Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
TH
Thabaka
(p): A bunch—Một bó.
Thaddha
(p): Callous—Hard (a)—Chai cứng.
Thai
Buddhism: Phật Giáo Thái Lan—Buddhism flourished in Thailand, used
to be Siam, from a very early period, about the first or second century
A.D., if not earlier. According to Prof. P.V. Bapat in The Twenty-Five
Hundred Years of Buddhism, this is proved by archaeological findings at
Pong Tuk and Phra Pathom. Phra Pathom is about 30 miles west of Bangkok,
and Pong Tuk lies about 20 miles farther to the west. Remains of a religious
structure, the images of the Buddha, inscribed terracottas and definite
symbols of Buddhism like the dharmacakra, belonging probably to the first
or second century A.D., have been found in these places. To a somewhat
later period belong to the large number of ruined sanctuaries and some
fine sculptures which indicate the strong influence of the Gupta period.
These have been referred to the Dvaravati school. Dvaravati was a flourishing
kingdom at the time of Hsuan-Tsang in the first half of the seventh century
A.D. About the eighth or ninth century A.D., both Siam and Laos formed
part of Cambodia politically and influenced by religious condition of that
country. So, both Brahmanical religion and Buddhism can be found flourishing
side by side in all these regions. The area of modern-day Thailand was
originally inhabited by the Mons, who were conquered by Khmers during the
reign of King Suryavarman of Angkor (1001-1050); they in turn were displaced
by the Thais about two centuries later. Following Mongolian invasion of
Nan-Chao in 1254, increasing numbers of Thais migrated from southern China
into the area, now northern Thailand, which was controlled by the Khmers.
These early Thai people came into contact with Mahayana Buddhism. Around
1260, the kingdom of Sukhothai freed itself from Khmer domination, and
shortly thereafter King Rama Khamheng (1275-1317) established Theravada
as the state religion. About the middle of the thirteenth century A.D.,
the Thais made themselves masters of Siam and Laos and put an end to the
political supremacy of the Cambodians over them. Under the influence of
the Thai rulers, Buddhism of the Theravada school and the Pali language
flourished all over Siam and Laos. The Thai king Sri Suryavamsa Rama Maha-Dharmikarajadhiraja
was not only a great patron of Buddhism, but himself adopted the life of
a Buddhist monk, preaching the doctrines of the Buddha all over his kingdom.
About 1361 A.D., he sent some learned bhikkhus and scholars to Ceylon and
induced the great monk called Mahasami Sangharaja to come to Siam. Under
his inspirationand the active efforts of the king, Buddhism and Pali literature
not only obtained a firm footing, but also spread to a number of small
Hinduized states in the territory now called Laos, such as Alavirastra,
Khmerrastra, Suvarnagrama, Unmarga-sila, Yonakarastra, and Haripunjaya.
Many of these still possess their local chronicles written in Pali. From
this time onwards, Buddhism flourished in Siam and the neighboring regions,
and Brahmanism declined until it almost disappeared, leaving only a few
traces in public ceremonies and customs. During this time, all monks from
Sukhothai came to Sri Lanka to receive ordination from a Sinhala Mahathera
named Udumbara Mahasami. After returning to Sukhothai, all these monks
established the Sahala Sangha, and this order spread throughout the region.
In the middle of the fourteenth century, King Kuna built Wat Suan Doc Stupa
to house a Buddha relic. However, in 1492, Sukhothai was overthrown by
Ayudhya, and the new royal family continued to support Buddhism. In the
early seventeenth century, king Songdharm sponsored an edition of the Pali
Canon. A high point in the development of Thai Buddhism was the reign of
King Maha Dhammaraja II (1733-1758), during which monks from Sri Lanka
were sent to Ayudhya to receive ordination. King Songdharm in turn sent
a group of monks led by Phra Upali to Sri Lanka. This group remained in
Sri Lanka for three years and in 1753, they ordained a group of monks who
would later found the Siyam Nikaya Ayudhya. King Rama I moved the capital
to Bangkok, and like his predecessors devoted himself to improve Buddhism
in Thailand. King Rama IV, who had been a monk for twenty-five years before
ascending the throne. While he was still ordained, he formed a reformist
group in the Samgha named Thammayut Nikaya (Dhammayuttika Nikaya). This
sect emphasized stricter adherence to the rules of the Vinaya than the
rest of Thai Samgha, which beloned to the Mahanikaya. After he became king,
he decreed that the Mahanikaya must also adopt his reform measures. He
continued to involve in the affairs of the Samgha, which was carried on
by his successors. In 1902 Rama V issued the Buddhist Order Act, which
explicitly stated that the business of the Samgha was also the business
of the government and the government should oversee the Samgha. A hierarchy
of religious positions was created, with the supreme patriarch or Samgha-raja
at the top. He is the final authority in monastic affairs, but is appointed
by the king. Under the leadership of King Rama V, Thailand was able to
avoid becoming a European colony, and in 1932 the country became a constitutional
democracy. Today Buddhism influences all strata of Thai society—Phật
Giáo phát triển tại Thái Lan từ một thời kỳ rất sớm,
khoảng thế kỷ thứ nhất hay thứ nhì sau Tây Lịch, nếu
không muốn nói là sớm hơn. Theo Giáo sư P.V. Bapat trong Hai
Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, thì điều nầy được chứng
minh bởi các phát hiện khảo cổ tại Pong Tuk và Phra Pathom.
Phra Pathom cách Băng Cốc khoảng 30 dậm về phía Tây, còn Pong
Tuk nằm xa hơn về phía Tây 20 dặm nữa. Các di tích về
cấu trúc tôn giáo, các tượng Phật, các đồ đất nung có
khắc chữ và những biểu tượng rõ ràng của đạo Phật,
có lẽ thuộc thế kỷ thứ 1 hoặc thứ 2 đã được tìm thấy
tại các nơi nầy. Một số lớn đền đài đã bị đổ nát
và các tác phẩm điêu khắc mang nặng ảnh hưởng thời Gupta.
Những thứ nầy được xem là thuộc trường phái Dvaravati.
Dvaravati là một vương quốc phồn thịnh vào thời của ngài
Huyền Trang, nghĩa là vào đầu thế kỷ thứ 7. Trong khoảng
thế kỷ thứ 8 và thứ 9, cả Xiêm La và Lào là một phần
của Cam Bốt về mặt chánh trị và chịu ảnh hưởng của
nước nầy về mặt tôn giáo. Chúng ta có thể thấy cả đạo
Phật và Bà La Môn cùng phát triển bên nhau tại các vùng đất
nầy. Vùng đất mà bây giờ là Thái Lan, nguyên thủy là nơi
trú ngụ của người Mons, dân tộc đã bị người Khmer xâm
lấn dưới thời vua Suryavarman của thành Angkor (1001-1050); rồi
khoảng hai thế kỷ sau đó họ được người Thái thay thế.
Sau khi Mông Cổ xâm chiếm Nam Chiếu vào năm 1254, số người
Thái di cư từ phía Nam Trung Hoa tăng lên, những người Thái
ban sơ này tiếp xúc với trường phái Phật giáo Đại Thừa.
Vào thời đó họ hoàn toàn bị người Khmers kiểm soát. Khoảng
năm 1260, vương quốc Sukhothai tự giải phóng khỏi ách thống
trị của Khmers. Một thời gian ngắn sau đó, quốc vương Thái
Lan Rama Khamheng (1257-1317) thiết lập Theravada làm quốc giáo.
Khoảng giữa thế kỷ thứ 13 thì người Thái nắm được
chủ quyền cho cả nước Xiêm và Lào, chấm dứt ưu thế chính
trị của người Cam Bốt. Dưới ảnh hưởng của các vua Thái,
Phật giáo thuộc trường phái Nguyên Thủy và ngôn ngữ Ba
Li thịnh hành khắp Thái Lan và Lào. Vua Sri Suryavamsa Rama Maha-Dharmikarajadhiraja
không chỉ là một nhà bảo trợ lớn cho đạo Phật mà chính
ông cũng sống cuộc đời một tu sĩ Phật giáo và đi thuyết
giảng đạo Phật ở khắp mọi nơi trong vương quốc của
mình. Vào năm 1361, ông cử một số Tỳ Kheo và học giả uyên
bác qua Tích Lan để mời đại Tăng Mahasami Sangharaja đến
Thái. Với sự gợi ý của vị Đại Tăng cùng những nỗ lực
của nhà vua, Phật giáo và văn học Ba Li không chỉ có được
một nền tảng vững chắc mà còn lan sang một số nước nhỏ
theo Ấn Độ giáo như là Lào quốc, Alavirastra, Khmerrastra, Suvarnagrama,
Unmarga-sila, Yonakarastra, và Haripunjaya. Phần lớn các nơi nầy
hiện còn giữ biên niên sử địa phương viết bằng tiếng
Ba Li. Từ đó trở đi, Phật giáo đã thịnh hành trên đất
Thái và các vùng lân cận, còn đạo Bà La Môn thì đã sa sút
cho đến khi gần như biến mất, chỉ còn lưu lại một ít
dấu vết trong các nghi lễ và phong tục của quần chúng. Trong
khoảng thời gian này, tất cả các nhà sư tại xứ Sukhothai
(bây giờ là Thailand) đều qua Tích Lan và thọ đại giới
với Đại Tăng người Tích Lan tên Udumbara Mahasami. Sau khi trở
về Thái Lan, những vị Tăng này thiết lập một Giáo Hội
Tăng Già Sahala và Giáo Hội Tăng già này phát triển khắp
vùng Sukhothai. Vào giữa thế kỷ thứ 14, vua Kuna xây Tháp Wat
Suan Doc để thờ xá lợi Phật. Tuy nhiên, năm 1492, vương quốc
Sukhothai bị vương quốc Ayudhya lật đổ, hoàng gia mới vẫn
tiếp tục ủng hộ Phật giáo. Vào khoảng đầu thế kỷ thứ
17, vua Songdharm bảo trợ việc in bộ kinh tạng Pali. Cao điểm
phát triển Phật giáo ở Thái Lan là dưới thời vua Maha Dhammaraja
(1733-1758), trong thời kỳ đó các nhà sư từ Tích Lan được
gởi qua vương quốc Ayudhya (Thái Lan ngày nay) để thọ đại
giới. Vua Songdharm gởi một phái đoàn Tăng già đến Tích
Lan, đoàn này lưu lại Tích Lan 3 năm, vào năm 1753 họ truyền
giới cho một nhóm Tăng Tích Lan và sau đó chính nhóm Tăng
mới thọ giới này đã thành lập giáo hội Phật giáo Siyam
Nikaya tại Tích Lan. Vua Rama I dời kinh đô về Bangkok, và cũng
như những vua trước, ông tận lực cải thiên Phật giáo ở
Thái Lan. Đến đời vua Rama IV, người đã từng là một Tăng
sĩ 25 năm trước khi lên ngôi. Lúc còn trong giáo đoàn, ông
đã thành lập nhóm cải cách tăng già Dhammayuttika (Thammayut—Thai).
Truyền thống này nhấn mạnh đến giới luật gắt gao hơn
tất cả các truyền thống khác ở Thái Lan thuộc truyền thống
Mahanikaya. Sau khi lên ngôi ông bắt buộc các trường phái thuộc
truyền thống Mahanikaya phải chấp nhận những cải cách của
ông. Triều đại của ông vẫn tiếp tục quan hệ tới Tăng
vụ, tới đời vua Rama V vào năm 1902, nhà vua ra một đạo
luật công bố là những Tăng vụ của giáo đoàn cũng là công
vụ của chính phủ, và chính phủ có nhiệm phải coi sóc giáo
đoàn. Hệ thống giáo phẩm được thành lập, với chức vụ
Tăng Thống hay Tăng Vương là cao cấp và có quyền hạn cao
nhất, nhưng chức vụ này được nhà vua chỉ định. Dưới
sự lãnh đạo của vua Rama V, Thái Lan tránh được cảnh rơi
vào vòng thuộc địa của các nước Âu Châu, và năm 1932 Thái
Lan trở thành quốc gia có lập hiến. Ngày nay Phật giáo ảnh
hưởng tất cả các tầng lớp xã hội Thái Lan.
Thai
Lai Temple: Thái Lai Tự—Also called Bao Quoc Temple, was built in
the 15th century. It is said that under the reign of King Ly Nam De, General
Ly Thien Bao built and named the temple “Hoang Duong Phat Phap”. It
has been rebuilt so many times. The major rebuilding took place in 1869.
At present, the temple is located in Dai Lai hamlet, Xuan Phuc village,
Thai Binh town. Inside the main hall, the lotus-shaped stone altar has
epoch in the fourteenth century. The incense column was erected in 1695.
Inside the temple, there is a big copper bell, casted under the reign of
king Minh Mang, with words “Thai Lai Tu” inscribed on it—Cũng gọi
là Bảo Quốc Tự, được xây vào thế kỷ thứ 15. Người
ta nói rằng dưới triều vua Lý Nam Đế, tướng Lý Thiên Bảo
đã xây dựng và đặt tên là chùa “Hoằng Dương Phật Pháp”.
Chùa đã trải qua nhiều cuộc trùng tu. Lần trùng tu chính
xảy ra vào năm 1869. Hiện tại chùa tọa lạc trong thôn Đại
Lai, xã Xuân Phúc, thị xã Thái Bình. Bên trong chùa bệ thờ
Phật bằng đá hình hoa sen, có niên đại vào khoảng thế
kỷ thứ 14. Cột hương được dựng lên vào năm 1695. Trong
chùa có một chuông đồng lớn, được đúc vào thời vua Minh
Mạng trên có khắc chữ Thái Lai Tự.
Thala
(p): Land—Đất.
Thalaka
(p): A small bowl—Cái chén.
Thambha
(p): Obduracy—Cố chấp.
Thana
(p): Place—Locality—Địa điểm.
Thanayati
(p): To thunder—Sấm sét nổi lên.
Thanh
An Pagoda: Chùa Thánh Ân—Name of an ancient pagoda in North Vietnam.
The pagoda is located in Kenh Pho hamlet, Cao Bang village, Gia Luong district,
Bac Ninh province. Thanh An pagoda has been famous for its position and
its importance in Vietnam history, especially in the war against Mongolian
arm forces. According to the village elders, the name “Thanh An” means
the “Grace” from the king because the pagoda was built by the land
of the King. Also according to the old documents, Thanh An Pagoda used
to lie on the left of Bong River (now the river no longer exists). After
so many ups and downs, the new Thanh An Pagoda was rebuilt in the early
of the twentieth century, under the reign of Bao Dai. Its structure is
quite simple with five-room and three-treasure house for the cult of the
Buddha and the ancestral house for workshipping King Tran Nhan Tong and
its superior patriarchs. There are still 32 stone tablets, average size
of 1.03 to 1.3 meters high and 0.9 meter wide—Chùa Thánh Ân tọa
lạc trong thôn Kênh Phổ, xã Cao Bằng, quận Gia Lương, tỉnh
Bắc Ninh. Đã từ lâu chùa Thánh Ân nổi tiếng bởi vị
trí và tầm quan trọng của nó trong lịch sử chống quân Mông
Cổ của dân tộc. Theo các bậc kỳ lão trong làng sở dĩ chùa
mang tên Thánh Ân do bởi xưa kia dân chúng vùng này được
vua ban cho đất xây chùa. Theo tài liệu cổ thì chùa Thánh
Ân nằm bên trái sông Bông (nay đã không còn), tuy nhiên dấu
vết ngôi chùa cũ đã không còn. Vào đầu thế kỷ thứ 20,
dưới triều Bảo Đại, chùa lại được trùng tu, với lối
kiến trúc không có gì đặc sắc. Tòa Tam Bảo được thiết
kế năm gian để thờ Phật. Nhà Tổ thờ vua Trần Nhân Tông
và các vị tổ sư khác. Trong chùa vẫn còn lưu giữ 32 tấm
thạch bia, cở kích trung bình tứ 1,03 đến 1.3 mét chiều cao,
và khoảng 90 phân bề rộng.
Thanh
Truoc Temple: Chùa Thanh Trước—Name of a famous ancient pagoda located
in Gò Tre hamlet, Long Thuận village, Gò Công town, South Vietnam.
The pagoda was built by some herdsmen in 1826 and called Phật Linh. Up
to 1851, Most Venerable Quý Chơn Hội took responsibility of rebuilding
the pagoda and remaned it Thanh Trước. It has been headed by seven successors.
In 1896, Most Venerable Hải Tràng had it restored for the first time.
Since 1941, Most Venerable Hoằng Thông, Head of the pagoda, had the
pagoda rebuilt in 1946, 1958—Tên một ngôi chùa cổ nổi tiếng
tọa lạc tại ấp Gò Tre, xã Long Thuận, thị xã Gò Công,
Nam Việt Nam. Ban đầu chùa có tên là Phật Linh do các mục
đồng dựng lên năm 1826. Đến năm 1851, Hòa Thượng Quý Chơn
Hội đứng ra xây chùa và lấy tên là Thanh Trước Tự. Chùa
đã trải qua bảy đời truyền thừa. Năm 1896, Hòa Thượng
Hải Tràng cho trùng tu lần thứ nhất. Từ năm 1941, Hòa Thượng
Hoằng Thông đã cho trùng tu các năm 1946 và 1958.
Thanita
(p): Thunder (n)—Tiếng sấm sét.
Thank
(n & v): Cảm tạ.
Thanks
(n): Lời cảm tạ.
Thank
the Buddha: Báo Phật.
Thanks
to efforts: Nhờ vào những nỗ lực.
Thank
(v) respectfully: Kính tạ.
Thankful
(a): Biết ơn.
Thankfulness
(n): Lòng biết ơn.
Thanksgiving
(n): Lễ Tạ Ơn (ở Hoa Kỳ vào ngày thứ Năm cuối cùng của
tháng 11).
Thanna
(p): Mother’s milk—Sửa mẹ.
Thapaniyo-panha
(p): Be set aside—Trả lời câu hỏi bằng cách giả lơ hay bỏ
qua—See Four ways of answering questions.
Thapati
(p): A carpenter—Thợ mộc.
Thapeti
(p): To place—Đặt để.
Thap
Phap Di Da Pagoda: Chùa Thập Pháp Di Đà—Name of an ancient pagoda
in Central Vietnam. The pagoda is located in Van Thuan hamlet, Nhon Hanh
village, An Nhon district, Binh Dinh province. The pagoda was built in
1665 by Zen master Nguyen Thieu. To this date, many famous Zen masters
have been trained in this pagoda. Inside the main hall, besides the big
statue of Sakyamuni Buddha, there are still many other statues of Buddhas
and Bodhisattvas, among them, there are wooden statues of eighteen Arhats,
carved in the nineteenth century. Besides, there are also sets of the three
honoured ones of Sakyamuni Buddha, Manjusri, and Samantabhadra Bodhisattvas,
statues of Ananda, Mahakasyapa, Bodhidharma, and Avalokitesvara Bodhisattva,
etc. The pagoda was designed in shape of the Chinese character of “Mouth”
letter with four areas, the Main hall, the Abbot’s quarters, the Western
temple, and the Eastern temple. They are combined by a large yard named
“Heaven Peak”. The Main hall is the biggest with five woody rooms and
four rows of chief pillars and four rows of subordinate pillars. The Abbot’s
quarter was built according to architectural style of South-China. Its
roof is paved by yin-yang tiles. The Western and Eastern temples have the
same style as the the Abbot’s quarters. In 1973, the Abbot’s
quarters were rebuilt by village people and local Buddhists—Tên của
một ngôi cổ tự ở miền Trung Việt Nam. Chùa tọa lạc trong
thôn Vạn Thuận, xã Nhơn Hạnh, quận An Nhơn, tỉnh Bình Định.
Chùa do Thiền sư Nguyên Thiều xây dựng vào năm 1665. Tính
đến nay chùa đã trải qua 15 đời truyền thừa với nhiều
vị Thiền sư danh tiếng như Liễu Triệt, Minh Lý, Phước Huệ,
vân vân. Bên trong chánh điện, ngoài tượng Phật Thích Ca
lớn còn rất nhiều tượng Phật và Bồ Tát khác, trong số
này có tượng thập bát La Hán. Ngoài ra, chùa còn các bộ
Tam Thế bằng đồng thếp vàng, tượng ngài A Nan, Ca Diếp,
Tổ Bồ Đề Đạt Ma, và Bồ Tát Quán Thế Âm, vân vân. Chùa
được thiết kế theo hình chữ “Khẩu” với bốn khu bao
gồm Chánh điện, Phương Trượng, Tây đường và Đông đường.
Bốn khu này được nối với nhau bằng một khoảng sân rộng
gọi là “Thiên Đỉnh.” Chánh điện là khu rộng nhất với
5 gian bằng gỗ, bốn hàng cột chính và bốn hàng cột phụ.
Phương trượng được thiết kế theo lối kiến trúc của
miền Nam trung Quốc, lợp ngói âm dương. Tây đường và Đông
đường cũng có lối kiến trúc giống như Phương trượng.
Vào năm 1973, chùa được dân làng và Phật tử địa phương
trùng tu lại khu Phương trượng.
Thap
Phuong Temple: Chùa Thập Phương—Name of a temple, located in Rạch
Giá town, Kiên Giang province. It is also called Chùa Lớn. The temple
was built in the late eighteenth century. There is a Bodhi-tree, brought
back from India in 1955, was grown in front of the temple—Tên của
một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Rạch Giá, tỉnh Kiên
Giang. Dân địa phương còn gọi là chùa Lớn. Chùa được
xây dựng vào cuối thế kỷ thứ 18. Trước chùa có cây Bồ
Đề ở Ấn Độ được thỉnh về trồng vào năm 1955.
Thatched
hall: Thảo Đường.
1)
The thatched hall (building): Căn nhà lợp bằng tranh.
2)
The building in the Thatched Hall monastery at Ch’ang-An where Kumarajiva
translated sutras: Chánh điện trong ngôi Thảo Đường Tự, tại
Trường An nơi ngài Cưu Ma La Thập dịch kinh sách.
Thatched
hut: Thảo Am—A thatched hut as a monastery or retreat. A place for
meditation—Ngôi nhà tranh dùng làm tự viện hay chỗ an cư kiết
hạ.
Thava
(p): Eulogy—Lời tán thán.
Thavara
(p): Immovable (a)—Bất động.
Thavati
(p): To praise—Tán thán.
Thay
Pagoda: Chùa Thầy—Name of an ancient pagoda in North Vietnam. Thay
Pagoda is located in Sai Son village, Quoc Oai district, Ha Tay province.
It was built during the Ly Dynasty. In the front yard, on the left side,
there is a vast lake with pavillion on the water in the middle where typical
water pupet shows of Northern Vietnam are usually given. The pagoda seems
to be more beautiful with a couple of three-span bridges with tiled roof
built in 1602. The main area of the pagoda composes of three houses erected
on stone foundation. The outer house is called “Minor Worshipping Area,”
the second is the main hall for worshipping the Buddha, and the inner house
is dedicated for the altar of Monk Tu Dao Hanh. Two corridors along two
sides have eighteen statues of Arhats. Behind the pagoda are a belfry with
a bronze bell casted under the Ly Dynasty and a compartment for putting
drum which is 1.5 meter in diameter—Tên của một ngôi tự viện
cổ ở miền Bắc Việt Nam. Chùa Thầy tọa lạc tại xã Sài
Sơn, quận Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Chùa được xây dựng dưới
triều nhà Lý. Sân trước bên trái có một cái đầm thật
lớn, giữa đầm là một thủy đình, nơi diễn những trò
múa rối thật đặc sắc của miền Bắc. Chùa có vẻ đẹp
hơn với hai chiếc cầu bằng gạch có mái ngói che được
xây dựng vào năm 1602. Khu vực chính của chùa gồm ba dãy
nhà được dựng lên trên một nền đá. Lớp ngoài cùng là
nhà Tiền Tế, lớp kế tiếp là chánh điện thờ Phật, và
lớp trong cùng là nơi thờ ngài Từ Đạo Hạnh. Dọc hai bên
chùa là hai dãy hành lang có tượng của 18 vị A La Hán. Phía
sau chùa có tháp chuông treo quả chuông bằng đồng được
đút dưới thời nhà Lý, cùng với một lầu để trống với
chiếc trống có đường kính 1.5 mét.
Theft
(n): Tội ăn cắp.
Theism
(n): Hữu thần luận.
Theist
(n): Người tin hữu thần.
Theistic
(a): Hữu thần.
Thena
(p): A thief—Tên trộm.
Thenana
(p): Theft—Sự trộm cắp.
Theneti
(p): To steal—Ăn trộm.
Theocentric:
Lấy thượng đế làm trung tâm.
Theocentricism:
Chủ nghĩa lấy thượng đế làm trung tâm.
Theocentricity:
Việc lấy thượng đế làm trung tâm.
Theological
dualism: Thuyết nhị nguyên.
Theology
(n): Môn Thần học.
Theoretical
Buddha-nature: Lý Phật tánh—Lý Tức Phật—Realization that all
beings are of Buddha-nature (the Buddha-nature which is fundamentally in
all sentient beings)—Mỗi chúng sanh đều sẳn có Phật tánh
(Phật tánh căn bản trong mọi chúng sanh)—See Dual aspects of
the Buddha-nature, and Six stages of Bodhisattva developments.
(Not)
theorizing: Không bằng lý thuyết.
Theory
of causation: Pratityasamutpada (skt)—Nguyên lý Duyên Khởi.
(I)
An overview of “Causation”—Tổng quan về Duyên Khởi—According
to Prof. Junjiro Takakusu in the Essentials of Buddhist Philosophy, the
theory of causation by Dharmadhatu is the climax of all the causation theories;
it is actually the conclusion of the theory of causation origination, as
it is the universal causation and is already within the theory of universal
immanence, pansophism, cosmotheism, or whatever it may be called. The causation
theory was explained first by action-influence, but as action originates
in ideation, we had, secondly, the theory of causation by ideation-store.
Since the ideation-store as the repository of seed-energy must originate
from something else, we had, thirdly, the causation theory explained by
the expression “Matrix of the Thus-come” (Tathagata-garbha) or Thusness.
This curious term means that which conceals the Buddha. Because of concealment
it has an impure side, but because of Buddhahood it has a pure side
as well. It is a synonym of Thusness (Tathatva or Tathata, not Tattva=Thisness
or Thatness) which has in its broadest sense both pure and impure nature.
Through the energy of pure and impure causes it manifests the specific
character of becoming as birth and death, or as good and evil. Thusness
pervades all beings, or better, all beings are in the state of Thusness.
Here, as the fourth stage, the causation theory by Dharmadhatu (universe)
is set forth. It is the causation by all beings themselves and is the creation
of the universe itself, or we can call it the causation by the common action-influence
of all beings. Intensively considered the universe will be a manifestation
of Thusness or the Matrix of Tathagata (Thus-come). But extensively considered
it is the causation of the universe by the universe itself and nothing
more—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học
Phật Giáo, pháp giới duyên khởi là cực điểm của tất
cả những thuyết nhân quả; thục sự đó là kết luận của
thuyết duyên khởi bởi vì nó là lý tắc nhân quả phổ biến
và đã nằm trong lý bản hữu, thông huyền của vũ trụ, hay
nói thế nào cũng được. Lý tắc duyên khởi được giải
thích trước tiên bằng nghiệp cảm duyên khởi, nhưng vì nghiệp
phát khởi trong tạng thức, nên thứ đến chúng ta có A Lại
Da duyên khởi. Vì A Lại Da, hay tạng thức, là kho tàng của
chủng tử, sanh khởi từ một cái khác nên chúng ta có Như
Lai Tạng duyên khởi, hay chân như. Từ ngữ kỳ lạ nầy chỉ
cho cái làm khuất lấp Phật tánh. Do sự che khuất nầy mà
có phần bất tịnh, nhưng vì có Phật tánh nên có cả phần
tịnh nữa. Nó đồng nghĩa với Chân Như (Tathata—Không phải
như thế nầy hay như thế kia) mà theo nghĩa rộng nhất thì
có đủ cả bản chất tịnh và bất tịnh. Do công năng
của những căn nhân tịnh và bất tịnh, nó biểu lộ sai biệt
tướng của hữu tình như sống và chết, thiện và ác.
Chân như bảo trì vạn hữu, hay nói đúng hơn, tất cả vạn
hữu đều ở trong Chân như. Nơi đây, giai đoạn thứ tư,
Pháp giới Duyên khởi được nêu lên. Đó là lý tắc tự
khởi và tự tạo của hữu tình và vũ trụ, hoặc giả chúng
ta có thể gọi nó là duyên khởi nghiệp cảm chung của tất
cà mọi loài. Nói hẹp thì vũ trụ sẽ là một sự biểu hiện
của Chân như hay Như Lai Tạng. Nhưng nói rộng thì đó là
duyên khởi của vũ trụ do chính vũ trụ, chứ không gì khác.
(II)
The meanings of Causation—Ý nghĩa của Duyên Khởi: These definitions
are based on the interpretation of Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials
of Buddhist Philosophy—Những định nghĩa nầy căn cứ trên sự
giải thích về Duyên Khởi của Giáo Sư Junjiro Takakusu trong
Cương Yếu Triết Học Phật Giáo.
1)
Conditioned arising: Arising from the secondary causes, in contrast with
arising from the primal nature or bhutatatha (Tánh giác): Sự vật
chờ duyên mà nẩy sinh, đối lại với tánh giác hay chân như.
2)
Everything arises from conditions and not being spontaneous and self-contained
has no separate and independent nature: Vạn sự vạn vật hay các
pháp hữu vi đều từ duyên mà khởi lên, chứ không có tự
tánh.
3)
Buddhism does not give importance to the idea of the Root-Principle or
the First Cause as other systems of philosophy often do; nor does it discuss
the idea of cosmology . Naturally such a branch of philosophy as theology
did not have grounds to develop in Buddhism. One should not expect
any discussion of theology from a Buddhist philosopher. As for the problem
of creation, Budhism is ready to accept any theory that science may advance,
for Buddhism does not recognize any conflict between religion and science:
Phật giáo không coi trọng ý niệm về nguyên lý căn nhân hay
nguyên nhân đệ nhất như ta thường thấy trong các hệ thống
triết học khác; và cũng không bàn đến ý niệm về vũ trụ
luận. Tất nhiên, triết học về Thần học không thể nào
phát triển trong Phật giáo. Đừng ai mong có cuộc thảo luận
về Thần học nơi một triết gia Phật giáo. Đối với vấn
đề sáng thế, đạo Phật có thể chấp nhận bất cứ học
thuyết nào mà khoa học có thể tiến hành, vì đạo Phật
không thừa nhận có một xung đột nào giữa tôn giáo và khoa
học.
4)
According to Buddhism, human beings and all living things are self-created
or self-creating. The universe is not homocentric; it is a co-creation
of all beings. Buddhism does not believe that all things came from one
cause, but holds that everything is inevitably created out of more than
two causes. The creations or becomings of the antecedent causes continue
in time-series, past, present and future, like a chain. This chain is divided
into twelve divisions and is called the Twelve Divisioned Cycle of Causation
and Becomings. Since these divisions are interdependent, the process is
called Dependent Production or Chain of causation. The formula of this
theory is as follows: From the existence of this, that becomes; from the
happening of this, that happens. From the non-existence of this, that does
not become; from the non-happening of this, that does not happen: Theo
đạo Phật, nhân loại và các loài hữu tình đều tự tạo,
hoặc chủ động hoặc thụ động. Vũ trụ không phải là
quy tâm độc nhất; nó là môi trường cọng sinh của vạn
hữu. Phật giáo không tin rằng vạn hữu đến từ một nguyên
nhân độc nhất, nhưng cho rằng mọi vật nhất định phải
được tạo thành ít nhất là hai nguyên nhân. Những sáng hóa
hay biến thành của các nguyên nhân đi trước nối tiếp trong
liên tục thời gian, quá khứ, hiện tại và vị lai, như một
chuỗi dây xích. Chuỗi xích nầy được chia thành 12 bộ phận,
gọi là 12 khoen nhân duyên vì mỗi bộ phận liên quan nhau với
công thức như sau “Cái nầy có nên cái kia có; cái nầy sinh
nên cái kia sinh. Cái nầy không nên cái kia không; cái nầy
diệt nên cái kia diệt.”
(III)
Categories of Causation—Phân loại Duyên Khởi:
1)
Causation by Action-influence: Nghiệp Cảm Duyên Khởi—Causation
by action-influence is depicted in the Wheel of Life—Nghiệp cảm duyên
khởi được dùng để miêu tả bánh xe sinh hóa.
a)
There is law and order in the progress of cause and effect. This is the
theory of causal Sequence. In the Twelve Divisioned Cycle of Causations
and Becomings, it is impossible to point out which one is the first cause,
because the twelve make a continuous circle which is called the Wheel of
Life: Trong sự tiến hành của nhân và quả, phải có định
luật và trật tự. Đó là lý thuyết về nghiệp cảm. Trong
12 chi duyên khởi, không thể nêu ra một chi nào để nói là
nguyên nhân tối sơ. Bởi vì, cả 12 chi tạo thành một vòng
tròn liên tục mà người ta gọi là “Bánh Xe Sinh Hóa,” hay
bánh xe luân hồi.
b)
People are accustomed to regard time as progressing in a straight line
from the infinite past through present to infinite future. Budhism, however,
regards time as a circle with no beginning or end. Time is relative: Người
ta có thói quen coi sự tiến hành của thời gian như một đường
thẳng từ quá khứ vô cùng ngang qua hiện tại đến vị lai
vô tận. Thế nhưng đạo Phật lại coi thời gian như là một
vòng tròn không có khởi đầu, không có chấm dứt. Thời gian
tương đối.
c)
The death of a living being is not the end; at once another life begins
to go through a similar process of birth and death, and thus repeats the
round of life over and over again. In this way a living being, when considered
in relation to time, forms an endless continuum. It is impossible to define
what a living being is, for it is always changing and progressing
through the Divisions or Stages of Life. The whole series of stages must
be taken in their entirety as representing the one individual being.
Thus, a living being, when regarded in relation to space, forms a complex
of five elements. The Wheel of Life is a clever representation of the Buddhist
conception of a living being in relation to both space and time: Một
sinh vật chết đi không là chấm dứt; ngay đó, một đời
sống khác bắt đầu trải qua một quá trình sống chết tương
tự, và cứ lập lại như vậy thành một vòng tròn sinh hóa
bất tận. Theo đó một sinh vật khi được nhìn trong liên
hệ thời gian, nó tạo thành một dòng tương tục không gián
đoạn. Không thể xác định sinh vật đó là thứ gì, vì nó
luôn luôn biến đổi và tiến hóa qua 12 giai đoạn của đời
sống. Phải đặt toàn bộ các giai đoạn nầy trong toàn thể
của chúng coi như là đang biểu hiện cho một sinh thể cá
biệt. Cũng vậy, khi một sinh vật được nhìn trong tương
quan không gian, nó tạo thành một tập hợp phức tạp gồm
năm yếu tố hay ngũ uẩn. Bánh xe sinh hóa là lối trình bày
khá sáng sủa của quan điểm Phật giáo về một sinh vật
trong liên hệ với thời gian và không gian.
d)
The Wheel of Life is a circle with no beginning, but it is customary to
begin its exposition at Blindness (unconscious state). Blindness is only
a continuation of Death. At death the body is abandoned, but Blindness
remains as the crystalization of the effects of the actions performed during
life. This Blindness is often termed Ignorance; but this ignorance should
not be thought of as the antonym of knowing; it must include in its meaning
both knowing and not knowing, blindness or blind mind, unconsciousness:
Bánh xe sinh hóa là một vòng tròn không khởi điểm, nhưng
thông thường người ta trình bày nó bắt đầu từ vô minh,
một trạng thái vô ý thức, mù quáng. Kỳ thật, vô minh chỉ
là một tiếp diễn của sự chết. Lúc chết, thân thể bị
hủy hoại nhưng vô minh vẫn tồn tại như là kết tinh các
hiệu quả của các hành động được tạo ra trong suốt cuộc
sống. Đừng nên coi vô minh như là phản nghĩa của tri kiến;
phải biết nó bao gồm cả tri, sự mù quáng hay tâm trí u tối,
vô ý thức.
e)
Blindness leads to blind activity. The energy or the effect of this blind
activity is the next stage, Motive or Will to Live. This Will to Live is
not the kind of will which is used in the term “free will;” it is rather
a blind motive toward life or the blind desire to live. Blindness and Will
to Live are called the Two Causes of the past. They are causes when regarded
subjectively from the present; but objectively regarded, the life in the
past is a whole life just as much as is the life of the present: Vô minh
dẫn tới hành động u tối, mù quáng. Hành, năng lực, hay
kết quả của hành vi mù quáng đó, là giai đoạn kế tiếp.
Nó là động lực, hay ý chí muốn sống. Ý chí muốn sống
không phải là loại ý chí mà ta thường dùng trong ý nghĩa
như “tự do ý chí;” thực sự, nó là một động lực mù
quáng hướng tới sự sống hay khát vọng mù quáng muốn sống.
Vô Minh và Hành được coi là hai nhân duyên thuộc quá khứ.
Chúng là những nguyên nhân khi nhìn chủ quan từ hiện tại;
nhưng khi nhìn khách quan đời sống trong quá khứ là một đời
sống toàn diện giống hệt như đời sống hiện tại.
2)
Causation by the Ideation-Store: Alaya-vijnana (skt)—A Lại Da
Duyên Khởi—Causation by the Ideation-store is used to explain the
origin of action—A Lại Da Duyên Khởi để giải thích căn nguyên
của nghiệp.
a)
Actions or karma are divided into three groups, i.e., those by the body,
those by speech and those by volition. When one makes up one’s mind to
do something, one is responsible for it and is liable to retribution, because
volition is a mind-action even if it is not expressed in speech or manifested
in physical action. But the mind being the inmost recess of all actions,
the causation ought to be attributed to the mind-store or Ideation-store:
Nghiệp được chia thành ba nhóm, chẳng hạn như nghiệp nơi
thân, nơi khẩu và nơi ý. Nếu khởi tâm tạo tác, phải chịu
trách nhiệm việc làm đó và sẽ chịu báo ứng, bởi vì ý
lực là một hành động của tâm ngay dù nó không phát biểu
ra lời nói hay bộc lộ trong hành động của thân. Nhưng tâm
là cứ điểm căn để nhất của tất cả mọi hành động
luật duyên sinh phải được đặt vào kho tàng tâm ý, tức
Tàng Thức hay A Lại Da thức (see Alaya-vijnana).
b)
The Buddhist ideation theory divides the mind into eight faculties, i.e.,
the eye-sense, the ear-sense, the nose-sense, the tongue-sense, the body-sense,
the co-ordinating sense-center or the sixth mano-vijnana, the individualizing
thought-center of egotism or the seventh manas-vijnana, and the storing-center
of ideation or the eighth alaya-vjnana, or Ideation-store. Of these eight
faculties, the seventh and the eighth require explanation: Lý thuyết
ý thể của đạo Phật, tức học thuyết Duy Thức, chia thức
thành tám công năng, như nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức, ý thức, mạt na thức, và a lại da thức.
Trong tám thức nầy, thức thứ bảy và thứ tám cần phải
giải thích.
c)
The seventh, the Individualizing Center of Egotism is the center where
all the selfish ideas, egotistic, opinions, arrogance, self-love, illusions,
and delusions arise: Thức thứ bảy là trung tâm cá biệt hóa
của ngã tính, là trung tâm hiện khởi của các ý tưởng vị
ngã, ích kỹ, kiêu mạn, tự ái, ảo tưởng và mê hoặc.
d)
The eighth, the Storing Center of Ideation, is where the ‘seeds’ of
all manifestations are deposited and later expressed in manifestations.
Buddhism holds that the origin of all things and events is the effect of
ideation. Every seed lies in the Storing Center and when it sprouts out
into the object-world a reflection returns as a new seed. That is, the
mind reaches out into the outer world and, perceiving objects, puts
new ideas into the mind-store. Again, this new seed sprouts out to reflect
back a still newer seed. Thus the seeds accumulate and all are stored there
together. When they are latent, we call them seeds, but when active we
call them manifestations. The old seeds, the manifestations and the new
seeds are mutually dependent upon each other, forming a cycle which
forever repeats the same process. This is called the Chain of Causation
by Ideation: Thức thứ tám là trung tâm tích tập của ý thể,
là nơi chứa nhóm các ‘hạt giống’ hay chủng tử của tất
cả mọi hiện khởi và chúng được bộc lộ trong các hiện
khởi đó. Đạo Phật chủ trương rằng nguyên khởi của vạn
hữu và vạn tượng là hiệu quả của ý thể. Mỗi chủng
tử tồn tại trong tàng thức và khi nó trào vọt vào thế
giới khách quan, nó sẽ được phản ảnh để trở thành một
hạt giống mới. Nghĩa là tâm vươn ra thế giới ngoại tại
và khi tiếp nhận các đối tượng nó đặt những ý tưởng
mới vào trong tàng thức. Lại nữa, hạt giống mới đó sẽ
trào vọt để phản ảnh trở lại thành một hạt giống mới
mẻ khác nữa. Như thế, các hạt giớng hay các chủng tử
tụ tập lại và tất cả được chứa nhóm ở đây. Khi chúng
tiềm ẩn, chúng ta gọi chúng là những chủng tử. Nhưng khi
chúng hoạt động, chúng ta gọi chúng là những hiện hành.
Những chủng tử cố hữu, những hiện hành, và những chủng
tử mới hỗ tương phụ thuộc lẫn nhau tạo thành một vòng
tròn mãi mãi tái diễn tiến trình trước sau như nhất. Đây
gọi là A Lại Da Duyên Khởi.
e)
That which makes the seed or subconscious thought sprout out into actual
manifestation, that is, the motive force which makes the chain of causation
move, is nothing but ideation. It is easy to see from this theory of Causation
by Ideation that Delusion, Action and Suffering originate from mind-action,
or ideation. The Storing Center of Ideation is carried across rebirth to
determine what the next form of life will be. This Storing Center might
be regarded as similar to the soul in other forms of religion. According
to the Buddhist doctrine, however, what is reborn is not the soul, but
is the result of the actions performed in the preceding life. In Buddhism
the existence of the soul is denied: Cái làm cho chủng tử hay vô
thức tâm phát khởi thành hiện hành, nghĩa là động lực
tạo ra dòng vận động của duyên khởi, chính là ý thể,
nghĩa là thức. Có thể thấy một cách dễ dàng, theo thuyết
A Lại Da Duyên Khởi nầy, rằng Hoặc, Nghiệp và Khổ khởi
nguyên từ nghiệp thức, hay ý thể. Tàng thức lưu chuyển
tái sinh để quyết định một hình thái của đời sống kế
tiếp. Có thể coi tàng thức giống như một linh hồn trong
các tôn giáo khác. Tuy nhiên, theo học thuyết của đạo Phật,
cái tái sanh không phải là linh hồn, mà là kết quả của
các hành động được thi hành trong đời sống trước. Trong
đạo Phật, người ta không nhận có hiện hữu của linh hồn.
3)
Causation By Thusness: Chân Như Duyên Khởi—Causation by Thusness
is used to explain the origin of the ideation-store. The ideation-store
of a human being is determined by his nature as a human being and this
nature is a particular dynamic form of Thusness. One should not ask where
Thusness or Matrix of Thus-come originates, because it is the noumenon,
the ultimate indescribable Thusness—Chân Như Duyên Khởi, để giải
thích căn nguyên của tàng thức. Tàng thức của một người
được quy định bởi bản tính của người đó và bản tánh
nầy là hình thái động của chân như. Không nên hỏi chân
như hay Như Lai tạng khởi lên từ đâu, bởi vì nó là thể
tánh, là chân như cứu cánh không thể diễn đạt.
a)
Thusness or suchness, is the only term which can be used to express the
ultimate indefinable reality. It is otherwise called the Matrix of Thus-come.
Thus-come is Buddha-nature hidden in ordinary human nature. “Thus-come”
is a designation of the Buddha employed by himself instead of “I”or
“we,” but not without special meaning. After he had attained Enlightenment,
he met the five ascetics with whom he had formerly shared his forest life.
These five ascetics addressed him saying “Friend Gotama.” The Buddha
admonished them, saying that they ought not treat the Thus-come (thus enlightened
I come) as their friend and their equal, because he was now the Enlightened
One, the Victorious, All-wise One. When he had ‘thus come’ in his present
position as the instructor of all men and even of devas, they should treat
him as the Blessed One and not as an old friend: Chân như là từ ngữ
duy nhất có thể dùng để diễn tả thực tại cứu cánh vượt
ngoài định danh và định nghĩa. Còn được gọi là Như Lai
Tạng. Như Lai Tạng là Phật tánh ẩn tàng trong bản tánh của
phàm phu. Như Lai là một biểu hiệu được Phật tự dùng
để thay cho các danh xưng như “Tôi” hay “Chúng ta,” nhưng
không phải là không có một ý nghĩa đặc biệt. Sau khi Ngài
thành đạo, Đức Phật gặp năm anh em Kiều Trần Như hay năm
nhà khổ hạnh mà trước kia đã từng sống chung với Ngài
trong đời sống khổ hạnh trong rừng. Năm nhà khổ hạnh nầy
gọi Ngài là “Bạn Gotama.” Phật khiển trách họ, bảo rằng,
đừng gọi Như Lai như là bạn và ngang hàng với mình, bởi
vì Ngài bấy giờ đã là Đấng Giác Ngộ, Đấng Tối Thắng,
Đấng Nhất Thiết Trí. Khi Ngài “đến như vậy” trong tư
thế hiện tại của Ngài với tư cách là vị đạo sư của
trời và người, họ phải coi Ngài là Đấng Trọn Lành chứ
không phải là một nguời bạn cố tri.
b)
Again, when the Buddha went back to Kapilavastu, his former home, he did
not go to the palace of his father, but lived in the banyan grove outside
the town, and as usual went out to beg daily. Suddhodana, his king-father,
could not bear the idea of his own son, the prince, begging on the
streets of Kapilavastu. At once, the king visited the Buddha in the grove
and entreated him to return to the palace. The Buddha answered him
in the following words: “If I were still your heir, I should return to
the palace to share the comfort with you, but my lineage has changed. I
am now a successor to the Buddhas of the past, all of whom have ‘thus
gone’ (Tathagata) as I am doing at present, living in the woods and begging.
So your Majesty must excuse me.” The king understood the words perfectly
and became a pupil of the Buddha at once: Lại nữa, khi Đức Phật
trở về thành Ca Tỳ La Vệ, quê cũ của Ngài, Ngài không đi
đến cung điện của phụ vương mà lại ở trong khu vườn
xoài ở ngoại thành, và theo thường lệ là đi khất thực
mỗi ngày. Vua Tịnh Phạn, phụ vương của Ngài, không thể
chấp nhận con mình, một hoàng tử, lại đi xin ăn trên các
đường phố thành Ca Tỳ La Vệ. Lúc đó, vua đến viếng Đức
Phật tại khu vườn, và thỉnh cầu Ngài trở về cung điện.
Phật trả lời vua bằng những lời lẽ như sau: “Nếu tôi
vẫn còn là người thừa kế của Ngài, tôi phải trở về
cung điện để cùng chung lạc thú với Ngài, nhưng gia tộc
của tôi đã đổi. Bây giờ tôi là một người thừa kế
các Đức Phật trong quá khứ, các ngài đã “đến như vậy”
như tôi đang đến như vậy ngày nay, cùng sống trong các khu
rừng, và cùng khất thực. Vậy Bệ Hạ hãy bỏ qua những
gì mà ngài đã nói.” Đức vua hiểu rõ những lời đó, và
tức thì trở thành một người đệ tử của Đức Phật.
c)
Thus come and thus gone have practically the same meaning. The Buddha used
them both and usually in their plural forms. Sometimes the words were used
for a sentient being who thus come, i.e., comes in the contrary way. Thus-come
and Thus-gone can therefore be used in two senses: ‘The one who is enlightened
but comes in an ordinary way’ or ‘The one who comes in an ordinary
way simply.’: Như Lai, đến như vậy hay đi như vậy, trên thực
tế, cùng có ý nghĩa như nhau. Phật dùng cả hai và thường
dùng chúng trong hình thức số nhiều. Đôi khi các chữ đó
được dùng cho một chúng sinh đã đến như vậy, nghĩa là,
đến trong con đường thế gian. Đến như vậy và đi như vậy
do đó có thể được dùng với hai nghĩa: “Vị đã giác
ngộ nhưng đến trong con đường thế gian,” hay “vị đến
trong con đường thế gian một cách đơn giản.”
d)
Now, Thusness or the Matrix of Thus-come or Thus-gone means the true state
of all things in the universe, the source of an Enlightened One, the basis
of enlightenment. When static, it is Enlightenment itself, with no relation
to time or space; but, when dynamic, it is in human form assuming an ordinary
way and feature of life. Thusness and the Matrix of Thus-come are
practically one and the same, the ultimate truth. In Mahayana the ultimate
truth is called Suchness or Thusness: Bấy giờ, Chân như hay Như
Lai tạng chỉ cho trạng thái chân thật của vạn hữu trong
vũ trụ, cội nguồn của một đấng giác ngộ. Khi tĩnh, nó
là tự thân của Giác Ngộ, không liên hệ gì đến thời gian
và không gian; nhưng khi động, nó xuất hiện trong hình thức
loài người chấp nhận một đường lối thế gian và
sắc thái của đời sống. Trên thực tế, Chân như hay Như
Lai tạng là một, và như nhau: chân lý cứu cánh. Trong Đại
Thừa, chân lý cứu cánh được gọi là Chân như hay Như thực.
e)
We are now in a position to explain the Theory of Causation by Thusness.
Thusness in its static sense is spaceless, timeless, all-equal, without
beginning or end, formless, colorless, because the thing itself without
its manifestation cannot be sensed or described. Thusness in its dynamic
sense can assume any form ; when driven by a pure cause it takes a lofty
form; when driven by a tainted cause it takes a depraved form. Thusness,
therefore, is of two states. The one is the Thusness itself; the other
is its manifestation, its state of life and death: Chân như trong ý
nghĩa tĩnh của nó thì phi thời gian, bình đẳng, vô thủy
vô chung, vô tướng, không sắc, bởi vì bản thân sự vật
mà không có sự biểu lộ của nó thì không thể có ý nghĩa
và không bộc lộ. Chân như trong ý nghĩa động của nó có
thể xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào. Khi được
điều động bởi một nguyên nhân thuần tịnh, nó mang hình
thức thanh thoát; khi được điều động bởi một nguyên nhân
ô nhiễm, nó mang hình thức hủ bại. Do đó chân như có hai
trạng thái: tự thân chân như, và những biểu lộ của nó
trong vòng sống và chết.
4)
Causation by the Universal Principle—Pháp Giới Duyên Khởi:
a)
Dharmadhatu means the elements of the principle and has two aspects—Pháp
giới (Dharmadhatu) có nghĩa là những yếu tố của nguyên lý
và có hai sắc thái:
i)
The state of Thusness or noumenon: Trạng thái chân như hay thể tánh.
ii)
The world of phenomenal manifestation: Thế giới hiện tượng.
b)
In this causation theory it is usually used in the latter sense, but in
speaking of the ideal world as realized, the former sense is to be applied:
Tuy nhiên trong Pháp Giới Duyên Khởi, người ta thường dùng
theo nghĩa thứ hai, nhưng khi nói về thế giới lý tưởng sở
chứng, người ta thường dùng nghĩa thứ nhất.
c)
Buddhism holds that nothing was created singly or individually. All things
in the universe, matter and mind, arose simultaneously, all things in it
depending upon one another, the influence of each mutually permeating and
thereby making a universal symphony of harmonious totality. If one item
were lacking, the universe would not be complete; without the rest,
one item cannot be. When the whole cosmos arrives at a harmony of perfection,
it is called the ‘Universe One and True,’ or the ‘Lotus Store.’
In this ideal universe all beings will be in perfect harmony, each finding
no obstruction in the existence and activity of another: Đạo Phật
chủ trương rằng không có cái được tạo độc nhất và
riêng rẻ. Vạn hữu trong vũ trụ, tâm và vật, khởi lên đồng
thời; vạn hữu trong vũ trụ nương tựa lẫn nhau, ảnh hưởng
lẫn nhau, và do đó tạo ra một bản đại hòa tấu vũ trụ
của toàn thể điệu. Nếu thiếu một, vũ trụ sẽ không toàn
vẹn; nếu không có tất cả, cái một cũng không. Khi toàn
thể vũ trụ tiến tới một bản hòa âm toàn hảo, nó được
gọi là nhất chân pháp giới, vũ trụ của cái “Một” hay
cái “Thực,” hay “Liên Hoa Tạng.” Trong vũ trụ lý tưởng
đó, vạn hữu sẽ tồn tại trong hòa điệu toàn diện, mỗi
hữu không chướng ngại hiện hữu và hoạt động của các
hữu khác.
d)
Although the idea of the interdependence and simultaneous rise of all things
is called the Theory of Universal Causation, the nature of the rise being
universal, it is rather a philosophy of the totality of all existence
than a philosophy of origination: Mặc dù quan niệm viên dung và
đồng khởi là vũ trụ, nó là một thuyết Pháp Giới Duyên
Khởi, bản tính của hiện khởi là vũ trụ, nó là một thứ
triết lý về toàn thể tính của tất cả hiện hữu, hơn
là triết học về nguyên khởi.
Theory
of complementary: Thuyết bổ sung (của Niels Bohr)
Theory
of an exclusive determination by the past: Pubbekatahetu (p)—Thuyết
Túc Mệnh Nhân—One of the main theory of Nigantha Nataputta. According
to Buddhism, not everything that occurs is due to past actions. During
the time of the Buddha, sectarians like Nigantha Nataputta held the view
that whatever the individual experiences, be it pleasant or unpleasant
or neither, all come from former actions or past karma. The Buddha, however,
rejected this theory of an exclusive determination by the past as unreasonable.
According to the Buddha, many a thing is the result of our own deeds done
in this present life, and of external causes—Một trong những lý
thuyết chính của ngoại giáo Ni Kiền Tử. Theo Phật giáo,
không phải mọi việc xãy ra đều do nghiệp quá khứ. Vào
thời Đức Phật, ngoại đạo Ni Kiền Tử chủ trương rằng
bất cứ cảm giác gì con nguời lãnh thọ, dù đó là lạc
thọ, khổ thọ, hay bất lạc bất khổ thọ. Tất cả đều
do những hành động hay nghiệp quá khứ tạo ra. Tuy nhiên,
Đức Phật không chấp nhận chủ thuyết Túc Mệnh Nhân này,
Ngài cho đó là điều không hợp lý. Theo Đức Phật thì rất
nhiều điều xãy ra là do kết quả của nghiệp mà chúng ta
làm trong hiện tại nầy hoặc là do những nguyên nhân bên
ngoài cũng có—See Karma.
Theory
and practice are in harmony: Lý Sự Viên Dung—Theory and Practice
are in harmony because practice is theory and in practice there already
exists theory. We, sincere Buddhists, should diligently cultivate so that
both Theory and Practice are in harmony. Thus, do not get stuck in Theory
or theoretical teachings and abandon Practice. Similarly, one should not
apply only the Practice but not penetrate and understand Theory. Practice
belongs to form or appearance; while Theory belongs to Emptiness or True
Nature, or Buddha-Nature—Lý Sự viên dung vì Sự cũng chính là
Lý và trong Sự đã có Lý hiện hữu rồi. Phật tử thuần
thành chúng ta phải tinh chuyên tu hành sao cho Lý Sự Viên Dung,
chớ không nên chấp Lý bỏ Sự, và cũng không nên chấp Sự
bỏ Lý hay không thâm nhập và tận hiểu về phần lý thuyết.
Sự tức là phần tướng, còn Lý tức là phần Chân Như hay
Phật Tánh.
Theory-Recitation:
Lý Trì—This is one of the two types of practices that Most Venerable
Thích Thiền Tâm mentioned in The Thirteen Patriarchs of Pureland Buddhism.
Theory-Recitation is to have faith that Amitabha Buddha in the Western
Direction is pre-existing and is an inherent nature within everyone because
Buddha arises from within cultivator’s mind. Thereafter, the cultivators
use the “Virtuous Name” already complete within their minds to establish
a condition to tame the mind and influence it to “Never ever forget to
recite the Buddh’a name.” Theory-Recitation also means “the people
reciting Buddha” are individuals who learn and examine the sutra teachings,
clearly knowing different traditions, doctrines, and deepest and most profound
dharma teachings, etc. Generally speaking, they are well-versed knowledgeable,
and understand clearly the Buddha’s Theoretical teachings such as—Đây
là một trong hai loại hành trì mà Hòa Thượng Thích Thiền
Tâm đã nói đến trong Liên Tông Thập Tam Tổ. Lý Trì là tin
rằng Đức Phật A Di Đà ở phương Tây là tâm mình đã sẳn
có đủ, là tâm mình tạo ra. Từ đó đem câu “Hồng Danh”
sẳn đủ mà tâm của mình tạo ra đó làm cảnh để buộc
Tâm lại, khiến cho không lúc nào quên câu niệm Phật cả.
Lý trì còn có nghĩa là người niệm Phật là người có học
hỏi kinh điển, biết rõ các tông giáo, làu thông kinh kệ,
và biết rõ rằng:
1)
The mind creates all ten realms of the four Saints and the six unenlightened.
Amitabha Buddha and Buddhas in the ten directions are manifested within
the mind. This extends to other external realities such as heaven, hell,
or whatever, all are the manifestations within the mind: Tâm mình tạo
ra đủ cả mười giới lục phàm tứ Thánh. Vì vậy cho nên
họ biết rằng Phật A Di Đà và mười phương chư Phật đều
do nơi tâm mình tạo ra cả. Cho đến cảnh thiên đường, địa
ngục cũng đều do tâm của mình tạo ra hết.
2)
The virtuous name of Amitabha Buddha is a recitation that already encompasses
all the infinite virtues and merits accumulated through the vow-power of
Amitabha Buddha: Câu hồng danh A Di Đà Phật là một câu niệm
mà ở trong đó đã có sẵn đủ hết muôn vạn công đức
do nguyện lực của Phật A Di Đà huân tập thành.
3)
Use the one recitation of “Namo Amitabha Buddha” as a rope and a single
condition to get hold of the monkey-mind and horse-thoughts, so it can
no longer wander but remain undisturbed and quiescent. At minimum, this
will allow the cultivator to have a meditative mind during the ritual or
at least for several minutes of that time: Dùng câu niệm Phật “Nam
Mô A Di Đà Phật” đó làm sợi dây và một cảnh để buộc
cái tâm viên ý mã của mình lại, không cho nó loạn động
nữa, nên ít ra cũng định tâm được trong suốt thời gian
niệm Phật, hoặc đôi ba phút của khóa lễ.
4)
Never forgetting to maintain that recitation: Không lúc nào quên niệm
cả.
5)
Vowing to gain rebirth: Phát nguyện cầu vãng sanh.
**
See Two modes of practices.
Theory
of relativity: Thuyết tương đối (của Albert Einstein).
Theory
of self-creation: Thuyết tự tác tự thọ—Buddhism does not agree
with the existence of a so-called “self,” nor a so-called Creator.
But this doesn’t mean that all beings and things do not exist. They do
not exist with a substratum or a permanent essence in them, as people often
think, but according to Buddhism beings and things do exist as causal relatives
or combinations. All becomings, either personal or universal, originate
from the principle of causation, and exist in causal combinations. The
center of causation is one’s own action, and the action will leave it
latent energy which decides the ensuing existence. Accordingly, our past
forms our present, and the present forms the future. In this world, we
are continuously creating and changing ourselves as a whole—Phật giáo
không đồng ý có cái gọi là tồn thể, cũng không có cái
gọi là đấng sáng tạo. Nhưng điều này không có nghĩa là
tất cả sinh vật và sự vật không hiện hữu. Chúng không
thể hiện hữu với một bản thể hay một tinh thể thường
hằng như người ta thường nghĩ, mà chúng hiện hữu do những
tương quan hay những tập hợp của nhân quả. Mọi sự hiện
hữu, hoặc cá nhân hoặc vạn hữu, đều bắt nguồn từ nguyên
lý nhân quả, và hiện hữu trong sự phối hợp cuả nhân
quả. Tâm điểm của hoạt động nhân quả là tác nghiệp
riêng của mọi cá thể, và tác nghiệp sẽ để lại năng
lực tiềm ẩn của nó quyết định sự hiện hữu kế tiếp.
Theo đó, quá khứ hình thành hiện tại, và hiện tại hình
thành tương lai cuả chúng ta. Trong thế giới này, chúng ta
tạo tác và biến dịch như là một toàn thể mà chúng ta cứ
tiến hành mãi trong cuộc sống.
Theory
of the twelve causes: Lý thuyết về 12 nhân duyên—From the arising
of this, that arises. From the ceasing of this, that ceases—Cái nầy
sanh nên cái kia sanh. Cái này diệt nên cái kia diệt—See Twelve
links of cause and effect.
Theosophist
(n): Người theo thuyết thần trí.
Thera
(p): Sthavira (skt)—Trưởng lão tăng—A Pali term for “an Elder
in the Sangha,” or “a senior Theravada monk,” who has distinguished
himself in learning and meditative attainments. A senior member of the
Order who, by length of years as respected Bhikkhu or by exceptional qualities
of character, is generally accorded this honorary title. In other words,
this refers to an elder or a senior monk who has spent 10 years from his
upasampada, who has been ordained for many years with distinguished
wisdom and qualities such as honorable character, perfect mastery of Buddha’s
teachings, excellence in the practice of meditation and awareness of having
attained liberation through elimination of spiritual defilements—Từ
ngữ Nam Phạn có nghĩa là “một vị trưởng lão trong Tăng
già,” hay “một vị sư cao tuổi hạ lạp trong giáo hội
Phật giáo Nguyên Thủy,” người nổi bật trong tu tập và
những thành tựu về thiền định. Một thành viên thâm niên
và có nhiều phẩm hạnh xuất sắc trong Tăng đoàn, thường
được nhận tước hiệu danh dự này. Nói cách khác, từ này
chỉ một nhà sư đã trải qua nhiều năm (ít nhất 10 năm.
Thường được dùng để trước tên những vị tăng cao hạ
để bày tỏ lòng kính trọng) tu hành nên tâm trí trở nên
sáng suốt vì những phẩm chất sau đây: trung thực, hiểu
biết tròn đầy, thiền định viên mãn và khả năng xóa bỏ
những khuyết tật tâm thần.
Theragatha
(skt): Trưởng Lão Tăng Kệ—Collection of writings of the elder
monks of the early Buddhist community, contained in the Khuddhaka Nikaya
of the Pali Canon. There are 264 poems attributed their meditative attainments
and religious lives—Sưu tập những bài viết của các trưởng
lão của cộng đồng Phật giáo buổi sơ khai, chứa đựng
trong Tiểu Bộ Kinh trong kinh tạng Pali. Có 264 bài thơ viết
về những thành tựu thiền định và đời sống tôn giáo—See
Khuddhaka-Nikaya.
Therapeutic:
Thuộc về trị liệu—Therapies (n).
Theravada
(skt): The school of the Elders—Thượng Tọa Bộ—See Five divisions
of Buddhism (I).
Theravada
Buddhism: Phật Giáo Nguyên Thủy.
(I)
An overview of the development of Theravada Buddhism—Tổng quan về
sự phát triển của trường phái Nguyên Thủy: Theravada Buddhism
is sometimes referred to as Southern Buddhism. It has great influence primarily
in Sri Lanka, Burma, Thailand, Laos and Cambodia. This is a sect of which
teaching corresponds to the Agama sutras. These teachings generally hold
that the self is without substance, the separate elements (dharmas) are
real, and Nirvana is neither total annihilation. It is uncertain when the
division into sects had actually taken place; however, we know that the
spread of the faith into various regions led to divergence that became
a major cause of schism. Missionary efforts supported by the great Mauryan
emperor Asoka in the third century B.C. contributed to the spread of the
Dharma to further regions. It is believed that due to Asoka’s sponsorship
of the spread of Buddhism. The Sarvastivada School of Buddhism took strong
root in northwest India after the Third Council, and the Theravada School
in the South, extending its influence to Sri Lanka. At that time, Buddhism
was carried as far west as Greece and the areas under its control. During
two or three centuries following Asoka’s reign, either 18 or 20, or perhaps
more Buddhist sects came into existence, marking the advent of what is
called sectarian Buddhism. Sectarian Buddhism concerned itself first and
foremost with strict observance of the monastic precepts and study of scriptures,
pursuits that encouraged dogmatism. Emphasis was on literal interpretation
of the canon—Phật giáo Nguyên Thủy có khi còn gọi là Phật
giáo Nam Tông. Phật giáo Nguyên Thủy có ảnh hưởng lớn tại
các xứ Tích Lan, Miến Điện, Thái Lan, Lào và Cam Bốt. Đây
là trường phái mà giáo pháp tương ứng với các bộ kinh
A Hàm. Những giáo pháp này thường cho rằng không có bản
chất của một cái ngã, chư pháp có thực, và niết bàn là
hoàn toàn hoại diệt. Không thể nào cả quyết sự phân chia
những bộ phái đã xảy ra vào thời điểm nào, tuy nhiên chúng
ta biết rằng chính sự truyền bá chánh pháp vào những
vùng khác nhau đã đưa đến sự bất đồng và trở thành
nguyên nhân chính cho sự phân chia này. Vào thế kỷ thứ ba
trước Tây lịch, vua A Dục đã tích cực ủng hộ sự nghiệp
truyền bá chánh pháp tới những vùng xa hơn. Người ta tin
rằng chính nhờ sự ủng hộ của vua A Dục trong việc truyền
bá chánh pháp mà sau cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba,
phái Nhất Thiết Hữu Bộ đã bén rễ mạnh mẽ ở phía Tây
Bắc và phái Nguyên Thủy ở phía Nam, rồi lan truyền đến
Tích Lan. Phật giáo còn ảnh hưởng xa hơn nữa đến các vùng
Hy Lạp và những vùng mà Hy Lạp thống trị. Suốt hai hay ba
thế kỷ tiếp theo triều đại của vua A Dục, đã có 18, hoặc
20, hoặc hơn thế nữa những bộ phái Phật giáo đã tồn
tại, đánh dấu sự sự xuất hiện của thời kỳ phân chia
các bộ phái. Những bộ phái Phật giáo trong thời kỳ phân
chia bộ phái đầu tiên rất quan tâm và nghiêm nhặt tuân thủ
giới luật cũng như nghiên cứu kinh điển. Nhấn mạnh đến
việc dịch và giải thích chính xác theo nguyên văn kinh điển.
(II)
Theravada Buddhism—Phật Giáo Nguyên Thủy: Trường phái Theravada
hay Nam Tông—Southern or Theravada school—Minor Vehicle—The small
or inferior vehicle as compared with the greater teaching (Đại thừa).
Hinayana is the form of Buddhism which developed after Sakyamuni’s death,
at about the beginning of the Christian era, when Mahayana doctrine were
introduced—The objective is personal salvation. By the time of King Asoka,
the Sthaviravadin School had itself split into the Sammitiya, the Sarvastivadin,
and the Vibhajyavadin sub-schools. And later, the Vibhajyavadin School
also split into two branches, the Mahisasika School, which was established
in the South-Eastern India, and the Theravadin School, which was established
in Sri Lanka—Trường phái Tiểu thừa được thành lập sau
khi Đức Phật nhập diệt, vào khoảng kỷ nguyên Thiên Chúa,
cũng vào lúc mà trường phái Đại thừa được giới thiệu.
Cứu cánh giải thoát của Tiểu thừa là tự độ. Vào thời
vua A Dục, trường phái Thượng Tọa Bộ đã tự tách ra làm
ba trường phái là Chính Lượng Bộ, Thuyết Nhất Thiết Hữu
Bộ và Phân Biệt Thuyết Bộ. Và về sau này, trường phái
Phân Biệt Thuyết Bộ lại tách ra làm hai phái: Mahisasika School
ở miền Đông Nam Ấn Độ, và Nguyên Thủy Theravada ở Sri
Lanka.
(III)
Other characteristics of Theravada—Những đặc điểm khác của
Theravada: It is believed that Theravada is a Hinayana school from the
Sthavira group, which developed from the Vibhajyavadin school, founded
by Moggaliputta Tissa and brought to Ceylon in 250 BC. The teaching of
the Theravada consists of the four noble truths, the eightfold noble path,
the doctrine of conditioned arising and anatman. The philosophy
of this school is very simple. All worldly phenomena are subject to three
characteristics; they are impermanent and transient (anitya), suffering
(duhkha), and non-self. That is to say, there is nothing in them which
can be called one’s own, nothing substantial, nothing permanent. All
compound things are made up of two elements, the non-material part (nama),
and the material part (rupa). They are further described as consisting
of nothing but five constituent groups (skandhas), namely, the material
quality (rupa), and four non-material qualities, sensation (vedana), perception
(sanjna), mental formatives (samskara), and consciousness (vijnana). These
elements are also classified into twelve organs and objects of sense (ayatanani)
and eighteen dhatus. The former consist of the six internal organs of sense
(eye, ear, nose, tongue, body, and mind). The corresponding objects of
sense, namely material objects, sounds, smells, tastes, tangibles and those
things that can be apprehended only by the mind. The eighteen dhatus include
the six internal organs of sense, the six corresponding objects of sense,
and six consciousnesses (eye-consciousness, ear-consciousness, nose-consciousness,
tongue-consciousness, body-consciousness and mind-consciousness. Hence,
this most orthodox school of Buddhism has a pluralistic conception of the
constituent elements of the universe. Theravada emphasizes on the liberation
of the individual to attain the Arhathood, which takes place through one’s
own efforts in meditation and through observance of the rules of moral
discipline and leading a monastery life. Today Theravada, the only surviving
school of the Hinayana, is widespread in the countries of Southeast Asia.
At the Council of Pataliputra, the teachings of this school were, according
to Pali sources, certified to be those of the Vibhajyavada school—Người
ta tin rằng Theravada là trường phái Tiểu thừa thoát thai từ
nhóm Sthavira, phát triển từ nhánh Vibhajyavadin, do Moggaliputta
Tissa lập ra và được Mahinda đưa vào Tích Lan và khoảng năm
250 trước Tây lịch. Học thuyết của trường phái nầy dựa
trên Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Thập nhị nhân duyên
và vô ngã. Triết lý của trường phái nầy rất đơn giản.
Tất cả các hiện tượng trên thế gian đều mang ba đặc
tính, đó là sự vô thường (anitya), khổ (duhkha), và vô ngã
(anatma). Nghĩa là không có cái gì được gọi là của riêng
nó, không có gì là chắc chắn, không có gì là trường cửu.
Mọi hợp thể đều được cấu tạo bởi hai yếu tố, danh
hay phần không vật chất, và sắc tức phần vật chất. Ngoài
ra, các vật thể nầy còn được mô tả là gồm có tất cả
năm uẩn (skandhas), đó là sắc hay đặc tính vật chất, và
bốn đặc tính phi vật chất, thọ, tưởng, hành, thức. Các
yếu tố nầy được xếp thành 12 xứ và 18 giới. Mười hai
xứ gồm sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), và sáu trần
(sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp). Mười tám giới gồm sáu
căn, sáu trần, và sáu thức (sự thấy biết của mắt, sự
nghe biết của tai, sự ngửi biết của mũi, sự nếm biết
của lưỡi, sự tri giác của toàn thân, và sự hiểu biết
của ý thức). Do đó, trường phái Phật giáo chính thống
nầy có một quan điểm đa nguyên về các yếu tố cấu thành
vũ trụ. Theravada nhấn mạnh đến sự giải thoát cá nhân
bằng tự lực, do tu hành theo các qui tắc đạo đức hầu
đạt quả vị A la hán. Ngày nay trường phái xót lại duy nhất
của Phật giáo Tiểu thừa nầy đã và đang phát triển rộng
rãi tại các quốc gia Đông Nam Á. Tại Nghị Hội Hoa Thị
thành, các giáo lý của trường phái nầy được thừa nhận
là của trường phái Phân Biệt Thuyết Bộ (Vibhajyavada).
(IV)
The differences between Theravada and Mahayana Buddhisms—Sự khác biệt
giữa Phật giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa: Theravada Buddhism
is sometimes referred to as Southern Buddhism, while Mahayana is referred
to as Northern Buddhism. Both Mahayana and Theravada began not as separate
schools, but because of their different goals in cultivation, they developed
into different schools and eventually spread into different geographic
areas—Phật giáo Nguyên Thủy cũng có lúc được gọi là Phật
giáo Nam Tông, trong khi Phật giáo Đại Thừa được gọi là
Bắc Tông. Cả hai trường phái lúc bắt đầu không phải là
những trường phái khác biệt, nhưng vì những mục đích tu
hành có khác, nên họ phát triển thành hai trường phái khác
nhau và cuối cùng phát triển trong những vùng địa lý khác
nhau.
1)
To seek for Arahathood, Sravakas or Pratyeka-buddhahood is Theravada followers.
The goal of Theravada Buddhists is to end attachment to self and, thereby,
becoming an Arhat, who undergoes no more rebirth. To seek for Buddhahood
is Mahayana. The Mahayana Buddhism accepts all of the teachings of the
Theravada Buddhism, it teaches that its followers can cultivate to become
an Arhat, but Arhat is not an ultimate goal. It recommends its followers
to follow the Path of the Bodhisattva, which will eventually lead to Buddhahood.
Sincere Buddhists should step back and ask ourselves: “In fact, are there
any so-called ‘Vehicles’?” If our answer id “Yes,” it’s a regretable
answer because the Buddha never mentioned about the so-called “Vehicle.”
If our answer is “No,” we are on the right track of cultivation, so
keep move on. We should cultivate the dharmas that suit us the most, and
try not to criticize other people: Cầu quả A La Hán và Bích Chi
Phật là Phật giáo Nguyên Thủy. Mục đích của các Phật
tử theo Phật giáo Nguyên Thủy là chấm dứt ngã chấp và
do đó trở thành một bậc A La Hán, bậc không còn tái sanh
nữa. Tìm quả vị Phật là Đại Thừa. Phật giáo Đại Thừa
chấp nhận những giáo thuyết trong Phật giáo Nguyên Thủy,
Phật giáo Đại Thừa dạy rằng tín đồ Phật giáo Đại
Thừa có thể tu tập quả vị A La Hán, nhưng A La Hán không
phải là quả vị tối thượng. Phật giáo Đại Thừa đề
nghị tín đồ nên đi theo con đường Bồ Tát đạo vì cuối
cùng con đường ấy sẽ dẫn chúng ta đến quả vị Phật.
Phật tử thuần thành nên bình tâm tự hỏi: “Sự thật có
cái gọi là ‘Thừa’ hay không?” Nếu câu trả lời là “Có”,
thì quả thật là một sự mê mờ đáng tiếc, vì Đức Phật
đâu có bao giờ đề cập đến thừa thặng gì. Nếu câu trả
lời là “Không” là chúng ta đã đi đúng đường, nên tiếp
tục đi tới. Chúng ta nên tu tập giáo pháp nào thích hợp
với chúng ta nhất, chứ đừng bình phẩm ai.
2)
The Mahayanists emphasize the universalism and altruism, develop wisdom
and the perfect transformation of all living in the future state; while
the Theravada followers seek for narrow personal salvation, seek for the
destruction of body and mind and extinction in nirvana: Đại Thừa nhấn
mạnh đến “vị tha phổ cứu,” phát triển trí huệ, và
hóa độ chúng sanh trong kiếp tương lai; trong khi Nguyên Thủy
chỉ mong cầu tự độ qua sự tịch diệt nơi niết bàn.
3)
Whereas Theravada Buddhism emphasizes a forest or mendicant denunciative
way, while Mahayana not excluding this feature, wishes to make the Buddhist
life open to all, monks and laypeople alike. With the ideal become not
only the Arahant for his own salvation but they wish to become Bodhisattvas
with a vow to attain perfect knowledge and to save all sentient beings:
Trong khi Phật giáo Nguyên Thủy chủ trương đời sống ẩn
sĩ trong rừng hoặc đi khất thực, thì Đại Thừa không loại
bỏ đặc điểm này, nhưng họ lại muốn cho đời sống tu
tập mở rộng hơn cho cả Tăng lẫn tục. Với lý tưởng này,
Phật giáo Đại Thừa không mong trở thành A La Hán để chỉ
giải thoát cho cá nhân, mà mong trở thành Bồ Tát với ước
nguyện thượng cầu Bồ Đề hạ hóa chúng sanh.
4)
Bodhisattvas in the Mahayana practice six paramitas; while for the
Arahanship the Four Noble Truths are the foundation teaching, for pratyeka-Buddhahood
the twelve nidanas: Bồ Tát Đại Thừa tu hành lục độ Ba La
Mật; trong khi bên Nguyên Thủy thì A La Hán lấy Tứ Diệu Đế
làm bổn giáo, và Độc Giác lấy Thập Nhị Nhân Duyên làm
bổn giáo tu hành.
5)
Mahayana Buddhism is progressive and affirmative: Phật giáo Đại Thừa
tiến bộ và khẳng định.
6)
Whereas Theravada Buddhism develops with the Order as the center, the Mahayanists
concentrate rather upon the individual: Trong khi Phật giáo Nguyên
Thủy phát triển Tăng đoàn như là trung tâm, thì Phật giáo
Đại Thừa lại thích hướng đến cá thể hơn.
7)
While the Theravada Buddhism lays the greatest stress upon the Tripitaka,
the Mahayana Buddhism is content to propagate the Buddha’s fundamental
teaching wherever found. So Theravada is both formal and systematic in
the scholastic orthodoxy: Trong khi Phật giáo Nguyên Thủy chủ trương
hoàn toàn dựa vào kinh điển thì Đại Thừa chỉ dựa vào
tinh thần cốt lõi của Đức Phật. Vì vậy, Phật giáo Nguyên
Thủy quan tâm đến hình thức và hệ thống trong tính chất
chính thống của kinh điển.
(V)
Books of the Theravadin Abhidhamma-Pitaka—Sách vở thuộc Bộ Luận
Tạng của trường phái Nguyên Thủy:
1)
Dhammasangani (p): Bộ Pháp Tụ—The classification of things which
lists and defines good, bad, and neutral mental states, This is also
an analysis of material form—Bộ Pháp Tụ liệt kê và định nghĩa
những tâm thức thiện, ác, và trung tính. Đây cũng là một
bộ sách phân tích về hình thể của vật chất.
2)
Vibhanga (p): Bộ Phân Tích—Analysis—Offering a detailed analysis
or classification of sixteen major topics of the Dharma, including the
skandhas, nidanas, the elements, the faculties, mindfulness, bojjhangas,
jhanas, and insight—Phân tích hay phân loại chi tiết 16 chủ
đề chính của giáo pháp, gồm các uẩn, các duyên, các yếu
tố (đại), các căn, sự chú tâm tỉnh thức, các yếu tố
giác ngộ, thiền định và trí tuệ.
3)
Dhutakatha (p): Bộ Chất Ngữ—Discussion of the elements, based on
the skandha and ayatana analyses, and proceeding by means of questions
and answers—Dựa trên những phân tích về các uẩn, giới,
và tiến hành bằng phương cách vấn đáp.
4)
Puggalapannati (p): Bộ Nhân Chế Định—Description of personalities,
the analyses of human character types, by various factors that range in
number from one to ten—Phân tích những loại tính tình, bằng
những nhân tố khác nhau gồm từ một đến mười nhân tố.
5)
Kathavatthu (p): Bộ Ngữ Tông—Subjects of controversy, the refutation
of the heterodox views of other Buddhist schools—Bác bỏ các quan
điểm dị giáo của các trường phái Phật giáo khác.
6)
Yamaka (p): Bộ Song Đối—The pairs, concerned with clear definition
of terms—Liên quan đến việc định nghĩa rõ ràng các thuật
ngữ.
7)
Patthana (p): Bộ Vị Trí—Causal relations, a full discussion of pratitya-samutpada—Tranh
luận đầy đủ về tánh duyên khởi.
Theravada
Nikaya (skt): Tạng Kinh Phật Giáo Nguyên Thủy—Order of the Teachings
of the Elders, the only surviving tradition of the collection of schools
referred to collectively as “Hinayana” by their Mahayana opponents,
and as Nikaya-Buddhism. It is the dominant tradition in Southeast Asia,
is particularly strong in Thailand, Sri Lanka, Burma, Laos, and Cambodia.
Although there is no historical basis for the claim, modern Theravada traces
itself back to the Sthavira tradition in India. Its origins in Southeast
Asia are traced back to Mahinda, the son of King Asoka who became a Buddhist
monk and led a mission to Sri Lanka. From this base it later spread throughout
the region, and in recent decades has attracted considerable increasing
numbers of students in Europe and North America. It prides itself on being
a deeply conservative school of Buddhism and bases its teachings and practices
on the Pali Canon, which it considers to be the only authentic Buddhist
canon. However, no one is clear if this was the language of the original
canon of the Sthaviravadin School. However, it is possible for us to consider
Theravada as representative of the Sthaviravadin School—Truyền thống
giáo pháp của các trưởng lão, truyền thống duy nhất của
một nhóm các trường phái còn sót lại được phái Đại
Thừa gọi là “Tiểu Thừa.” Đây là truyền thống chiếm
ưu thế ở vùng Đông Nam Á, đặc biệt là ở Thái Lan, Sri
Lanka, Miến Điện, Lào và Cam Bốt. Mặc dù không có cơ sở
lịch sử nào, nhưng trường phái Theravada tuyên bố rằng họ
chính là hậu thân của phái Thượng Tọa Bộ ở Ấn Độ.
Nguồn gốc của truyền thống này ở Đông Nam Á theo vết
từ thời Mahinda, con trai của vua A Dục, một vị tăng đã
hướng dẫn một đoàn truyền giáo đến Sri Lanka. Từ cơ sở
này mà sau này nó truyền đi khắp vùng, và trong những thập
niên gần đây nó đã thu hút một số gia tăng đáng kể những
sinh viên ở Âu Châu và Mỹ Châu. Truyền thống này tự hào
vì nó là truyền thống Phật giáo bảo thủ sâu xa những giáo
pháp và thực hành trong kinh tạng Pali, hệ thống kinh tạng
mà truyền thống xem là giáo điển Phật giáo xác thực duy
nhất. Tuy nhiên, không ai trong chúng ta biết rõ đây là ngôn
ngữ nguyên thủy trong kinh điển của trường phái Thượng
Tọa Bộ hay không. Dù sao đi nữa chúng ta vẫn có thể xem
trường phái Nguyên Thủy như là đại diện của trường phái
Thượng Tọa Bộ.
Theravadin
(skt): Thượng Tọa Bộ—See Theravada Buddhism.
Theravadin
monk: Tăng sĩ Thượng Tọa Bộ.
There
must first be cause and then there will be effect: Trước tiên phải
có nhân, sau đó mới thành quả được (Hữu thị nhân nhi
hậu hữu thị quả).
There
is nothing created, nor is anything destroyed. Anyone who perceives this
truth, would see Budha come true: Chẳng có pháp nào sanh, mà cũng
chẳng có pháp nào diệt. Ai hiểu được như thế, là thấy
Phật hiện tiền.
Theri
(p): Trưởng Lão Ni—Eldest nun in an order of nuns (seniority reckoned
from the time of entry into the Sangha)—Niên trưởng của các sư
nữ trong Ni đoàn (tuổi đạo thâm niên được tính từ lúc
gia nhập giáo đoàn. Thường được dùng để trước tên những
vị Ni cao hạ để bày tỏ lòng kính trọng).
Therigatha
(skt): Trưởng Lão Ni Kệ—Verses of the Female Elders, collection
of writings of the elder nuns of the early Buddhist community, contained
in the Khuddhaka Nikaya of the Pali Canon. There are seventy-three poems
attributed to seventy-one nuns that mostly describe their meditative attainments
and religious lives—Sưu tập những bài viết của các Ni trưởng
của cộng đồng Phật giáo buổi sơ khai, chứa đựng trong
Tiểu Bộ Kinh trong kinh tạng Pali. Có 73 bài thơ do 71 vị Ni
viết về những thành tựu thiền định và đời sống tôn
giáo—See Verse in the Therigatha.
Thesaurus
of discourses: Kinh Tạng—See Sutra.
Thesaurus
of discussions: Luận Tạng—See Vinaya.
Thesis:
Sở Lập—A thesis; that which is set up—Luận đề đã được
sắp đặt sẵn.
Theta
(p): Reliable (a)—Trustworthy—Đáng tin cậy.
Theva
(p): A drop—Một giọt.
Thich
Ca Phat Dai Monument: Thích Ca Phật Đài—Name of a famous statue
of Sakyamuni Buddha, or Sakyamuni Buddha Monument, a famous beautiful scenery
of Vũng Tàu City, located on the northwest slope of Mount Lớn in Vũng
Tàu City. It is an architectural monument of the Theravada Sect, being
built in 1961. There are two sections in the area: Thiền Lâm Pagoda
is located at the foot of the mountain whereas the Sakyamuni Buddha Monument
is on the slope. Along the stone stairs of the mountain slope, one can
see many statues illustrating Lord Buddha's biography. That is, the statue
of Sakyamuni Buddha at His Holy Birth, that of Sakyamuni entering the monkhood
and one statue cast to memorize His Great Enlightenment. One can see also
Bo-tree brought from Sri Lanka and planted in the area by Most Venerable
Elder Narada on November 2nd, 1963. At the center of the area is placed
a Sakyamuni Buddha statue sitting in meditation in cross-legged posture
on the lotus pedestal, 10.20 meters high and 6 meters in diameter. The
statue was inaugurated on March 10, 1963. Also in this area stands the
octogonal stupa for Buddha’s relics, 19 meters high, with four great
cauldrons situated in four corners of the stupa. Inside the cauldrons is
the soil brought from the four places where Lord Buddha was born, where
he received is Great Enlightenment, where he set the Dharma wheel moving
and where he reached Parinirvana—Thích Ca Phật Đài là một tượng
đài đẹp nổi tiếng của thành phố Vũng Tàu, tọa lạc phía
tây bắc sườn núi Lớn ở Vũng Tàu. Đây là công trình kiến
trúc của hệ phái Phật Giáo Nguyên Thủy, được xây dựng
vào năm 1961. Nơi đây gồm hai khu vực: Thiền Lâm Tự ở phía
dưới và Thích Ca Phật Đài ở phía trên. Theo từng bậc đá
men sườn núi có nhiều pho tượng về sự tích Đức Phật:
Tượng Đức Phật Thích Ca Đản Sinh, Thích Ca xuất gia, Thích
Ca Thành Đạo, và cây Bồ Đề được Đại Đức Narada cung
thỉnh từ Tích Lan về trồng tại đây vào ngày 2 tháng 11
năm 1960. Ở trung tâm là tượng Phật Thích Ca ngồi kiết già
trên một tòa sen, cao 10 mét 20, đường kính 6 mét, khánh thành
ngày 10 tháng 3 năm 1963. Ở đây còn có tháp xá lợi bát giác,
cao 19 mét, bốn phía đặt bốn đỉnh lớn, đất bên trong
đỉnh được mang về từ Tứ động tâm (Ấn Độ): Nơi Phật
Đản Sanh, Phật Thành Đạo, Phật Chuyển Pháp Luân, Phật
Nhập Niết Bàn.
Thick
forest: Trù Lâm—Rừng dầy—A dense forest, e.g. the passions, etc.
—Dục vọng của chúng sanh được ví như khu rừng dầy, một
khi đã lạc vào thì khó lòng mà thoát ra được.
Thief:
Kẻ trôm đạo—Burglar.
Thief
destroyer: Ksinasrava (skt)—Conqueror of the passion (an arhat)—Sát
tặc (một vị A La Hán).
Thien
An (1926-1980): Hòa Thượng Thích Thiên Ân—Most Venerable Thích
Thiên Ân, one of the most outstanding Vietnamese monks in the United
States in the modern era. He was trained in the Lin-Chi Lineage. He came
to the USA in 1966 to lecture at UCLA. In 1967, he began to teach
at Hollywood Founded International Buddhist Meditation Center, later in
1973 it became a college and University of Oriental Studies in Los Angeles.
After the political change over in Vietnam in 1975, he was active in helping
Vietnamese refugees in the USA—Hòa Thượng Thích Thiên Ân, một
trong những danh Tăng Việt Nam tại Hoa Kỳ trong thời cận đại.
Ông thuộc dòng Thiền Lâm Tế. Vào năm 1966, ông sang Hoa Kỳ
thuyết giảng tại Đại Học UCLA. Năm 1967, ông bắt đầu
giảng dạy tại Trung Tâm Thiền Phật Giáo Thế Giới tại
Hollywood. Năm 1973, trường nầy trở thành trường Đại Học
Đông Phương. Sau cuộc thay đổi chính trị tại Việt Nam vào
năm 1975, ông hoạt động rất tích cực giúp đở những người
tỵ nạn trên đất Mỹ.
Thien
Hau Pagoda: Chùa Thiên Hậu—Thien Hau Pagoda in Binh Duong Province
was one of the most ancient pagodas in South Vietnam. It was built in the
middle of the nineteenth century on the Huong Chu Hien irrigational canal
for the religious worship of Chinese in Vietnam. In 1880, the pagoda was
reconstructed and added with insiderooms. Since 1925, Thien Hau Pagoda
has been located in Thu Dau Mot town, Binh Duong province. Indise rooms
are used to worship the God of Soil, Spirit of the Pagoda Keeper, the Holy
Mother, the Ladies of the Five Elements, and statues of Bo Dau Cong, a
couple of husband and wife named Trinh Hoa. The husband was a Chinese General
during the Ming Dynasty who had the merit of leading people to new lands
in the South—Chùa Thiên Hậu ở Bình Dương là một trong những
ngôi chùa cổ nhất ở miền Nam. Chùa được xây dựng vào
giữa thế kỷ thứ 19 bên bờ kinh Hương Chủ Hiến. Năm 1880,
chùa được trùng tu và xây thêm phòng bên trong. Từ năm 1925
đến ngày nay, chùa tọa lạc bên trong thị xã Thủ Dầu Một
thuộc tỉnh Bình Dương. Những phòng bên trong chùa thờ
Thổ Thần, Thần giữ chùa, Thánh Mẫu, Ngũ Hành Nương Nương,
và tượng Bổ Đầu Công là hai vợ chồng một vị tướng
người Trung Hoa dưới thời nhà Minh tên T