PHỤ LỤC
(APPENDICES)
Appendix E
Những Kinh
Quan Trọng Trong Phật Giáo Nguyên Thủy
Important Sutras
in the Theravadan Buddhism
Kinh Hạng
Cùng Ðinh—Vasala Sutra—Outcast
---Tôi
nghe như vầy:
Vào
một thuở nọ Ðức Thế Tôn đang ngự tại vườn Kỳ Thọ
Cấp Cô Ðộc, trong rừng Kỳ Viên, gần thành Xá Vệ. Sáng
hôm ấy Ðức Thế Tôn đắp y chuẩn bị đi vào thành Xá Vệ
trì bình khất thực—Thus, I have heard: On one occasion the ‘Thus
Come One’ was staying at the monastery of Anathapindika, in Jeta
Grove, near Savatthi. One morning the ‘Thus Come One’ took his bowl
and robe and was about to enter Savatthi for alms.
---Lúc
bấy giờ trong nhà của Aggika Bharadvaja, một người theo đạo
Bà-La-Môn, cũng chuẩn bị để dâng cúng vật thực. Ðức
Thế Tôn ôm bát đi từ nhà nầy sang nhà khác trong thành Xá
Vệ, và đến gần nhà của vị Bà-La-Môn—At that time, in the
house of the Brahmin Aggika Bharadvaja, a fire was burning and an offering
was prepared. Then, the ‘Thus Come One’, going for alms from house
to house in Savatthi, approached the house of the BrahminAggika Bharadvaja.
---Thấy
Ðức Phật từ xa đến, vị Bà La Môn nói: “Hãy đứng lại
nầy ông thầy tu! Hãy dừng lại nầy ông đạo bần tiện
đê hèn! Hãy đứng lại nầy người cùng đinh khốn khổ!”—Upon
seeing the Thus Come One coming at a distance, the Brahmin said: “Stay
there, O shaveling! Stay there, O wretched monk! Stay there, O miserable
outcast!”
---Khi
nghe như vậy thì Ðức Thế Tôn ôn tồn nói: “Nầy ông Bà-La-Môn,
ông có biết người cùng đinh là thế nào, hay cái gì làm
cho người ta cùng đinh không?”—Upon hearing this, the ‘Thus
Come One’ addressed the Brahmin as follows: “Do you know, O Brahmin,
who an outcast is or the things that make an outcast?”
---Không,
quả thật tôi không biết. Nầy ông Gotama, tôi không hiểu
cùng đinh là thế nào và những gì làm cho người ta là cùng
đinh. Xin ông hoan hỷ giải thích—No, indeed, O Venerable Gotama.
I do not know who an outcast is or the things that make an outcast. Would
you explain the doctrine to me so that I may know who an outcast is and
what things make an outcast!”
---Hãy
nghe đây, nầy ông Bà-La-Môn! Như Lai nói đây, và hãy nhớ
lấy nằm lòng.
Hear
then, O brahmin! Bear it well in mind; I shall speak—Ông Bà-La-Môn
trả lời: “Tốt lắm, nầy Ðức Gotama, tôi nghe đây.”
The
Brahmin replied: “Very good, Venerable One.”
---Ðức
Thế Tôn mở lời tuyên ngôn như sau—The ‘Thus Come One’ spoke
as follows:
1)
Con người dễ nóng giận hay hiềm thù, có nhiều thói hư tật
xấu, tánh ưa phỉ báng dèm pha, người có quan kiến sai lầm
và bẩm tánh giả dối ưa gạt gẫm lừa phỉnh, hãy biết
rằng người ấy là cùng đinh—The man who is irritable, rancorous,
vicious, detractive, perverted in views and deceitful, he is an outcast.
2)
Người nào trên thế gian nầy làm tổn thương những chúng
sanh “sanh một lần,” hay những chúng sanh “sanh hai lần,”
người không có lòng bi mẫn đối với chúng sanh, hãy biết
rằng người ấy là cùng đinh—Whoever in this world harms living
beings (once-born or twice-born), in whom there is no compassion for living
beings, he is an outcast.
3)
Người nào tiêu diệt, vây hãm thôn xóm và được gọi là
người áp chế chinh phục, hãy biết rằng người ấy là cùng
đinh—Whoever destroys and besieges villages and hamlets and is known
as an oppressor, he is an outcast.
4)
Dầu trong xóm làng hay trong rừng hoang, người nào trộm cắp
hoặc sang đoạt sở hữu của người khác, hãy biết rằng
người ấy là cùng đinh—Whether he is in the village or in the
forest, whoever steals or appropriates (gains) by theft what belongs to
others or what is not given, he is an outcast.
5)
Người nào mang nợ, bỏ trốn, và khi được hỏi, lại nói
ngược, “Nào tôi có thiếu nợ gì đâu?” Người ấy là
cùng đinh—Whoever, having really taken a debt, flees when pressed saying:
“There is no debt to you,” he is an outcast.
6)
Người nào vì lòng tham giết bạn đồng hành để cướp giựt,
hãy biết rằng người ấy là cùng đinh—Whoever, desiring (wishing)
some trifle, kills a man going along on the road, and pillages others,
he is an outcast.
7)
Người nào được mời ra làm nhân chứng, nói lời giả dối
vì lợi riêng của mình hay vì lợi ích của ai khác, hoặc
để thâu đoạt tài sản, hãy biết người ấy là cùng đinh—Who,
for his own sake or for the sake of others, or for the sake of wealth,
utters lies when asked as a witness, he is an outcast.
8)
Người nào dùng áp lực hãm hiếp hay dụ dỗ vợ bạn hay
họ hàng, hãy biết người ấy là cùng đinh—Whoever by force
or with consent is seen transgressing with the wives of relatives or friends,
he is an outcast.
9)
Người nào giàu có mà không phụng dưỡng cha mẹ già đã
quá tuổi xuân xanh, hãy biết người ấy là cùng đinh—Whoever
being rich but does not support his aged parents who have passed their
youth, he is an outcast.
10)
Người nào đánh đập hay nói lời phiền nhiễu mẹ cha, anh
chị, hay nhạc mẫu nhạc phụ, hãy biết rằng người ấy
là cùng đinh—Whoever strikes or by speech annoys parents, brothers,
sisters or parents-in-law, he is an outcast.
11)
Người nào mà khi được hỏi về điều phải, lại khuyên
dạy làm điều sai lầm, hoặc dạy mà còn dấu kín bí mật,
hãy biết rằng người ấy là cùng đinh—Whoever, when questioned
about what is good, counsels people what is wrong (advise others wrongly)
and teaches in concealing way, he is an outcast.
12)
Người nào đã làm điều ác mà muốn không ai biết, và dấu
nhẹm giữ kín, hãy biết rằng người ấy là cùng đinh—Whoever,
having done an evil deed, wishes that it may not be known to others and
conceals it with his actions, he is an outcast.
13)
Người nào khi đến nhà người được đãi đằng với những
món ngon vật lạ, đến lượt mình, khi khách đến nhà lại
không tiếp đón phải lẽ, hãy biết rằng người ấy là cùng
đinh—Whoever, having gone to another’s house and partaken of choice
food, does him in return when he comes, he is an outcast.
14)
Người nào giả dối lường gạt một vị Bà-La-Môn, một
đạo sĩ ẩn dật, hay một du Tăng khất sĩ, hãy biết rằng
người ấy là cùng đinh—Whoever deceives by falsehood a Brahmana
or ascetic or any other mendicant, he is an outcast.
15)
Người nào bằng lời nói, phiền nhiễu một vị Bà-La-Môn
hay một đạo sĩ ẩn dật vào lúc thọ thực, và không dâng
cúng dường vật thực, hãy biết rằng người ấy là cùng
đinh—Whoever by speech annoys a Brahmana or ascetic, when meal time
has come and does not give alms, he is an outcast.
16)
Người nào trên thế gian nầy bị mịt mù che lấp trong vô
minh, lại bày điều tiên đoán việc không có để cầu mong
việc gì, hãy biết rằng người ấy là cùng đinh—Whoever
in this world, shrouded in ignorance, predicts what is not expected, he
is an outcast.
17)
Người nào tự tâng bốc mình, khinh rẻ người khác, và trở
nên đê hèn vì tánh tự phụ của mình, hãy biết người ấy
là cùng đinh—Whoever exalts himself and despises others and is debased
by his pride, he is an outcast.
18)
Người nào có tánh ưa khuấy nhiễu, tham lam quá độ, ham muốn
đê hèn, ích kỷ, lưu manh, không biết hỗ thẹn và ghê sợ
tội lỗi, hãy biết rằng người ấy là cùng đinh—Whoever
is annoying, avaricious, of base desires, selfish, deceitful, shameless
and fearless in evil actions, he is an outcast.
19)
Người nào nguyền rủa, mắng chưởi Ðức Phật hay một
vị đệ tử của Phật, dầu là hàng xuất gia hay cư sĩ tại
gia, hãy biết người ấy là cùng đinh—Whoever reviles the Buddha
or one of his disciple, recluse or householder, he is an outcast.
20)
Người nào không phải là một vị A-La-Hán mà mạo nhận tự
xưng mình là A-La-Hán, là kẻ trộm của toàn thể vũ trụ,
người ấy là hạng cùng đinh thấp hèn nhất—Whoever, without
being an Arahant claims to be an Arahant, is a thief in the whole universe,
he is the lowest outcast.
21)
Không phải do sanh trưởng là cùng đinh, không phải do sanh
trưởng là Bà-La-Môn. Do hành vi là cùng đinh, hay do hành vi
là Bà-La-Môn—Not by birth is one an outcast, not by birth is one a
Brahmana but by deeds one becomes an outcast, by deeds one becomes
a Brahmana.
22)
Hãy biết như vậy do câu chuyện nầy: Thuở ấy có Matanga,
một con người cùng đinh, người nấu thịt chó—Know it as
such by this illustration: there was the son of an outcast, known as Matanga,
a dog-cooker.
23)
Người con tên Matanga nầy thành đạt mức vinh quang tuyệt
đỉnh rất khó thành đạt, và được nhiều người thuộc
giai cấp Sát Ðế Lợi và Bà-La-Môn hỗ trợ—This Matanga achieved
the highest glory, which is difficult to obtain. Many wariors and
Brahmins came to minister unto him.
24)
Ði đến cảnh giới Phạm thiên bằng chiếc xe của Thiên đình.
Trên con đường xa lộ không dục vọng, Matanga hiện thân lên
cảnh Phạm Thiên, lánh xa mọi hình thức tham ái. Trạng thái
sanh trưởng trong cảnh cùng đinh không gây trở ngại cho sự
tái sanh vào cảnh Phạm Thiên—Mounting the celestial vehicle along
the passionless highway, he soared the Brahma realm, having discarded sense-desires.
Though birth did not prevent him from being reborn in the Brahma realm.
25)
Có những vị Phạm Thiên tái sanh vào gia đình truyền giáo
quen thuộc với kinh kệ Vệ Ðà. Những vị nầy lắm khi cũng
có những hành vi xấu xa tội lỗi—There are Brahmins born in
the family of preceptors, kinsmen of Veda hymns. They too are frequently
addicted to evil deeds.
26)
Trong kiếp nầy các vị ấy bị khinh khi, kiếp sống tới họ
sẽ lâm vào cảnh khổ. Sanh trưởng không giúp họ tránh khỏi
phải tái sanh vào khổ cảnh hay gặt hái quả dữ—In this
life, they are despised; in next life, they get a woeful state. Birth does
not preclude them from a woeful state or from condemnation.
27)
Do sanh trưởng người ta không trở thành cùng đinh, do sanh
trưởng người ta không trở thành Bà La Môn. Trở thành cùng
đinh do hành vi, trở thành Bà La Môn cũng do hành vi—By birth,
one is not an outcast, by birth one is not a Brahmana. But by deeds one
is an outcast, by deeds one is a Brahmana.
Khi
Ðức Thế Tôn dạy như vậy, vị Bà La Môn Aggika Bharadvaja
nói: Lành thay, Bạch Ðức Gotama! Lành thay, bạch Ðức Gotama!
Cũng như người kia dựng lại ngay ngắn một vật đã bị
lật đổ, hay khám phá ra một vật đã được dấu kín, hay
vạch đường chỉ lối cho người lạc bước, hay cầm đèn
soi sáng trong đêm tối để cho ai có mắt có thể trông thấy,
giáo pháp mà Ðức Gotama giảng dạy bằng nhiều phương cách
cũng dường thế ấy. Bạch Ðức Thế Tôn, nay con xin quay về
nương tựa nơi Ðức Gotama, nơi Giáo Pháp và nơi Giáo Hội
các vị đệ tử của Ngài. Kính xin Ðức Gotama từ bi chấp
nhận con vào hàng môn đệ ngay từ ngày nầy đến giờ phút
cuối cùng của đời con.
When
this was spoken, the Brahmin Vaggika Bharadvaja addressed the ‘Thus Come
One’ as follows:
Excellent,
O Venerable Gotama. Excellent! It is as if, O Venerable Gotama, a man were
to set upright that which was overturned or were to reveal that which was
hidden or were to point out the way to one who has gone astray or were
to hold a lamp amidst the darkness, so that whoever has eyes may see, even
so has the doctrine been expounded in various ways by the Venerable Gotama.
And
I seek refuge in the Venerable Gotama, the Doctrine, and the Order of Disciples.
May the Venerable Gotama receive me as a follower who has taken refuge
from this very day to life’s end.
Kinh
Hạnh Phúc—Mangala Sutta—Blessing
Tôi
nghe như vầy:
Thus,
I have heard:
---Một
thuở nọ Ðức Thê Tôn ngụ tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc
của Trưởng giả Cấp Cô Ðộc, gần thành Xá Vệ.
On
one occasion the ‘Exalted One’ was dwelling at the monastery of Anathapindika,
in Jeta Grove, near Savatthi.
---Lúc
bấy giờ đêm đã về khuya, có một vị Trời hào quang
chiếu sáng toàn khu Kỳ Viên, đến hầu Phật, lại gần nơi
Phật ngự, đảnh lễ Ðức Thế Tôn, rồi đứng sang một
bên. Khi đã đứng yên, vị Trời cung kính bạch với Ðức
Thế Tôn bằng lời kệ:
Now
when the night was far spent, a certain deity, whose surpassing splendour
illuminated the entire Jeta Grove, came to the presence of the ‘Exalted
One’ and drawing near, respectfully saluted him and stood at one side.
Standing, he addressed the ‘Exalted One’ in verse:
1)
Chư Thiên và nhân loại đều cầu mong được an lành và ai
cũng suy tìm hạnh phúc. Kính bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài
hoan hỷ chỉ dạy chúng con về Phúc Lành Cao Thượng Nhất—Many
deities and men, yearning after good, have pondered on blessings. Pray
and tell me the highest blessings.
2)
Không kết giao với người ác, thân cận với bậc hiền trí,
và tôn kính bậc đáng kính, là phúc lành cao thượng nhất—Not
to associate with fools, to associate with the wise and to honour
those who are worthy of honour, this is the highest blessing.
3)
Cư ngụ nơi thích nghi, đã có tạo công đức trong quá khứ,
và hướng tâm về chánh đạo, là hạnh phúc cao thượng—To
reside in a suitable locality, to have done meritorious actions in the
past and to set oneself in the right course, this is the highest blessing.
4)
Học nhiều hiểu rộng, lão luyện tinh thông thủ công nghiệp,
giới hạnh thuần thục trang nghiêm, có lời nói thanh nhã,
là hạnh phúc cao thượng—Vast learning, perfect handicraft, a highly
trained discipline and pleasant speech, this the highest blessing.
5)
Hiếu thảo phụng dưỡng cha mẹ, thương yêu tiếp độ vợ
con, và hành nghề an lạc, là hạnh phúc cao thượng—The support
of father and mother, the cherishing of a wife and children and peaceful
occupations, this is the highest blessing.
6)
Rộng lượng bố thí, tâm tánh chánh trực, giúp đở họ hàng,
và tạo nghiệp chân chánh, là hạnh phúc cao thượng—Liberality
(freedom), righteous conduct, the helping of relatives and blameless actions,
this is the highest blessing.
7)
Loại trừ và ngăn ngừa nghiệp ác, thận trọng kiên cử các
chất say, vững vàng giữ gìn phẩm hạnh, là hạnh phúc cao
thượng—To cease and abstain from evil, forbearance with respect to
intoxicants and steadfastness in virtue, this is the highest blessing.
8)
Ðức hạnh biết tôn kính, khiêm tốn, biết đủ, biết nhớ
ơn và đúng lúc, lắng nghe giáo pháp, là hạnh phúc cao thượng—Reverence,
humility, contentment, gratitude and opportune hearing of the Dharma, this
is the highest blessing.
9)
Nhẫn nhục, biết vâng lời, thường gặp gỡ bậc sa Môn,
và tùy thời luận đàm giáo pháp, là hạnh phúc cao thượng—Patience,
obedience, sight of Samanas and religious discussions at due season, this
is the highest blessing.
10)
Tự kiểm soát, sống đời thánh thiện, quán tri Tứ Ðế,
liễu ngộ Niết Bàn, là hạnh phúc cao thượng—Self-control,
holy life, perception of the Noble truths and the realization of Nivarna,
this is the highest blessing.
11)
Người mà tâm không giao động khi tiếp xúc với thế gian
pháp, không sầu muộn, vô nhiễm và an toàn, là hạnh phúc
cao thượng—He whose mind does not flutter by contact with worldly
contingencies, sorrowless (without sorrow), stainless (without stain),
and secure, this is the highest blessing.
12)
Ðối với những ai đã viên mãn hoàn thành các pháp trên,
ở mọi nơi đều không thể bị thất bại, đi khắp nơi đều
được hạnh phúc, là hạnh phúc cao thượng—To them, fulfilling
matters such as these, everywhere invincible and in every way moving happily,
these are the highest blessings.
Kinh
Suy Ðồi: Parabhava Sutta—Downfall
Tôi
nghe như vầy:
Thus,
I have heard:
---Một
thuở Ðức Thế Tôn ngự tại vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Ðộc,
gần thành Xá Vệ—On one occasion the ‘Exalted One’ was dwelling
at the monastery of Anathapindika, in Jeta Gorve, near Savatthi.
---Lúc
bấy giờ đêm về khuya có một vị Trời hào quang chiếu sáng
khắp cả khu Kỳ Viên, đến hầu Phật, lại gần nơi Phật
ngự, đảnh lễ Ðức Thế Tôn, rồi đứng sang một bên. Khi
đứng yên, vị Trời cung kính bạch với Ðức Thế Tôn bằng
lời kệ—Now when the night was far spent a certain deity, whose surpassing
splendour illuminated the whole Jeta Grove, came to the presence of the
‘Exalted One’ and, drawing near, respectfully saluted him and stood
at one side. Standing, he addressed the ‘Exalted One’ in verse:
1)
Con xin đến hầu Ðức Thế Tôn và bạch hỏi Ngài về con
người suy đồi. Kính xin Ðức Thế Tôn mở lượng từ bi,
hoan hỷ chỉ dạy chúng con vì nguyên nhân nào người ta suy
đồi—Having come to interrogate the ‘Exalted One,’ we ask Your
Honor about the falling man. Pray and tell us the cause of one’s downfall.
2)
Tình trạng tiến bộ dễ hiểu biết, tình trạng suy đồi
dễ hiểu biết. Người biết thương giáo pháp là tiến bộ,
kẻ ghét bỏ giáo pháp là suy đồi—Easily known is the progressive
one, easily known is the declining one. A lover of the Dharma is the progressive
one. A hater of the Dharma is the declining one.
3)
Ðiều nầy như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân
đầu tiên làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế
Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ nhì đưa con người
đến tình trạng suy đồi—This we learn is the first cause of one’s
downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the second cause of one’s
downfall.
4)
Thân thiện với kẻ hư hèn, không thấy gì tốt nơi người
đạo đức, người thật lòng vui thú với thói hư tật xấu,
đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi—The vicious are
dear to him though in the virtuous, he finds nothing pleasing and favours
the creeds of the vicious: this is the cause of one’s downfall.
5)
Ðiều nầy như vầy chúng con được học, là nguyên nhân thứ
nhì làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế Tôn,
xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ ba làm cho con người đến
tình trạng suy đồi—This we learn is the second cause of one’s
downfall. Pray and O ‘Exalted One,’ tell us the third cause of one’s
downfall.
6)
Người dễ duôi dã dượi, ham vui ở chỗ đông người, không
chuyên cần, biếng nhác và nóng nảy, đó là nguyên nhân làm
cho con người suy đồi—The man who is drowsy, fond of society, not
industrious, indolent, and who expresses anger: this is the cause of one’s
downfall.
7)
Ðiều nầy như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ ba làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế Tôn,
xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ tư đưa con người đến
tình trạng suy đồi—This we learn as the third cause of one’s
downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the fourth cause of one’s
downfall.
8)
Người giàu có mà không cấp dưỡng cha mẹ già đã quá tuổi
xuân xanh, đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi—Whoever,
though being rich, does not support his aged parents who have passed their
youth: this is the cause of one’s downfall.
9)
Ðiều nầy như vầy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ tư làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế Tôn,
xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ năm đưa con người đến
tình trạng suy đồi—This we learn is the fourth cause of one’s
downfall. Pray, O Exalted One, tell us the fifth cause of one’s downfall.
10)
Người giả dối, gạt gẫm một vị Bà La môn, một vị đạo
sĩ ẩn dật du phương khất sĩ, đó là nguyên nhân làm cho
con người suy đồi—He who, by falsehood,
deceives a Brahmana or an ascetic or
any other mendicant: this is the cause
of one’s downfall.
11)
Ðiều nầy như vầy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ năm làm cho người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế Tôn,
xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ sáu đưa con người đến
tình trạng suy đồi—This we learn is the fifth cause of one’s
own downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the sixth cause of one’s
downfall.
12)
Người có tiền của dồi dào, nhiều vàng bạc, lắm thực
vật, nhưng chỉ thọ hưởng riêng mình, đó là nguyên nhân
làm cho con người suy đồi—The man who owns much property, who
has gold and food but enjoys alone his delicacies: this is the cause of
one’s downfall.
13)
Ðiều nầy như vầy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ sáu làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế
Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ bảy làm cho con người
suy đồi—This then we learn is the sixth cause of one’s downfal.
Pray, O ‘Exalted One,’ and tell us the seventh cause of one’s downfall.
14)
Người kiêu căng, tự phụ với dòng dõi, với tài sản sự
nghiệp hoặc giai cấp mình và khinh khi những người khác,
đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi—The man who prides
in birth or wealth or clan and despises his own kinsmen: this is the cause
of one’s downfall.
15)
Ðiều như vầy, chúng con được học, là nguyên nhân thứ
bảy làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế Tôn,
xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ tám đưa con người đến
tình trạng suy đồi—This we learn is the seventh cause of one’s
downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the eighth cause of one’s
downfall.
16)
Người trụy lạc, say sưa rượu chè, cờ bạc, và phung phí
tài sản, đó là nguyên nhân làm cho con người suy đồi—The
man who is a debauchee, a drunkard, a gambler and who squanders whatever
he possesses: this is the cause of one’s downfall.
17)
Ðiều nầy như vầy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ tám làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế
Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ chín đưa con người
đến tình trạng suy đồi—This we learn is the eighth cause of
one’s downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the ninth cause of
one’s downfall.
18)
Không biết an phận với chính vợ nhà, ăn ở với gái giang
hồ và vợ người khác, đó là nguyên nhân làm cho con người
suy đồi—Not contented with one’s own wives, if one is seen amongst
courtesans and the wives of others: this is the cause of one’s downfall.
19)
Ðiều nầy như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ chín làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế
Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười đưa con người
đến tình trạng suy đồi—This we learn is the ninth cause of one’s
downfall. Pray, O ‘Exalted One,’ tell us the tenth cause of one’s
downfall.
20)
Người đã quá tuổi xuân xanh, cưới về bà vợ quá trẻ
và ăn ở sống chung không phải vì tình thương chăm sóc, đó
là nguyên nhân làm cho con người suy đồi—The man who, past
his youth, brings a very young wife and sleeps not for jealousy of her:
this is the cause of one’s downfall.
21)
Ðiều nầy như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ mười làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức Thế
Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười một đưa con
người đến tình trạng suy đồi—This we learn is the tenth cause
of one’s downfall. Pray, O Exalted One, tell us the eleventh cause of
one’s downfall.
22)
Người tự đặt mình dưới quyền một người đàn bà hay
một người đàn ông phung phí vô độ lượng, đó là nguyên
nhân làm cho con người suy đồi—He who places in authority an
intemperate spend-thrift woman, or a man of similar nature: this is the
cause of one’s downfall.
23)
Ðiều nầy như vậy, chúng con được học, là nguyên nhân
thứ mười một làm cho con người suy đồi. Kính bạch Ðức
Thế Tôn, xin Ngài chỉ dạy nguyên nhân thứ mười hai đưa
con người đến tình trạng suy đồi—Then this we learn is the
eleventh cause of one’s downfall. Pray, O Exalted One, tell us the twelfth
cause of one’s downfall.
24)
Người có ít phương tiện mà nhiều tham vọng, dòng dõi chiến
sĩ mà khao khát cầm quyền tối thượng, đó là nguyên nhân
làm cho con người suy đồi—He, who of slender means but vast ambition
or of warrior birth, aspires to sovereignty: this is the cause of one’s
downfall.
25)
Thấu rõ những nguyên nhân đưa đến tình trạng suy đồi
trên thế gian, bậc Hiền Trí Cao Thượng sống với trí tuệ
trong cảnh giới nhàn lạc—Knowing well these causes of downfall
in the world, the Noble Sage, endowed with insight, shares a happy realm.
Kinh
Tam Bảo—Ratana Sutta—Jewels
1)
Bất luận ai hội tụ nơi đây, hoặc chúng sanh trên địa
cầu hoặc chúng sanh ở cảnh trời, ngưỡng mong tất cả đều
an lành hạnh phúc! Tất cả hãy chú tâm lắng nghe những lời
nầy!—Whatever beings are assembled, whether terrestrial or celestial,
may every being be happy! Moreover, may they be attentively listen to my
words!
2)
Tất cả hãy chú tâm suy niệm; hãy biểu lộ lòng từ ái đối
với chúng sanh trong cảnh người, ngày đêm hằng dâng cúng.
Hãy tận tình hộ trì những người ấy—Accordingly, give good
heed to all beings; show your love to the humans who day and night bring
offerings to you. Wherefore guard them zealously.
3)
Dầu kho tàng quý giá nào trên đời hay trong một cảnh giới
khác, dầu châu báu trong những cảnh trời, không gì sánh bằng
Ðức Thế Tôn. Ðúng vậy, Ðức Phật là châu báu thù diệu.
Do sự thật nầy, ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—Whatsoever
treasure there be either here or in the world beyond or whatever precious
jewel in the heavens yet there is non comparable with the ‘Accomplished
One.’
Truly,
in the Buddha, is this precious jewel.
By
this truth may there be happiness!
4)
Bậc Thiện trí dòng Thích Ca đã viên mãn. Chấm dứt
phiền não, ly dục và thành đạt trạng thái vô sanh bất tử
vô thượng. Không gì sánh bằng giáo pháp.
Ðúng
vậy, giáo pháp là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng
mong được an lành hạnh phúc!—The tranquil Sage of the Sakya realized
that cessation, passion-free (free of passion), immortality
supreme, there is no comparable with that of the
Dharma. Truly, in the Dharma, is this precious jewel. By this truth
may there be happiness!
5)
Cá bậc Thánh nhân mà Ðức Thế Tôn tán dương, được mô
tả là tâm an trụ không gián đoạn. Không có gì như tâm an
trụ ấy. Ðúng vậy, giáo pháp là châu báu thù diệu. Do sự
thật nầy, ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—That sanctity
praised by the Buddha Supreme, is described as “concentration without
interruption.” There is nothing like that concentration. Truly, in the
Dharma, is this precious jewel. By this truth may there be happiness!
6)
Tám vị Thánh ấy hợp thành bốn đôi, được bậc thiện
tri thức tán dương; các Ngài là những bậc đáng được cúng
dường, là đệ tử của Ðấng Thiện Thệ. Vật dâng cúng
đến các Ngài sẽ đem lại quả phúc dồi dào. Ðúng vậy,
Tăng già là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng
mong được an lành hạnh phúc—Those eight individuals, praised
by the virtuous, constitute four pairs. They, worthy of offerings, the
disciples of the ‘Welcome One,’ to these gifts given yield abundant
fruit.
Truly, in the Sangha, is this precious jewel. By this truth may there be
happiness!
7)
Với ý chí kiên trì vững chắc, sống trọn vẹn trong giáo
huấn của Ðức Gotama, không ái dục, các Ngài đã thành đạt
những gì cần thành đạt và thể nhập quả vị Bất Tử,
các Ngài an nhàn thọ hưởng cảnh thanh bình an lạc. Ðúng
vậy, Tăng già là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng
mong được an lành hạnh phúc!—With steadfast mind, applying themselves
throroughly in the dispensation (delivery) of the Gotama, exempt from passion,
they have attained to that which should be attained and plunging into the
deathless, they enjoy the peace obtained without price. Truly, in the Sangha
is this precious jewel. By this truth may there be happiness!
8)
Như cột trụ chôn sâu trong lòng đất không thể bị gió bốn
phương lay chuyển, cùng thế ấy Như Lai tuyên ngôn, con người
chánh trực đã chứng ngộ Tứ Diệu Ðế lại cũng như vậy.
Ðúng vậy, Tăng già là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy,
ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—Just as a firm post sunk
in the earth cannot be shaken by the four winds, so do I declare him to
be a righteous person, who thoroughly perceives the Noble Truths. Truly,
in the Sangha, is this precious jewel! By this truth may there be happiness!
9)
Những bậc đã thấu đạt rõ ràng các Thánh Ðế mà bậc
trí tuệ thậm thâm đã giáo truyền, dầu dễ duôi phóng dật,
vẫn không tái sanh đến lần thứ tám. Ðúng vậy, Tăng già
là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng mong được
an lành hạnh phúc!—Those who comprehend clearly the Noble Truths,
well taught by him of deep wisdom (do not, however, exceeding hedless they
may be, undergo an eight birth). Truly, in the Sangha, is this precious
jewel. By this truth may there be happiness!
10)
Người chứng ngộ minh sát, ba điều kiện nếu còn, sẽ được
loại trừ, đó là thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ.
Không bao giờ sa đọa vào bốn cảnh khổ và không còn có
thể vi phạm sáu trọng nghiệp bất thiện. Ðúng vậy, Tăng
già là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng mong được
an
lành hạnh phúc!—For him with the development of insight three conditions
come to none namely, illusion, doubt, and indulgence in wrong rites and
ceremonies, should there be any. From the four states of misery, he is
now absolutely freed and is incapable of committing the six heinous crimes.
11)
Bất luận hành động nào mình đã làm bằng thân, khẩu hay
ý, bậc Thánh nhân không thể giấu; bởi vì người đã thấy
con đường không thể còn phạm lỗi. Ðúng vậy, Tăng già
là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy, ngưỡng mong được
an lành hạnh phúc!—Whatever evil deeds he does (whether by deeds,
word or thought), he is incapable of hiding it: for it had been said that
such an act is impossible for one who has seen the Path.
12)
Cũng dường như cây trong rừng đua nhau đâm chồi nẩy lộc
khi mùa hè bắt đầu ấm nóng. Giáo pháp tối thượng dẫn
đến Niết Bàn đã được giáo truyền vì lợi ích tối thượng
cũng thế ấy. Ðúng vậy, Ðức Phật là châu báu thù diệu.
Do sự thật nầy, ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—Like
unto the woodland groves with blossomed tree-tops in the first heat of
the summer season, had the sublime doctrine that leads to Nirvana been
taught for the highest good. Truly, in the Buddha, is this precious jewel.
By this truth may there be happiness!
13)
Ðức Thế Tôn Vô Thượng, bậc Toàn Giác, bậc Thánh Nhân
đã ban bố, bậc đã đem đến và giáo truyền Pháp cao siêu
tối thượng. Ðúng vậy, Ðức Phật là châu báu thù diệu.
Do sự thật nầy, ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—The
Unrivalled (Unparalleled) Excellent One, the Knower, the giver, and bringer
of the Excellent has expounded the excellent Doctrine. Truly, in the Buddha,
is this precious jewel. By this truth may there be happiness!
14)
Quá khứ đã chấm dứt, vị lai thì chưa đến, tâm không dính
mắc trong một kiếp tái sanh vị lai, tham ái không sanh khởi,
các bậc trí tuệ ấy siêu thoát như ngọn đèn kia chợt tắt.
Ðúng vậy, Tăng già là châu báu thù diệu. Do sự thật nầy,
ngưỡng mong được an lành hạnh phúc!—The past is extinct, future
has not yet come, their minds are not attached to a future birth, their
desires do not grow, those wise ones go out even as this lamp. Truly, in
the Sangha, is this precious jewel. By this truth may there be happiness!
15)
Chúng ta tụ hội nơi đây, dầu là chúng sanh ở địa cầu
hay thiên giới, hãy đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc được
chư Thiên và nhân loại kính mộ tôn vinh. Ngưỡng mong được
an lành hạnh phúc—We, beings here assembled, whether terrestrial
or celestial, salute the accomplished Buddha, honoured by gods and humans.
May there be happiness!
16)
Chúng ta tụ hội nơi đây, dầu là chúng sanh địa cầu hay
thiên giới, hãy đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc được chư
thiên và nhân loại kỉnh mộ tôn vinh. Ngưỡng mong được
an lành hạnh phúc—We, beings here assembled whether terrestrial or
celestial, salute the accomplished Buddha, honoured by gods and humans.
May there be happiness!
17)
Chúng ta tụ hội nơi đây, dầu là chúng sanh địa cầu hay
thiên giới, hãy đảnh lễ Ðức Thế Tôn, bậc được chư
thiên và nhân loại kỉnh mộ tôn vinh. Ngưỡng mong được
an lành hạnh phúc—We, beings here assembled whether terrestrial or
celestial, salute the accomplished Buddha, honoured by gods and humans.
May there be happiness!
Kinh
Từ Bi—Metta Sutta—Loving-kindness
1)
Người khôn khéo mưu tìm lợi ích cho mình và có ước nguyện
thành đạt trạng thái vắng lặng nên có hành động như thế
nầy: Người ấy phải có khả năng, hải chánh trực, hoàn
toàn chánh trực, phải biết
lắng nghe, và phải khiêm tốn—He who skilled in his good and who
wishes to attain that state of calm should act as follows: he should be
efficient, upright, perfectly upright, obedient and humble.
2)
Tri túc cho người thiện tín dễ dàng hộ trì , ít bị ràng
buộc, không nhiều nhu cầu, thu thúc lục căn, kín đáo, tế
nhị, không luyến ái gia đình—Contented, easily supportable (fulfilled),
with duties, of Right Livelihood, controlled in senses, discreet, not impudent,
not be greedily attached to families.
3)
Người ấy không nên vi phạm lỗi lầm nhỏ bé nào mà bậc
thiện trí có thể khiển trách. Ước mong tất cả chúng được
an vui và châu toàn! Ước mong tất cả đều có tâm hoàn toàn
trong sạch—He should not commit any slight wrong such that other wise
men might censure him. May all beings be happy and secure! May their
heart be wholesome!
4)
Bất luận chúng sanh ấy như thế nào: yếu đuối hay khỏe
mạnh, cao lớn mập mạp hay tầm vóc bình thường, lùn thấp
bé nhỏ, hữu tình hay vô tình, những chúng sanh ở gần hay
những chúng sanh ở xa, những chúng sanh đã ra đời hoặc những
chúng sanh chưa ra đời. Ước mong tất cả chúng sanh, không
loại trừ bất luận ai, đều có tâm an lành hạnh phúc—Whatsoever
living beings there be: feeble or strong, long, stout or medium, short,
small or large, seen or unseen, those dwelling far or near, those who are
born and those who are to be born—may all beings, without exception,
be happy minded!
5)
Không ai làm cho ai thất vọng, không ai khinh bỉ ai, dầu người
thế nào hoặc ở nơi đâu. Trong cơn giận dữ hay lúc oán
hờn, không nên mong điều bất hạnh đến với người khác—Let
none deceive another nor despise any person whatsoever in any place. In
anger or ill-will, let him not wish any harm to another.
6)
Cũng như từ mẫu hết lòng bảo vệ đứa con duy nhất, dầu
nguy hiểm đến tánh mạng, cùng thế ấy người kia trau dồi
tâm Từ vô lượng vô biên, rải khắp mọi chúng sanh—Just
as a mother would protect her only child at the risk of her own life, even
so let him cultivate a boundless heart towards all beings.
7)
Hãy để những tư tưởng từ ái vô biên bao trùm toàn thể
thế gian, bên trên, phía dưới, bốn phương tám hướng, không
để cho điều gì làm trở ngại, không mảy may nóng giận,
không chút hiềm thù—Let his thoughts of boundless love pervade the
whole world—above, below and across, without any obstruction, without
any hatred, without any enemy.
8)
Dầu người ấy đi, đứng, nằm, ngồi, giây phút nào còn
thức, đều nên phát triển tâm niệm. Ðó là hạnh phúc cao
thượng nhất—Whether he walks, stands, lies down or sits, as long
as he is awake, he should develop this mindfulness. This, they say, is
the highest conduct here.
9)
Không để rơi vào những lầm lạc, đức hạnh trong sạch
và viên mãn giác ngộ, người ấy lánh xa mọi hình thức ái
dục. Ðúng thật vậy, người ấy không còn trở lại vào
bào thai—Not falling into error, virtuous and endowed with insight,
he discards attachment to sense-desires. Of a truth, he does not come again
for conception in a womb.
Châm
Ngôn Tục Ngữ—Precepts and Proverbs:
Người
ta chỉ thấy sức khỏe là quí khi bệnh tật đến với mình:
Health is not valued till sickness comes.
Giàu
chiều hôm, khó sớm mai: Rich today and poor tomorrow.
Gieo
gì gặt nấy: To reap as one has sown.
Châm
Ngôn Tục Ngữ—Precepts and Proverbs:
Ai
lo phận nấy: Everyman for himself.
Hứa
ít làm nhiều: Promise little but do much.
Hữu
chí cánh thành: Where there is a will, there is a way.
Nói
là bạc, im lặng là vàng: Speak is silver but silence is gold.
Khẩu
Phật tâm xà: A honey tongue, a heart of gall.
Người
lạc quan thấy hy vọng trong khổ nạn; kẻ bi quan thấy khổ
nạn trong hy vọng: An optimist sees an opportunity in every calamity;
a pessimist sees a calamity in every opportunity.
Người
nói nhiều thường làm ít: He who says big, does a little.
Người
nói ít thường lại là người biết nhiều nhất: Who knows
most, speaks least.
Ai
thích tán gẫu với anh sẽ tán gẫu về anh: Who chatters to you
will chatter of you.
Ai
kiên nhẫn sẽ đạt được ý nguyện: He that can have patience
can have what he will.
Khắc
phục được gian nan là chuyển gian nan thành cơ hội: Difficulties
mastered are opportunities won.
Không
có sự thông minh nào bằng im lặng: No wisdom like silence.
Không
nên xét đoán qua bề ngoài: One must not judge people by their appearances.
Lòng
tham vô đáy: The more you have, the more you want.
Lời
nói tử tế là điệu nhạc của thế gian: Kind words are the
music of the world.
Lợi
lộc lắm khi làm cho người ta quên mất cả nhân nghĩa: Kindness
of heart is forgotten where gain follows.
Trèo
cao té nặng: The higher up, the greater the fall.
Xem
bạn hiểu người: A man is known by his friends.
Họa
trung hữu phúc (trong rủi có may): Every cloud has a silver lining.