột: Stupid—Foolish.
Dám:
To dare—To venture to do something.
Dạm:
To offer.
Dạm
Hỏi: To offer marriage.
Dạm
Mua: Offer of purchase.
Dan:
To extend.
Dan
Díu: To be in love with someone.
Dàn:
See Chùa Dàn.
Dạn
Dĩ: Fearless.
Dạn
Mặt: Shameless.
Dang
Dở: Unfinished—Uncompleted.
Dáng
Cao Thượng: A noble figure.
Dáng
Điệu: Appearance—Look.
Danh:
·
Tên gọi: Nama (skt)—Name—Noun—Term—Famous.
·
Danh sắc: Naman (skt)—Rupa-form.
Danh
Biệt Nghĩa Thông: Different in name but of the same meaning.
Danh
Bút: Famous writer.
Danh
Dự: Honor—Honorary.
Danh
Đức: A notable virtue.
Danh
Gia: Famous family.
Danh
Giá: Honour—Reputation.
Danh
Giả: Một trong tam giả, tên tự nó không có thật—Name unreal,
one of the three unrealities—See Tam Giả.
Danh
Hiền: Famous sage.
Danh
Hiệu: Samabhidha (skt).
·
Tên: Name.
·
Tước hiệu: An appelation—A title or a name.
Danh
Lam: Famous temple.
Danh
Lam Cổ Tự Việt Nam: Theo Việt Nam Danh Lam Cổ Tự của Võ
Văn Tường, trên toàn quốc Việt Nam từ Bắc chí Nam có 247
ngôi danh lam cổ tự. Hòa Thượng Tiến Sĩ Thích Minh Châu đã
viết trong lời giới thiệu: “Một đặc trưng nổi bật của
kiến trúc Phật Giáo Việt Nam là không có những công trình
lớn lao đồ sộ, trái lại, các chùa tháp đều có tầm cở
trung bình, nhưng xinh xắn, nhẹ nhàng, thậm chí có khi nhỏ
bằng như những am cốc của các vị ẩn sĩ độc cư. Chùa
không lớn nhưng chùa rất nhiều, điều nầy tưởng cũng có
thể nói lên một khía cạnh tích cực của tâm lý người
Việt, và chính vì thế mà khắp giang sơn hầu như được
tô điểm bằng cái tinh thần thanh tịnh, hiền hòa của đạo
lý Đức Thích Ca.”—According to Vo Van Tuong in Vietnam’s Famous
Ancient Pagodas, there are two hundred forty-seven ancient pagodas in Viet
Nam from North to South. Most Venerable Doctor Thich Minh Chau wrote in
the Preface: “A remarkable characteristic of Vietnamese Buddhist architecture
is that there are not any gigantic, magnificient construction. Instead,
there are pagodas and stupas, moderate in shape, pretty and refined in
style, and even little in structure like the huts of the recluses secluding
from the world. Vietnam’s pagodas are diminutive but abundant. This probably
relates to an active aspect of Vietnamese psychology. Therefore, the whole
country is decorated with the pure, gentle spirit of sakyamuni Budha’s
Teaching”
I.
Tỉnh Hà Bắc—Hà Bắc Province:
1)
Chùa Dâu: Dâu Pagoda.
2)
Chùa Dàn: Dàn Pagoda.
3)
Chùa Bút Tháp: Bút Tháp Pagoda.
4)
Chùa Đức La: Đức La Pagoda.
5)
Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda.
6)
Chùa Đồng Ky: Đồng Ky Pagoda.
7)
Chùa Hàm Long: Hàm Long Pagoda.
8)
Chùa Cổ Mễ: Cổ Mễ Pagoda.
9)
Chùa Đại Lâm: Đại Lâm Pagoda.
10)
Chùa Quang Phục: Quang Phục Pagoda.
11)
Chùa Vân Cốc: Vân Cốc Pagoda.
12)
Chùa Phả Lại: Phả Lại Pagoda.
13)
Chùa Thôn Xuân: Thôn Xuân Pagoda.
14)
Chùa Lái: Lái Pagoda.
15)
Chùa Phật Tích: Phật Tích Pagoda.
16)
Chùa Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda.
17)
Chùa Phấn Động: Phấn Động Pagoda.
18)
Chùa Ngô Xá: Ngô Xá Pagoda.
19)
Chùa Diên Phúc: Diên Phúc Pagoda.
II.
Hà Nội—Hanoi City:
20)
Chùa Một Cột: Một Cột Pagoda.
21)
Chùa Láng: Láng Pagoda.
22)
Chùa Trấn Quốc: Trấn Quốc Pagoda.
23)
Chùa Liên Phái: Liên Phái Pagoda.
24)
Chùa Kim Liên: Kim Liên Pagoda.
25)
Chùa Bộc: Bộc Pagoda.
26)
Chùa Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda.
27)
Chùa Vũ Thạch: Vũ Thạch Pagoda.
28)
Chùa Hòa Mã: Hòa Mã Pagoda.
29)
Chùa Yên Phú: Yên Phú Pagoda.
30)
Chùa Tự Khoát: Tự Khoát Pagoda.
31)
Chùa Sở: Sở Pagoda.
32)
Chùa Phụng Thánh: Phụng Thánh Pagoda.
33)
Chùa Thiên Phúc: Thiên Phúc Pagoda.
34)
Chùa Thanh Nhàn: Thanh Nhàn Pagoda.
35)
Chùa Nành: Nành Pagoda.
36)
Chùa Phú Thị: Phú Thị Pagoda.
37)
Chùa Bắc Biên: Bắc Biên Pagoda.
38)
Chùa Đại Lan: Đại Lan Pagoda.
39)
Chùa Thanh Ninh: Thanh Ninh Pagoda.
40)
Chùa Vân Hồ: Vân Hồ Pagoda.
41)
Chùa Mật Dụng: Mật Dụng Pagoda.
42)
Chùa Kim Giang: Kim Giang Pagoda.
43)
Chùa Thanh Lâm: Thanh Lâm Pagoda.
44)
Chúa Thánh Chúa: Thánh Chúa Pagoda.
45)
Chùa Hòe Nhai: Hòe Nhai Pagoda.
46)
Chùa Huỳnh Cung: Huỳnh Cung Pagoda.
47)
Chùa Bát Tháp: Bát Tháp Pagoda.
48)
Chùa Duệ: Duệ Pagoda.
49)
Chùa Lại Đà: Lại Đà Pagoda.
50)
Chùa Cầu Đông: Cầu Đông Pagoda.
51)
Chùa Quỳnh Đô: Quỳnh Đô Pagoda.
52)
Chùa Thiền Quang: Thiền Quang Pagoda.
53)
Chùa Bà Nành: Bà Nành Pagoda.
54)
Chùa Kiến Sơ: Kiến Sơ Pagoda.
III.
Tỉnh Hải Hưng—Hải Hưng Province:
55)
Chùa Côn Sơn: Côn Sơn Pagoda.
56)
Chùa Thái Lạc: Thái Lạc Pagoda.
57)
Chùa Đông Cạo: Đông Cạo Pagoda.
58)
Chùa Cập Nhất: Cập Nhất Pagoda.
59)
Chùa Hương Lãng: Hương Lãng Pagoda.
60)
Chùa Giám: Giám Pagoda.
61)
Chùa Mễ Sở: Mễ Sở Pagoda.
62)
Chùa Lạc Thủy: Lạc Thủy Pagoda.
63)
Chùa Phú Thị: Phú Thị Pagoda.
IV.
Tỉnh Hà Tây—Hà Tây Province:
64)
Chùa Hương Trai: Hương Trai Pagoda.
65)
Chùa Tây Phương: Tây Phương Pagoda.
66)
Chùa Trầm: Trầm Pagoda.
67)
Chùa Trăm Gian: Trăm Gian Pagoda.
68)
Chùa Mía: Mía pagoda.
69)
Chùa Hữu Bằng: Hữu Bằng Pagoda.
70)
Chùa Thiệu Long: Thiệu Long Pagoda.
71)
Chùa Ngãi Cầu: Ngãi Cầu Pagoda.
72)
Chùa Kim Hoa: Kim Hoa Pagoda.
73)
Chùa Thầy: Thầy Pagoda.
74)
Chùa Hương Tích: Hương Tích Pagoda.
75)
Chùa Đậu: Đậu Pagoda.
76)
Chùa Xâm Động: Xâm Động Pagoda.
77)
Chùa Sở: Sở Pagoda.
78)
Chùa Từ Châu: Từ Châu Pagoda.
79)
Chùa Quảng Nguyên: Quảng Nguyên Pagoda.
80)
Chùa Văn Phú: Văn Phú Pagoda.
81)
Chùa Đại Bi: Đại Bi Pagoda.
82)
Chùa Lâm Dương: Lâm Dương Pagoda.
83)
Chùa Thanh Lãm: Thanh Lãm Pagoda.
84)
Chùa Trường Xuân: Trường Xuân Pagoda.
85)
Chùa Ngọc Đình: Ngọc Đình Pagoda.
86)
Chùa La Phù: La Phù Pagoda.
87)
Chùa Diên Khánh: Diên Khánh Pagoda.
88)
Chùa Phúc Khê: Phúc Khê Pagoda.
89)
Chùa Bối Khê: Bối Khê Pagoda.
90)
Chùa Phương Trung: Phương Trung Pagoda.
91)
Chùa Khê Tang: Khê Tang Pagoda.
92)
Chùa Thiên Trù: Thiên Trù Pagoda.
V.
Thành Phố Hải Phòng—Hải Phòng City:
93)
Chùa Dư Hàng: Dư Hàng Pagoda.
VI.
Tỉnh Nam Hà—Nam Hà Province:
94)
Chùa Keo: Keo Pagoda.
95)
Chùa Đại Bi: Đại Bi Pagoda.
96)
Chùa Cổ Lễ: Cổ Lễ Pagoda.
97)
Chùa Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda.
98)
Chùa Đệ Tứ: Đệ Tứ Pagoda.
99)
Chùa Vọng Cung: Vọng Cung Pagoda.
VII.
Tỉnh Ninh Bình—Ninh Bình Province:
100)
Chùa Non Nước: Non Nước Pagoda.
101)
Chùa Bích Động: Bích Động Pagoda.
VIII.Tỉnh
Quảng Ninh—Quang Ninh Province:
102)
Chùa Yên Tử: Yên Tử Pagoda.
VIII.Tỉnh
Thái Bình—Thái Bình Province:
103)
Chùa Keo: Keo Pagoda.
104)
Chùa Hội: Hội Pagoda.
105)
Chùa La Vân: La Vân Pagoda.
106)
Chùa Cổng: Cổng Pagoda.
VIII.
Tỉnh Vĩnh Phú—Vĩnh Phú Province:
107)
Chùa Xuân Lũng: Xuân Lũng Pagoda.
IX.
Tỉnh Thanh Hóa—Thanh Hóa Province:
108)
Chùa Mật Đa: Mật Đa Pagoda.
X.
Tỉnh Hà Tĩnh—Hà Tĩnh Province:
109)
Chùa Hợp Tự: Hợp Tự Pagoda.
XI.
Tỉnh Quảng Trị—Quảng trị Province:
110)
Chùa Sắc Tứ Tịnh Quang: Sắc Tứ Tịnh Quang Pagoda.
XII.
Cố Đô Huế—Huế Citadel:
111)
Chùa Thiên Mụ: Thiên Mụ Pagoda.
112)
Chùa Thánh Duyên: Thánh Duyên Pagoda.
113)
Chùa Diệu Đế: Diệu Đế Pagoda.
114)
Chùa Sắc Tứ Quốc Ân: Sắc Tứ Quốc Ân Pagoda.
115)
Chùa Báo Quốc: Báo Quốc Pagoda.
116)
Chùa Từ Đàm: Từ Đàm Pagoda.
117)
Chùa Thuyền Tôn: Thuyền Tôn Pagoda.
118)
Chùa Đông Thuyền: Đông Thuyền Pagoda.
119)
Chùa Từ Hiếu: Từ Hiếu Pagoda.
120)
Chùa Tường Vân: Tường Vân Pagoda.
121)
Chùa Vạn Phước: Vạn Phước Pagoda.
122)
Chùa Ba La Mật: Ba La Mật Pagoda.
123)
Chùa Tây Thiên Di Đà: Tây Thiên Di Đà Pagoda.
124)
Chùa Trúc Lâm: Trúc Lâm Pagoda.
125)
Chùa Trà Am: Trà Am Pagoda.
126)
Chùa Diệu Đức: Diệu Đức Pagoda.
XIII.
Tỉnh Quảng Nam-Đà Nẳng—Quảng Nam Đà Nẳng Province:
127)
Chùa Linh Ứng: Linh Ứng Pagoda.
128)
Chùa Tam Thai: Tam Thai Pagoda.
129)
Chùa Chúc Thánh: Chúc Thánh Pagoda.
130)
Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda.
131)
Chùa Phổ Đà: Phổ Đà Pagoda.
132)
Chùa Pháp Lâm: Pháp Lâm Pagoda.
XIV.
Tỉnh Quảng Ngãi—Quảng Ngãi Province:
133)
Chùa Thiên Ấn: Thiên Ấn Pagoda.
134)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
135)
Chùa Phật Giáo: Phật Giáo Pagoda.
XV.
Tỉnh Bình Định—Bình Định Province:
136)
Chùa Thập Tháp Di Đà: Thập Tháp Di Đà Pagoda.
137)
Chùa Long Khánh: Long Khánh Pagoda.
XVI.
Tỉnh Phú Yên—Phú Yên Province:
138)
Chùa Bảo Tịnh: Bảo Tịnh Pagoda.
XVII.
Tỉnh Khánh Hòa—Khánh Hòa Province:
139)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
140)
Chùa Kim Sơn: Kim Sơn Pagoda.
141)
Chùa Hải Đức: Hải Đức Pagoda.
142)
Chùa Long Sơn: Long Sơn Pagoda.
XVIII.
Tỉnh Ninh Thuận—Ninh Thuận Province:
143)
Chùa Phật Giáo Phan Rang: Phật Giáo Phan Rang Pagoda.
144)
Chùa Phật Quang: Phật Quang Pagoda.
XIX.
Tỉnh Lâm Đồng—Lâm Đồng Province:
145)
Chùa Linh Quang: Linh Quang Pagoda.
146)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
147)
Chùa Linh Phong: Linh Phong Pagoda.
148)
Chùa Thiên Vương Cổ Sát: Thiên Vương Cổ Sát Pagoda.
XX.
Tỉnh Đắc Lắc—Đắc Lắc Province:
149)
Chùa Khải Đoan: Khải Đoan Pagoda.
150)
Tịnh Xá Ngọc Ban: Ngọc Ban Monastery.
XXI.
Thành Phố Sài Gòn—Sai Gòn City:
151)
Chùa Giác Lâm: Giác Lâm Pagoda.
152)
Chùa Từ Ân: Từ Ân Pagoda.
153)
Chùa Hội Sơn: Hội Sơn Pagoda.
154)
Chùa Phước Tường: Phước Tường Pagoda.
155)
Chùa Long Nhiễu: Long Nhiễu Pagoda.
156)
Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda.
157)
Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda.
158)
Chùa Tập Phước: Tập Phước Pagoda.
159)
Chùa Trường Thọ: Trường Thọ Pagoda.
160)
Chùa Long Huê: Long Huê Pagoda.
161)
Chùa Long Thạnh: Long Thạnh Pagoda.
162)
Chùa Giác Viên: Giác Viên Pagoda.
163)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
164)
Chùa Phụng Sơn: Phụng Sơn Pagoda.
165)
Chùa Giác Hải: Giác Hải Pagoda.
166)
Chùa Phước Hải: Phước Hải Pagoda.
167)
Chùa Quán Thế Âm: Quán Thế Âm Pagoda.
168)
Chùa Pháp Hoa: Pháp Hoa Pagoda.
169)
Chùa Phước Hòa: Phước Hòa Pagoda.
170)
Chùa Minh Tự: Minh Tự Pagoda.
171)
Chùa Tân Hưng Long: Tân Hưng Long Pagoda.
172)
Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda.
173)
Chùa Pháp Hội: Pháp Hội Pagoda.
174)
Chùa Ấn Quang: Ấn Quang Pagoda.
175)
Chùa Từ Nghiêm: Từ Nghiêm Pagoda.
176)
Chùa Kỳ Viên: Kỳ Viên Pagoda.
177)
Chùa Nam Phổ Đà: Nam Phổ Đà Pagoda.
178)
Chùa Vạn Đức: Vạn Đức Pagoda.
179)
Chùa Huê Nghiêm: Huê Nghiêm Pagoda.
180)
Chùa Xá Lợi: Xá Lợi Pagoda.
181)
Từ Ân Thiền Tự: Từ Ân Thiền Tự Pagoda.
182)
Tu viện Quảng Hương: Quảng Hương Già Lam Pagoda.
183)
Tịnh Xá Ngọc Phương: Ngọc Phương Monastery.
184)
Bát Bửu Phật Đài: Bát Bửu Phật Đài Pagoda.
185)
Chùa Vạn Phật: Vạn Phật Pagoda.
186)
Nam Thiên Nhất Trụ: Nam Thiên Nhất Trụ Pagoda.
187)
Chùa Huệ Nghiêm: Huệ Nghiêm Pagoda.
188)
Chùa Vĩnh Nghiêm: Vĩnh Nghiêm Pagoda.
189)
Tịnh Xá Trung Tâm: Headquarters (Central) Monastery.
190)
Chùa Phật Bảo: Phật Bảo Pagoda.
191)
Thiền Viện Vạn Hạnh: Vạn Hạnh Meditation Center (Zen Institute).
XXII.
Tỉnh Đồng Nai—Đồng Nai Province:
192)
Chùa Bửu Phong: Bửu Phong Pagoda.
193)
Chùa Long Thiền: Long Thiền Pagoda.
194)
Chùa Đại Giác: Đại Giác Pagoda.
195)
Phật Tích Tòng Lâm: Phật Tích Pagoda.
196)
Thiền Viện Thường Chiếu: Thường Chiếu Meditation Center (Zen
Institute).
XXIII.
Thị Xã Vũng Tàu—Vũng Tàu City:
197)
Chùa Đại Tòng Lâm: Đại Tòng Lâm Pagoda.
198)
Chùa Huê Lâm: Huê Lâm Pagoda.
199)
Chùa Long Hòa: Long Hòa Pagoda.
200)
Chùa Thiên Thai: Thiên Thai Pagoda.
201)
Chùa Phước Lâm: Phước Lâm Pagoda.
202)
Chùa Linh Sơn: Linh Sơn Pagoda.
203)
Thích Ca Phật Đài: Sakyamuni Buddha Monument.
204)
Tịnh Xá Niết Bàn: Nirvana Monastery.
XXIV.
Tỉnh Sông Bé—Sông Bé Province:
205)
Chùa Hội Khánh: Hội Khánh Pagoda.
206)
Chùa Núi Châu Thới: Núi Châu Thới Pagoda.
207)
Chùa Long Hưng: Long Hưng Pagoda.
XXV.
Tỉnh Tây Ninh—Tây Ninh Province:
208)
Linh Sơn Tiên Thạch: Linh Sơn Tiên Thạch Pagoda.
209)
Chùa Phước Lưu: Phước Lưu Pagoda.
XXVI.
Tỉnh Long An—Long An Province:
210)
Chùa Tôn Thạnh: Tôn Thạnh Pagoda.
211)
Chùa Kim cang: Kim Cang Pagoda.
XXVII.
Tỉnh Mỹ Tho—Mỹ Tho Province:
212)
Chùa Linh Thứu: Linh Thứu Pagoda.
213)
Chùa Hội Thọ: Hội Thọ Pagoda.
214)
Chùa Bửu Lâm: Bửu Lâm Pagoda.
215)
Chùa Thanh Trước: Thanh Trước Pagoda.
216)
Chùa Vĩnh Tràng: Vĩnh Tràng Pagoda.
XXVIII.
Tỉnh Bến Tre—Bến Tre Province:
217)
Chùa Hội Tôn: Hội Tôn Pagoda.
218)
Chùa Huệ Quang: Huệ Quang Pagoda.
219)
Chùa Tuyên Linh: Tuyên Linh Pagoda.
220)
Chùa Viên Minh: Viên Minh Pagoda.
XXIX.
Tỉnh Cao Lãnh & Mộc Hóa & Sa Đéc—Cao Lãnh & Mộc
Hóa & Sa Đéc Provinces:
221)
Chùa Bửu Hưng: Bửu Hưng Pagoda.
222)
Chùa Phước Hưng: Phước Hưng Pagoda.
223)
Chùa Hội Phước: Hội Phước Pagoda.
224)
Chùa Hoa Lâm: Hoa Lâm Pagoda.
225)
Chùa Bửu Quang: Bửu Quang Pagoda.
XXX.
Tỉnh Vĩnh Long—Vĩnh Long Province:
226)
Chùa Tiên Châu: Tiên Châu Pagoda.
227)
Chùa Giác Thiên: Giác Thiên Pagoda.
228)
Tịnh Xá Ngọc Viên: Ngọc Viên Monastery.
XXXI.
Tỉnh Trà Vinh—Trà Vinh Province:
229)
Chùa Vũng Liêm: Vũng Liêm Pagoda.
230)
Chùa Ông Mẹk: Ông Mẹk Pagoda.
231)
Chùa Sam Rông Ek: Sam Rông Ek Pagoda.
232)
Chùa Quy Nông: Quy Nông Pagoda.
XXXII.
Tỉnh Cần Thơ—Cần Thơ Province:
233)
Chùa Hội Linh: Hội Linh Pagoda.
234)
Chùa Khánh Quang: Khánh Quang Pagoda.
XXXIII.
Tỉnh Sóc Trăng—Sóc Trăng Province:
235)
Chùa Kleang: Kleang Pagoda.
XXXIV.
Tỉnh An Giang—An Giang Province:
236)
Chùa Xà Tón: Xà Tón Pagoda.
237)
Chùa Tây An: Tây An Pagoda.
238)
Chùa Phước Điền (Chùa Hang): Phước Điền Pagoda.
239)
Chùa Giồng Thành: Giồng Thành Pagoda.
240)
Chùa Phi Lai: Phi Lai Pagoda.
XXXV.Tỉnh
Kiên Giang—Kiên Giang Province:
241)
Chùa Sùng Hưng: Sùng Hưng Pagoda.
242)
Chùa Thập Phương: Thập Phương Pagoda.
243)
Chùa Phổ Minh: Phổ Minh Pagoda.
244)
Chùa Tam Bảo: Tam Bảo Pagoda.
XXXVI.
Tỉnh Bạc Liêu & Cà Mau—Bạc Liêu & Cà Mau Provinces:
245)
Chùa Quan Âm: Quan Âm Pagoda.
246)
Hưng Quảng Tự: Hưng Quảng Pagoda.
247)
Chùa Vĩnh Hòa: Vĩnh Hòa Pagoda.
Danh
Lam Thắng Cảnh: Beautiful landscapes.
Danh
Lợi: Fame and wealth—Fame and gain.
Danh
Môn: Danh gia—Famous family.
Danh
Mục: A name or descriptive title.
Danh
Nghĩa: Name and meaning.
Danh
Nghĩa Bất Ly: Name and meaning are not apart or differing.
Danh
Ngôn: Famous words.
Danh
Nhân: Celebrity—Famous man—Great name.
Danh
Nho: Famous scholar.
Danh
Phẩm: Famous literary work.
Danh
Phận: Honor and position.
Danh
Sắc: Namarupa (skt). Name and form.
1)
Danh (gồm thọ, tưởng, hành, thức) và sắc đều không thật,
nhưng lại có khả năng khởi lên phiền não—Name (feeling,
perception, volition, and consciousness) and form (both are unreal and
give rise to delusion).
2)
Tên của ông Tu Bồ Đề khi thành Phật—Name under which Subhuti
will be reborn as Buddha.
3)
Một trong mười hai nhân duyên—One of the twelve nidanas—See
Thập Nhị Nhân Duyên.
Danh
Sĩ: Famous scholar.
Danh
Sư: Famous teacher.
Danh
Tài: A person with famous talent.
Danh
Thể: Cái dùng để gọi cái thể—Name and embodiment (The identity
of name and substance).
Danh
Thiếp: Visiting card.
Danh
Thơm: Good reputation.
Danh
Tiếng: Foremost—Renowned—Famous.
Danh
Tiết: Good reputation on moral integrity.
Danh
Tự: Name and description.
Danh
Tự Bồ Tát: A nominal bodhisattva.
Danh
Tự Sa Di: Sa Di ở tuổi 20 hay lớn hơn (tuổi có thể trở
thành Tỳ Kheo)—A novice with the age of 20 or over (one of an age
to be a monk).
Danh
Tự Tỳ Khưu: A monk in name but not in reality.
Danh
Tướng: Một trong ngũ pháp, mọi sự vật đều có danh có
tướng—Name and appearance. One of the five laws or categories, everything
has a name and an appearance—Visible.
Danh
Văn: Renown.
Danh
Vi: Tên là—Its name is.
Danh
Vọng: Celebrity—Reputation—Fame and glory.
Danh
Y: Famous physician.
Dành
Dụm: To economize—To save.
Dao:
Hòn ngọc lóng lánh—Jasper green crystal.
Dao
Động: To swing—To oscillate.
Dạo:
To take a walk—To go for a walk.
Dạo
Ấy: At that time.
Dày
Công: Many efforts—With great efforts.
Dãy
Núi: A chain of mountains.
Dạy:
To teach—To instruct—To train.
Dạy
Bảo: To rear—To bring up.
Dằn
Lòng: To hold oneself—To control one’s temper.
Dặn
Bảo: To advise—To recommend—To counsel.
Dặn
Đi Dặn Lại: To recommend over and over again.
Dắt:
To guide—To conduct—To lead—To bring someone by the hand.
Dâm:
Giới thứ ba trong ngũ giới cho hàng tại gia, cấm ham muốn
nhiều về sắc dục hay tà hạnh với người không phải là
vợ chồng của mình. Giới thứ ba trong mười giới trọng
cho hàng xuất gia trong Kinh Phạm Võng, cắt đứt mọi ham muốn
về sắc dục. Người xuất gia phạm giới dâm dục tức là
phạm một trong tứ đọa, phải bị trục xuất khỏi giáo
đoàn vĩnh viễn—Lewd—Sexual misconduct— Licentious—Fornication—Adultery—Lascivious—The
third commandment of the five basic commandments for lay people, and the
third precept of the ten major precepts for monks and nuns in the Brahma
Net Sutra. Monks or nuns who commit this offence will be expelled from
the Order forever—See Ngũ Giới, and Mười Giới Trọng Của Chư
Bồ Tát Trong Kinh Phạm Võng.
Dâm
Bôn: To commit adultery.
Dâm
Dục: Ham muốn sắc dục—Desire for sex—Lustful—Debauched—Sexual
desire—Sexual passion.
Dâm
Dục Bệnh: Bệnh (tâm thần) gây ra bởi sự ham muốn sắc
dục—The (spiritual) disease caused by sexual passion.
Dâm
Dục Hỏa: Lửa của sự ham muốn về sắc dục—The fire or
the burning of sexual desire.
Dâm
Đãng: Lascivious—Lustful.
Dâm
Giới: Giới cấm dâm dục, một trong mười trọng giới của
Hiển Giáo trong Kinh Phạm Võng—The commandments against adultery,
one of the ten major commandments or precepts in the Brahma Net Sutra.
**
For more information, please Mười Giới
Trọng Của Chư Bồ Tát Trong Kinh Phạm
Võng.
Dâm
Hỏa: Lửa của sự ham muốn sắc dục—The fire of sexual passion—See
Dâm Dục Hỏa.
Dâm
La Võng: Lưới ham muốn sắc dục—The net of sexual desire.
Dâm
Loạn: Incest.
Dâm
Nộ Si: See Nhiễm Khuể Si.
Dâm
Ô: Obscene—Lewd.
Dâm
Phụ: Adulteress.
Dâm
Thang: Mễ Thang—Cháo nấu bằng gạo—A kind of rice soup, or
gruel.
Dầm
Mưa Dãi Nắng: Expose to the rain and the sun.
Dầm
Sương: To expose to the dew
Dầm
Sương Dãy Nắng: Đi sớm về muộn—Arises early and retires late.
Dân
Chủ: Democratically.
Dân
Lành: Peaceful inhabitant.
Dân
Quê: Country people.
Dân
Tâm: The mind of the people.
Dân
Tình: Situation of the people.
Dân
Trí: Intellectual standard of the people.
Dân
Vọng: Aspiration of the people.
Dân
Ý: Will of the people.
Dần
Dần: Gradually—Little by little.
Dẫn:
To lead—To bring in or on—To conduct—To stretch—To draw.
Dẫn
Chứng: To cite with proof.
Dẫn
Đạo:
1)
Đưa người vào chân lý—To lead people into Buddha-truth.
2)
Dẫn dắt linh hồn người chết về thế giới khác—A phrase
used at funerals implying the leading of the dead soul to the other world,
possibly arising from setting alight the funeral pyre.
Dẫn
Đầu: To precede.
Dẫn
Đường: To guide.
Dẫn
Giải: To explain and comment.
Dẫn
Hóa: To initiate and instruct.
Dẫn
Nghiệp: Dẫn nhân—Tổng báo nghiệp, hay nghiệp chủ yếu
dẫn đến quả báo phải tái sanh vào cõi nào, trời, người,
hay súc sanh, vân vân—The principle or integral direction of karma,
which determines types of reincarnation, i.e. deva, man, or animal, etc.
Dẫn
Nhập: To introduce—To initiate.
Dẫn
Nhiếp: Tiếp dẫn—Trong lời nguyện thứ 19 của Phật A Di
Đà, Ngài nguyện sẽ tiếp dẫn những ai gọi đến hồng danh
Ngài—To accept—To receive—To welcome (as a Buddha does on who call
on him as stated in the nineteenth vow of Amitabha).
Dẫn
Quả: Giai đoạn quả báo thưởng phạt tổng báo, ngược lại
với biệt báo—The general stage of fruition, such as reward or punishment
in the genus, as contrasted with the differentiated species or stages,
such as for each organ or variety of condition.
Dẫn
Tọa: Từ ngữ dùng để chỉ người dẫn ai lên tòa để thuyết
pháp trong thiền lâm—A phrase used by one who ushers a preacher into
a “pulpit” to expound the law.
Dẫn
Tới Khổ Đau Không Tránh Được: To lead to inevitable sufferings.
Dẫn
Xuất Phật Tính: The Buddha-nature in all the living to be developed
by proper processes. One of the three kinds of Buddha-nature—See Tam
Phật Tánh.
Dâng
Hoa: To offer incense.
Dâng
Hương: To offer flowers.
Dập
Dìu: To come in great number.
Dập
Tắt: Extinction
Dập
Vùi: To maltreat—To ill-treat.
Dật:
1)
Dâm dật: Lustful.
2)
Dễ chịu: To be at ease.
3)
Phóng dật: To get away from—Indulgence.
Dật
Dục: Sensual.
Dật
Đa: See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Dâu:
Tên của một ngôi chùa, còn gọi là Thiền Định, Duyên Ứng
và Pháp Vân. Chùa tọa lạc tại ấp Dâu, xã Thanh Khương,
quận Thuận Thành, tỉnh Hà Bắc, Bắc Việt Nam. Chùa cách
Hà Nội 17 dậm. Xưa đã từng là trung tâm của cố đô Luy
Lâu. Đây là một trong những ngôi chùa đầu tiên của Việt
Nam được xây dựng vào thế kỷ thứ ba sau Tây Lịch. Từ
những thế kỷ đầu của kỷ nguyên Thiên Chúa, vùng Dâu đã
là một trung tâm Phật Giáo nổi tiếng cả trong lẫn ngoài
nước. Vào đời nhà Tùy, những thế kỷ thứ sáu và thứ
bảy, chùa Dâu là nơi tu trì và đạo tràng thuyết pháp, là
nơi truyền bá Phật Giáo quan trọng của các danh Tăng như
Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Pháp Hiền, và Quan Duyên, vân vân. Vào thời
nầy Sư Lưu Khương, theo lệnh vua Tùy Văn Đế, đã xây tháp
Hòa Phong chín tầng ở ngay trước sân chùa để thờ xá lợi
Phật, nhưng về sau đã bị đổ nát. Tháp được xây lại
vào năm 1738 nhưng chỉ còn ba tầng. Vào các năm 1073, 1169,
1434, và 1448, các vua Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, Lê Thái Tông,
và Lê Nhân Tông đã từng tổ chức lễ cầu đảo tại chùa
Dâu. Các vị vua khác thì cho đến chùa rước tôn tượng Đức
Phật về Hà Nội để làm lễ. Vào thế kỷ 14, Mạc
Đỉnh Chi được chiếu chỉ nhà vua cho đứng ra hưng công
xây dựng lại chùa Dâu. Từ đó về sau nầy chùa đã được
trùng tu nhiều lần—Name of a temple, also called Thiền Định,
Duyên Ứng and Pháp Vân, located in Dâu hamlet, Thanh Khương village,
Thuận Thành district, Hà Bắc province, North Vietnam. It is about
17 miles from Hanoi. It used to be Luy Lâu ancient citadel. This is one
of Vietnam’s earliest temples built in the third century A.D. Since the
beginning of the Christian era. The Dâu area has been a famous Buddhist
center for both home and abroad. In the Sui dynasty, around the sixth and
seventh centuries A.D., Dâu Temple functioned as the Buddhist monks’
monastery, the place of Buddhist preaching and the famous center where
Buddha’s Dharma was propagated by the well-known monks as Vinitaruci,
Pháp Hiền, Quan Duyên, etc. At that time, king Sui-Wen-Ti ordered Liou-K’ang
to build a stupa for Buddha’s relics. Placed in the yard of the temple.
Hoa Phong stupa which used to have nine storeys was in ruin. A new three-storeyed
stupa was rebuilt in 1738. In the years of 1073, 1169, 1434, and 1448,
successive Kings Lý Nhân Tông, Lý Anh Tông, Lê Thái Tổ, and Lê
Nhân Tông organized a prayer at the temple. Other kings had Dâu Temple’s
Buddha statue brought to Báo Thiên Temple in Hanoi for their worship
prayer. It was Madarin Mạc Đỉnh Chi who was in charge of rebuilding
Dâu Temple in the fourteenth century. Since that time, the temple has
been rebuilt many other times.
Dấu
Chân: Hoof—Footprint—footmark—Footstep—Imprint of the foot.
Dấu
Hiệu Vãng Sanh Về Đâu: Signs of places of rebirth—See Những
Điểm Nóng Tối Hậu, and Sanh Về Cõi Nào?
Dấu
Tích: Trace—Vestige.
Dầu:
Oil.
Dầu
Bát: Một bát dầu—A boil of oil—Trì Dầu Bát (cẩn thận
như đang mang bát dầu đầy trên tay)—As careful as carrying a
bowl of oil.
Dầu
Vậy: In spite of.
Dẫu:
Althought—Though—In spite of—Even if—Even though.
Dẫu
Xây Chín Bậc Phù Đồ, Không Bằng Làm Phước Cứu Cho Một
Người: Saving one life earns more credit than building a temple of nine
stupas (stories).
Dây
Dưa: To drag on.
Dè
Xẻn: To save little by little.
Dễ
Bảo: Obedient—Docile.
Dễ
Cảm: Nhạy cảm—Emotional.
Dễ
Chịu: Comfortable.
Dễ
Dãi: Easy-going.
Dễ
Dạy: Easily taught.
Dễ
Hiểu: Easy to understand.
Dễ
Ngươi: To disregard.
Dễ
Như Chơi: Easy as ABC.
Dễ
Nói: Easy to say—Đạo Phật dễ nói nhưng không dễ làm: Buddha
teaching is eay to say, but not easy to do or to practice.
Dễ
Ợt: Very easy.
Dễ
Thối Chuyển: Easily prone to retrogression.
Dễ
Thương: Pleasant—Lovely—Lovable.
Dễ
Tinh Tấn: Capable of great vigor.
Dẹp
Bỏ: To dispel.
Di:
1)
Dời đi: To remove—To convey.
2)
Đi khắp nơi: To reach everywhere.
3)
Một loại khỉ mặt đỏ: Markata (skt)—A red-faced monkey.
4)
Rơi xót lại: To leave behind.
Di
Ca: Meka (skt)—Người ta nói đây là tên của người con gái
đã đến dâng sữa trâu lên Đức Phật khi Ngài vừa mới
thành đạo—Said to be the name of the girl who gave milk congee to
Sakyamuni immediately after his enlightenment; seemingly the same as Sujata,
Sena, or Nanda.
Di
Ca La: Mekhala (skt).
1)
Vòng đai: A girdle.
2)
Tên của một vị trưởng lão: Name of an elder.
Di
Chuyển: Movement.
Di
Đà: Amitabha (skt)—See A Di Đà in Vietnamese-English Section, and
Amitabha in Sanskrit-Pali-Vietnamese Section.
Di
Đà Bổn Tánh Tịnh Độ Duy Tâm:
1)
Theo Hòa Thượng Thích Thiền Tâm trong Tịnh Độ Thập Nghi
Hoặc Vấn Luận, sự nhiếp cơ của Tịnh Độ quả là rộng
lớn, không thể nghĩ bàn, nhưng chúng ta thường nghe nói “Di
Đà Bổn Tánh Tịnh Độ Duy Tâm.” Nghĩa lý của câu nầy
thế nào? Tịnh Độ là miền Cực Lạc ngoài mười muôn ức
cõi Phật, Di Đà là vị giáo chủ của Tây Phương Cực Lạc.
Ý nói chân tâm của chúng sanh rộng rãi và sáng suốt vô cùng—According
to Most Venerable Thích Thiền Tâm in The Pure Land Buddhism, the gathering
power of the Pure Land method is trully all-embracing and unconceivable.
However, we always hear such expression as “Self-Nature Amitabha, Mind-Only
Pure Land.” What is the meaning of this expression? The Pure Land is
the land of Ultimate Bliss, ten billion Buddha lands from here, and Amitabha
Buddha is the teacher of that land. It means that the True Mind of sentient
beings is all-extensive and all-illuminating.
2)
Kinh Lăng Nghiêm nói: “Những non sông, đất liền cho đến
hư không ở ngoài sắc thân ta, đều là cảnh vật trong chân
tâm mầu sáng. Các pháp sanh hóa, đều là hiện cảnh của
duy tâm.” Như thế thì đâu có cõi Phật nào ngoài tâm ta.
Cho nên ý nghĩa của Tịnh Độ duy tâm là nói cõi Tịnh Độ
ở trong chân tâm của ta, như biển cả nổi lên vô lượng
bóng bọt, mà không có bóng bọt nào ở ngoài biển cả. Lại
như những hạt bụi nơi đất liền, không có hạt bụi nào
chẳng phải là đất; cũng như không có cõi Phật nào chẳng
phải là tâm. Thế nên cổ đức có nói: “Chỉ một tâm nầy
có đủ bốn cõi: Phàm Thánh đồng cư, Phương tiện hữu dư,
Thật báo vô chướng ngại, và Thường tịch quang—The Surangama
Sutra states: “The various mountains, rivers and continents, even the
empty space outside our physical body, are all realms and phenomena within
the wonderful, bright True Mind. Phenomena which are born, they are all
manifestations of Mind-Only.” Therefore, where can you find a Buddha
land outside the Mind? Thus, the concept of Mind-Only Pure Land refers
to the Pure Land within our True Mind. This is no different from the ocean,
from which springs an untold number of bubbles, none of which is outside
the wide ocean. It is also like the specks of dust in the soil, none of
which is not soil. Likewise, there is no Buddha land which is not Mind.
Therefore, ancient sages and saints have said: “This single mind encompasses
the four kinds of lands in their totality: the Land of Common Residence
of beings and saints, the Land of Expediency, the Land of True Reward,
and the Land of Eternally Tranquil Light.
**
See Bốn Cõi Tịnh Độ and Bốn Cõi Duy
Tâm.
Di
Đà Sơn: Mitrasanta (skt)—Tên của một vị sư vùng Tukhara—Name
of a monk from Tukhara.
Di
Đà Tam Tôn: Di Đà Tam Thánh—See Tam Tôn (B).
Di
Để: Miti (skt).
1)
Đo lường: Measure.
2)
Sự hiểu biết chính xác: Accurate knowledge.
Di
Đệ: Đệ tử của một vị thầy đã quá vãng—The disciples
left behind by a deceased master.
Di
Động: Mobile.
Di
Già: Megha (skt).
1)
Vân: Mây.
2)
Tên của Bồ Tát Di Già, nổi tiếng là một lương y hay người
kiểm soát mây để làm mưa: Name of one of the bodhisattva as a
healer, or as a cloud-controller for producing rain.
Di
Già Ca: Miccaka or Mikkaka (skt)—See Hai Mươi Tám Tổ Ấn Độ
(6).
Di
Giáo: See Di Huấn.
Di
Hài: Remains of the dead body.
Di
Hầu: Markata (skt).
1)
Loài khỉ lớn tánh tình nóng nảy, lật đật không yên, giống
như dục vọng của chúng sanh luôn trổi dậy: The larger monkey,
mischievous, restless, like the passions.
2)
Tâm Viên: Tâm phiền não muốn bốc trăng ra khỏi nước—A
monkey, typical of the mind of illusion, pictured as trying to pluck the
moon out of the water.
3)
Tâm mê mờ: The mind of foolishness.
4)
Tâm phóng dật: The mind of restlessness.
Di
Hầu Giang: Một nơi trong thành Tỳ Xá Lê nơi Đức Phật giảng
kinh—A place in Vaisali where Buddha preached.
Di
Hình: Xá lợi của Đức Phật—Relics of the Buddha.
Di
Hóa: See Di Huấn.
Di
Họa: To bring about disastrous consequences.
Di
Huấn: Giáo pháp cuối cùng truyền lại khi Phật sắp nhập
diệt—Doctrine or transforming teaching , handed down or bequeathed
by a Buddha.
Di
Kham: Lễ “di kham” là lễ dời quan tài người chết ra chánh
điện để làm lễ ba ngày sau lễ tẩn liệm—To remove the
coffin to the hall for the masses for the dead on the third day after encoffinment.
Di
Lan: Vua Di Lan—King Milinda—See Milindapanha in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section, and Di Lan Đà in Vietnamese-English Section.
Di
Lan Đà: Milinda or Menander (skt)—Di Lan Đà là vị vua Ấn Độ
gốc Hy Lạp. Những vùng đất do ông chiếm cứ và cai trị
bao gồm Peshawar, Kabul, Punjab, Sindh, Kathiawar, và miền tây Uttar-Pradesh.
Di Lan Đà là một học giả uyên bác và là một nhà lý luận
sắc bén. Ông tinh thông nhiều ngành học thuật và có biệt
tài tranh luận. Lúc đầu ông mang nặng những băn khoăn thắc
mắc về giáo lý của Đức Phật. Ông rất buồn lòng vì không
ai giải tỏa được cho ông, ông than thở: “Chao ôi, cả nước
Ấn Độ là một sự trống không! Tất cả chỉ được tài
khoác lác mà thôi. Chẳng một tu sĩ khổ hạnh hay một Bà
La Môn nào có thể tranh luận với ta và giải tỏa những mối
nghi ngờ của ta.” Một ngày kia, do một duyên may, ông gặp
được một tu sĩ Phật giáo tên là Na Tiên đang trên đường
đi khất thực, dáng vẻ trầm tĩnh và thanh thản của vị
hiền nhân đã có một ảnh hưởng thầm lặng nhưng mạnh
mẽ trong lòng nhà vua. Ngày hôm sau, vua cùng một đoàn năm
trăm người Yonaka đi đến tu viện Sankheya tại Sagal, là nơi
cư ngụ của Na Tiên. Họ có một cuộc trò chuyện mà theo
yêu cầu của nhà vua, sau đó sẽ được tiếp tục trong hoàng
cung. Vị tu sĩ vốn chẳng phải tầm thường, đã nói với
nhà vua rằng ông muốn cuộc thảo luận diễn ra theo kiểu
tìm học chứ không phải theo kiểu vương giả. Nhà vua đồng
ý và lần lượt nêu lên những khó khăn của mình ra
với đạo sư, ông nầy giải đáp thỏa mãn tất cả. Nhưng
về sau nầy khi những mối hoài nghi băn khoăn nầy được
Hòa Thượng Nagasena giải tỏa, Milinda trở thành một đại
thí chủ, một nhà bảo trợ lớn của đạo Phật, một ông
vua Phật tử hết lòng truyền bá đạo Phật. Trong hai thế
kỷ theo sau sự suy yếu của triều đại Mauryas , những kẻ
xâm lăng ngươiø Hy Lạp đã nắm quyền bá chủ trên vùng
tây bắc Ấn Độ và A Phú Hãn. Trong thời gian nầy có
đến ba mươi vị vua nối tiếp nhau, trong đó chỉ có hoàng
đế Di Lan Đà là người đã để lại một ấn tượng lâu
dài trong lòng người dân Ấn Độ. Điều nầy rõ ràng là
do ông đã gắn bó chặt chẽ với đạo Phật. Vua Di Lan Đà
là một trong những nhân vật quan trọng trong cuốn Milindapanha
với Những câu hỏi của Vua Di Lan Đà (Milanda). Đây là tác
phẩm chính ngoài giáo điển của trường phái Theravada nói
về những đối thoại của thầy Nagasena và vua Di Lan Đà (vua
Hy lạp xâm lăng và chiếm cứ vùng Bắc Ấn vào thế kỷ thứ
I trước Tây lịch). Những câu hỏi của vua Di Lan Đà liên
quan trực tiếp với những ý niệm căn bản trong Phật giáo
về luân hồi, vô ngã, và luật nhân quả. Trong quyển Milindapanha,
vua Di Lan Đà được mô tả là vị vua thuộc dòng dõi Yonakas
tại vùng đất Yona. Các vùng đất Yona và Kamboja được người
Ấn Độ biết đến vào thế kỷ thứ sáu trước Tây Lịch,
như được xác nhận trong bài kinh Assalayana của Kinh Trung Bộ,
nói rằng dân ở các vùng nầy chỉ có hai giai cấp xã hội
là Arya và Dasa, thay vì bốn như ở Ấn Độ (see Tứ Giai Cấp
Ấn Độ). Một điều mà ai cũng biết là sau cuộc kết tập
kinh điển lần thứ ba tại thành Hoa Thị, thì vua A Dục đã
gửi nhiều phái đoàn truyền giáo đến các vùng đất xa xôi
như Yona, Syria, và Macedonia. Cũng dưới vua A Dục, một vị
Tỳ Kheo người Hy Lạp tên là Dhammarakkhita-Yona Dhammarakhita
đã được cử đến xứ Aparantaka để thuyết giảng Chánh
Pháp. Như vậy rõ ràng giáo lý của Đức Phật đã gợi mở
tâm trí người Hy Lạp trước thời vua Di Lan Đà. Theo sách
Na Tiên-Di Lan Đà Vấn Đáp, vua Di Lan Đà đã trao vương quyền
lại cho con mình, từ bỏ mọi chuyện thế sự và từ trần
như một tu sĩ. Theo Phật giáo Nguyên Thủy thì vua Di Lan Đà
đã chứng quả A La Hán. Theo Plutarch, một sử gia Hy Lạp, vua
Di Lan Đà qua đời trong một lều nhỏ. Đã có nhiều thành
phố tranh chấp về việc giữ tro cốt của ông. Tuy nhiên,
phần tro sau nầy được chia đều và mỗi thành phố đều
dựng tượng đài kỷ niệm dành cho ông. Điều đáng nói là
các đồng tiền của vua Di Lan Đà đều có in hình bánh xe
Chánh Pháp (Dharmacakra). Đây là một dấu hiệu không thể nhầm
lẫn cho thấy nhà vua là một Phật tử sùng đạo. Chữ khắc
Shinkot cho thấy rõ ràng rằng nhà vua đã có nhiều công
lao trong việc truyền bá đạo Phật trong vùng giữa Hindukush
và Sindh. Plutarch nói rằng trong khi trị vì, vua Di Lan Đà đã
có ý thức công lý rất phân minh, nên được thần dân vô
cùng yêu mến. Dù rằng quyền lực của ông tại Ấn Độ
không còn nữa, những ký ức về vị vua công bằng sáng suốt
nầy vẫn mãi mãi còn trong các trang sách của quyển Milnda-panha
cũng như những đồng tiền mang dấu Pháp Luân của ông—Milinda,
the Indo-Greek king. He dominated and ruled over the following areas: Peshawar,
the upper Kabul valley, Punjab, Sindh, Kathiawar, and western Uttar-Pradesh.
Milinda was a well-informed scholar and a keen debater. He was well versed
in various branches of learning and expert in argument. He was first obsessed
with doubts and dilemmas about the teachings of the Buddha, but was so
disappointed because no one could be able to eliminate his doubts. He exclaimed:
“Empty, alas, is all India. All Indiais but vain gossip. There is no
ascetic or Brahmin who is capable of disputing with me and solving my doubts.”
It was by a fortunate chance that one day he saw a Buddhist monk named
Nagasena going on his begging round. The calm and serene personality of
the sage had a silent but powerful influence on the king’s mind. Next
day, in the company of five hundred Yonakas , he went to the Sankheya monastery
at Segal where the monk was staying at that time. They had a conversation
which, at the request of the king, was later resumed at the palace. The
monk who was no ordinary teacher told the king that he was agreeable to
a discussion only if it was held in the scholastic way and not in the royal
way. The king paid homage to the teacher in a fitting manner and put his
difficulties one by one before the sage who ably solved them all to the
king’s entire satisfaction. But later when his doubts and misgivings
had been removed by Most Venerable Nagasena, he became a great patron and
supporter, a devout Buddhist ruler propagating the teachings of the Buddhist
religion. During the two centuries that followed the decline of the power
of the imperial Mauryas, the Greek invaders invaded over north western
India and Afghanistan. Some thirty rulers flourished during this period,
of whom only King Milinda has left a permanent impression on the Indian
mind. This is evidently due to his association with Buddhism. King Milinda
was one of the most important characters in the Pali book named Milindapanda,
which includes questions of King Milanda. This is one of the
most important noncanonical works of the Theravada school, dialogues between
the Monk Nagasena and King Milinda (a Greek king who invaded and conquered
northern India in the 1st century B.C.). King Milinda’s questions concern
the basic teachings of Buddhism, especially the doctrines of rebirth, non-egoism,
and the law of karma. King Milinda. In the Milindapanha, Milinda has been
described as the king of the Yonakas from Yonas. The lands of the Yonas
and Kambojas were known to Indians in the sixth century B.C. as is evidenced
by the Assalayana suttanta of the Majjhima-nikaya which states that the
people of these regions had only two social classes of Arya and Dasa instead
of the four classes of Indian society. It is a well-known fact that after
the third Buddhist Council held Pataliputra, Buddhist missionaries were
sent by King Asoka to distant areas including Yona, Syria, and Macedonia.
Also under the reign of king Asoka, a Greek Bhikshu named Dhammarakkhita-Yona
Dhammarakkhita was sent to Aparantaka to preach the Dharma there. It is
thus clear that the blessed teachings of the Buddha had begun to appeal
to the Greek even before the time of king Milinda. According to the Milinda-panha,
king Milinda died as a Buddhist monk, having retired from the world after
handing over his kingdom to his son. King Milanda is also said to have
attained to Arhatship which is the last stage of sanctification according
to Theravada Buddhism. Plutarch, the Greek historian, says that Milinda’s
death occurred in a camp and there was a dispute among several cities for
the possession of his ashes, but later his ashes were divided and each
city has its own memorial monument to worship him. It is also significant
that the coins of Milinda bear the Buddhist wheel (Dharmacakra). This is
an unmistakable sign that he was a devout Buddhist. The Shinkot inscription
proves beyond a doubt that the Greek king helped in the propagation of
Buddhism in the region between the Hindukush and Sindh. Plutarch says that
as a ruler , Milinda had a keen sense of justice and was dearly loved by
his people. Though the power he had established in India disappeared with
his death, the memory of this just and wise Buddhist ruler will forever
remain enshrined in the pages of the Milinda-panha as in his own coins
bearing the Dharmacakra.
Di
Lan Đà Vấn Đạo: Milinda-panha (skt)—Những câu hỏi đạo
của vua Di Lan Đà—Questions of King Milinda—Theo Giáo Sư Bapat
trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, theo tài liệu Pali còn
lưu lại thì cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo (Milinda-panha) có
lẽ do đại trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn
sách đáng tin cậy nhất. Quyển sách nầy hoặc được viết
trong thời vua Di Lan Đà hay sau thời của ông, nhưng phải trước
ngài Phật Âm, vì thường thấy ông nầy trích dẫn cuốn sách
nầy, xem như một tư liệu đáng tin cậy. Có nghĩa là cuốn
sách nầy được viết vào khoảng từ năm 150 trước Tây Lịch
đến năm 400 sau Tây Lịch. Nhiều người cho rằng quyển Di
Lan Đà Vấn Đạo không phải là một cuốn sách đồng nhất.
Các chương được viết theo nhiều phong cách khác nhau. Do đó,
có thể rằng một số chương đã được thêm vào sau
nầy. Tuy nhiên, bằng chứng cụ thể nhất là cuốn sách nầy
đã được dịch ra chữ Hán vào khoảng từ năm 317 đến 420
sau Tây Lịch với tên là Kinh Na Tiên, chỉ có ba chương đầu
của cuốn Milinda-panha mà thôi. Từ đó người ta cho rằng
bốn chương còn lại là phần thêm vào sau nầy. Một sự kiện
nữa hậu thuẫn cho quan điểm trên là cuối chương ba, sách
đã nói rằng các câu hỏi của vua Di Lan Đà đã hết,
còn chương bốn trông giống như một sự khởi đầu mới.
Dù sao đi nữa, chúng ta cũng không thể gạt bỏ ra ngoài giả
thuyết cho rằng chính Na Tiên hay một tác giả nào đó đã
viết nên toàn bộ cuốn sách như chúng ta thấy ngày nay. Rất
có thể dịch giả Trung Hoa chỉ giới hạn bản dịch của
mình trong ba chương mà thôi. Cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo như
hiện nay gồm có bảy chương. Trong bảy chương nầy thì chương
đầu ghi lại con người và lịch sử, còn các chương kia toàn
là giáo lý. Điều lạ lùng là trong khi Tỳ Kheo Na Tiên tốn
nhiều công phu kể với chúng ta về cuộc đời quá khứ
của ông và của vua Di Lan Đà, ông lại chẳng nói gì về
cuộc đời hiện tại của ông. Khiêm tốn đến mức xóa mờ
mình là đặc điểm thường gặp của các tác giả thời xưa.
Vào thời ấy vua Di Lan Đà đã không thỏa mãn với các luận
sư tôn giáo đương thời, nỗi khoắc khoải của ông được
bộc lộ trong câu nói sau đây: “Chao ôi, cả cõi Diêm Phù
Đề chỉ là một sự trống không! Diêm Phủ Đề chỉ là
cái lỗ trống. Tất cả chỉ được tài khoác lác mà thôi.
Chẳng một tu sĩ khổ hạnh hay một Bà La Môn nào có thể
tranh luận với ta và giải tỏa những mối nghi ngờ của ta.”
Thế nhưng với trưởng lão Na Tiên, nhà vua đã hoàn toàn bị
chinh phục, không những bằng những kiến thức cao siêu, mà
cả cách ăn nói đầy ấn tượng và có sức thuyết phục.
Người ta kể lại rằng sau lời chào hỏi thông thường, nhà
vua nói: “Thưa tôn ông, xin tôn ông cho biết phương danh quí
tánh. Người ta gọi tôn ông như thế nào?” Na Tiên đáp:
“Tâu bệ hạ, các đạo hữu của tôi gọi tôi là Na Tiên,
cha mẹ thì đặt tên cho tôi là Na Tiên, nhưng gọi thế cho
tiện thôi. Sự thực thì không có một người như thế đâu.”
Chính câu nói nầy của trưởng lão dã khai thông mọi chuyện,
tiếp theo là hàng loạt các câu hỏi và những câu trả lời,
trong đó có sự minh họa nổi tiếng về chiếc xe ngựa, theo
đó, cũng giống như các bộ phận của chiếc xe khi được
lắp ghép chúng lại thì sẽ tạo thành chiếc xe, ngoài các
thứ ấy ra chẳng có chiếc xe nào cả. Tương tự, các bộ
phận khác nhau của một người tạo nên con người, ngoài
các bộ phận ấy ra thì chẳng có con người ấy. Thật vậy,
ngoại trừ Thánh điển ra, không thể tìm được một câu
nói nào về thuyết vô ngã lại sâu sắc hơn và hay hơn những
lời nói trên của Tỳ Kheo Na Tiên. Do đó, Di Lan Đà Vấn Đạo
là một cuốn sách được trình bày dễ hiểu, không chỉ về
các lý thuyết cao siêu của Đức Phật, mà cả những nguyên
tắc đạo đức và tâm lý của Phật giáo. Như thế, đây
chính là một cuốn sách không thể thiếu đối với các Tăng
sinh Phật giáo. Ngoài tầm quan trọng của một văn bản Phật
giáo, Di Lan Đà Vấn Đạo còn có giá trị của một tư liệu
lịch sử và là một công trình văn học xuất sắc. Cuốn
sách cung cấp cho chúng ta một chứng liệu nổi bậc về văn
xuôi Ấn Độ trong thế kỷ thứ nhất. Di Lan Đà Vấn Đạo
có một vị trí đặc biệt trong văn học Ấn Độ, dù xét
về mặt lý luận, văn chương, lịch sử, hay địa lý. Về
thời kỳ hậu giáo điển, không có một luận thư Phật giáo
nào sánh ngang được với quyển Di Lan Đà Vấn Đạo—According
to Prof. Bapat in The Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, after the
Pali scriptures, the Questions of King Milinda (Milinda-panha) supposed
to have been compiled by Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative
a text. It is certain that the Milinda-panha must have been written either
at the time of king Milinda or after him, but surely before the time of
Buddhsghosa, who has so often quoted Nagasena’s Milinda-panha as an authority.
That is to say, the book must have been written between 150 B.C. and 400
A.D. It has been suggested that the Milinda-panha is not a unitary text
for different chapters are written in more than one style. Hence it is
probable that some chapters are later additions. A strong proof of the
above theory, however, is the fact that the book was translated into Chinese
between 317 and 420 A.D. and that its Chinese version, known as the Nagasena
Sutra, contains only the first three chapters of the Milinda-panha. From
this it has been concluded that the remaining four chapters of the Milinda-panha
are later additions. Still another fact that supports the above view is
that, at the end of the third chapter, it is stated that the questions
of King Milinda have come to an end, and the fourth chapter looks like
a new beginning. No matter what has happened, we are probably not altogether
justified in setting aside the assumption that Nagasena, or whoever he
author may have been, wrote the whle of the book as it has come down to
us today. For it is not impossible that the Chinese translator himself
preferred to limit his translation only to the first three chapters. The
Milinda-panha, as it stands at present, contains seven chapters. Out of
these seven, the first one is largely personal and historical while the
others are all doctrinal. It is strange that while Nagasena took so much
time to tell us about his past life and that of king Milinda, he
does not give us much information about his present life. Humility
bordering on self-effacement has been a general characteristic of
all our ancient writers. At that time, king Milinda was not satisfied with
the contemporary religious teachers, and his arrogance found expression
in the following statements: “Jambudvipa is empty, Jambudvipa is hollow.
Jambudvipa is devoid of any Sramanah or Brahmin who could argue with me
to help me solve all my doubts.” In the elder Nagasena, however, king
Milinda met one who completely subdued him not only with his superior
intellect, but also with his impressive and persuasive diction. It is said
that as soon as they had exchanged formal greetings, the King said: “Sir,
what is your name? How are you known?” Nagasena replied: “Maharaja,
I am known as Nagasena. My brother bhikshus address me thus. My parents
call their son Nagasena, but all this is just usage. In reality, there
does not exist any individual as such.” This statement of the Elder Nagasena
set the ball rolling and there followed a series of questions and answers,
including the famous chariot illustration which maintained that just as
the parts of a chariot put together make a chariot, and there is no chariot
apart from them, similarly the different components of an individual make
an individual and that the individual does not exist aprt from them. No
more profound or appealing statement of the doctrine of Anatmavada
can be found than the above enunciation of the Elder Nagasena in the whole
Buddhist literature, with the exception of the scriptures. Thus Milinda-panha
is a comprehensive exposition not only of Buddhist metaphysics, but also
of Buddhist ethics and psychology. As such, it is indispensable for
the student of Buddhism. Apart from its importance as a Buddhist
text, the Milinda-panha is also to be valued as a historical document and
a literary achievement of great eminence. The Milinda-panha provides
an unsurpassed testimony to Indian prose literature of the first century.
In short, the Milinda-panha occupies a unique position in Indian letters,
whether looked at from the point of view of metaphysics, or literature,
or history, or knowledge of geography. It is an indisputable fact hat in
post-canonical literature, no other treatise on Buddhism equals the Milinda-panha.
Di
Lặc: See Maitreya in the Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Di
Lặc Bồ Tát: Từ Thị—Di Lặc Bồ Tát hay vị Phật tương
lai của cõi Ta Bà (vị Bồ Tát sẽ thành Phật vị lai hướng
dẫn chúng sanh giải thoát khỏi phiền trược)—Great Loving
One—Maitreya Bodhisattva—The future Buddha of this saha world (the
Bodhisattva who will become a full Buddha in the next world cycle to lead
men to liberation from self-bondage).
**
For more information, please see Maitreya
in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Di
Lâu: Meru (skt)—Cao Sơn—Quang Sơn.
1)
Cao ngất: Lofty.
2)
Núi Tu Di: Ở đây chỉ núi Hy Mã Lạp Sơn—Meru also refers to
the mountains represented by the Himalayas, in this not differing from
Sumeru.
Di
Lệ Xa: Mleccha (skt).
1)
Người man rợ, hung dữ: Barbarian, foreigner, wicked.
2)
Vẻ mặt hung hăng: Defined as ill-looking.
3)
Một từ dùng để chỉ những bộ tộc hay giống người ngoại
đạo: A term for non-Buddhist tribe or people.
Di
Mẫu: Mother’s sister.
Di
Ngôn: Di giáo—The last words—Wishes.
Di
Pháp: See Di Huấn.
Di
Quan: Di chuyển quan tài từ giữa nhà ra để làm lễ di quan
trong ngày thứ ba—To remove the coffin to the hall for the masses
for the dead on the third day after the encoffinment.
Di
Sa Tắc: Mahisasaka (skt)—Di sa tắc Luật, một trong năm bộ
luật của Đại Chúng Bộ (sau khi Đức Phật nhập diệt chừng
100 năm, tổ thứ tư là Ưu Ba Cúc Đa có năm vị đệ tử,
diễn giảng Luật Tạng thành năm bộ phái khác nhau, gọi là
Ngũ Bộ Luật, Di sa Tắc là một trong năm bộ luật nầy)—The
Mahasasaka Vinaya, one of the five divisions of the Sarvastivadah school
Di
Sản: Hertage—Inherited property.
Di
Sơn: Dời non lấp biển—To remove mountains.
Di
Tích: Tracks—Evidences—Vestiges—Remains—Trace—Examples left
behind.
Di
Truyền: Heredity.
Dì
Phước: Sister of mercy.
Dĩ:
1)
Đã rồi: Already.
2)
Quá khứ: Past.
3)
Cuối cùng: End.
4)
Chấm dứt: Cease.
Dĩ
Ân Báo Oán: To return good for evil.
Dĩ
Đạt Đại Đức:
1)
Bậc cao Tăng đạo cao đức trọng: A monk far advanced in religion.
2)
Vị A La Hán: An Arhat.
Dĩ
Hoàn: Đã trở lại—Bắt đầu một chu kỳ—Already returned—The
recommencement of a cycle.
Dĩ
Huyết Tẩy Huyết: Lấy máu rửa máu, máu càng lan rộng (lấy
máu rửa máu hay lấy oán báo oán, chúng ta sẽ rơi hết từ
tội lỗi nầy sang tội lỗi khác)—To wash out blood with blood,
from one sin to fall into another.
Dĩ
Kim Đương: Tam thế—Three times.
1)
Quá Khứ: Past.
2)
Hiện Tại: Present.
3)
Vị Lai: Future.
Dĩ
Kim Đương Vãng Sanh: Những vị vãng sanh về Tịnh Độ, trong
quá khứ, trong hiện tại, và vị lai—Those born into the future
life of the Pure Land, in the past, in the prsent, and to be born in the
future.
Dĩ
Ly Dục Giả: Người đã từ bỏ dục giới, có hai loại—Those
who have abandoned the desire-realm, divided into two classes:
1)
Dị Sanh: Phàm phu đã lìa dục vọng, nhưng vẫn còn luân hồi
trong lục đạo—Ordinary people who have left desire, but will be
born into the six gati.
2)
Thánh Giả: Những vị Thánh không còn luân hồi trong dục giới,
cho cả Phật tử và không Phật tử—The saints, who will not
be reborn into the desire-realm, for both Non-Buddhists and Buddhists.
Dĩ
Nhiên: Of course—Naturally.
Dĩ
Oán Báo Oán: To return evil for evil.
Dĩ
Sa Thí Phật: Theo truyền thuyết thì tiền kiếp vua A Dục khi
là một đứa nhỏ lúc còn thơ ấu đã lấy nắm cát trong
tay mà cúng dường cho Phật, nên về sau nầy được tái sanh
làm vua—The legend of Asoka when a child giving a handful of gravel
as alms to the Buddha in a previous incarnation, hence his rebirth as a
king.
Dĩ
Sanh: Bhuta (skt)—Dĩ Sanh—Lúc hiện hữu hay ngay trong
hiện tại—Become—The moment just come into existence, the present
moment.
Dĩ
Tâm Học Tâm: With the mind learning the mind.
Dĩ
Tâm Truyền Tâm: Truyền thẳng từ tâm qua tâm bằng trực giác,
đối lại với lấy văn tự mà truyền pháp—Direct transmission
from mind to mind (the intuitive principle of the Zen or Intuitive school)—With
the mind transmitting the mind, as contrasted with the written word.
Dĩ
Tri Căn: Ajnendriya (skt)—Một trong ba căn vô lậu—Người đã
biết rõ căn cội thiện lành đều phát khởi từ những chân
lý (ý, lạc, hỷ, xả, tín, tấn, niệm, định, huệ) mà ra—The
second of the three passionless roots—One who already knows the Indriya
or roots that arise from the practical stage associated with the four dogmas
(purpose, joy, pleasure, renunciation, faith, zeal, memory, abstract meditation,
wisdom).
Dĩ
Vãõng: The former time—The past.
Dĩ
Vi: Coi như—To take to be—To consider as.
Dị:
1)
Dị thường: Extraordinary.
2)
Dung Dị: Dễ dàng—Easy.
3)
Sự khác biệt: Prthak (skt)—Different—Unlike—Separate—Diverse—Diversity—Not
the same—Diversity—Change—Strange—Heterodox.
Dị
Bẩm: Extraordinary nature.
Dị
Biến: Thay đổi—To change.
Dị
Bộ: Different class, or sect; heterodox schools, etc.
Dị
Chấp: Cố chấp với cái lý khác với chánh lý—A different
tenet—To hold to heterodoxy.
Dị
Chủng: Foreign race.
Dị
Dạng: Strange form.
Dị
Duyên: Alambana-pratyaya (skt)—Những yếu tố bên ngoài làm ảnh
hưởng đến sự chăm chú, hay tập trung tư tưởng—Things
distracting the attention, distracting thoughts; the action of external
objects conditioning consciousness.
Dị
Đoan: Superstition—Heterodoxy.
Dị
Đồng: Different.
Dị
Giải: Lối giải thích theo dị giáo—A different, or heterodox,
interpretation.
Dị
Giáo: Heresy.
Dị
Hành: Dễ làm—Easy to do—Easy progress.
Dị
Hình: Strange shape.
Dị
Học:
1)
Những nghiên cứu khác: Different studies.
2)
Học thuyết của tà giáo: Heterodoxy.
Dị
Huệ: Trí tuệ của kẻ theo tà giáo—Heterodox wisdom.
Dị
Khẩu Đồng Âm: Nhiều ý kiến khác nhau, nhưng lại đồng
tâm nhứt trí—Different or many mouths, but the same response—Unanimous.
Dị
Kiến: Different view, heterodoxy.
Dị
Nhân:
1)
Người dị thường: An Extraordinary man—A different person.
2)
Nhân khác: A different cause.
Dị
Phẩm: Phẩm loại tương phản hay khác nhau—Of different order,
or class.
Dị
Phương Tiện: Phương tiện đặc thù mà Phật dùng để xiển
dương Nhất Nghĩa Đế—Extraordinary, or unusual adaptations, devices,
or means.
Dị
Sinh: Prthagjana, Balaprthagjana (skt)—Tên gọi khác của phàm phu.
Phàm phu được dịch là “dị sinh” vì do vô minh mà theo
tà nghiệp chịu quả báo, không được tự tại, rơi vào các
đường dữ—An ordinary person unenlightened by Buddhism, an unbeliever,
sinner; childish, ignorant, foolish; the lower orders.
Dị
Sinh Đê Dương Tâm: Cái ngu của phàm phu được ví như con
dê đực (Đê Dương) chỉ nghĩ tới ăn uống và dâm dục—Common
“butting goat,” or animal, propensities for food and lust.
Dị
Sinh Tánh Chướng: The common illusions of the unenlightened—Taking
seeming for real.
Dị
Sự: Extraordinary fact.
Dị
Tài: Extraordinary talent.
Dị
Tâm:
1)
Tâm khác: Different mind.
2)
Tâm chứa chấp tà thuyết: Heterodox mind.
Dị
Thục: Vipaka (skt)—Quả báo nương theo thiện ác của quá khứ
mà có được, cái quả khác với tính chất của cái nhân,
như thiện nghiệp thì cảm lạc quả, ác nghiệp thì cảm khổ
quả, cả hai lạc quả và khổ quả không còn mang tính chất
thiện ác nữa, mà là vô ký (neutral), nên gọi là dị thục
tức là cái nhân khi chín lại khác—Differing from the cause,
different when cooked, or matured, i.e. the effect differing from the cause,
pleasure differing from goodness its cause, and pain from evil. Maturing
or producing its effects in another life.
Dị
Thục Đẳng Ngũ Quả: Năm quả dị thục, hay năm quả được
sản sanh bởi sáu nhân—The five fruits of karma. Pancaphalani, or
effects produced by one or more of the six hetus or causes.
1)
Dị Thục Quả: Vipaka-phala (skt)—See Dị Thục Quả.
2)
Đẳng Lưu Quả: Nisyanda-phala (skt)—Uniformly continuous effect—See
Đẳng Lưu Quả.
3)
Sĩ Dụng Quả: Purusakara-phala (skt)—Simultaneous effect produced
by the sahabhu-hetu and the samprayukta-hetu—See Sĩ Dụng Quả.
4)
Tăng Thượng Quả: Adhipati-phala (skt)—Aggregate effect produced
by the karma-hetu—See Tăng Thượng Quả.
5)
Ly Hệ Quả: Visamyoga-phala (skt)—Emancipated effect produced by all
six causes—See Ly Hệ Quả.
Dị
Thục Nhân: Vipakahetu (skt)—Nhân sanh ra quả khác với chính
nó, thí dụ như thiện nhân không sanh ra thiện quả mà lại
sanh ra lạc quả; ác nhân không sanh ra ác quả, mà lại sanh
ra khổ quả (lạc quả và khổ quả đều là vô ký, chứ không
phải là thiện ác)—Heterogeneous cause, i.e. a cause producing a
different effect, known as neutral, or not ethical, e.g. goodness resulting
in pleasure, evil in pain.
Dị
Thục Nhơn Dị Thục Quả: Differently ripening causes produce differently
ripening effects—Every developed cause produce its developed effect.
Dị
Thục Quả: Quả báo khác thời mà chín, như trong một kiếp
tái sanh nào đó thì do cái nhân đời trước mà ngũ căn đời
nầy sẽ xấu, đẹp, thông minh, ngu độn (chứ không phải
là thiện ác nữa, do đó mới gọi là dị thục quả)—Fruit
ripening differently, or heterogeneous effect produced by heterogeneous
cause, i.e. in another incarnation, or life, e.g. the condition of the
eye and other organs now resulting from specific sins or otherwise in previous
existence.
Dị
Thục Sinh: Sự phân biệt của Đại Thừa về sự khác biệt
giữa “dị thục” và “dị thục sinh.” Dị thục sinh là
sáu thức (dị thục của sáu thức do A Lại Da thức sanh ra)—A
diference is made in Mahayana between Alaya-vijnana and the six senses
which produced from the Alaya-vijnana.
Dị
Thuyết: Giáo thuyết của dị giáo—A different, or heterodox
explanation; or strange doctrine.
Dị
Thường: Extraordinary—Exceptional—Unnatural—Fantastic.
Dị
Tộc: Different race.
Dị
Tướng:
1)
Một trong tứ tướng, sự thay đổi: One of the four states of
all phenomena, difference or differentiation—See Tứ Tướng (3).
2)
Phẩm chất đặc biệt, tướng mạo lạ thường: Particular
qualities, strange physiognomy.
Dịch:
To translate.
Dịch
Thoát: To translate freely.
Dịch
Từng Chữ: To translate word by word.
Diệc:
1)
Vừa: Also.
2)
Hơn nữa: Moreover.
Diệc
Hữu Diệc Không Môn:
1)
Trường phái Trung Đạo: Madhyamika (skt)—The middle school.
2)
Pháp môn vừa hữu vừa không hay pháp môn song chiếu hữu không—Trung
Đạo—Both reality and unreality—Relative and absolute—Phenomenal
and non-phenomenal.
Diêm:
1)
Cổng làng: A gate—Border-gate—Hamlet.
2)
Nói xàm—Nói không ăn nhập vào đâu—Incoherent talk.
Diêm
Bà Độ: Loại chim trong địa ngục, lớn như voi, có nhiệm
vụ gấp những kẻ độc ác, bay đi rồi ném xuống cho rớt
ra từng mảnh—A bird in purgatory as large as an elephant, who picks
up the wicked, flies and drops them, when they are broken to pieces.
Diêm
Đài: Hells—Hades.
Diêm
La: Yama (skt)—See Diêm Vương.
Diêm
Ma: Yama (skt)—See Diêm Vương.
Diêm
Ma Na Châu Quốc: Yavana or Yamana (skt)—Đảo quốc Java nơi mà
hai ngài Pháp Hiền và Huyền Trang đã đến viếng—The island
nation of Java, visited by Fa-Hsien and Hsuan-Tsang.
Diêm
Ma Vương: Yama (skt)—The King of the Under World—See Diêm Vương.
Diêm
Mạn Đức Ca: Yamataka (skt)—Diêm Ma Đức Ca Tôn—Diêm Mạn
Uy Nộ Vương—Đại Uy Đức Minh Vương—Hàng Diêm Ma Tôn—Lục
Túc Tôn—Một trong năm vị Đại Minh Vương, vị tôn ở Tây
Phương có sáu chân ( cũng là giáo lệnh luân thân của Đức
Phật Vô Lượng Thọ)—The destroyer; Siva, Yama’s destroyer, one
of the Ming-Wang represented with six legs, guardian of the West.
Diêm
Mâu Na: Yamuna (skt)—Lam Mâu Ni Na—Dao Vưu Na—Bây giờ là sông
Jamna, một nhánh của sông Hằng (hợp lưu với sông Hằng tại
Bát La Da Già)—The modern river Jamna, a branch of the Ganges (meets
with the Ganges at Allahabad).
Diêm
Phù: Jambu (skt)—Thiệm Bộ—Xà Phù Thụ hay Uế Thụ, loại
cây được tả là cao ngất mà châu Diêm Phù Đề, một trong
bảy châu lớn bọc quanh núi Tu Di, đã mang tên của loại cây
nầy—The rose-apple, described as a lofty tree giving its name to Jambudvipa,
one of the seven continents or rather large islands surrounding the Mountain
Meru.
Diêm
Phù Đàn Kim: Jambunada-suvarna (skt)—Diêm Phù Na Đề (Đà) Kim—Tên
một loại vàng ở sông Diêm Phù Đàn (mé dưới rừng cây
Diêm Phù có một dòng sông tên là Diêm Phù Đàn, ở đáy sông
có một loại vàng màu sẫm pha chút sắc tím gọi là Diêm
Phù Đàn Kim)—Jambud-river gold, the golden sand of the Jambu.
Diêm
Phù Đề: Jambudvipa (skt).
1)
Châu nầy được đặt tên Diêm Phù Đề có thể là vì trên
châu nầy mọc nhiều cây Diêm Phù, hoặc giả từ trên cây
Diêm Phù khổng lồ trên núi Tu Di có thể nhìn thấy toàn châu:
It is so named (Jambudvipa) either from the Jambu trees abounding in it,
or from an enormous Jambud tree on Mount Meru visible like a standard to
the whole continent.
2)
Thế giới mà chúng ta đang sống. Diêm Phù đề chỉ là một
phần nhỏ của thế giới Ta Bà, nằm về phía nam của núi
Tu Di, theo vũ trụ học cổ Ấn Độ, đây là nơi sinh sống
của con người, là thế giới Ta Bà của Đức Phật Thích
Ca—The human world—The world in which we are living—Jambudvipa is
a small part of Saha World, the continent south of Mount Sumeru on which,
according to ancient Indian cosmology, human beings live. In Buddhism,
it is the realm of Sakyamuni Buddha.
Diêm
Phủ: See Diêm Đài.
Diêm
Vương: Yama-raja (skt)—King of hell—God Yama—Còn gọi là Diêm
La, Diêm Ma Vương, Diêm Ma La, Diêm Lão, hay Diêm La Vương.
1)
Theo thần thoại Phật giáo và Ấn Độ giáo, tất cả mọi
người chết phải đến trước một vị chúa tể hay phán
quan của thần chết để được phán xử. Bằng cách dựa
vào tấm gương phản chiếu thiện ác nghiệp, trong ấy những
hành vi tốt xấu của người chết đều hiện lên. Diêm Vương
cân nhắc tội nặng nhẹ mà thưởng phạt, hoặc đưa người
ấy về cõi hạnh phúc, hoặc nếu hành vi xấu ác của người
chết nặng thì Diêm Vương bắt y phải chịu những tra tấn
hay nhục hình khủng khiếp, như nuốt hòn sắt cháy đỏ—In
Buddhist and Hindu mythology, the Lord of Judge of the Death before whom
all who die must come for judgment. Yam-raja holds up his Mirror of Karma,
wherein are reflected the good and evil deeds of the deceased, and the
latter consigns himself either to a happy realm or, where his deeds have
been preponderantly evil, to frightful tortures, such as swallowing a red-hot
iron ball.
2)
Theo Kinh Vệ Đà thì Diêm Vương là Thần Chết, tất cả người
chết phải về chỗ của ông ta. Ông là con trai của Mặt Trời,
ông còn có một người em gái tên là Diêm Ma Nữ hay Diêm Mâu
Na (người anh là nam phán quan xét việc nam giới, người em
là nữ phán quan xét việc nữ giới): In the Veda, Yama means the
god of the dead, with whom the spirits of the departed dwell. He was son
of the Sun and had a twin sister Yami or Yamuna.
**
See Yama in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section, and Diêm Mâu Na in
Vietnamese-English Section.
Diễm:
1)
Bén nhọn: Pointed—Sharp.
2)
Chuốt cho bén: To sharpen.
3)
Diễm Lệ: Beautiful.
4)
Ngọn Lửa: A flame—A blaze.
Diễm
Khẩu: Ulka-mukha (skt)—See Diệm Khẩu.
Diễm
Lệ: Charming—Lovely.
Diễm
Phù: Jambudvipa (skt)—See Diêm Phù Đề in Vietnamese-English Section,
and Jambudvipa in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Diễm
Phúc: Happiness—Felicity.
Diễm
Sắc: Great beauty.
Diễm
Tình: Love.
Diễm
tuyệt: Very beautiful (pretty).
Diệm:
1)
Viêm: Ngọn lửa—Flame—Blaze.
2)
Niết Bàn: Nirvana.
Diệm
Huệ Địa: Giai đoạn thứ tư của Bồ Tát, trí tuệ của
Bồ Tát sáng lên tột bực và hiểu biết đầy đủ—The stage
of flaming wisdom, the fourth of the ten bodhisattva stages.
**
For more information, please see Thập Địa Phật Thừa (4).
Diệm
Khẩu: Ulka-mukha (skt)—Tên một loài quỷ đói, miệng phun lửa
đã hiện ra trước mặt ngài A Nan (nói với ngài A Nan rằng
ba ngày nữa ông sẽ mệnh chung và đầu thai làm quỷ đói
trừ phi nào ông bố thí cho trăm nghìn con quỷ đói mỗi đứa
một hạt cơm. A Nan bèn bạch với Phật, nên nhân đó Phật
thuyết kinh Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Kinh hay Kinh Phật Thuyết Cứu
Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni)—Flaming mouth, a hungry ghost
or preta, that is represented as appearing to Ananda.
Diệm
Ma Đại Hỏa Tiên: Một trong bảy vị cổ Tiên—Jamadagni, one
of the seven ancient sage-rsis.
Diệm
Ma Thiên: Yamadevaloka (skt)—Yama (p)—Tu Diệm Ma—Tên của Dục
Giới Thiên, tầng trời thứ ba—The third of the desire-heavens,
above the Trayastrimsas—The realm of Deva Yama is a realm of great happiness
presided over by their ruler, the divine king Suyama or Yama—Cảnh Trời
Đại Hạnh được trị vì bởi Diệm Ma Vương.
Diệm
Thai: Ánh sáng vây bọc quanh mình như trong Thai Tạng giới—The
flaming womb, the gabhadhatu which surrounds with light.
Diệm
Tuệ Địa: See Diệm Huệ Địa.
Diệm
Võng: Ánh sáng của Phật xen kẻ lớp lớp như mắt lưới
ngọc châu của vua Trời Đế Thích—The flaming, or shining net
of Buddha, the glory of Buddha, which encloses everything like the net
of Indra.
Diệm
Vương Quang Phật: Đức Phật thứ năm trong 12 vị Quang Phật
(tất cả 12 danh hiệu nầy đều được dùng để tán thán
Đức Vô Lượng Thọ Như Lai)—The fifth of the twelve shining Buddhas.
Diên:
Kéo dài—To prolong.
Diên
Khánh Tự: Chùa Diên Khánh nơi có phòng giảng khi xưa của
tông Thiên Thai ở Tứ Minh Sơn, thuộc tỉnh Triết Giang—Yen-Ch’ing-Ssu,
the monastery in which there is an ancient lecture hall of T’ien-T’ai
at Ssu-Ming-Shan in Chekiang.
Diên
Mệnh: Cuộc sống kéo dài—Prolonged life.
Diên
Mệnh Bồ Tát: Những vị Bồ Tát có phép tu và đức kéo dài
cuộc sống. Những vị nầy gồm Phổ Hiền, Địa Tạng và
Quán Âm—The life-prolonging bodhisattvas to increase length of life.
These bodhisattvas are Samantabhadra, Ksitigarbha, and Avalokitesvara.
Diên
Mệnh Địa Tạng Bồ Tát: Ngài Địa Tạng Bồ Tát có phép
tu và đức kéo dài được tuổi thọ—The Life-Prolonging
Ksitigarbha Bodhisattva.
Diên
Mệnh Pháp: Phép tu kéo dài tuổi thọ bằng cách tu theo hạnh
các vị Diên Thọ Bồ Tát như Phổ Hiền, Địa Tạng và Quán
Âm—Methods of worship of the life-prolonging bodhisattvas such as Universal
Virtue (Samantabhadra), Earth-Store (Ksitigarbha), and Avalokitesvara,
etc., to increase length of life.
Diên
Mệnh Phổ Hiền Bồ Tát: Ngài Phổ Hiền có phép tu và đức
kéo dài tuôi thọ—The Life-Prolonging Samantabhadra Bodhisattva.
Diên
Mệnh Quán Âm Bồ Tát: Ngài Quán Âm có phép tu và đức kéo
dài cuộc sống—The Life-Prolonging Avalokitesvara Bodhisattva.
Diên
Niên Chuyển Thọ: Prolonged years and returning anniversaries.
Diên
Thọ: Kéo dài tuổi thọ: To prolong—To lengthen (life).
Diên
Thọ Đại Sư: Yen-Shou—Tên của một vị sư nổi tiếng ở
Hàng Châu vào thời nhà Tống. Theo Hòa Thượng Thích Thiền
Tâm trong Liên Tông Thập Tam Tổ thì ngài là Lục Tổ Tịnh
Độ của Trung Quốc. Ngài tự là Xung Huyền, họ Vương, quê
quán ở Tiền Đường. Ngài quy y với Thúy Nham Thiền Sư ở
đất Tứ Minh. Kế lại tham học với Thiền Quốc Sư ở Thiên
Thai, tỏ ngộ tâm yếu, được quốc sư ấn khả. Ngài từng
tu Pháp Hoa Sám Pháp ở chùa Quốc Thanh. Trong khi thiền quán,
thấy Đức Quán Thế Âm Bồ Tát rưới nước cam lồ vào miệng,
từ đó ngài được biện tài vô ngại. Do túc nguyện muốn
chuyên chú về Thiền hoặc Tịnh Độ mà chưa quyết định
nên ngài đến Thiền viện của Trí Giả Đại Sư làm ra hai
lá thăm: một lá đề “Nhất tâm thiền định,” lá kia đề
“Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kế đó ngài lại chí tâm đảnh
lễ Tam Bảo, sám hối cầu xin gia bị. Đến khi rút thăm, luôn
bảy lần đều nhằm lá “Trang nghiêm Tịnh Độ.” Kể từ
đây ngài chuyên ý nhứt tâm ròng rặc tu môn tịnh nghiệp.
Năm Kiến Long thứ hai đời nhà Tống, vua Trung Ý Vương thỉnh
ngài về trụ trì chùa Vĩnh Minh, tôn hiệu ngài là Trí Giác
Thiền Sư. Ngài ở đây 15 năm, độ được 1.700 vị Tăng.
Đại sư lập công khóa mỗi ngày đêm hành trì 108 điều.
Hai điều đặc biệt nhứt trong đó là Một ngày tụng một
bộ kinh Pháp Hoa và niệm 100.000 câu niệm Phật. Ban đêm khi
ngài đi qua gộp núi khác niệm Phật, những người ở gần
đều nghe có tiếng loa pháp và tiếng thiên nhạc trầm bỗng
du dương. Về kinh Pháp Hoa, trong đời ngài tụng được 13.000
lần. Đại sư thường truyền giới Bồ Tát, mua chim cá phóng
sanh, thí thực cho quỷ thần, tất cả các công đức chi ngài
đều hồi hướng về Tịnh Độ. Ngài có trước tác 100 quyển
Tông Cảnh Lục, chỉ rõ dị đồng của ba tông: Hoa Nghiêm,
Pháp Hoa và Duy Thức. Đại sư lại soạn ra tập sách Vạn
Thiện Đồng Quy, chỉ rõ về Pháp Môn Tịnh Độ. Đại sư
lại thấy người đương thời còn đang bị phân vân, ngờ
vực giữa Thiền Tông và Tịnh Độ, chưa biết phải tu môn
nào để được kết quả chắc chắn, nên ngài làm bài kệ
“Tứ Liệu Giản” để so sánh (see Tứ Liệu Giản). Niên
hiệu Khai Bảo thứ 8, vào buổi sáng sớm ngày 26 tháng 2, ngài
họp tứ chúng lên chánh điện đốt hương lễ Phật, lễ
xong ngài dặn dò, khuyên bảo, sách tấn tứ chúng tinh tấn
tu hành, rồi ngồi kiết già ngay ngắn trên pháp tòa mà viên
tịch. Ngài thọ 72 tuổi—Yen-Shou, name of a famous monk in Hang-Chou
during the Sung dynasty. According to Most Venerable in The Thirteen Patriarchs
of Pureland Buddhism, Yen-Shou was the Sixth Patriarch of Chinese Pureland
Buddhism. His given name is Xung Huyền, his family name is Wang. He was
born in Tsien-T’ang District. He first came to Zen Master Thúy Nham
of Tsu-Ming region and asked to become a disciple. Next, he studied with
Master T’ien-T’ai, the Nation’s Master, at T’ien-T’ai. There
he realized the true nature or Buddha nature and his realization was recognized
by the Nation’s Master. He often cultivated the “Dharma Flower Sutra’s
Repentance Practices” at Kuo-Ch’ing Temple. One day while engaging
in Zen Meditation, he saw Avalokitesvara Maha-Bodhisattva sprinkle droplets
of holy water into his mouth. From that point, he was able to explain,
clarify, and elucidate the Buddha Dharma without limitation. Because of
the residual vow in his former life, he was still uncertain whether he
should choose Zen or Pureland to focus his practice. Thus, he came to the
Zen Monastery founded by Zen Master Chih-I and prepared two prayer sticks:
one was written “One Mind Zen Meditation,” and the other was written
“Adorning the Pureland.” Next, he sincerely prostrated to the Triple
Jewels, repented, and asked for protection and guidance. When he drew for
the sticks, all seven times he drew the stick “Adorning the Pureland.”
Thereafter, he devoted his time and energy to cultivate Pureland Buddhism
diligently and vigorously with one mind. In the second year of Kiến-Long
reign period of the Sung Dynasty, Emperor Wang-Chung-Yi cordially invited
him to be the headmaster at Yung-Ming Temple, honoring him with the title
Zen Master Enlightenment Wisdom. He lived there for fifteen years as he
helped and guided 1,700 Bhiksus. He established praying periods, each day
and night practicing 108 ways. Among these, two outstood as the most significant:
Chanting a volume of Dharma Flower Sutra daily, and reciting Amitabha Buddha’s
name 100,000 times daily. At night, when he sat on a great boulder to practice
Buddha Recitation, people in the surrounding area would hear the enchanting
sounds of the Dharma as well as the magnificence of the heavenly
symphony playing. In his lifetime, he chanted the Dharma Flower Sutra thirteen
thousand times. He often granted Bodhisattva Precepts to those who wished
to maintain. He also often purchased captive birds and fish to set them
free, donated meals to deity, hungry ghosts, and demons. With all the merits
and virtues he obtained, he dedicated them to the Pureland praying to gain
rebirth there. He wrote 100 texts called “Tống Cảnh Lục” to point
out similarities and differences of the three Dharma Doors: Avatamsaka,
Dharma Flower and Mind Only or Zen School. He also authored a collection
of Buddhist texts called “Vạn Thiện Đồng Quy.” Moreover,
he also observed during that time, many Buddhists were skeptical and unclear
about the differences between Zen and Pureland, not knowing which tradition
to practice to obtain guaranteed results; therefore, he wrote a poem entitled
“Four Clarifications” to make comparisons. At the early morning hours
of February 26th in the eighth year of Khai Bảo reign period, he when
to the prayer hall to light incense to prostrate to the Buddha. Thereafter,
he gathered the great assembly to instruct and encourage them to
cultivate diligently according to the teachings and then he sat in the
lotus position on top of the Dharma throne and passed away into Nirvana.
He was 72 years old.
Diên
Thọ Đường: Tĩnh Hành Đường—Niết Bàn Đường—Phòng
nơi người sắp chết được đưa vào để cầu an (người
sắp chết lắm khi tâm thần bấn loạn nên đem lòng tham luyến
phòng ở, y bát, đồ dùng hành đạo, nên đem họ đến đây
nghe kinh kệ để thấy rằng mọi sự vật đều là vô thường,
không có gì để cho ta luyến ái trước khi họ thị tịch)
—The hall or room into which a dying person is taken to enter upon his
“long life.” The nirvana hall—See Niết Bàn Đường.
Diên
Thọ Môn Đà La Ni: Thần chú của Phật nói cho Ngài Kim Cương
Thủ về phép tu huyền diệu kéo dài tuổi thọ—The gate of
Life-Prolonging Dharani, or dharani which the Buddha told Vajrapani Bodhisattva
methods of prolonging life of cultivation.
Diên
Thọ Vĩnh Minh: See Vĩnh Minh Diên Thọ Thiền Sư.
Diên
Xúc Kiếp Trí: Trí huệ Phật, trùm lên tất cả mọi kiếp
kéo dài hay rút ngắn—Buddha-wisdom, which surmounts all extending
or shrinking kalpas.
**
For more information, please see Kiếp.
Diễn:
1)
Bày ra: Show—To extend.
2)
Diễn giảng: To expound—To perform—To act.
Diễn
Dịch: Deductive—To expound and make clear.
Diễn
Dịch Pháp: Deductive method.
Diễn
Đàn: Platform.
Diễn
Đạt: To express.
Diễn
Giả: Speaker—Orator.
Diễn
Giải: To explain.
Diễn
Nhã Đạt Đa: Yajnadatta (skt)—Dịch là Từ Thụ, có nghĩa là
nhờ tế thần mà được trao cho—Obtained from sacrifice.
Diễn
Nhã Đạt Đa Chi Đầu: Chuyện về cái đầu của Diễn Nhã
Đạt Đa. Tại thành Thất La có người cuồng tên Diễn Nhã
Đạt Đa. Một buổi nọ ông lấy gương soi mặt, nhìn thấy
lông mi và mắt hiện ra trong gương, nhưng lại không thấy
được lông mi và mắt trên đầu của mình nên hoảng sợ
bỏ chạy một cách điên cuồng. Ở đây mắt và đầu ví
với chân tính, tất cả những gì hiện ra trong gương đều
là vọng tưởng (Diễn Nhã Đạt Đa mừng khi thấy đầu trong
gương ví với việc chúng sanh chấp vọng làm chân, cố chấp
không bỏ. Không thấy mình vốn có đầu, trên đầu vốn có
lông mi và mắt thật, được ví với chân tính)—The head of
Yajnadatta—Yajnadatta, a crazy man who saw his eyebrows and eyes in a
mirror but not seeing them in his own head thought himself bedevilled;
the eyes and head are a symbol of reality. Those in the mirror of unreality.
Diễn
Tả: To describe.
Diễn
Thuyết:
1)
Đọc diễn từ: To make (deliver) a speech.
2)
Giảng giải nghĩa lý: To expound—To dilate upon—To discourse.
Diễn
Tiến: To progress—To evolve.
Diễn
Viên: Actor—Actress.
Diễn
Văn: Speech—Address.
Diện:
1)
Ăn mặc bảnh bao: Well-dressed.
2)
Cái mặt: Face.
Diện
Bích: Tọa thiền mặt xoay vào tường, như Tổ Bồ Đề Đạt
Ma đã 9 năm diện bích mà không nói một lời—To sit in meditation
with the face to a wall, as did Bodhidharma for nine years, without uttering
a word—See Bồ Đề Đạt Ma.
Diện
Kiến: To see in person.
Diện
Môn:
1)
Trán: Forehead.
2)
Miệng: Mouth.
3)
Đường dọc phân chia môi trên làm hai: The line across the upper
lip.
Diện
Mục: Mặt và mắt, ý nói dáng vẻ bề ngoài—Appearance—Face
and eyes—Physiognomy.
Diện
Ngộ: To meet.
Diện
Sắc: Countenance.
Diện
Thụ: Trực tiếp chỉ giáo—Personal or face-to-face instruction.
Diệp:
Pattra, or Parna (skt)—Lá—Leaf—Leaves.
Diệp
Cái: Nón làm bằng lá cây—A leaf-hat, or cover made of leaves.
Diệp
Y Quán Âm: tên gọi tắt của Bị Diệp Y Quán Âm, hay Đức
Quán Âm mặc áo cánh hoa sen, ví với tám vạn bốn ngàn công
đức—A form of Kuan-Yin clad in leaves to represent the 84,000
merits.
Diệt:
Nirodha, Nirdha (skt)—Ni Lâu Đà.
1)
Niết Bàn: Cái thể của Niết Bàn là vô vi tịch diệt—To
exterminate, to destroy, to annihilate, translation of Nirodha of Nirvana.
Dead, extinguished, blown out, perfect rest, highest felicity.
2)
Diệt Đế: Một trong Tứ Diệu Đế, thông với nhân quả từ
khổ, tập, diệt, đạo hay con đường diệt khổ—Nirodha is
the third of the four axioms: pain, its focusing, its cessation or cure,
the way of such cure.
3)
Tỳ Ni: Vinaya (skt)—Giới hạnh diệt trừ chư ác hay hữu sở
diệt, diệt trừ những nguyên nhân của khổ đau dẫn đến
luân hồi sanh tử—Annihilation or extinction of the passions as the
cause of pain which leads to the extinction of existence, or of rebirth
and mortal existence.
Diệt
Bệnh: Một trong bốn bệnh mà Kinh Viên Giác đã nói đến,
là căn bệnh trụ vào tịch diệt tướng của chư pháp. Một
phương pháp mà Phật Giáo Tiểu Thừa đã dùng để diệt trừ
không cho sót lại chút phiền não nào—One of the four ailments
or faulty ways of seeking perfection, mentioned in the Complete Enlightenment
Sutra. The Hinayana method of endeavouring to extinguish all perturbing
passions so that nothing of them remains.
**For
more information, please see Tứ Bệnh.
Diệt
Chủng:
1)
Tận diệt một chủng tộc: To exterminate (wipe out) a race.
2)
Diệt bỏ hạt giống vô lậu và Phật tính (vĩnh viễn không
thể thành Phật): To destroy one’s seed of Buddhahood.
Diệt
Đạo:
1)
Con đường dẫn đến tận diệt khổ đau phiền não: Extinction
of suffering and the way of extinction.
2)
Diệt Đế và Đạo Đế: Nirodha and marga—See Tứ Diệu Đế,
and Tứ Thánh Đế in Vietnamese-English Section.
Diệt
Đế: Nirodha-aryasatya (skt)—Chân lý về sự diệt khổ, đế
thứ ba trong Tứ Diệu Đế—The Truth of the end of suffering—The
extinction of suffering, which is rooted in reincarnation, the third of
the four axioms (dogmas).
**
For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh Đế
in Vietnamese-English Section.
Diệt
Định: See Diệt Tận Định.
Diệt
Định Trí Thông: Thần Thông Trí đạt được trong cảnh giới
vô vi Niết Bàn—The freedom or supernatural power of the wisdom attained
in nirvana, or perfect passivity.
Diệt
Độ: Nirvana (skt)—Bát Niết Bàn Na—Sự tận diệt luân hồi
sanh tử và thoát khổ—Extinction of reincarnation and escape from
suffering.
Diệt
Hậu: Sau khi Đức Phật nhật Niết Bàn—After the nirvana, after
the Buddha’s death.
Diệt
Kiếp: Samvarta kalpa (skt)—Hoại Kiếp—World destruction.
Diệt
Lý: Niết Bàn là chân lý tịch diệt (diệt khổ dứt phiền
não để đi vào cảnh giới hoàn toàn tịch tịnh)—The principle
or law of extinction, i.e. nirvana.
Diệt
Môn: Nirvana (skt)—Niết Bàn—In contrasted with Samsara (transmigration)
Lưu chuyển môn.
Diệt
Nghiệp: Nghiệp đưa đến tận diệt khổ đau phiền não, hay
nghiệp đưa đến Niết Bàn—The work or karma of nirodha, the karma
resulting from the extinction of suffering, i.e. nirvana.
Diệt
Pháp: Pháp Vô Vi (dùng để diệt bỏ hết chư tướng. Thân
tâm đối với cảnh không còn cảm động, không ưa, không
ghét, không ham, không chán, không vui, không buồn, không mừng,
không giận)—The unconditioned dharma, the ultimate inertia from which
all forms come, the noumenal source of all phenomenal.
Diệt
Pháp Nhẫn: See Diệt Pháp Trí Nhẫn.
Diệt
Pháp Quả: Quả vị tịnh tịch tuyệt đối—The realm of the
absolute, of perfect quiescence.
Diệt
Pháp Trí: Trí soi chiếu Diệt Đế của Dục giới hay trí giải
thoát khỏi dục vọng và luân hồi sanh tử—The knowledge or
wisdom of the dogma of extinction of passion and reincarnation.
Diệt
Pháp Trí Nhẫn: Diệt Pháp Nhẫn hay nhẫn nhục đạt được
nhờ có Diệt Pháp Trí (nhờ Diệt Pháp Trí mà sanh ra loại
nhẫn nhục có thể đoạn trừ dục vọng và luân hồi sanh
tử)—One of the eight kinds of endurance, the endurance and patience
associated with the knowledge or wisdom of the dogma of extinction of passion
and reincarnation.
Diệt
Quả: Nirvana (skt)—Niết Bàn là đạo quả tận diệt dục
vọng, đế thứ ba trong tứ đế—Nirvana as the fruit of extinction
of desire, the third of the four axioms.
**For
more information, please see Tứ Diệu
Đế and Tứ Thánh Đế.
Diệt
Quán: Quán sát về sự dập tắt: hủy diệt si mê bằng cách
chấm dứt nghiệp sanh, lão, bịnh, tử—The contemplation of extinction:
the destruction of ignorance followed by the annihilation of karma, birth,
old age and death.
Diệt
Sấn: Tên một tội danh trong Luật Tạng. Tỳ kheo phạm trọng
tội mà không phát lồ sám hối thì bị xóa tên trong sổ Tăng
tịch và bị đuổi đi (tội nầy tương đương với tội tử
hình ngoài đời)—Blotting out the name and the expulsion of a monk
who has committed a grievous sin without repentance.
Diệt
Tận Định: See Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt
Tận Tam Muội: See Diệt Thọ Tưởng Định.
Diệt
Thọ Tưởng Định: Diệt Tận Định—Định Tam muội, làm
cho tâm và tâm sở của Lục Thức dập tắt hoàn toàn những
cảm thọ và suy tưởng. Đây là một trong những phương thức
thiền cao nhất dẫn tới định tâm (tâm ý không nhiễm không
nương vào một cảnh nào, không tương ứng với một pháp
nào. Đây là phép định của bậc Thánh. Khi vào phép nầy
thì tâm trí vượt tới cõi vô sắc giới, truớc khi đi vào
cõi Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Định, rồi đắc quả Phật và
nhập Niết Bàn)—A samadhi in which there is complete extinction
of sensation and thought, one of the highest form of meditation (kenosis),
resulting from concentration.
**
For more information, please see Tứ Không
Xứ.
Diệt
Trí: Cái trí chiếu rõ đạo lý Diệt Đế, dứt khổ trừ
phiền não—The knowledge or wisdom, of the third axiom, nirodha or
the extinction of suffering.
**
For more information, please see Tứ Diệu Đế, and Tứ Thánh Đế
in Vietnamese-English Section.
Diệt
Trừ: To destroy.
Diệt
Trường: Nơi mà hành giả đạt được tận diệt dục vọng,
hay niết bàn—The plot or arena where the extinction of the passions
is attained; the place of perfect repose, or nirvana.
Diệt
Tuyệt: To destroy completely.
Diệt
Tướng:
1)
Một trong bốn pháp hữu vi được nói đến trong Kinh Kim Cang.
Pháp hữu vi khi hiện pháp trong hiện tại bị diệt đi thì
nhập vào pháp quá khứ: One of the four states of all phenomena,
mentioned in the Diamond Sutra. The extinction, as when the present passes
into the past—See Tứ Tướng.
2)
Một trong tam tướng chân như. Chân như tịch diệt (không còn
hai tướng sanh tử): One of the three forms or positions of Bhutatathata.
The absolute and unconditioned aspect of Bhutatathata—See Tam Tướng.
Diệt
Vong: To perish.
Diệt
Yết Ma:
1)
Diệt Nghiệp: The extinguishing karma—See Diệt Nghiệp.
2)
Loại trừ một vị Tăng phạm tội mà không phát lồ sám hối
ra khỏi Tăng đoàn: The blotting out of the name of a monk and his
expulsion from the order—See Diệt Sấn.
Diệu:
Manju or suksma (skt)—Tát Tô—Huyền diệu không thể nghĩ bàn
hay bất khả tư nghì—Marvelous—Wonderful—Profound—Subtle—Supernatural—Mystic—Mysterious—Beyond
thought or discussion.
·
Bất Khả Tư Nghì: Beyond thought or discussion.
·
Sáng chói: Brilliant—Shining—See Thất Diệu.
·
Tuyệt Đối: Special—Outstanding.
·
Vô Tỷ: Incomparable.
·
Tinh Tế Thậm Thâm: Subtle and profound.
Diệu
Âm: Âm thanh thù diệu—Wonderful sound.
Diệu
Âm Biến Mãn: Manjna-sabdabhigarjita (skt).
1)
Âm thanh thù diệu tỏa khắp nơi nơi: Universal wonderful sound.
2)
Thời kỳ mà Đức A Nan thành Phật với danh hiệu Diệu Âm
Biến Mãn Như Lai—The kalpa of Ananda as a Buddha with the title Manojna-Sabdabhigarjita
Buddha.
Diệu
Âm Bồ Tát:
1)
Diệu Âm Đại Sĩ—Vị Đại Sĩ, trụ trên cõi Đông Độ
của Đức Tỳ Lô Giá Na, đã chứng được mười bảy sắc
thân tam muội (Ngài cũng vì nhiều nhân duyên ở cõi Ta Bà
này thường thị hiện thành Đế Thích, Phạm Vương, Tự Tại
Thiên hay Tỳ Sa Môn, Tỳ Kheo để hóa độ chúng sanh)—A Bodhisattva,
master of seventeen degrees of samadhi, residing Vairocana-rasmi-pratimandita.
2)
Thủy Thiên Đức Phật: Vị Phật thứ 743 trong hiện kiếp,
người cai quản hết thảy nước trong vũ trụ—A Buddha like
Varuna controlling the waters, the 743rd Buddha of the present kalpa.
3)
Sughosa, một người em gái của Quán Âm Đại Sĩ: Sughosa, a
sister of Kuan-Yin Bodhisattva.
4)
Ghosa, vị A La Hán, nổi tiếng vì khả năng biện biệt giải
thích. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, chính Ghosa
đã phục hồi thị giác cho Dharmavivardhana bằng cách rửa mắt
với nước mắt của những người đã từng cảm động vì
tài hùng biện của Ngài—Ghosa, according to Eitel in The Dictionary
of Chinese-English Buddhist Terms, an arhat, famous for exegesis, who restored
the eyesight of Dharmavivardhana by washing his eyes with the tears of
people who were moved by his eloquence.
Diệu
Âm Đại Sĩ: See Diệu Âm Bồ Tát.
Diệu
Âm Điểu: Ca Lăng Tần Già, chim Diệu Âm, là loại chim quý
ở Ấn Độ, có tiếng kêu êm ái thanh nhã (người ta ví giọng
nói của Đức Phật như tiếng chim nầy)—The wonderful-voice
bird, the Kalavinka.
Diệu
Âm Nhạc Thiên Nữ: Sarasvati (skt)—Diệu Âm Nhạc Thiên Nữ
hay Biện Tài Thiên Nữ—The goddess of music and poetry or goddess
of eloquence. The goddess of speech and learning; also called the goddess
of rhetoric. She is represented in two forms:
1)
Vị có hai tay và một ống sáo: One with two arms and a lute.
2)
Vị có tám tay: One with eight arms.
Diệu
Âm Phật Mẫu: See Diệu Âm Nhạc Thiên.
Diệu
Âm Thiên: Sarasvati (skt)—See Diệu Âm Nhạc Thiên.
Diệu
Cao Sơn: The wonderful high mountain.
Diệu
Cao Sơn Vương: Núi Tu Di, dãy núi cao và thù diệu nhất—King
of the Wonderful High Mountain—Mount Sumeru.
Diệu
Cát Tường:
1)
Kỳ diệu và cát tường: Wonderful and auspicious.
2)
Ngài Văn Thù Sư Lợi: Manjusri (skt).
·
Diệu: Manju (skt).
·
Cát Tường: Sri (skt).
Diệu
Chân Như : Fundamental nature of all things—Totality.
Diệu
Chân Như Tính: Chân như là thực tướng của muôn pháp—The
profound nature of the Bhutatathata—The totality or fundamental nature
of all things.
Diệu
Dụng: Wonderful application.
Diệu
Đế: Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Sau khi
lên ngôi, vua Thiệu Trị cho xây dựng chùa Diệu Đế vào năm
1844 ngay trên nền nhà cũ của mình. Qui mô của chùa ban đầu
rất đồ sộ, nhưng đến năm 1953, chùa được trùng tu lại
với qui mô thu gọn như hiện nay—Name of an ancient temple in
Huế, Central Vietnam. After he assumed the throne, in 1844 king Thiệu
Trị had Diệu Đế temple built on the ground of his old living place.
The temple in the early time had an immense structure, but in 1953, the
temple was rebuilt in the shape as it has nowadays.
Diệu
Điển: Kinh điển nói về pháp huyền vi mầu nhiệm (Đại
Thừa)—The classics of the wonderful dharma (Mahayana).
Diệu
Độ: Quốc độ vi diệu, báo độ của Đức Phật hay là Tây
Phương Cực Lạc của Phật A Di Đà—The wonderful land—A Buddha’s
reward land, especialy the Western Paradise of Amitabha.
Diệu
Đức:
1)
Diệu Đức là nghĩa của thành Ca Tỳ La Vệ: The meaning of Kapilavastu.
2)
Diệu Đức còn có nghĩa là tên của Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi—Wonderful
virtue (title of Manjusri).
3)
Tên của một ngôi chùa ở Huế, Trung Việt. Chùa được xây
vào năm 1932 với một qui mô khiêm tốn, gồm hai ngôi ni xá
bằng tranh và một nhà giảng tạm. Năm 1936, chùa mới xây
chánh điện, đúc chuông, tượng. Năm 1948 xây hậu liêu. Năm
1971 dựng cổng tam quan—Name of a temple in Huế, Central Vietnam.
The temple was built in 1932 in a small structure with two thatched staff
houses and a temporary auditorium. It was not until 1936 that the main
hall was built and bells and statues founded. In 1948, the back house was
added. In 1971, the three-entrance gate was erected.
Diệu
Giả: Thâm nghĩa của vạn vật trong tam đế viên dung của
Thiên Thai Viên Giáo, như nước và sóng, để đối lại với
quan điểm “tam đế cách biệt” của Biệt Giáo—The profound
meaning of phenomenal of T’ien-T’ai, that they are the bhutatathata,
i.e. water and wave, as distinguished from the view of the Differentiated
Teaching.
Diệu
Giác:
1)
Diệu giác trong Phật giáo Đại thừa gồm tự giác, giác tha,
giác hạnh viên mãn (tự mình giác ngộ, giúp người giác ngộ,
giác ngộ tròn đầy)—Đây là quả vị thứ 52, cũng là quả
vị cuối cùng của một vị Bồ Tát trước khi thành Phật—The
fine state of truth—The wonderful enlightenment of Mahayana Buddhism,
consisting of self-enlightenment to enlighten others and Enlightenment
of Buddhahood—The fifty-second and the last stage of a bodhisattva before
becoming Buddha.
2)
Hòa Thượng Diệu Giác Hải Thuận, một trong những đại đệ
tử của Hòa Thượng Nhất Định, tăng cang chùa Diệu Đế—Most
Venerable Diệu Giác Hải Thuận, one of the most outstanding disciples
of Most Venerable Nhất Định. He was also a royal-recognized monk at
Diệu Đế Temple (see Tăng Cang).
Diệu
Giác Địa: Quả vị Diệu Giác hay quả vị Phật—The stage
of wonderful enlightenment—Buddhahood.
**
For more information, please see Diệu Giác
Diệu
Giác Tính: Tính chất hay bản chất thậm thâm của quả vị
Phật—The profound enlightened nature of the Buddha.
Diệu
Giác Vị: The Buddha-stage—The fruition of holiness—See Lục Tức
Phật (6).
Diệu
Giáo: Giáo lý thậm thâm kỳ diệu của Pháp Hoa—Admirable,
profound teaching (Lotus sutra).
Diệu
Hành: Hành động thâm diệu mà một thiện nghiệp được tạo
ra—The profound act by which a good karma is produced.
Diệu
Hiền: Subhadra (skt)—Vị Tăng nổi tiếng được nói đến
trong Tây Phương Du Ký—A famous monk mentioned in the Records of
Western Lands.
Diệu
Hiển Sơn: Núi Tu Di, có dáng vẻ thù diệu—The mountain of marvellous
appearance (Sumeru).
Diệu
Huệ: Sukshmamati (skt)—Trí huệ tinh diệu—Exquisite knowledge.
Diệu
Huyền: Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa—Kỳ diệu thậm
thâm—Wonderful and profound—See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú.
Diệu
Hữu: Cái “hữu” tuyệt đối (cái hữu phi hữu, cái có
mà không phải là có), đối lại với cái hiện hữu giả
hợp của vạn pháp—The absolute reality—Supernatural existence—Incomprehensible
entity, as contrasted with the superficial reality of phenomena.
**
For more information, please see Chân
Không.
Diệu
Hữu Tức Chân Không: Existence is Emptiness—Diệu hữu tức chân
không còn có nghĩa là Sự tức Lý, hay trong Sự đã có sẵn
Lý rồi—Existence is Emptiness means Practice is Theory or in Practice
there already exists Theory—See Lý Sự Viên Dung, and Tứ Pháp Giới
(3).
Diệu
Hỷ Quốc: The Happy Land.
Diệu
Hỷ Thế Giới: The realm of profound joy.
Diệu
Hỷ Túc Thiên: The heaven full of wonderful joy.
Diệu
Kiến:
1)
Cảnh kỳ diệu: The beautiful sight.
2)
Tên của bảy ngôi sao thuộc chòm sao Bắc Đẩu, được cai
trị bởi—Ursa Major ruled by:
·
Chư Bồ Tát: Bodhisattvas.
·
Chư Phật: Buddhas.
·
Có người nói Đức Thích Ca ngự trị ở đó: Some say Sakyamuni
who rules there.
·
Người khác lại cho rằng Bồ Tát Quán Âm: Others say Kuan-Yin.
·
Người khác lại cho là Phật Dược Sư: Others say Bhaisajya
Buddha.
·
Người khác nữa lại cho là Bảy vị Phật: Others say the seven
Buddhas.
Diệu
Lạc:
1)
Âm nhạc kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ: Wonderful music in the Pure
Land.
2)
Niềm vui sướng kỳ diệu nơi cõi Tịnh Độ hay Niết Bàn:
Wonderful joy in the Pure Land or Nirvana.
3)
Lục Tổ Thiên Thai: The sixth T’ien-T’ai patriarch.
Diệu
Liên Hoa: Liên Hoa Kỳ Diệu biểu hiện cho trí tuệ sáng suốt
thấu triệt chân lý của Phật, dù gần nơi thế giới nhiễm
tạp cũng không bị hoen ố—The wonderful lotus, symbol of the pure
wisdom of Buddha, unsullied in the midst of the impurity of the world—See
Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu
Minh: Cái tâm chân thực trong sáng tuyệt diệu hay trí tuệ
chân chính vô lậu đưa chúng sanh đến chỗ chấm dứt luân
hồi sanh tử—Profoundly enlightened mind or heart (the knowledge of
the finality of the stream of reincarnation).
Diệu
Môn: Pháp môn thù diệu hay cửa vào Niết Bàn—The wonderful
of the dharma—The door to the Nirvana.
**
For more information, please see Lục Diệu
Môn.
Diệu
Ngữ Tạng: Chân ngôn Đà La Ni—The storehouse of miraculous words,
mantras, dharanis, or magic spells of Shingon.
Diệu
Nhạc: Wonderful music in the Pure Land.
Diệu
Nhân: Nhân kỳ diệu—Giới luật của Bồ Tát (lục Ba La Mật)
như là những nhân đưa đến quả vị Phật—The profound cause—The
discipline of the bodhisattva (charity and the six paramitas, etc)
as producing the Buddha-fruit.
Diệu
Nhân Ni Sư: Nun Diệu Nhân (1041-1113)—Một Ni sư nổi tiếng
đất Thăng Long, Bắc Việt. Theo sách Thiền Uyển Tập Anh,
Ni sư tên là Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phùng Loát Vương,
được vua Lý Thánh Tông nuôi nấng trong cung từ lúc còn
nhỏ, sau gả cho cho người họ Lê, một viên quan Châu Mục
ở Chân Đằng. Khi chồng chết, bà xuất gia làm đệ tử của
Thiền Sư Chân Không ở Phù Đổng, pháp tử đời thứ 17 dòng
Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi. Bà trụ tại Ni viện Hương Hải ở
Tiên Du để hoằng hóa cho đến khi thị tịch vào năm 1113,
thọ 72 tuổi. Ni viện Hương Hải là Ni viện Phật Giáo đầu
tiên ở Việt Nam vào thời nhà Lý, Ni sư Diệu Nhân đã từng
trụ trì và hoằng hóa tại đây—A Vietnamese famous nun from
Thăng Long, North Vietnam. According to “Thiền Uyển Tập Anh,”
her worldly name was Ngọc Kiều. She was the eldest daughter of Phùng
Loát Vương. King Lý Thánh Tông adopted and raised her in the royal
court since she was young. When growing up she got married to a man whose
last name was Le, an official of Châu Mục rank in Chân Đằng. After
her husband’s death, she left home and became a disciple of Zen Master
Chân Không in Phù Đổng. She became the Dharma heir of the seventeenth
generation of the Vinitaruci Zen Sect. She stayed at nunnery Hương Hải
in Tiên Du to expand Buddhism until she passed away in 1113, at the age
of 72. It should be noted that Hương Hải nunnery was considered
the first Buddhist Institute for nuns in the Lý Dynasty. Bhikkhuni Diệu
Nhân was once Head of the nunnery.
Diệu
Pháp: Saddharma (skt)—Pháp thù thắng đệ nhất không thể nghĩ
bàn—The wonderful law or truth (Lotus sutra)—The Wonderful Dharma—Wonderful
Law which is beyond thought or discussion.
Diệu
Pháp Cung: Cung Diệu Pháp, nơi Đức Phật thường trụ—The
palace of the wonderful law in which the Buddha ever dwells.
Diệu
Pháp Đăng: Ánh sáng Diệu Pháp soi rọi bóng tối vô minh—The
lamp of the wonderful law shinning into the darkness of ignorance.
Diệu
Pháp Đường: Diệu Thiện Pháp Đường, tọa lạc tại góc
tây nam trên cung Trới Đao Lợi (ba mươi ba tầng Trời), nơi
ba mươi ba vị Trời họp bàn xem việc nào là chánh pháp, việc
nào không phải là chánh pháp—The hall of wonderful dharma, situated
in the south-west corner of Trayastrimsas heaven, where the thirty-three
devas discuss whether affairs are according to law or truth or the contrary.
Diệu
Pháp Hoa: See Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu
Pháp Liên Hoa: Diệu Pháp được Phật thuyết giảng trong kinh
Pháp Hoa, được xem như là một đại luân, được giải thích
như là nhân của “Nhất Thừa,” bao gồm toàn bộ chân lý
Phật pháp, so với phần giáo hay phương tiện thuyết mà Đức
Phật đã nói trước; tuy nhiên cả hai đều bao gồm trong trong
“Toàn Chân Giáo” của Đức Phật—Wonderful Law Lotus Flower
Sutra—The Sutra of the Lotus Flower of the Wonderful Law—The Lotus
of the True Law, or the Budha’s doctrine regarded as a great cakra or
wheel—The wonderful truth as found in the Lotus Sutra, the One Vehicle
Sutra, which is said to contain Buddha’s complete truth as compared with
his previous partial, or expedient teaching, but both are included
in this perfect truth.
**
For more information, please see Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa and Diệu Pháp Liên
Hoa Phẩm Phổ Môn in Appendix A (3).
Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh: Saddharmapundarika (skt)—Bồ Vân Phân Đà Lợi
Kinh—See Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh Huyền Nghĩa: See Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Văn
Cú.
Diệu
Pháp Liên Hoa Kinh Văn Cú: Ngài Trí Giả đời Tùy giải thích
chính văn của Kinh Liên Hoa—The commentaries and treatises on the
Suddharmapundarika Sutra, which composed and explained by master T’ien-T’ai
Chih-I.
Diệu
Pháp Luân: Bánh xe Diệu Pháp, hay giáo pháp do Phật khởi chuyển
được xem như là một đại luân kỳ diệu không thể nghĩ
bàn—The wheel of the wonderful law, Buddha’s doctrine regarded as
a great cakra or wheel, which is beyond thought and discussion.
Diệu
Pháp Nhứt Thừa: Một thừa duy nhứt của Diệu Pháp hay Toàn
Giáo Đại Thừa—The one vehicle of the Wonderful dharma, or perfect
Mahayana.
Diệu
Pháp Tạng: The treasury of the wonderful law.
Diệu
Pháp Thuyền: Thuyền Diệu pháp, có khả năng chuyển người
vượt qua biển đời sanh tử để đi đến Niết bàn—The
bark or boat of wonderful dharma, capable of transporting men over
the sea of life into nirvana.
Diệu
Quả: Kết quả kỳ diệu, như Bồ Đề và Niết Bàn—Wonderful
fruit, i.e bodhi, or enlightenment, or nirvana.
Diệu
Quán: Sự quán chiếu kỳ diệu (tam quán viên dung của Viên
Giáo)—The wonderful contemplation, the wonderful system of the three
T’ien-T’ai meditations—See Tam Quán.
Diệu
Quang: Varaprabha (skt).
1)
Ánh sáng kỳ diệu: Wonderful Light.
2)
Một kiếp tái sanh hồi xa xưa của Ngài Văn Thù: An ancient
incarnation of Manjusri.
Diệu
Quang Phật: Vị Phật thứ 930 trong một ngàn vị Phật hiện
kiếp—Suryarasmi, the 930th Buddha of the present kalpa.
Diệu
Sắc: Surupa—Tô Lâu Ba—Sắc tướng báo thân báo độ của
Phật là tuyệt diệu không thể nghĩ bàn—The wonderful form
or body (Buddha’s sambhogakaya and his Buddha-land).
Diệu
Sắc Thân Như Lai: Surupakaya Tathagata (skt)—Đức Phật A Súc
ở phương Đông đuợc kể đến khi làm phép bố thí cho ngạ
quỷ—Aksobhya, the Buddha of the East, who is thus addressed when offerings
are made to the hungry ghosts.
Diệu
Tàng: Bodhisattva Ruciraketu (skt)—Tên của một vị Bồ Tát—Name
of a Bodhisattva.
Diệu
Tàng Tướng Tam Muội: Dhvajagrakeyura (skt)—The ring on the top
of a standard—A degree of ecstatic meditation (mentioned in Lotus sutra).
Diệu
Tâm: Diệu tâm là tâm thể tuyệt diệu không thể nghĩ bàn,
nó vượt ra ngoài sự suy tưởng của nhân thiên, không còn
vướng mắc bởi có không, trong đó tất cả những ảo
tưởng tà vạy đều bị loại bỏ. Theo Thiên Thai Biệt Giáo,
thì đây chỉ giới hạn vào tâm Phật, trong khi Thiên Thai Viên
Giáo lại cho rằng đây là tâm của ngay cả những người
chưa giác ngộ—The wonderful and profound mind or heart which is beyond
human thought. The mind which clings to neither to nothingness nor to actuality—The
mind in which all erronuous imaginings have been removed. According to
to the Differentiated Teaching of the T’ien-T’ai school, limited this
to the mind of the Buddha, while the Perfect teaching universalized it
to include the unenlightened heart of all men.
Diệu
Thiện Công Chúa: Công Chúa Diệu Thiện, con gái thứ ba của
vua Trang Nghiêm, là hiện thân của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát—The
princess of wonderful goodness, name of Kuan-Yin as third daughter of King
Chuang-Yen.
Diệu
Thiện Pháp Đường: See Diệu Pháp Đường.
Diệu
Thiện Thế Giới:
1)
Thế giới thâm hỷ: The realm of profound joy.
2)
Xứ sở của Ngài Duy Ma Cật, người mà người ta tin là đồng
thời với Đức Phật: The country of Vimalakirti, who has stated
to have been a contemporary of sakyamuni.
Diệu
Thiện Túc Thiên: Cung Trời Đâu Suất, nơi có đầy niềm vui
kỳ diệu—Tushita, the heaven full of wonderful joy
Diệu
Thú: Cõi thú kỳ diệu, như được sanh ra làm người và được
tu theo giáo lý Đại Thừa—The wonderful destiny or metempsychosis,
i.e. that of Mahayana.
Diệu
Thừa: The Wonderful Yana—See Đại Thừa.
Diệu
Tí Bồ Tát: Subaku-kumara (skt)—Tô Bà Hô Đồng Tử—Vị Bồ
Tát có cánh tay kỳ diệu—The Bodhisattva of the wonderful arm.
Diệu
Tí Bồ Tát Kinh: Subahku-kumara Sutra (skt)—Kinh nói về Tô Bà
Hô Đồng Tử—The sutra mentioned about Subaku Bodhisattva.
Diệu
Tông: Tông phái huyền diệu thậm thâm, ý nói Liên Hoa Tông—Profound
principles (The Lotus sect).
Diệu
Trang Nghiêm Vương: Subhavyuha (skt)—Diệu Trang Vương, người
nổi tiếng vì là cha của Quán Âm (Trung Quốc), người đã
giết Quán Âm Diệu Thiện, nhưng lưỡi kiếm của đao phủ
bị gẫy nên không làm tổn hại được nàng. Hồn nàng Diệu
Thiện đi xuống địa phủ, nhưng địa phủ lập tức biến
thành thiên đường. Để cứu vãn địa ngục của ông ta,
Diêm Vương đưa nàng trở lại trần thế trên một hoa sen—Who
is reputed to be the father of Kuan-yin (China), who had killed her by
“stifling” because the sword of the executioner broke without hurting
her. Her spirit went to hell, but hell changed to paradise. Yama sent her
back to life to save his hell, when she was miraculously transported on
a Lotus flower to the island of P’u-T’o.
Diệu
Trang Nghiêm Vương Bản Sự Phẩm: Subhavyuha Sutra (skt)—Tên
phẩm thứ 27 trong 28 phẩm kinh Pháp Hoa, nói về Vua Diệu Trang
Nghiêm—The king who is the subject and title of the twenty-seventh chapter
in the 29 chapters of the Lotus Sutra.
**
For more information, please see Diệu
Trang Nghiêm Vương.
Diệu
Trí: Diệu trí của chư Phật—The wonderful Buddha-wisdom.
Diệu
Trung: Viên Giáo Diệu Trung hay chân như diễn tả sự hợp nhất
của vạn vật, để phân biệt với “Diệu Trung” của Thiên
Thai Biệt Giáo, nhấn mạnh đến tánh “không” và “giả
hợp” của vạn vật—The profound medium (madhya); the universal
life essence, the absolute, the bhutatathata which expresses the unity
of all things, i.e. the doctrine held by T’ien-T’ai as distinguished
from the Differentiated Teaching which holds the madhya dotrine but emphasizes
the dichotomy of the transcendental (không) and phenomenal (giả).
Diệu
Tú: Chòm sao thất hùng—These seven and the constellations, the celestial
orbs.
Diệu
Tuyệt: Excellent—Admirable.
Diệu
Tướng: Excellent appearance.
Diệu
Ứng: Sự đáp ứng kỳ diệu hay sự thị hiện của chư Phật
và chư Bồ Tát—The miraculous response—Self-manifestation of Buddhas
or bodhisattvas.
Diệu
Viên: Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa
được xây vào thế kỷ thứ 18, tọa lạc ở phía đông kinh
thành Huế, dựa lưng vào dãy núi Ngũ Phong. Năm 1926, phòng
họp được xây thêm. Năm 1963, chùa lại được trùng tu và
xây thêm tiền đường, thiền đường và hậu liêu—Name of
an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple was built in the
eighteenth century, located on Mount Ngũ Phong, east of Huế Citadel.
In 1926, a tiled roof was built instead of a thatched one. In 1953, the
temple was rebuilt, ameeting house was added. In 1963, the temple was rebuilt
again and added with an antechambre, a meditation hall and a back house.
Diệu
Vợi:
1)
Far away.
2)
Difficult—Complicated.
Diệu
Vô: Asat (skt)—Sự kỳ diệu của sự “không hiện hữu.”—The
mystery of non-existence.
Diệu
Xa: Cỗ xe kỳ diệu, được Phật nói đến trong Kinh Pháp Hoa—The
wonderful vehicles (in Lotus Sutra).
Diệu
Ý Bồ Tát: Manavaka—Tiền kiếp Phật Thích Ca, đệ tử của
Ngài Nhiên Đăng Cổ Phật—Sakyamuni in a previous incarnation as
disciple of Dipankara –Nhiên Đăng Phật.
Dịu
Giọng: To lower one’s voice—To lower one’s tone.
Dinh
Thự: Palace.
Dính
Chặt: Alagati (skt)—Bám chặt vào—To adhere to—To cling to.
Dính
Dáng: Concerned in—Connected.
Dính
Khắn: To adhere to.
Dính
Líu: To involve—To concern.
Dĩnh
Ngộ: Intelligent.
Dịp:
Occasion—Chance—Opportunity.
Dịp
May: Chance—Opportunity.
Dìu
Dắt: To guide—To lead—To conduct.
Dìu
Dịu: To calm down.
Dịu:
Soft—Sweet.
Dịu
Dàng: Graceful—Sweet.
Dịu
Giọng: To lower one’s voice.
Do:
1)
Con cù lần: A kind of monkey.
2)
Do bởi: From—By.
3)
Do dự: Doubtful.
4)
Nguyên Do: A cause—A motive.
Do
Bởi: Affected by.
Do
Dự: To hesitate—To be reclutant.
Do
Người Khác Trình Bày: Shown by others.
Do
Nơi: To be due to.
Do
Thái: Israel.
Do
Thái Giáo: Judaism.
Do
Tuần: Yojana (skt).
1)
Ngày tuần hành của binh lính vương triều thời xưa: Described
as anciently a royal day’s march for the army.
2)
Du Thiện Na: Du Xả Na—Du Diên Na—Du Kiện Đà La—Đơn vị
đo lường thời cổ tương đương với 8 câu xá lư (tương
đương với 18 dậm Anh hay 60 dậm Tàu)—An ancient measurement
unit which equal to 8 krosas (which is equivalent to 18 English miles,
or 60 Chinese miles).
·
Một do tuần thời cổ tương đương với 40 dậm: Ancient Yojana
is equal to 40 miles.
·
Do tuần của Ấn Độ tương đương với 30 dậm: An Indian Yojana
is equivalent with 30 miles.
·
Theo Thánh Điển thì một do tuần tương đương với 16 dậm:
According to the scriptures, a yojana is equivalen to 16 miles.
Do
Vị Định: Vẫn chưa định tĩnh—Still unsettled—Uncertain.
Dò
hỏi: To seek information.
Dò
la: To get (obtain) information.
Dò
thăm: To make an inquiry about.
Dọa:
To threaten—To menace.
Doãn
Kham: Một Danh Tăng đời Tống—A famous monk of the Sung dynasty.
Doãn
Nhược: Một Danh Tăng đời nhà Nguyên—A famous monk of the Yuan
dynasty.
Dóc:
To lie.
Dọc
Đường: On the way.
Dòm
Chừng: To watch.
Dòm
Lén: To look furtively.
Dòm
Ngó: To look at.
Dọn
Đường: To open up (clear) a path.
Dọn
Ra: To move out.
Dọn
Sạch: To clean up.
Dọn
Vào: To move in.
Dòng
Dõi: Lineage.
Dòng
Dõi Hoàng Tộc: Royal lineage.
Dòng
Họ: Family.
Dòng
Tâm: Citta-dhara (skt)—Flow of mind or thoughts.
Dõng
Dạc: Sedately.
Dỗ
Ngọt: To begule by sweet promises.
Dốc
Chí: To do one’s utmost—To do with all one’s heart.
Dốc
Đứng: Steep slope.
Dốc
Lên: Upward slope.
Dốc
Xuống: Downward slope.
Dối
Trá: Deceitful—False.
Dồi
Dào: Abundant—Plentiful—Exuberant.
Dội
Ngược: To bounce back.
Dồn:
To accummulate—To cummulate—To gather.
Dông
Dài: Lengthy—Wordy.
Dông
Tố: Stormy.
Dốt:
Ignorant—unlettered—Illiterate—Uninstructed.
Dốt
Đặc: Completely ignorant.
Dột:
To leak.
Dơ:
Dirty—Unclean—Filthy—Foul.
Dơ
Bẩn: Unclean—Dirty.
Dơ
Mắt: Unpleasant to the eyes.
Dơû:
Bad.
Dở
Chừng: See Dở dang.
Dở
Dang: Unfinished—Uncompleted—Half-done.
Dời
Đổi: To move—To change.
Dời
Lại: To postpone—To put off.
Du:
1)
Bơi lội: To swim.
2)
Dẫn tới—To draw out.
3)
Du lịch: Bhramyati (skt)—To travel.
4)
Leo vuợt qua: To pass over—To go beyond—To exceed.
5)
Ngọc lóng lánh: Lustre of gems—A beautiful stone.
Du
Đa La Tăng Già: Uttarasanga (skt)—See U Đa La Tăng Già.
Du
Già: See Yoga in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Du
Già A Xà Lê: Yogacara (skt)—Vị thầy dạy giáo thuyết của
trường phái Du Già (của cải của một vị sư Du Già gồm
một cây gậy linh, một bầu nước, một mảnh da để trải
ngồi và nằm. Luôn giữ tịnh giới, tuyệt không dâm dục,
chỉ ăn lúc mặt trời lặn, và chỉ ăn phần ăn vừa để
trọn trong lòng bàn tay, mỗi tháng cạo râu tóc một lần,
sống bằng cách khất thực. Sư Du Già coi mọi chúng sanh như
nhau, xa lánh thế sự, gìn giữ giác quan, diệt tận sân hận,
tham lam và dâm dục, dứt bỏ mọi phiền não)—A teacher,
or master of, or of Vijnanavada Sect.
Du
Già Chi La: Ukkacela (skt)—Một nơi không ai biết—A place unknown.
Du
Già Chỉ: Yogin (skt)—See Du Già Kỳ.
Du
Già Kỳ: Yogin (skt)—Hành giả tu theo pháp Du Già—One who practises
yoga.
Du
Già Sư: See Du Già A Xà Lê.
Du
Già Sư Địa Luận: Yogacaryabhumi-sastra (skt)—Người ta nói
Bồ Tát Di Lặc đã đọc cho ngài Vô Trước chép lại trên
cõi trời Đâu Suất, ngài Huyền Trang đã dịch sang Hoa Ngữ.
Đây là giáo thuyết của trường phái Du Già (giáo thuyết
chính của Du Già cho rằng đối tượng khách quan chỉ là hiện
tượng giả hiện của thức A Lại Da là tâm thức căn bản
của con người. Cần phải xa lìa quan niệm đối lập hữu
vô, tồn tại và phi tồn tại, thì mới có thể ngộ nhập
được trung đạo)—The work of Asanga, said to have been dictated
to him in or from the Tusita heaven by Maitreya, translated by Hsuan-Tsang,
is the foundation text of this school.
Du
Già Sư Địa Luận Thích: Bộ sách giải thích và phê bình
bộ Du Già Sư Địa Luận, do ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát soạn,
ngài Huyền Trang dịch sang Hoa ngữ—A commentary on the Yogacaryabhmi-sastra,
composed by Jinaputra, translated into Chinese by Hsuan-Tsang.
Du
Già Tam Mật: Ba phương cách tu trì của phái Du Già. Du Già
nghĩa là tương ứng, tam mật là ba nghiệp thân, khẩu, ý.
Tay kết ấn, miệng đọc thần chú chân ngôn, ý tưởng niệm
bổn tôn Đức Đại Nhật Như Lai—The three esoteric means of
Yoga. The older practice of meditation as a means obtaining spiritual or
magical power as distorted in Tantrism to exorcism, sorcery, and juggling
in general. These are mutual relations of hand, mouth, and mind referring
to manifestation, incantation, and mental operation thinking of the original
Vairocana Buddha.
Du
Già Tông: Yogacara or Vijnanavada (skt).
(A)
Lịch sử thành lập Du Già tông—The history of formation of the
Yogacara school: Trường phái Duy Thứ Du Già là một nhánh quan
trọng khác của phái Đại Thừa. Theo Keith trong Trung Anh Phật
Học Từ Điển, còn gọi là Du Già phái, tên gọi chung của
Mật giáo. Giáo thuyết Du Già do ngài Pantajali sáng lập vào
thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch, sau đó được ngài Vô
trước thành lập tông phái Du Già vào thế kỷ thứ tư sau
Tây Lịch. Ngài Huyền Trang là một đệ tử và một người
bênh vực triệt để cho tông phái nầy (ông đã dịch bộ
Du Già Sư Địa Luận của ngài Tối Thắng Tử Bồ Tát). Nhưng
theo Giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, Du Già
tông được ngài Maitreya hay Maitreyanatha sáng lập vào thế
kỷ thứ ba sau Tây Lịch—The Yogacara school is another important
branch of the Mahayana. According to Keith in the Chinese-English Buddhist
Terms, tantric or esoteric sect, the principles of Yoga are accredited
to Pantajali in second century B.C., later founded as a school in Buddhism
by Asanga in the fourth century A.D. Hsuan-Tsang became a disciple and
advocate of this school. However, according to Prof. Bapat in the Twenty-Five
Hundred Years of Buddhism, the Yogacara school was founded by Maitreya
or Maitreyanatha in the third century A.D.
(B)
Giáo thuyết và thực hành của Du Già tông—Theory and practice
of the Yogacara school:
a)
Phái Duy Thức Du Già thừa nhận ba cấp độ kiến thức—The
Yogacara recognizes three degrees of knowledge—See Ba Cấp Độ Kiến
Thức.
b)
Trường phái nầy có tên là Duy Thức Du Già (Yogacara) vì chú
trọng vào việc luyện tập thiền làm phương pháp hữu hiệu
nhất để đạt đến chân lý tối cao (bodhi). Phải đi qua
‘Thập Địa’ của quả vị Bồ Tát mới đạt đến Bồ
Đề: The Yogacara was so called because it emphasized the practice of
meditation (yoga) as the most effective method for the attainment of the
highest truth or bodhi. All the ten stages of spiritual progress (dasa
bhumi) of Bodhisatvahod had to be passed through before bodhi could be
attained.
c)
Trường phái nầy còn có tên là Duy Thức vì chủ trương rằng
không có gì ngoài ý thức và ý thức là thực tại cuối cùng.
Tóm lại, trường phái nầy dạy cho người ta chủ nghĩa duy
tâm chủ quan, nghĩa là chỉ có ý tưởng là có thật: The school
is also known as the Vijnanavada on account of the fact that it holds nothing
but consciousness (vijnaptimatra) to be the ultimate reality. In short,
it teaches subjective idealism, or that thought alone is real.
d)
Tên Du Già (Yogacara) cho thấy rõ khía cạnh thực hành của
triết lý nầy, còn tên Duy Thức (Vijnanavada) làm nổi bậc
các đặc điểm lý thuyết kinh Lăng Già (Lankavatara Sutra), một
cuốn sách quan trọng của trường phái nầy, cho rằng
chỉ có tâm ý (cittamatra) là có thực, còn những vật thể
bên ngoài thì không. Những vật thể nầy không có thực, chúng
như là mộng mơ ảo ảnh. Tâm ý ở đây khác với A Lại Da
thức, vốn chỉ là kho chứa đựng ý thức, tạo đối tượng
cho sự đối ngẫu chủ thể và đối tượng: The Yogacara brings
out the practical side of philosophy, while the Vijnanavada brings out
its speculative features. The Lankavatara Sutra, an important work of this
school, maintains that only the mind (cittamatra) is real, while external
objects are not. They are unreal like dreams, mirages and ‘sky-flowers.’
Cittamatra, in this case, is different from alayavijnana which is the repository
of consciousness underlying the subject-object duality.
e)
Cuốn Duy Thức Học của ngài Thế Thân là cuốn sách cơ bản
của hệ tư tưởng nầy. Sách bác bỏ mọi sự tin tưởng
vào thực tại của thế giới khách quan, cho rằng chỉ có
tâm (citta) hay thức (vijnana) mới là thực tại duy nhất, còn
trong thức a-lại-da thì có chứa mầm mống các hiện tượng,
cả chủ quan và khách quan. Giống như một dòng nước chảy,
thức a-lại-da là một dòng ý thức luôn biến động. Khi đã
chứng đắc Phật quả thì dòng chảy kia sẽ ngưng lại. Theo
Sthiramati, nhà bình giải các tác phẩm của Thế Thân, thì
a-lại-da chứa đựng chủng tử của vạn pháp, bao gồm cả
các pháp tạo ra bất tịnh. Nói cách khác, vạn pháp hiện
hữu trong a-lại-da thức dưới trạng thái tiềm tàng. Các
nhà Duy Thức Du Già còn nói rằng người tinh thông tất sẽ
hiểu được sự ‘không hiện hữu của ngã thể’ (pudgala-nairatmya)
và sự ‘không hiện hữu của vạn vật thế gian’ (dharma-nairatmya).
Sự không hiện hữu của ngã thể sẽ được thực hiện qua
sự xóa bỏ ham muốn (klesavarana), và sự không hiện hữu của
vạn vật thế gian sẽ được thực hiện qua sự cắt bỏ
bức màn che phủ chân kiến thức (jneyavarana). Cả hai kiểu
không thực tại nầy (Nairatmya) đều rất cần thiết để
đi đến giải thoát: Vasubandhu’s Vijnaptimatrata-siddhi is
the basic work of this system. It repudiates all belief in the reality
of the objective world, maintaining that citta or vijnana is the only reality,
while the alyavijnana contains the seeds of phenomena, both subjective
and objective. Like flowing water, alayavijnana is a constantly changing
stream of consciousness. With the realization of Buddhahood, its course
stops at once. According to Sthiramati, the commentator on Vasubandhu’s
works, alya contains the seeds of all dharmas including those which produce
impurities. In other words, all dharma exist in alayavijnana in a potential
state. The Yogacarins further state that an adept should comprehend the
non-existence of self (pudgala-nairatmya), and the non-existence of things
of the world (dharma-nairatmya). The former is realized through the removal
of passions (klesavarana), and the latter by the removal of the veil that
covers the true knowledge (jneyavarana). Both these nairatmyas are necessary
for the attainment of emancipation.
(C)
Sự phát triển của Du Già tông—The development of the Yogacara
school: Các luận sư nổi tiếng của trường phái nầy là Vô
Trước là Vô Trước và Thế Thân vào thế kỷ thứ tư, An
Huệ và Trần Na vào thế kỷ thứ năm, Pháp trì và Pháp Xứng
vào thế kỷ thứ bảy, Tịch Hộ và Liên Hoa Giới vào thế
kỷ thứ tám, vân vân tiếp tục sự nghiệp của người sáng
lập bằng những tách phẩm của họ và đã đưa trường phái
nầy đến một trình độ caoTrường phái nầy đạt đến
đỉnh cao ảnh hưởng trong thời kỳ của Vô Trước và Thế
Thân. Tên gọi Du Già Hành Tông là do Vô Trước đặt, còn
tên Duy Thức thì được Thế Thân xử dụng—Noted teachers
in the school such as Asanga and Vasubandhu in the fourth century, Sthiramti
and Dinnaga in the fifth century, Dharmapala and Dharmakirti in the seventh
century, Santaraksita and Kamalasila in the eighth century, etc. These
famous monks continued the work of the founder by their writings and raised
the school to a high level. The school reached its summit of its power
and influence in the days of Asanga and Vasubandhu. The appellation Yogacara
was given by Asanga, while the term Vijnanavada was used by Vasubandhu.
Du
Hành: To travel—To roam—To wander.
Du
Hóa: Du hành khắp chốn để giáo hóa chúng sanh—To go about
teaching and converting sentient beings.
Du
Hư Không Thiên:
1)
Du hành trong hư không, như các Nhật Thần, Nguyệt Thần, hay
Tinh Tú Thần: To roam in space, as do the devas of the sun, moon, stars,
etc.
2)
Tứ Thiền Thiên: The four upper devalokas.
Du
Hý: Vikridita (skt)—Nguyên nghĩa là đi tìm niềm vui. Đây là
một khái niệm quan trọng miêu tả cuộc sống của một vị
Bồ Tát thoát khỏi mọi hình thức câu thúc và cưỡng
ép. Nó giống như đời sống của loài thiên nga trên không
trung và của loài hoa huệ ngoài đồng. Tuy vật, ngài lại
có một tấm lòng từ bi rộng lớn luôn vận hành một cách
tự tại và viên mãn—Literally means sportive (to entertain play,
or sport, to amuse, or to roam for pleasure). This is an important conception
describing the life of a Bodhisattva, which is free from every form
of constraint and restraint. It is like that of the swans in the air and
the lilies of the field. And yet there is in him a great compassionate
heart functioning all the time freely and self-sufficiently.
Du
Hý Tam Muội: Chuyên tâm của chư Phật và chư Bồ Tát là cứu
độ chúng anh thoát khổ—The resolve of Buddhas and Bodhisattvas
is to save sentient beings.
Du
Hý Thần Thông: Chư Phật và chư Bồ Tát dùng thần thông giáo
hóa chúng sanh thoát khổ—The supernatural powers in which Buddhas
and Bodhisattvas indulge, or take their pleasure.
Du
Khách: Tourist.
Du
Kiện Đà La: Yugandhara (skt)—See Du Kiện Đạt La.
Du
Kiện Đạt La: Yugandhara (skt)—Du Xà Na.
1)
See Do Tuần in Vietnamese-English Section, and Yojana in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
2)
Tên một ngọn núi ở bắc Thiên Trúc (trên đỉnh có hai mô
tròn giống như hai vết bánh xe nên có tên như vậy): Name of
a mountain in north India.
3)
Vòng núi đầu tiên trong bảy vòng núi bao quanh núi Tu Di: The
first of the seven concentric circles around Meru.
Du
Mục: Normadic life.
Du
Ngoạn: To make an excursion.
Du
Nhập: To import.
Du
Phương: Đi từ nơi nầy đến nơi khác (để hoằng hóa), chứ
không dừng trụ lại nơi nào—To wander from place to place.
Du
Sơn: Du hành từ tự viện nầy sang tự viện khác, chứ không
trụ trì một chỗ cố định—To go from monastery to monastery;
ramble about the hills.
Du
Tăng Địa Ngục: Mười sáu địa ngục phụ của mỗi Bát
Nhiệt Địa Ngục (trong Bát Nhiệt Địa Ngục, thì từng địa
ngục lớn lại có 16 địa ngục nhỏ. Ngoài mỗi bên thành
địa ngục nóng lớn có bốn nơi gọi là lô ổi tăng, thi
phẩn tăng, phong nhận tăng, và liệt hà tăng, như vậy bốn
bên có 16, và tổng cộng tám địa ngục lớn có 128 “du tăng
địa ngục.” Sở dĩ gọi là “du tăng” vì đi từ nơi nầy
qua nơi kế tiếp thì hình phạt ngày càng tăng)—The sixteen
subsidiary hells of each of the eight hot hells.
Du
Tâm Pháp Giới: Để cho tâm tự tại chu du trong pháp giới
như trong hư không mà không bị vướng mắc, để thấy rõ
thiên sai vạn biệt, ấy là tâm giải thoát—A mind free to wander
in the realm of all things; that realm as the realm of liberated mind.
Du
Thời: Vượt quá mức thời gian ấn định—To exceed the time.
Du
Thuyết: To go about to talk or to preach a doctrine.
Du
Tuần: Yojana (skt)—See Do Tuần.
Du
Việt: Vượt qua—To pass over.
Dù:
Anyway—Anyhow—No matter what.
Dù
Tu Thiền Hay Tịnh Độ, Người Tu Không Nên An Hưởng Trên
Phước Báo Nhơn Thiên, Mà Phải Quyết Chí Giác Ngộ Để Thành
Phật: No matter what Dharma-door you are practicing, Zen or the Pure
Land, you should not enjoy the human or deva bless, but try hard to enter
enlightenment and to become a Buddha.
Dụ:
1)
Một trong ba điều suy luận, lấy thí dụ làm điều suy luận:
One of the three branches in stating a syllogism, the example or drstanta
in a syllogism—See Tông Nhân Dụ.
2)
Thí dụ—An example—An illustrate.
Dụ
Dỗ: To entice—To seduce.
Dụ
Y: Phép dụ của Nhân Minh Luận, chia dụ ra làm hai nghĩa, dụ
y và dụ thể. Lấy vật thể làm chỗ dựa vào của dụ thì
gọi là “dụ y,” như cái bình, cái chay; đối lại với
việc lấy nghĩa lý của việc muốn dụ là “dụ thể,”
như cái bình vô thường hay không vĩnh cửu—The subject of the
example, e.g. a vase, a botle; as contrasted with the predicate, e.g. the
vase is not eternal.
Dua
Nịnh: To flatter
Dục:
(I)
Nghĩa của “dục”—The meanings of “desire”
1)
Lòng ham muốn hay sự nhiễm ái trần: Rajas (skt)—Passion—Desire—Love—Inordinate
desire—Lust. Interpreted as “tainted with the dust or dirt of love,
or lust.
2)
Nuôi dưỡng: To rear—To nurture.
3)
Tắm: To bathe—To wash.
(II)
Phân loại “dục”—Categories of “desire”
(A)
Tam Dục—The three desires:
1)
Hình mạo dục: Desire for beauty.
2)
Uy nghi tư thái dục: Desire for demeanour.
3)
Tế xúc dục: Desire for softness.
(B)
Ngũ Dục—The five desires:
1)
Sắc dục: Desire for colour.
2)
Thanh dục: Desire for sound.
3)
Hương dục: Desire for smell.
4)
Vị dục: desire for taste.
5)
Xúc dục: Desire for touch.
**
For more information, please see Ngũ Dục.
(C)
Lục Dục: The six desires—See Lục Dục.
Dục
Ái: Phàm phu tham ái với cảnh ngũ dục hay ái dục thường
tình khởi phát từ dục vọng, ngược lại với Pháp ái—To
hanker after—Desire—Ordinary human love springing from desire, in contrast
with religious love (Pháp ái)—Passion-love—Love inspired by desire
through any of the five senses—Love in the passion realm.
**
For more information, please see Pháp Ái.
Dục
Ái Trụ Địa: Một trong năm trụ địa (trong các tư hoặc,
ái là quan trọng nhất)—One of the five fundamental conditions of
the passions.
**
For more information, please see Ngũ Trụ
Địa.
Dục
Anh: To bring up children.
Dục
Câu: Lưỡi câu ái dục mà chư Bồ tát dùng để hấp dẫn
chúng sanh, để rồi sau đó đưa họ vào con đường tu tập
giác ngộ—The hook of desire; the bodhisattva attracts men through
desire, and then draws them to the enlightenment of Buddha.
Dục
Cổ:
1)
Trống báo nghi lễ “mộc dục” hay việc tắm Phật trong
tự viện: The bathing-drum, announcing the time for the ceremony of
“washing the Buddha image.”
2)
Trống nầy cũng dùng để báo hiệu giờ tắm trong thiền lâm:
This is also the bathing-drum for announcing the time for washing in the
Ch’an monasteries.
Dục
Cúc: See Dục Anh.
Dục
Đa Bà Đề: Yukta-bodhi (skt)—Những bước đạt đến trí huệ
trong Thiền Yoga—Steps in Yoga wisdom.
Dục
Đầu: Vị sư phụ trách nhà tắm trong tự viện—Bath-controller
in a monastery.
Dục
Để: Yukti (skt).
1)
Ách: Yoking.
2)
Phối hợp: Joining—Combination—Plan.
Dục
Đức: To nourish one’s virtue
Dục
Giác: Sự tỉnh thức về lòng tham—The consciousness of desire—Passion-consciousness.
Dục
Giới: Kamadhatu (skt).
(I)
Nghĩa của Dục Giới—The meaning of “Kamadhatu”
1)
Dục giới là một trong tam giới, nơi đó có đầy dẫy những
thứ ham muốn—Realm of desire or sensual realm—Human world—Desire
world—Passion world—Passions. One of the three realms. Realm of desire
is a realm where there exists all kinds of desires:
a)
Sắc Dục: Desire for sex.
b)
Thực Dục: Desire for food.
c)
Thùy Dục: Desire for sleep.
d)
Danh Dục: Desire for fame.
e)
Tài Dục: Desire for talents.
(II)
Phân loại Dục Giới. Dục giới được chia thành 20 khu vực
khác nhau. Gọi là chúng sanh trong cõi dục giới vì chúng sanh
trong cõi nầy luôn bị dục vọng chế ngự—Categories of “Kamadhatu.”
The realm of desire is divided into 20 different regions. Beings in the
realm of desire (so called because the beings in these states are dominated
by desire):
(A)
Chư Thiên trong sáu cõi trời dục giới: Kamadeva (skt)—Devas
in the six heavens of desire.
1)
Cõi Dạ Ma Thiên: Yamah—See Dạ Ma Thiên.
2)
Cõi Tứ Thiên Vương Thiên: Caturmaharajakayika.
a)
Trì Quốc Thiên Vương: Đông Thiên Vương—Dhrtarastra, in the
east.
b)
Tăng Trưởng Thiên: Nam Thiên Vương—Virudhaka, in the south.
c)
Quảng Mục Thiên Vương: Tây Thiên Vương—Virupaksa, in the west.
d)
Đa Văn Thiên Vương: Bắc Thiên Vương—Vaisramana (Dhanada), in
the north.
**
For more information, please see Tứ
Thiên Vương.
3)
Cõi Đao Lợi Thiên: Trayastrimsah—See Đao Lợi Thiên.
4)
Cõi Đâu Suất Thiên: Tusita—See Đâu Suất.
5)
Cõi Hóa Lạc Thiên: Nirmanarati—See Hóa Lạc Thiên.
6)
Cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên: Paranirmitavasavartin—See Tha Hóa Tự
Tại Thiên.
(B)
Nhân gian trong Tứ Châu—Beings in the four continents—See Tứ
Châu.
(C)
Súc Sanh: Tiryagyoni (skt)—See Súc Sanh and Súc Sanh Thú.
(D)
Ngạ Quỷ: Preta-gati (skt)—Hungry ghosts—See Ngạ Quỷ.
(E)
Địa Ngục: Naraka (skt)—See Địa Ngục.
Dục
Giới Thiên: Heavens of desire. There are several in this realm—See
Dục Giới (C).
Dục
Hà: Dòng sông dục vọng, nhận chìm chúng sanh—The river of
desire or lust (which drowns).
Dục
Hải: Biển dục vọng thâm sâu và bao la, không đáy và
vô bờ bến—The ocean (sea) of desires, so called because of its extent
and depth.
Dục
Hoa: Yukta (skt)—Một loại Thiên hoa—A kind of celestial flower.
Dục
Hỏa: Lửa dục—The fire of desire.
Dục
Hữu: Một trong tam hữu—The realm of desire, one of the three kinds
of existence.
**
For more information, please see Tam Hữu.
Dục
Hữu Kiến Vô Minh: Bốn phần tử gây nên khổ đau phiền não,
hay kết thành lậu hoặc—The four constituents which produce affliction
(distress or pain) or make up the contents of evil outflow (asvrava).
(A)
Dục: Kama (skt)—See Dục.
(B)
Hữu: Bhava (skt)—See Hữu, and Tam Hữu.
(C)
Kiến: Drsti (skt)—See Kiến.
(D)
Vô Minh: Avidya (skt)—See Vô Minh.
Dục
Khí: Ảnh hưởng của dục vọng—Desire-breath, passion-influence,
the spirit or influence of desire, lust.
Dục
Khổ:
1)
Sự khổ đau gây ra bởi lòng tham dục: The sufferings of desire.
2)
Sự khổ đau trong dục giới: The sufferings in desire-realms.
Dục
Kim Cang: See Dục Tiển (2).
Dục
Lạc: Lạc thú ngũ dục—Sensual pleasures—Joy of the five desires
Dục
Lạc Trần Tục: Common desire.
Dục
Lậu: Dòng luân hồi sanh tử bị khuấy lên bởi tham dục,
tà kiến, và tà tư—The stream or flow of existence, evoked by desire
interpenetrated by unenlightened views and thoughts (these stimulating
desires produce karma which in turn produces reincarnation).
**
For more information, please see Tam Lậu
Hoặc.
Dục
Lưu:
1)
Dòng thác tham dục, một trong tứ lưu, như tư hoặc, tham, sân,
si, vân vân, giữ mãi cá nhân trong vòng dục giới—The stream
of the passion, one of the four currents that carry the thinking along,
i.e. the illusions of cupidity, anger, etc., which keep the individual
in the realm of desire.
2)
Việc sống chết trong dòng luân hồi sanh tử (ba cõi) trong
dục giới: The stream of transmigration, which results from desire.
Dục
Ma: Ma tham dục—The evil demon of lust.
Dục
Nê: Vũng bùn dục vọng—The mire of desire, or lust.
Dục
Nhiễm: Sự nhiễm trược của dục vọng—The tainting, or contaminating
influence of desire.
**
For more information, please see Ngũ Dục.
Dục
Phật: Lễ tắm Phật vào ngày Phật Đản, rằm tháng tư—To
wash the image of the Buddha; this is a ceremony on his birthday, 15th
of the fourth month.
Dục
Sắc:
1)
Dục và sắc: The passion and the sensuous.
2)
Dục Sắc Nhị Giới: Dục giới và Sắc giới trong tam giới:
The two realms of desire and form.
Dục
Sắc Nhị Giới: See Dục Sắc (2).
Dục
Tà Hạnh: Tà dâm hay tà hạnh là giới cấm trong ngũ giới—Adultrous
conduct, which is prohibited in the five basic commandments.
Dục
Tâm: Tâm tham dục—A desirous, covetous, passionate, or lustful heart.
Dục
Tham: Craving.
1)
Dục vọng và ham muốn: Desire and coveting.
2)
Ham muốn là kết quả của dục vọng: Coveting as the result of
passion.
Dục
Thành: To bring forth—To create.
Dục
Thất: Nhà tắm trong tự viện—A bath-house in a monastery.
Dục
Thích: Những mũi kim nhọn của lòng tham dục—The sharp point
of desire.
Dục
Thiên: Kamadhatu (skt)—Lục Dục Thiên của cõi Dục Giới—The
six heavens of desire or passion.
**
For more information, please see Dục Giới
(C).
Dục
Thiên Ngũ Dâm: Năm loại giao cấu trong cõi trời dục giới—The
five methods of sexual intercourse in the heavens of desire.
1)
Chúng sanh trong cõi Tứ Thiên Vương và Đao Lợi Thiên thì việc
dâm dục không khác gì ở thế giới nhân gian: The methods (of
sexual intercourse) of beings in the heavens of the Four Great Kings and
Trayastrimsas the method is the same as on earth.
2)
Chúng sanh trong cõi trời Dạ Ma chỉ cần ôm nhau là đủ: The
methods (of sexual intercourse) of beings in the Yamadevaloka a mere embrace
is sufficient.
3)
Chúng sanh trong cõi trời Đâu Suất chỉ cần nắm tay nhau:
The methods (of sexual intercourse) of beings in the Tusita heaven, holding
hands.
4)
Chúng sanh trong cõi trời Hóa Lạc chỉ cần cười với nhau:
The methods (of sexual intercourse) of beings in the nirmanarati heaven,
mutual smiles.
5)
Chúng sanh trong cõi trời Tha Hóa chỉ cần nhìn nhau: The methods
(of sexual intercourse) of beings in the other heavens of transformation,
regarding each other.
Dục
Tiển:
1)
Những mũi tên của lòng tham dục—The arrows of desire, or lust.
2)
Dục Kim Cang: Những mũi tên Kim Cang của Bồ Tát, dùng để
câu móc và lôi kéo chúng sanh về với Phật—The darts of the
Bodhisattva, who hooks and draws all beings to Buddha.
Dục
Tính: The lust—Desire-nature.
Dục
Tình: Passion.
Dục
Tốc Bất Đạt: The more you hurry, the less progress you will make.
Dục
Trần: Năm dục làm bẩn thân tâm như bụi trần—The dust or
dirt, or the infection of the passions.
(A)
Lục Dục: The six desires—See Lục Dục.
(B)
Ngũ Trần: Five gunas (dusts)—See Ngũ Trần.
Dục
Tri: Wanting to know.
Dục
Tượng: See Dục Phật.
Dục
Vọng:
(I)
Nghĩa của “Dục Vọng”—The meanings of “Dục Vọng”
Ham
muốn—Passion—Desire—Lust—Kềm chế dục vọng: To command
one’s passions—To bridle on one’s passions.
(II)
Những lời Phật dạy về “Dục Vọng” trong Kinh Pháp Cú—The
Buddha’s teachings on “Passion” in the Dharmapada Sutra:
1)
Những người chỉ muốn sống trong khoái lạc, không chịu
nhiếp hộ các căn, ăn uống vô độ, biếng nhác chẳng tinh
cần, họ là người dễ bị ma nhiếp phục như cành mềm trước
cơn gió—Those who only want to live with pleasant things, with senses
unrestrained, in food immoderate, indolent, inactive, are quickly
overthrown by the mara as a weak tree breaks before a big wind (Dharmapada
7).
2)
Những người nguyện ở trong cảnh chẳng khoái lạc, khôn
khéo nhiếp hộ các căn, uống ăn tiết độ, vững tin và siêng
năng, ma không dễ gì thắng họ, như gió thổi núi đá—Those
who contemplate “impurities,” with senses restrained, moderate in food,
faithful and active, mara cannot overthrow him as it’s impossible for
the wind to overthrow a rocky mountain (Dharmapada 8).
Dục
Vọng Căn Bản: Base passion.
Dụm:
Dành dụm—To economize—To save.
Dung:
1)
Dung chứa: To conain—To bear.
2)
Dung dị: Dễ dàng—Easy.
3)
Dung mạo: Looks—Appearance.
4)
Dung túng: To allow.
5)
Nấu cho tan chảy ra—Melting—Blending—Combining.
Dung
Dị: Easy.
Dung
Dịch: Solution.
Dung
Hòa: To harmonize.
Dung
Hứa: To allow—To permit.
Dung
Hữu Thích: Giải thích kinh điển, dù không phải là nghĩa
trực tiếp nhưng có thể chấp nhận được vì chứa đựng
chánh nghĩa của kinh điển—An admissable though indirect interpretation;
containing that meaning.
Dung
Lượng: Content—Capacity.
Dung
Mạo: Countenance—Figure--Face.
Dung
Nạp: To accept—To admit.
Dung
Ngôn: Trivial words.
Dung
Nhan: Appearance—Countenance.
Dung
Thân: To take refuge in—Dung thân nơi cửa Phật: To take refuge
in the temple.
Dung
Thông: Trộn cái này với cái kia cho hòa hợp nhau không còn
sai biệt—To blend—To combine—To mix—To assemble—To unite.
Dung
Thứ: To forgive—To pardon—To excuse.
Dung
Túng: To tolerate evil doings.
Dùng:
To use—To employ.
Dùng
Dằng: Hesitant—Undecided.
Dùng
Sức: To use force.
Dũng:
1)
Dũng cảm: Courageous—Brave—Bold—Fearless.
2)
Dũng xuất: To spring up—To spring forth—See Tùng Địa Dõng Xuất,
and Tùng Địa Dõng Xuất Bồ Tát in Vietnamese-English Section.
Dũng
Cảm: Courageous—Bold—Brave.
Dũng
Khí: Dũng cảm—Courage.
Dũng
Lực: Vigourous force.
Dũng
Mãnh: Brave and strong.
Dũng
Mãnh Tinh Tấn: Bold advance, or progress.
Dũng
Sĩ: Viliant man.
Dũng
Tâm: Bravery—Courage.
Dũng
Thí Bồ Tát: Pradhanasura (skt)—Một vị Bồ Tát trong quyến
thuộc của Đức Phật Thích Ca—A Bodhisattva now in Sakyamuni’s
retinue.
Dũng
Tuyền: Kinh điển như dòng suối cam lồ phúng lên làm tư nhuận
chúng sanh—The springing fountain, i.e. the sutras.
Dũng
Xuất: See Dũng (2).
Dụng:
To use—To employ—To function.
Dụng
Công:
1)
To cultivate (practice) steadily.
2)
To work steadily.
Dụng
Công Tu Hành: To practice or cultivate steadily.
Dụng
Diệt: Tác dụng của các pháp diệt (nhưng thể của chúng
chẳng diệt, thể luôn thường trụ hằng hữu)—Function or
activity ceasing; however, matter or the body does not cease to exist,
but only its varying functions or activities cease.
Dụng
Đại: Thể của chân như có đại tác dụng sinh ra nhân quả
thiện ác của tất cả các pháp—Great in function or the universal
activity of the bhutatathata.
Dụng
Lực: To use force.
Dụng
Quyền: To use one’s authority.
Dụng
Tâm: Intentional—deliberate.
Dụng
Võ: See Dụng Lực.
Dụng
Ý: Intentionally—Purposely—Deliberately.
Duy:
1)
Cột lại với nhau: To tie or hold together.
2)
Duy chỉ: But—Only.
3)
Duy nhất: Chỉ có một mình—Sole—Only.
4)
Khẳng định: Eva (skt)—Yes—Affirmative.
5)
Liên hệ: To connect.
6)
Lưới: A net.
7)
Phương hướng: Cardinal points.
8)
Tư duy: To reflect on.
Duy
Cảm Chủ Nghĩa: Sensualism.
Duy
Cảnh Vô Thức: Duy vật thuận thế ngoại đạo cho rằng tứ
đại là cực vi tế, thường chân thực và lập ra nghĩa “Duy
Cảnh Vô Thức”, để đối lại với cái nghĩa “duy thức
vô cảnh”—Realism, as opposed to Idealism (Duy thức vô cảnh—Implying
that the four elements are real and permanent).
Duy
Chiếu Bảo Phong: Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong quê ở Giản
Châu (bây giờ là Giản Dương thuộc tỉnh Tứ Xuyên)—Zen
master Wei-Zhao-Bao-Feng’s home town was in ancient Jian-Chou (now is
Jian-Yang in Si-Chuan province).
·
Một hôm đọc sách, ông giật mình với câu, “Tánh tương
cận dã, tập tương viễn dã.” Sư nói: “Phàm Thánh
vốn một thể, do tập nên sai khác, tôi biết đó rồi.”
Liền đó sư đến Thành Đô làm đệ tử Sư Thanh Thới ở
Lộc Uyển. Sư thọ cụ túc giới năm mười chín tuổi—One
day while reading a book, he was startled by the phrase, “One’s self-nature
is near, but realizing it is remote.” He then said: “The mundane and
the sacred are of one body, but because of habit and circumstances they
are differentiated. I know this to be true.” He then hastened to the
city of Cheng-Tu and studied under the teacher Shing-T’ai in Lu-Yuan,
receiving full ordaination at the age of nineteen.
·
Một hôm sư thượng đường thuyết pháp: “Phật xưa nói,
‘Khi ta mới thành Chánh Giác chính thấy chúng sanh trên đại
địa thảy đều thành Chánh Giác.’ Sau Ngài lại nói, ‘Sâu
thẳm xa xôi không người biết nổi.’ Kẻ không kiến thức,
khéo đầu rồng đuôi rắn.” Sư liền xuống tòa—One day
Bao-feng entered the hall and addressed the monks, saying: "A“ ancient
Buddha said, 'W‘en I first gained complete awakening I personally saw
that all beings of the great earth are each fully endowed with complete
and perfect enlightenment.’ And later he said, ‘It’s a great mystery.
No one can fathom it.’ I don’t see anyone who understands this. Just
some blowhards.” He then got down from the seat.
·
Sư thượng đường thuyết pháp: “Chư Phật quá khứ đã
nhập Niết Bàn rồi, cả thảy các ngươi không nên quá tưởng
nhớ; chư Phật vị lai chưa ra đời, cả thảy các ngươi không
nên vọng tưởng; chính hiện ngày nay ngươi là người gì?
Hãy tự xét lấy!.”—Bao-Feng entered the hall and addressed the
monks, saying: “All the Buddhas of bygone have already entered nirvana.
You people! Don’t be nostalgic about them. The Buddhas of the future
have not yet appeared in the world. All of you, don’t be deluded! On
this very day who are you? Study this!
·
Một lần khác sư thượng đường thuyết pháp: “Xưa tự
chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt, là chết chẳng được mẫu
mực. Nơi đây xuất sanh chốn nầy diệt hết, là hàm sanh
chịu quy củ. Bậc đại trượng phu cần phải ở trong dòng
sanh tử, nằm trong rừng gai gốc, cúi ngước co duỗi tùy cơ
lập bày, hay như thế đó là dùng vô lượng phương tiện
trang nghiêm tam muội, cửa đại giải thoát liền mở rộng
thênh thang. Nếu chưa như thế, vô lượng phiền não tất cả
trần lao đứng sựng trước mặt bít lấp đường xưa.”—Another
time, Bao-Feng entered the hall addressed the monks, saying: “The fundamental
self is unborn, nor is it annihilated in the present. It is undying. But
to be born in a certain place, and to die someplace else, is the rule of
being born in a life. Great persons must position themselves in this flow
of life and death. They must lie down in the thorny forest. They must be
pliable and able to act according to circumstances. If they are thus, then
immeasurable expedients, grand samadhis, and great liberation gates are
instantly opened. But if they are not yet this way, then defilements, all
toilsome dust, and mountains loom before them and block the ancient road.”
·
Thiền Sư Duy Chiếu Bảo Phong thị tịch năm 1128. Xá lợi của
sư lóng lánh như bảo châu ngọc bích. Lưỡi và răng của
sư không bị lửa đốt cháy. Tháp thờ xá lợi của sư hiện
vẫn còn, bên đỉnh phía tây của tự viện—Zen master Wei-Zhao-Bao-Feng
died in 1128. His cremated remains were like jewels and blue pearls. His
tongue and teeth were undamaged by the flames. His stupa was placed on
the western peak near the temple.
Duy
Da Ly: See Vaisali in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.
Duy
Danh: Namamatra (skt)—Name only.
Duy
Danh Luận: Nominalism.
Duy
Giả Thiết Danh: Prajnaptinamamatreyam (skt)—Theo suy nghĩ
thông thường thì có một ngã thể; tuy nhiên, đối với giáo
lý nhà Phật nó chỉ là giả danh chứ không hiện hữu—In
accordance with to the thinking of ordinary people or worldly way of thiniking,
there is an ego-substance, which, however, to Buddhist theory, it
is only an artificial name, not a real existence.
Duy
Khẩu Thực: Một trong bốn tà mệnh thực, chỉ việc Tỳ Kheo
học các loại chú thuật bói toán để kiếm sống—Improper
means of existence by spells, fortune-telling, etc. One of the four
cardinal improper ways of earning a livelihood.
**
For more information, please see Tứ Chủng
Tà Mệnh in Vietnamese-English Section.
Duy
Kỷ: Duy ngã—Egoism—Selfish.
Duy
Linh Luận: Spiritualism.
Duy
Lý Luận: rationalism.
Duy
Ma: See Vimalakirti, and Vimalakirti Sutra in Sanskrit/Pali-Vietnamese
Section.
Duy
Ma Cật Tử Sở Vấn Kinh: Đại Thừa Đảnh Vương Kinh—Vimalakirti-Nirdesa-Sutra.
Duy
Mỹ Chủ Nghĩa: Aestheticism.
Duy
Na: Karmadana (skt)—Vị sư phân phối và giám sát công việc
trong tự viện. Một trong sáu vị sư chính trong tự viện—The
duty-distributor, or arranger of duties, a supervisor of monks in a monastery.
One of the six main monks.
**
For more information, please see Tam
Cương (B) (3).
Duy
Ngã: I alone.
Duy
Ngã Độc Tôn: Trên trời, dưới trời, chỉ có ta là đáng
kính trọng—Above Heaven and under Heaven I am alone and worthy of
honor (Sakyamuni).
Duy
Nghiễm Dược Sơn: Wei-Yen-Yueh-Shan—See Dược Sơn Duy Nghiễm.
Duy
Nhứt: Only—Sole—Unique.
Duy
Sắc: Sắc tâm không hai, do vậy vạn pháp duy tâm cũng lại
là duy sắc (dựa vào duy thức vô cảnh do ngài Hộ Pháp
lập ra, và duy cảnh vô thức do ngài Thanh Biện lập ra)—All
things are matter because mind and matter are identical, for matter is
mind.
Duy
Tâm: Cittamatra (skt)—Mind-only or mind itself—Hết thảy chư pháp
đều ở bên trong cái tâm, không có pháp nào ở ngoài tâm
(tâm có nghĩa là nhóm khởi lên các pháp; thức có nghĩa là
phân biệt các pháp). Giống như ý niệm Duy Thức trong Kinh
Lăng Già—Idealism—Mind only—The theory that the only reality is
mental, that of the mind—Nothing exists apart from mind. Similar to “Only
Mind,” or “Only Consciousness” in the Lamkavatara Sutra.
Duy
Tâm Kệ: Bài kệ tám câu tóm lược cái ý nghĩa về thực
tướng đầy đủ và viên dung với nhau (trong Cựu Kinh Hoa Nghiêm,
tâm như ông thợ vẽ, tạo vô số ngũ ấm. Tất thảy trong
thế gian, không pháp nào không tạo. Cả tâm Phật cũng vậy,
như Phật và chúng sanh. Tâm Phật và chúng sanh, là ba không
sai biệt)—The eight-line verse of the older sutra, which summarizes
the idealistic idea.
Duy
Tâm Sở Kiến: Cittamatradrisya (skt)—Cái được nhìn thấy từ
tâm—There is only what is seen of the Mind—Trong Kinh Lăng Già,
Đức Phật dạy: “Những ai bị ràng buộc vào ý niệm nhị
biên, có đối tượng và chủ thể, sẽ không bao giờ hiểu
được rằng chỉ có cái được nhìn thấy do từ tâm.”—In
the Lankavatara Sutra, the Buddha taught: “Those who are attached to
the notion of duality, object and subject, fail to understand that there
is only what is seen of the Mind.”
Duy
Tâm Tịnh Độ: The Pure Land is in your mind, or the Pureland within
the Mind.
(A)
Có người hỏi Diên Thọ Đại Sư rằng cảnh “Duy Tâm Tịnh
Độ” đầy khắp cả mười phương sao không hướng nhập
mà lại khởi lòng thủ xả cầu về Cực Lạc, để tọa trên
liên đài, như vậy đâu có khế hợp với lý vô sanh. Đã
có tâm chán uế ưa tịnh như vậy thì đâu thành bình đẳng?:
Someone asked Great Master Dien-Shu that if the realm of “Pureland within
the Mind” is ubiquitous throughout the ten directions, why not try to
penetrate it instead of wanting the Pureland and abandoning the Impure
Land praying to gain rebirth to the Ultimate Bliss World and sit on the
lotus throne. Doing so not seem to be consistent with the theory of “No
Birth.” If one has the mind of being tired of impurity but is fond of
purity then that is not the mind of equality and non-discrimination?
(B)
Đại Sư đáp—The Great Master replied:
a)
Sanh “Duy Tâm Tịnh Độ” là phần của các bậc đã liễu
ngộ tự tâm, đã chứng được pháp thân vô tướng. Tuy nhiên,
theo kinh Như Lai Bất Tư Nghì Cảnh Giới, thì những bậc Bồ
Tát chứng được Sơ Địa hay Hoan Hỷ Địa vào Duy Tâm Độ
cũng nguyện xả thân để mau sanh về Cực Lạc. Vì thế phải
biết rằng “Ngoài Tâm Không Pháp.” Vậy thì cảnh Cực Lạc
đâu thể ở ngoài tâm: Pureland within the Mind is a state achieved
only by those who have seen and penetrated the true nature and have attained
the Non-Form Dharma Body. Despite this, according to the Buddha’s Inconceivable
(Unimaginable) World Sutra, those Bodhisattvas who have attained the First
Ground Maha-Bodhisattva or Rejoicing Ground to enter the world of “Everything
within the Mind,” still vow to abandon their bodies to be born quickly
to the Ultimate Bliss World. Thus, it is necessary to understand”No Dharma
exists outside the Mind.” If this is the case, then the Ultimate Bliss
World is not outside the realm of the Mind.
b)
Về phần lý Vô Sanh và Tâm Bình Đẳng, dĩ nhiên lý thuyết
là như vậy. Tuy nhiên, những kẻ đạo lực chưa đủ, trí
cạn, tâm thô, tạp nhiễm nặng, lại gặp các cảnh ngũ dục
cùng trần duyên lôi cuốn mạnh mẽ, dễ gì chứng nhập vào
được. Cho nên những kẻ ấy cần phải cầu sanh Cực Lạc,
để nhờ vào nơi cảnh duyên thắng diệu ở đó, mới mau
chứng vào cảnh “Tịnh Độ Duy Tâm” và thực hành Bồ Tát
đạo được: As for the theory of no-birth and the mind of equality
and non-discrimination, of course, in theory this is true. However, for
those who still do not have enough spiritual power, have shallow wisdom,
impure minds, are bound by heavy karma and afflictions; moreover when tempted
with the five desires and the forces of life, how many actually will be
able to attain and penetrate this theory. Therefore, these people, most
sentient beings of this Dharma Ending Age, need to pray to gain rebirth
to the Ultimate Bliss World so they can rely on the extraordinary and favorable
conditions of that world in order to be able to enter quickly the realm
of Pureland within the Mind and to practice the Bodhisattva’s Conducts.
c)
Hơn nữa, Thập Nghi Luận có dạy—Moreover, the book of commentary
“Ten Doubts of Pureland Buddhism” taught:
·
Bậc trí tuy đã liễu đạt được Duy Tâm song vẫn hăng hái
cầu về Tịnh Độ, vì thấu suốt sanh thể như huyễn không
thể cầu tìm được. Đó mới gọi là chân thật vô sanh:
Those who have wisdom and have already attained the theory of “Everything
is within the Mind,” yet are still motivated to pray for rebirth to the
Pureland because they have penetrated completely the true nature of non-birth
is illusory. Only then can it be called the “true nature of non-birth.”
·
Còn các kẻ ngu si, người vô trí, không hiểu được lý đó,
cho nên bị cái nghĩa “Sanh” ràng buộc, vì vậy khi nghe nói
“Sanh” thì nghĩ rằng thật có cái tướng “Sanh.” Khi nghe
nói “Vô Sanh” thì lại lầm hiểu là không sanh về đâu
cả. Bởi vậy cho nên mới khởi sanh ra các niệm thị phi,
chê bai, phỉ báng lẫn nhau, gây ra những nghiệp tà kiến,
báng pháp. Những người như vậy, thật đáng nên thương xót!—As
for the ignorant, those who lack wisdom and are incapable of comprehending
such a theory; therefore, they are trapped by the meaning of the world
“Birth.” Thus, when they hear of birth, they automatically think
and conceptualize the form characteristics of birth actually exist, when
in fact nothing exists because everything is an illusion. When they hear
“Non-Birth,” they then mistakenly think of “Nothing being born anywhere!”
Given this misconception, they begin to generate a mixture of gossip, criticism,
and mockery; thus create various false views and then degrade the Dharma.
Such people truly deserve much pity!
Duy
Tân: To reform.
Duy
Tha Chủ Nghĩa: Altruism.
Duy
Thức: Vijnanamatra or Vada or Cittamatra (skt)—See Duy tâm.
Duy
Thức Gia: See Duy Thức Tông.
Duy
Thức Học: Giáo điển dạy Tâm Lý Học, về tám thức (nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, Mạt na và A Lại Da). Những thức
nầy giúp chúng sanh phân biệt phải trái—The doctrine which
teaches the psychology of the eight consciousnesses (sight, hearing, smell,
taste, touch, mind, Mana and Alaya). These consciousnesses enable sentient
beings to discriminate between right and wrong of all dahrmas (thoughts,
feelings, physical things, etc).
Duy
Thức Học Cương Yếu: General Teaching of Consciousness—The finer
point of the Teaching of Consciousness—See Duy Thức Học.
Duy
Thức Luận: Vijnaptimatrasiddhi-sastra.
Duy
Thức Quán: Ba đối tượng trong Duy Thức quán—The three subjects
of idealistic reflection:
1)
Biến Kế Sở Chấp Tính: Quán thật tánh của ngã và chư pháp—Ego
and things are realities.
2)
Y Tha Khởi Tính: Quán chư pháp được sanh ra bởi nhân duyên—Things
are produced by caused and circumstance.
3)
Viên Thành Thực Tính: Quán chỉ có Chân như là hiện thực—Bhutatathata
is the only reality.
Duy
Thức Tam Thập Tụng: Vijnaptimatrata-trimsika (skt)—See Tam Thập
Tụng Duy Thức.
Duy
Thức Tam Tính Quán: See Duy Thức Quán.
Duy
Thức Tâm Định: See Duy Thức Quán.
Duy
Thức Tông: Vijnanavada (skt)—Còn gọi là Duy Thức Gia hay Pháp
Tướng tông. Học thuyết của Duy Thức tông chú trọng đến
tướng của tất cả các pháp; dựa trên đó, luận thuyết
về Duy Thức Học được lập nên để minh giải rằng ly thức
vô biệt pháp hay không có pháp nào tách biệt khỏi thức được.
Mặc dù tông nầy thường được biểu lộ bằng cách nói
rằng tất cả các pháp đều chỉ là thức, hay rằng không
có gì ngoài thức; thực ra ý nghĩa chân chính của nó lại
khác biệt. Nói duy thức, chỉ vì tất cả các pháp bằng cách
nầy hay cách khác luôn luôn liên hệ với thức. Thuyết nầy
dựa vào những lời dạy của Đức Phật trong Kinh Hoa Nghiêm,
theo đó tam giới chỉ hiện hữu trong thức. Theo đó thế giới
ngoại tại không hiện hữu, nhưng nội thức phát hiện giả
tướng của nó như là thế giới ngoại tại. Toàn thể thế
giới do đó là tạo nên do ảo tưởng hay do nhân duyên, và
không có thực tại thường tồn nào cả. Tại Ấn Độ, tông
phái nầy chuyên chú vào việc nghiên cứu Duy Thức Luận và
các kinh sách cùng loại, nên có tên là Duy Thức Tướng Giáo.
Tác giả các bộ sách nầy là Vô Trước và Thiện Thân, họ
từng có một đệ tử xuất sắc là Giới Hiền, một người
Ấn Độ, sống trong tu viện Na Lan Đà. Giới Hiền là người
đã lập ra Duy Thức Tông tại Ấn Độ và có nhiều công lao
trong việc sắp xếp các kinh điển Phật Giáo. Tại Trung Quốc,
sau khi Huyền Trang được Giới Hiền trao cho bộ luận, đã
lập nên tông phái nầy. Về sau, tông nầy cũng có tên là
Pháp Tướng Tông và do một đồ đề của Huyền Trang là Khuy
Cơ dẫn dắt—Dharmalaksana sect, which holds that all is mind in its
ultimate nature. The doctrine of Idealism School concerns chiefly with
the facts or specific characters (lakshana) of all elements on which the
theory of idealism was built in order to elucidate that no element is separate
from ideation. Although it is usually expressed by saying that all dharmas
are mere ideation or that there is nothing but ideation, the real sense
is quite different. It is idealistic because all elements are in some way
or other always connected with ideation. This doctrine was based on the
teaching of the Buddha in the Avatamsaka Sutra, that the three worlds exist
only in ideation. According to Ideation Theory, the outer world does not
exist but the internal ideation presents appearance as if it were an outer
world. The whole world is therefore of either illusory or causal nature
and no permanent reality can be found. In India, two famous monks named
Wu-Ch’o and T’ien-Ts’in wrote some sastras on Vijnana. They had an
outstanding disciple named Chieh-Hsien, an Indian monk living at Nalanda
monastery. Later, Chieh-Hsien established the Vijnanavada school and contributed
much to the arrangement of the Buddhist canons. In China, Hsuan-Tsang,
to whom Chieh-Hsien handed over the sastra, founded this school in his
native land. Later, the school was also called Dharmalaksana (Fa-Tsiang-Tsung)
and was led by Kwei-Chi, a great disciple of Hsuan-Tsang.
Duy
Thức Trung Đạo: Theo Pháp Tướng Tông thì chư pháp duy tâm
tạo, chứ không thật mà cũng không giả—The madhya, or medial
doctrine of idealism as held by the Dharmalaksana school (Pháp Tướng
Tông), that all things are of mind-evolution, and are neither in themselves
real or unreal.
Duy
Thức Tu Đạo Ngũ Vị: See Ngũ Vị (C).
Duy
Thức Viên Giáo: Một trong ba giáo do ngài Đạo Tuyên Nam
Sơn lập ra, là thâm giáo của Phật giáo Đại thừa—The perfect
doctrine of idealism, the third of the three main divisions of the Buddha’s
teaching defined by T’ao-Hsuan of Nan-Shan, the perfect doctrine of idealism—See
Tam Giáo (B).
Duy
Thức Vô Cảnh: Idealism—See Duy Cảnh Vô Thức.
Duy
Trì: To maintain—To remain.
Duy
Trì Giác Ngộ: To remain awakened.
Duy
Tự Tâm Sở Hiện: Svacittadrisyamatra (skt)—Tất cả chẳng gì
khác hơn là sự biểu hiện của chính tâm mình—All is no other
than the manifestation of one’s own mind—See Tam Giới Duy Nhất
Tâm.
Duy
Vật: Materialism.
Duy
Việt: Avaivartika (skt)—See A Bệ Bạt Trí in Vietnamese-English
Section.
Duyên:
Pratyaya (skt).
1)
Có duyên: Charm—Grace—Charming—Graceful.
2)
Có điều kiện: Conditioned.
3)
Phan duyên: A co-operating cause, the concurrent occasion of an event
as distinguished from its proximate cause.
4)
Nhân phụ, hoàn cảnh hay điều kiện bên ngoài, đối lại
với nhân chính hay chủng tử. Nhân (Hetu) là hạt, trong khi
duyên (Pratyaya) là đất, mưa, nắng, vân vân : The circumstantial,
conditioning, or secondary cause, in contrast with the Hetu, the direct
or fundamental cause. Hetu is the seed, Pratyaya is the soil, rain, sunshine,
etc.
5)
Năng Duyên: Tâm có thể lý luận—The mind can reason.
6)
Sở Duyên: Đối tượng của lý luận là sở duyên—The objective.
7)
Năng Duyên Sở Duyên: Duyên là tác dụng của Tâm với Cảnh
(Tâm và đối tượng tiếp xúc với nhau tạo ra tiến trình
lý luận hay “Duyên.”)—When the mind is in contact with the objective
we have the reasoning process.
Duyên
Chân Như Thiền: Tathatalambanam (skt)—Đây là thiền định dựa
vào như như, thiền định thứ ba trong tứ thiền định được
mô tả trong Kinh Lăng Già. Đối tượng của sự tu tập là
thể chứng cái như như của chân lý bằng cách giữ các tư
tưởng vượt lên trên cái nhị biên của hữu và phi hữu,
và cũng vượt lên trên hai ý niệm về vô ngã—This is the
dhyana depending upon suchness. This is the third of the four Dhyanas described
in The Lankavatara Sura. The object of the discipline is to realize the
suchness of truth by keeping thoughts above the dualism of being and non-being
and also aboe the twofold notion of egolessness.
Duyên
Chính:
a)
Chính Nhân Phật Tánh: Fundamental Buddha-nature or Bhutatathata.
b)
Duyên Nhân Phật Tánh: Những điều kiện hay hoàn cảnh bên
ngoài giúp Phật tánh trải qua các thời kỳ phát triển—Conditioned
Buddha-nature in all undergoing development.
Duyên
Cơ: Nhân và duyên đưa đến Phật quả—Conditions opportune—Favourable
circumstances—Cause and conditions cooperating for achieving Buddhahood.
Duyên
Cớ: Cause—Reason.
Duyên
Dáng: Charm—Grace—Charming—Cute.
Duyên
Do: See Duyên cớ.
Duyên
Duyên: Adhipati-pratyaya (skt)—Sở Duyên Duyên—Cái duyên của
sở duyên hay tâm thức đối với cảnh giới như mắt đối
với sắc (tâm thức gọi là năng duyên, cảnh giới gọi
là sở duyên)—Conditioned condition—The reasoning mind, or the mind
reasoning—Intelligence in contact with its object—The relationship
being like that of form or colour to the eye. The influence of one factor
in causing others.
·
Sở Duyên: The object.
·
Duyên: Mind.
Duyên
Giác: Pratyeka-buddha (skt).
1)
Pratyeka nghĩa là riêng tư, cá biêt, đơn độc. Chữ Pratyeka-buddha
dùng để chỉ một cá nhân đơn độc, không có bất kỳ sự
giúp đở nào của ngoại tại nhưng có thể đạt đến cảnh
giới A La hán—The word ‘Pratyeka’ means ‘private,’ ‘individual,’
‘single,’ or ‘solitary.’ Pratyeka-buddha is one who is in ‘solitary
singleness,’ in independence of all external support, attains Arhatship.
2)
Nhân Duyên Giác: Bích Chi Phật—Nhờ thiền quán theo pháp nhân
duyên (pháp quán mười hai nhân duyên để đạt được giác
ngộ của Phật giáo) mà giác ngộ thành Phật Bích Chi. Không
như Phật toàn giác, Thanh văn Duyên giác chỉ tự giác chứ
không giác tha. Bậc Độc Giác không chia xẻ với kẻ khác
sự hiểu biết mà mình đã gia công tìm kiếm về những phương
tiện để đạt tới Niết Bàn. Bậc Độc Giác tin rằng, những
người khác, khi bị thực tế khắc nghiệt của những khổ
đau trên trần thế thúc đẩy, cũng sẽ đi vào con đường
thánh thiện, nhưng Duyên Giác không bận tâm tới việc dạy
bảo hoặc giác ngộ chúng sanh. Các bậc nầy cho rằng sự
giác ngộ là một thành tựu về phương diện cá nhân chứ
không phải về phương diện xã hội hay vũ trụ—Pratyeka Buddhas
(skt)—Who become fully enlightened by meditating on the principle
of causality (the Buddhist enlightenment arises from pondering over the
twelve nidanas). Unlike the Perfect Buddhas, however, they do not exert
themselves to teach and help others. Pratyekabuddha does not share with
others his hard-won knowledge of the means for the attainment of Nirvana.
He believes that others too, driven by the stern reality of the miseries
of life, may some day take to the holy path, but does not bother to teach
or enlighten them. They consider enlightenment as an individual not a social
or cosmic achievement.
3)
Bích Chi Ca La Phật hay Độc Giác Phật: Còn gọi là Bích Chi,
Bích Chi Ca Phật, Duyên Giác, hay Độc Giác, là người tự
tu tự giác ngộ và nhập Niết bàn trong thời không có bậc
Chánh Đẳng Chánh giác, cũng giúp người giác ngộ, nhưng chỉ
trong giới hạn nào mà thôi. Duyên Giác chẳng có khả năng
nói rõ về chân lý cho người khác như Phật Toàn Giác—Those
enlightened to conditions—A person who realizes Nirvana by himself or
herself at a time when there is no Samyaksambuddha in the world. He or
she also renders services to others, but in a limited way. He or she is
not capable of revealing the Truth to others as a Samyak-sambuddha, a fully
enlightened does.
4)
Độc Giác Phật hay Bát Lạt Ê Già Phật Đà: Người tự tu
tự ngộ hay những người sống tu cách biệt khỏi nhân quần
xã hội và tự đạt được giác ngộ, đối lại với nguyên
tắc vị tha của Bồ Tát—Individual enlightenment—One who lives
apart from others and attains enlightenment alone, or for himselfcontrast
with the alturism of the bodhisattva principle.
5)
Danh từ Duyên Giác không hạn chế trong Phật giáo, nhưng nó
bao hàm những vị sống đời cách biệt, tự mình quán sát
về ý nghĩa của cuộc đời, nhìn hoa rơi lá rụng mà giác
ngộ—The term Pratyeka-buddha is not limited to the Buddhists, but is
a general term for those who attain enlightenment by living in isolation
(recluses), pondering alone over the meaning of life, observing the “flying
flowers and falling leaves.”
Duyên
Giác Bồ Đề: Một trong ba loại Bồ Đề, bậc tu theo Duyên
Giác phát tâm Bồ Đề nhưng không giáo hóa cho chúng sanh khác
mà chỉ muốn một mình giải thoát—The pratyeka-buddha form of
enlightenment or enlightenment for self, not revealing the truth to others.
This is one of the three form of enlightenment (Sravakas, Pratyeka-buddhas,
Bodhisattvas).
Duyên
Giác Pháp Giới: Một trong những pháp giới mà tông Thiên Thai
đã đặt ra về bản thể của chúng sanh và chư Phật—The
pratyeka-buddha realm, one of the T’ien-T’ai categories of intelligent
beings.
Duyên
Giác Phật: Pratyeka-buddha (skt)—See Duyên Giác in Vietnamese-English
Section.
Duyên
Giác Thân: The pratyeka-buddha or personal appearing of the Buddha.
Duyên
Giác Thừa:
1)
Giai đoạn của trung thừa được biểu thị là Duyên Giác,
là bậc giác nhờ quán sát pháp nhân duyên. Duyên Giác Thừa
được coi như sự tiến bộ cao trong phái Tiểu Thừa, nhưng
vẫn chưa đạt được tiêu chuẩn vị tha của Bồ Tát trong
Đại Thừa—The “middle conveyance” period, characterized as that
of the pratyeka-buddha, who is enlightened by the twelve nidanas. It is
consider as an advance on the Hinayana, but not yet the standard of the
altruistic bodhisatva-vehicle or the Mahayana.
2)
Một trong ba thừa trong Phật Giáo—One of the three vehicles in
Buddhism:
a)
Thanh Văn Thừa: Sravaka-Vehicle.
b)
Duyên Giác Thừa: Pratyeka-buddha-Vehicle.
c)
Bồ Tát Thừa: Bodhisattva-Vehicle.
Duyên
Hóa: Biến cải những người chịu ảnh hưởng của mình—To
convert or instruct those under influence.
Duyên
Khởi: Pratityasamutpada (skt)—The theory of causation.
(I)
Ý nghĩa của Duyên Khởi—The meanings of Causation:
(A)
Những định nghĩa nầy căn cứ trên sự giải thích về Duyên
Khởi của Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học
Phật Giáo—These definitions are based on the interpretation of Prof.
Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy.
1)
Sự vật chờ duyên mà nẩy sinh, đối lại với tánh giác
hay chân như—Conditioned arising—Arising from the secondary causes,
in contrast with arising from the primal nature or bhutatatha (Tánh giác).
2)
Vạn sự vạn vật hay các pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi
lên, chứ không có tự tánh—Everything arises from conditions and
not being spontaneous and self-contained has no separate and independent
nature.
3)
Phật giáo không coi trọng ý niệm về nguyên lý căn nhân hay
nguyên nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống
triết học khác; và cũng không bàn đến ý niệm về vũ trụ
luận. Tất nhiên, triết học về Thần học không thể nào
phát triển trong Phật giáo. Đừng ai mong có cuộc thảo luận
về Thần học nơi một triết gia Phật giáo. Đối với vấn
đề sáng thế, đạo Phật có thể chấp nhận bất cứ học
thuyết nào mà khoa học có thể tiến hành, vì đạo Phật
không thừa nhận có một xung đột nào giữa tôn giáo và khoa
học: Buddhism does not give importance to the idea of the Root-Principle
or the First Cause as other systems of philosophy often do; nor does it
discuss the idea of cosmology . Naturally such a branch of philosophy as
theology did not have grounds to develop in Buddhism. One should
not expect any discussion of theology from a Buddhist philosopher. As for
the problem of creation, Budhism is ready to accept any theory that science
may advance, for Buddhism does not recognize any conflict between religion
and science.
4)
Theo đạo Phật, nhân loại và các loài hữu tình đều tự
tạo, hoặc chủ động hoặc thụ động. Vũ trụ không phải
là quy tâm độc nhất; nó là môi trường cọng sinh của vạn
hữu. Phật giáo không tin rằng vạn hữu đến từ một nguyên
nhân độc nhất, nhưng cho rằng mọi vật nhất định phải
được tạo thành ít nhất là hai nguyên nhân. Những sáng hóa
hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong
liên tục thời gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, như một
chuỗi dây xích. Chuỗi xích nầy được chia thành 12 bộ phận,
gọi là 12 khoen nhân duyên vì mỗi bộ phận liên quan nhau với
công thức như sau “Cái nầy có nên cái kia có; cái nầy sinh
nên cái kia sinh. Cái nầy không nên cái kia không; cái nầy
diệt nên cái kia diệt.”—According to Buddhism, human beings and
all living things are self-created or self-creating. The universe is not
homocentric; it is a co-creation of all beings. Buddhism does not believe
that all things came from one cause, but holds that everything is inevitably
created out of more than two causes. The creations or becomings of the
antecedent causes continue in time-series, past, present and future, like
a chain. This chain is divided into twelve divisions and is called the
Twelve Divisioned Cycle of Causation and Becomings. Since these divisions
are interdependent, the process is called Dependent Production or Chain
of causation. The formula of this theory is as follows: From the existence
of this, that becomes; from the happening of this, that happens. From the
non-existence of this, that does not become; from the non-happening of
this, that does not happen.
(B)
Theo Triết Học Trung Quán, thuyết Duyên Khởi là một
học thuyết vô cùng trọng yếu trong Phật Giáo. Nó là
luật nhân quả của vũ trụ và mỗi một sinh mạng của cá
nhân. Nó quan trọng vì hai điểm. Thứ nhất, nó đưa ra một
khái niệm rất rõ ràng về bản chất vô thường và hữu
hạn của mọi hiện tượng. Thứ hai, nó cho thấy sanh, lão,
bệnh, tử và tất cả những thống khổ của hiện tượng
sinh tồn tùy thuộc vào những điều kiện như thế nào và
tất cả những thống khổ nầy sẽ chấm dứt như thế nào
khi vắng mặt các điều kiện đó. Trung Quán lấy sự sanh
và diệt của các thành tố của sự tồn tại để giải thích
duyên khởi là điều kiện không chính xác. Theo Trung Quán,
duyên khởi không có nghĩa là nguyên lý của một tiến trình
ngắn ngủi, mà là nguyên lý về sự lệ thuộc vào nhau một
cách thiết yếu của các sự vật. Nói gọn, duyên khởi là
nguyên lý của tương đối tánh. Tương đối tánh là một
khám phá vô cùng quan trọng của khoa học hiện đại. Những
gì mà ngày nay khoa học khám phá thì Đức Phật đã phát hiện
từ hơn hai ngàn năm trăm năm về trước. Khi giải thích duyên
khởi như là sự lệ thuộc lẫn nhau một cách thiết yếu
hoặc là tánh tương đối của mọi sự vật, phái Trung Quán
đã bác bỏ một tín điều khác của Phật giáo Nguyên Thủy.
Phật giáo Nguyên Thủy đã phân tích mọi hiện tượng thành
những thành tố, và cho rằng những thành tố nầy đều
có một thực tại riêng biệt. Trung Quán cho rằng chính thuyết
Duyên Khởi đã tuyên bố rõ là tất cả các pháp đều tương
đối, chúng không có cái gọi là ‘thực tánh’ riêng biệt
của chính mình. Vô tự tánh hay tương đối tánh đồng nghĩa
với ‘Không Tánh,’ nghĩa là không có sự tồn tại đích
thực và độc lập. Các hiện tượng không có thực tại độc
lập. Sự quan trọng hàng đầu của Duyên Khởi là vạch ra
rằng sự tồn tại của tất cả mọi hiện tượng và
của tất cả thực thể trên thế gian nầy đều hữu hạn,
chúng không có sự tồn tại đích thực độc lập. Tất cả
đều tùy thuộc vào tác động hỗ tương của vô số duyên
hay điều kiện hạn định. Ngài Long Thọ đã sơ lược về
Duyên Khởi như sau: “Bởi vì không có yếu tố nào của sự
sinh tồn được thể hiện mà không có các điều kiện,
cho nên không có pháp nào là chẳng ‘Không,’ nghĩa là không
có sự tồn tại độc lập đích thực.”—According to the
Madhyamaka philosophy, the doctrine of causal law (Pratityasamutpada) is
exceedingly important in Buddhism. It is the causal law both of the universe
and the lives of individuals. It is important from two points of view.
Firstly, it gives a very clear idea of the impermanent and conditioned
nature of all phenomena. Secondly, it shows how birth, old age, death and
all the miseries of phenomenal existence arise in dependence upon conditions,
and how all the miseries cease in the absence of these conditions. The
rise and subsidence of the elements of existence is not the correct interpretation
of the causal law. According to the Madhyamaka philosophy, the causal law
(pratityasamutpada) does not mean the principle of temporal sequence, but
the principle of essential dependence of things on each other. In one word,
it is the principle of relativity. Relativity is the most important discovery
of modern science. What science has discovered today, the Buddha had discovered
more than two thousand five hundred years before. In interpreting the causal
law as essential dependence of things on each other or relativity of things,
the Madhyamaka means to controvert another doctrine of the Hinayanists.
The Hinayanists had analyzed all phenomena into elements (dharmas) and
believed that these elements had a separate reality of their own. The Madhyamika
says that the very doctrine of the causal law declares that all the dharmas
are relative, they have no separate reality of their own. Without a separate
reality is synonymous with devoid of real (sunyata), or independent existence.
Phenomena are devoid of independent reality. The most importance
of the causal law lies in its teaching that all phenomenal existence, all
entities in the world are conditioned, are devoid of real (sunya), independent
existence (svabhava). There is no real, dependent existence of entities.
All the concrete content belongs to the interplay of countless conditions.
Nagarjuna sums up his teaching about the causal law in the following words:
“Since there is no elements of existence (dharma) which comes into manifestation
without conditions, therefore there is no dharma which is not ‘sunya,’
or devoid of real independent existence.”
(II)
Phân loại Duyên Khởi—Categories of Causation:
1)
Nghiệp Cảm Duyên Khởi—Causation by Action-influence: Nghiệp
cảm duyên khởi được dùng để miêu tả bánh xe sinh hóa—Causation
by action-influence is depicted in the Wheel of Life.
a)
Trong sự tiến hành của nhân và quả, phải có định luật
và trật tự. Đó là lý thuyết về nghiệp cảm. Trong 12 chi
duyên khởi, không thể nêu ra một chi nào để nói là nguyên
nhân tối sơ. Bởi vì, cả 12 chi tạo thành một vòng tròn
liên tục mà người ta gọi là “Bánh Xe Sinh Hóa,” hay bánh
xe luân hồi (see Thập Nhị Nhân Duyên)—There is law and order
in the progress of cause and effect. This is the theory of causal Sequence.
In the Twelve Divisioned Cycle of Causations and Becomings, it is impossible
to point out which one is the first cause, because the twelve make a continuous
circle which is called the Wheel of Life (see Thập Nhị Nhân Duyên).
b)
Người ta có thói quen coi sự tiến hành của thời gian như
một đường thẳng từ quá khứ vô cùng ngang qua hiện tại
đến vị lai vô tận. Thế nhưng đạo Phật lại coi thời
gian như là một vòng tròn không có khởi đầu, không có chấm
dứt. Thời gian tương đối: People are accustomed to regard time
as progressing in a straight line from the infinite past through present
to infinite future. Budhism, however, regards time as a circle with no
beginning or end. Time is relative.
c)
Một sinh vật chết đi không là chấm dứt; ngay đó, một đời
sống khác bắt đầu trải qua một quá trình sống chết tương
tự, và cứ lập lại như vậy thành một vòng tròn sinh hóa
bất tận. Theo đó một sinh vật khi được nhìn trong liên
hệ thời gian, nó tạo thành một dòng tương tục không gián
đoạn. Không thể xác định sinh vật đó là thứ gì, vì nó
luôn luôn biến đổi và tiến hóa qua 12 giai đoạn của đời
sống. Phải đặt toàn bộ các giai đoạn nầy trong toàn thể
của chúng coi như là đang biểu hiện cho một sinh thể cá
biệt. Cũng vậy, khi một sinh vật được nhìn trong tương
quan không gian, nó tạo thành một tập hợp phức tạp gồm
năm yếu tố hay ngũ uẩn. Bánh xe sinh hóa là lối trình bày
khá sáng sủa của quan điểm Phật giáo và một sinh vật trong
liên hệ với thời gian và không gian: The death of a living being
is not the end; at once another life begins to go through a similar process
of birth and death, and thus repeats the round of life over and over again.
In this way a living being, when considered in relation to time, forms
an endless continuum. It is impossible to define what a living being
is, for it is always changing and progressing through the Divisions or
Stages of Life. The whole series of stages must be taken in their
entirety as representing the one individual being. Thus, a living being,
when regarded in relation to space, forms a complex of five elements. The
Wheel of Life is a clever representation of the Buddhis conception of a
living being in relation to both space and time.
d)
Bánh xe sinh hóa là một vòng tròn không khởi điểm, nhưng
thông thường người ta trình bày nó bắt đầu từ vô minh,
một trạng thái vô ý thức, mù quáng. Kỳ thật, vô minh chỉ
là một tiếp diễn của sự chết. Lúc chết, thân thể bị
hủy hoại nhưng vô minh vẫn tồn tại như là kết tinh các
hiệu quả của các hành động được tạo ra trong suốt cuộc
sống. Đừng nên coi vô minh như là phản nghĩa của tri kiến;
phải biết nó bao gồm cả tri, sự mù quáng hay tâm trí u tối,
vô ý thức: The Wheel of Life is a circle with no beginning, but it
is customary to begin its exposition at Blindness (unconscious state).
Blindness is only a continuation of Death. At death the body is abandoned,
but Blindness remains as the crystalization of the effects of the actions
performed during life. This Blidness is often termed Ignorance; but this
ignorance should not be thought of as the antonym of knowing; it must include
in its meaning both knowing and not knowing, blindness or blind mind, unconsciousness.
e)
Vô minh dẫn tới hành động u tối, mù quáng. Hành, năng lực,
hay kết quả của hành vi mù quáng đó, là giai đoạn kế tiếp.
Nó là động lực, hay ý chí muốn sống. Ý chí muốn sống
không phải là loại ý chí mà ta thường dùng trong ý nghĩa
như “tự do ý chí;” thực sự, nó là một động lực mù
quáng hướng tới sự sống hay khát vọng mù quáng muốn sống.
Vô Minh và Hành được coi là hai nhân duyên thuộc quá khứ.
Chúng là những nguyên nhân khi nhìn chủ quan từ hiện tại;
nhưng khi nhìn khách quan đời sống trong quá khứ là một đời
sống toàn diện giống hệt như đời sống hiện tại: Blindness
leads to blind activity. The energy or the effect of this blind activity
is the next stage, Motive or Will to Live. This Will to Live is not the
kind of will which is used in the term “free will;” it is rather a
blind motive toward life or the blind desire to live. Blindness and Will
to Live are called the Two Causes of the pst. They are causes when regarded
subjectively from the present; but objectively regarded, the life in the
past is a whole life just as much as is the life of the present.
2)
A Lại Da Duyên Khởi: Alaya-vijnana (skt)—Causation by the Ideation-Store:
A Lại Da Duyên Khởi để giải thích căn nguyên của nghiệp—Causation
by the Ideation-store is used to explain the origin of action.
a)
Nghiệp được chia thành ba nhóm, chẳng hạn như nghiệp nơi
thân, nơi khẩu và nơi ý. Nếu khởi tâm tạo tác, phải chịu
trách nhiệm việc làm đó và sẽ chịu báo ứng, bởi vì ý
lực là một hành động của tâm ngay dù nó không phát biểu
ra lời nói hay bộc lộ trong hành động của thân. Nhưng tâm
là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động
luật duyên sinh phải được đặt vào kho tàng tâm ý, tức
Tàng Thức hay A Lại Da thứ (Alaya-vijnana): Actions or karma are
divided into three groups, i.e., those by the body, those by speech and
those by volition. When one makes up one’s mind to do something, one
is responsible for it and is liable to retribution, because volition is
a mind-action even if it is not expressed in speech or manifested in physical
action. But the mind being the inmost recess of all actions, the causation
ought to be attributed to the mind-store or Ideation-store.
b)
Lý thuyết ý thể của đạo Phật, tức học thuyết Duy Thức,
chia thức thành tám công năng, như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ
thức, thiệt thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, và a
lại da thức. Trong tám thức nầy, thức thứ bảy và thứ
tám cần phải giải thích: The Buddhist ideation theory divides the
mind into eight faculties, i.e., the eye-sense, the ear-sense, the nose-sense,
the tongue-sense, the body-sense, the co-ordinating sense-center or the
sixth mano-vijnana, the individualizing thought-center of egotism or the
seventh manas-vijnana, and the storing-center of ideation or the eighth
alaya-vjnana, or Ideation-store. Of these eight faculties, the seventh
and the eighth require explanation.
·
Thức thứ bảy là trung tâm cá biệt hóa của ngã tính, là
trung tâm hiện khởi của các ý tưởng vị ngã, ích kỹ, kiêu
mạn, tự ái, ảo tưởng và mê hoặc—The seventh, the Individualizing
Center of Egotism is the center where all the selfish ideas, egotistic,
opinions, arrogance, self-love, illusions, and delusions arise.
·
Thức thứ tám là trung tâm tích tập của ý thể, là nơi chứa
nhóm các ‘hạt giống’ hay chủng tử của tất cả mọi
hiện khởi và chúng được bộc lộ trong các hiện khởi đó.
Đạo Phật chủ trương rằng nguyên khởi của vạn hữu và
vạn tượng là hiệu quả của ý thể. Mỗi chủng tử tồn
tại trong tàng thức và khi nó trào vọt vào thế giới khách
quan, nó sẽ được phản ảnh để trở thành một hạt giống
mới. Nghĩa là tâm vươn ra thế giới ngoại tại và khi tiếp
nhận các đối tượng nó đặt những ý tưởng mới vào trong
tàng thức. Lại nữa, hạt giống mới đó sẽ trào vọt để
phản ảnh trở lại thành một hạt giống mới mẻ khác nữa.
Như thế, các hạt giớng hay các chủng tử tụ tập lại và
tất cả được chứa nhóm ở đây. Khi chúng tiềm ẩn, chúng
ta gọi chúng là những chủng tử. Nhưng khi chúng hoạt động,
chúng ta gọi chúng là những hiện hành. Những chủng tử cố
hữu, những hiện hành, và những chủng tử mới hỗ tương
phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một vòng tròn mãi mãi tái
diễn tiến trình trước sau như nhất. Đây gọi là A Lại
Da Duyên Khởi: The eighth, the Storing Center of Ideation, is where
the ‘seeds’ of all manifestations are deposited and later expressed
in manifestations. Buddhism holds that the origin of all things and events
is the effect of ideation. Every seed lies in the Storing Center and when
it sprouts out into the object-world a reflection returns as a new seed.
That is, the mind reahces out into the outer world and, perceiving
objects, puts new ideas into the mind-store. Again, this new seed sprouts
out to reflect back a still newer seed. Thus the seeds accumulate and all
are stored there together. When they are latent, we call them seeds, but
when active we call them manifestations. The old seeds, the manifestations
and the new seeds are mutually dependent upon each other, forming a cycle
which forever repeats the same process. This is called the Chain of Causation
by Ideation.
c)
Cái làm cho chủng tử hay vô thức tâm phát khởi thành hiện
hành, nghĩa là động lực tạo ra dòng vận động của duyên
khởi, chính là ý thể, nghĩa là thức. Có thể thấy một
cách dễ dàng, theo thuyết A Lại Da Duyên Khởi nầy, rằng
Hoặc, Nghiệp và Khổ khởi nguyên từ nghiệp thức, hay ý
thể. Tàng thức lưu chuyển tái sinh để quyết định một
hình thái của đời sống kế tiếp. Có thể coi tàng thức
giống như một linh hồn trong các tôn giáo khác. Tuy nhiên,
theo học thuyết của đạo Phật, cái tái sanh không phải là
linh hồn, mà là kết quả của các hành động được thi hành
trong đời sống trước. Trong đạo Phật, người ta không nhận
có hiện hữu của linh hồn: That which makes the seed or subconscious
thought sprout out into actual manifestation, that is, the motive force
which makes the chain of causation move, is nothing but ideation. It is
easy to see from this theory of Causation by Ideation that Delusion, Action
and Suffering originate from mind-action, or ideation. The Storing Center
of Ideation is carried across rebirth to determine what the next form of
life will be. This Storing Center might be regarded as similar to the soul
in other forms of religion. According to the Buddhist doctrine, however,
what is reborn is not the soul, but is the result of the actions performed
in the preceding life. In Buddhism the existence of the soul is denied.
3)
Chân Như Duyên Khởi—Causation By Thusness: Chân Như Duyên Khởi,
để giải thích căn nguyên của tàng thức. Tàng thức của
một người được quy định bởi bản tính của người đó
và bản tánh nầy là hình thái động của chân như. Không
nên hỏi chân như hay Như Lai tạng khởi lên từ đâu, bởi
vì nó là thể tánh, là chân như cứu cánh không thể diễn
đạt—Causation by Thusness is used to explain the origin of theideation-store.
The ideation-store of a human being is determined by his nature as a human
being and this nature is a particular dynamic form of Thusness. One should
not ask where Thusness or Matrix of Thus-come originates, because it is
the noumenon, the ultimate indescribable Thusness.
a)
Chân như là từ ngữ duy nhất có thể dùng để diễn tả
thực tại cứu cánh vượt ngoài định danh và định nghĩa.
Còn được gọi là Như Lai Tạng. Như Lai Tạng là Phật tánh
ẩn tàng trong bản tánh của phàm phu. Như Lai là một biểu
hiệu được Phật tự dùng để thay cho các danh xưng như “Tôi”
hay “Chúng ta,” nhưng không phải là không có một ý nghĩa
đặc biệt. Sau khi Ngài thành đạo, Đức Phật gặp năm anh
em Kiều Trần Như hay năm nhà khổ hạnh mà trước kia đã
từng sống chung với Ngài trong đời sống khổ hạnh trong
rừng. Năm nhà khổ hạnh nầy gọi Ngài là “Bạn Gotama.”
Phật khiển trách họ, bảo rằng, đừng gọi Như Lai như là
bạn và ngang hàng với mình, bởi vì Ngài bấy giờ đã là
Đấng Giác Ngộ, Đấng Tối Thắng, Đấng Nhất Thiết Trí.
Khi Ngài “đến như vậy” trong tư thế hiện tại của Ngài
với tư cách là vị đạo sư của trời và người, họ phải
coi Ngài là Đấng Trọn Lành chứ không phải là một nguời
bạn cố tri: Thusness or suchness, is the only term which can be used
to express the ultimate indefinable reality. It is otherwise called the
Matrix of Thus-come. Thus-come is Buddha-nature hidden in ordinary human
nature. “Thus-come” is a designation of the Buddha employed by himself
instead of “I”or “we,” but not without special meaning. After
he had attained Enlightenment, he met the five ascetics with whom he had
formerly shared his forest life. These five ascetics addressed him saying
“Friend Gotama.” The Buddha admonished them, sayingthat they ought
not treat the Thus-come (thus enlightened I come) as their friend and their
equal, because he was now the Enlightened One, the Victorious, All-wise
One. When he had ‘thus come’ in his present position as the instructor
of all men and even of devas, they should treat him as the Blesed One and
not as an old friend.
b)
Lại nữa, khi Đức Phật trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê
cũ của Ngài, Ngài không đi đến cung điện của phụ vương
mà lại ở trong khu vườn xoài ở ngoại thành, và theo thường
lệ là đi khất thực mỗi ngày. Vua Tịnh Phạn, phụ vương
cuả Ngài, không thể chấp nhận con mình, một hoàng tử ,
lại đi xin ăn trên các đường phố thành Ca Tỳ La Vệ. Lúc
đó, vua đến viếng Đức Phật tại khu vườn, và thỉnh cầu
Ngài trở về cung điện. Phật trả lời vua bằng những lời
lẽ như sau: “Nếu tôi vẫn còn là người thừa kế của
Ngài, tôi phải trở về cung điện để cùng chung lạc thú
với Ngài, nhưng gia tộc của tôi đã đổi. Bây giờ tôi là
một người thừa kế các Đức Phật trong quá khứ, các ngài
đã “đến như vậy” như tôi đang đến như vậy ngày nay,
cùng sống trong các khu rừng, và cùng khất thực. Vậy Bệ
Hạ hãy bỏ qua những gì mà ngài đã nói.” Đức vua hiểu
rõ những lời đó, và tức thì trở thành một người đệ
tử của Đức Phật: Again, when the Buddha went back to Kapilavastu,
his former home, he did not go to the palace of his father, but lived in
the banyan grove outside the town, and as usual went out to beg daily.
Suddhodana, his king-father, could not bear the idea of his own son,
the prince, begging on the streets of Kapilavastu. At once, the king visited
the Buddha in the grove and entreated him to return to the palace. The
Buddha answered him in the following words: “If I were still your
heir, I should return to the palace to share the comfort with you, but
my lineage has changed. I am now a successor to the Buddhas of the past,
all of whom have ‘thus gone’ (Tathagata) as I am doing at present,
living in the woods and begging. So your Majesty must excuse me.” The
king understood the words perfectly and became a pupil of the Buddha at
once.
c)
Như Lai, đến như vậy hay đi như vậy, trên thực tế, cùng
có ý nghĩa như nhau. Phật dùng cả hai và thường dùng
chúng trong hình thức số nhiều. Đôi khi các chữ đó được
dùng cho một chúng sinh đã đến như vậy, nghĩa là, đến
trong con đường thế gian. Đến như vậy và đi như vậy do
đó có thể được dùng với hai nghĩa: “Vị đã giác
ngộ nhưng đến trong con đường thế gian,” hay “vị đến
trong con đường thế gian một cách đơn giản.”—Thus come
and thus gone have practically the same meaning. The Buddha used them both
and usually in their plural forms. Sometimes the words were used for a
sentient being who thus come, i.e., comes in the contrary way. Thus-come
and Thus-gone can therefore be used in two senses: ‘The one who is enlightened
but comes in an ordinary way’ or ‘The one who comes in an ordinary
way simply.’
d)
Bấy giờ, Chân như hay Như Lai tạng chỉ cho trạng thái chân
thật của vạn hữu trong vũ trụ, cội nguồn của một đấng
giác ngộ. Khi tĩnh, nó là tự thân của Giác Ngộ, không liên
hệ gì đến thời gian và không gian; nhưng khi động, nó xuất
hiện trong hình thức loài người chấp nhận một đường
lối thế gian và sắc thái của đời sống. Trên thực tế,
Chân như hay Như Lai tạng là một, và như nhau: chân lý cứu
cánh. Trong Đại Thừa, chân lý cứu cánh được gọi là Chân
như hay Như thực: Now, Thusness or the Matrix of Thus-come or Thus-gone
means the true state of all things in the universe, the source of an Enlightened
One, the basis of enlightenment. When static, it is Enlightenment itself,
with no relation to time or space; but, when dynamic, it is in human form
assuming an ordinary way and feature of life. Thusness and the Matrix
of Thus-come are practically one and the same, the ultimate truth. In Mahayana
the ultimate truth is called Suchness or Thusness.
e)
Chân như trong ý nghĩa tĩnh của nó thì phi thời gian, bình
đẳng, vô thủy vô chung, vô tướng, không sắc, bởi vì bản
thân sự vật mà không có sự biểu lộ của nó thì không
thể có ý nghĩa và không bộc lộ. Chân như trong ý nghĩa động
của nó có thể xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào.
Khi được điều động bởi một nguyên nhân thuần tịnh,
nó mang hình thức thanh thoát; khi được điều động bởi
một nguyên nhân ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại. Do đó
chân như có hai trạng thái: tự thân chân như, và những biểu
lộ của nó trong vòng sống và chết: We are now in a position
to explain the Theory of Causation by Thusness. Thusness in its static
sense is spaceless, timeless, all-equal, without beginning or end, formless,
colorless, because the thing itself without its manifestation cannot be
sensed or described. Thusness in its dynamic sense can assume any form
; when driven by a pure cause it takes a lofty form; when driven by a tainted
cause it takes a depraved form. Thusness, therefore, is of two states.
The one is the Thusness itself; the other is its manifestation, its state
of life and death.
4)
Pháp Giới Duyên Khởi—Causation by the Universal Principle:
a)
Pháp giới (Dharmadhatu) có nghĩa là những yếu tố của nguyên
lý và có hai sắc thái—Dharmadhatu means the elements of the principle
and has two aspects:
·
Trạng thái chân như hay thể tánh: The state of Thusness or noumenon.
·
Thế giới hiện tượng: The world of phenomenal manifestation.
b)
Tuy nhiên trong Pháp Giới Duyên Khởi, người ta thường dùng
theo nghĩa thứ hai, nhưng khi nói về thế giới lý tưởng sở
chứng, người ta thường dùng nghĩa thứ nhất: In this causation
theory it is usually used in the latter sense, but in speaking of the odeal
world as realized, the former sense is to be applied.
c)
Đạo Phật chủ trương rằng không có cái được tạo độc
nhất và riêng rẻ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi
lên đồng thời; vạn hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau,
ảnh hưởng lẫn nhau, và do đó tạo ra một bản đại hòa
tấu vũ trụ của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ
sẽ không toàn vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng
không. Khi toàn thể vũ trụ tiến tới một bản hòa âm toàn
hảo, nó được gọi là nhất chân pháp giới, vũ trụ của
cái “Một” hay cái “Thực,” hay “Liên Hoa Tạng.” Trong
vũ trụ lý tưởng đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong hòa điệu
toàn diện, mỗi hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt
động của các hữu khác: Buddhism holds that nothing was created
singly or individually. All things in the universe, matter and mind, arose
simultaneously, all things in it depending upon one another, the influence
of each mutually permeating and thereby making a universal symphony of
harmonious totality. If one item were lacking, the universe would not be
complete; without the rest, one item cannot be. When the whole cosmos
arrives at a harmony of perfection, it is called the ‘Universe One and
True,’ or the ‘Lotus Store.’ In this ideal universe all beings will
be in perfect harmony, each finding no obstruction in the existence
and activity of another.
d)
Mặc dù quan niệm viên dung và đồng khởi là vũ trụ, nó
là một thuyết Pháp Giới Duyên Khởi, bản tính của hiện
khởi là vũ trụ, nó là một thứ triết lý về toàn thể
tính của tất cả hiện hữu, hơn là triết học về nguyên
khởi: Although the idea of the interdependence and simultaneous rise
of all things is called the Theory of Universal Causation, the nature of
the rise being universal, it is rather a philosophy of the totality
of all existence than a philosophy of origination.
·
See Bốn Loại Vũ Trụ.
·
See Mười Lý Do Vạn Hữu Hòa Điệu Trong Pháp Giới Duyên Khởi.
**
For more information, please see Tứ
Duyên Sanh.
Duyên
Khởi Chư Pháp, Căn Bản Vi
Tâm
Pháp: Duyên Khởi Chư Pháp Chi căn Bổn Giả Vi Tâm Pháp—Chư
pháp tùng tâm khởi. Hai trường phái Hiển và Mật giáo có
những giải thích khác nhau—The root of all phenomena is mind. The
exoteric and esoteric schools differ in their interpretation:
1)
Hiển giáo cho rằng Tâm pháp là vô sắc vô hình—The exoterics
hold that mental ideas or things are unsubstantial and invisible.
2)
Mật giáo lại cho rằng Tâm Pháp hữu sắc hữu hình—The esoterics
hold that mental ideas have both substance and form.
**
For more information, please see
Tâm Pháp.
Duyên
Khởi Kệ: Duyên Khởi Pháp Tụng—Bài kệ văn của ba trong
bốn đế hay giáo lý căn bản của đạo Phật, theo Trí Độ
Luận (bài kệ nầy thường được đặt dưới các nền chùa
hay bên trong hình tượng Phật)—The gatha of three of the four
dogmas of Buddhism according to the Sastra on the Prajna Sutra (usually
placed in the foundations of pagodas and inside of images of Budhas):
a)
Khổ Đế: All is suffering.
b)
Tập Đế: Suffering is intensified by desire.
c)
Diệt Đế: Extinction of desire is practicable.
Duyên
Khởi Pháp: Pratitya-samutpada (skt)—The twelve nidanas—See Thập
Nhị Nhân Duyên.
Duyên
Khởi Pháp Tụng: See Duyên Khởi Kệ.
Duyên
Kiếp: Predestined affinity.
Duyên
Lự Tâm: Lự Trí Tâm—Tâm dính líu vào cảnh giới, suy nghĩ
về sự vật hay tám loại tâm thức (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý, ý căn, a lại da)—The rational cogitating mind or eight
kinds of consciousness (eye, ear, tongue, body, mind, mana, alaya,
etc).
Duyên
Lực: Pratyaya-bala (skt)—Sức trợ duyên từ những điều kiện
hay hoàn cảnh bên ngoài, đối lại với nhân lực hay nguyên
nhân trực tiếp—The environmental or secondary force (the power of
the conditioning cause, circumstance, or contributing environement),
in contrasted with the causal force or direct cause (nhân lực).
Duyên
Lý:
1)
Quan niệm hay lý luận về chân lý: To reason on fundamental principles.
2)
Quán tưởng về chân lý tối thượng: To contemplate ultimate
reality.
**
For more information, please see Duyên Sự
Duyên
Lý Bồ Đề Tâm: Tâm toàn giác về chân lý tối thượng (tất
cả các pháp vốn là tịch diệt) nên phát tâm “thượng
cầu Bồ Đề, hạ hóa chúng sanh.” Đây cũng là tâm Bồ Đề
tối thượng—A mind that has a perfect understanding of the ultimate
reality; therefore, start out a vow “Above to seek bodhi, below to save
beings.” This is also the supreme bodhi-mind.
Duyên
Lý Đoạn Cửu: Suy xét chỉ Phật giới, còn thì đoạn lìa
phiền não của chín giới kia—By the consideration of the tenth
realm only, i.e. the Buddha-realm, to cut off the illusion of the nine
other realms of time and sense.
**
For more information, please see Thập
Giới.
Duyên
Nghiệp: Karma-cause—Karma circumstances/condition resulting from karma.
Duyên
Nhân: Những trợ duyên hay duyên phát triển do những điều
kiện bên ngoài (tất cả gốc thiện, công đức giúp đở
cho cái nhân, làm nảy sinh cái tính của cái nhân chân chính)—A
contributory or developing cause, i.e. development of the fundamental Buddha-nature;