THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 
 

 

Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Thiện Phúc.
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Phạn/Pali-Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Thiện Phúc-Mục Lục &Phụ Lục.
Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Minh Thông
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Minh Thông
Từ Ngữ Phật Học Việt Anh, Trần Nguyên Trung
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực
Tổ Đình Minh Đăng Quang 
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH - VIETNAMESE  ANH VIỆT
Thiện Phúc
A
B
C
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q.
R
S
T
U
V
W
X
Y
 Z

Q

Qi An: Tề An Thiền Sư—Zen master Qi-An—Zen master Xi-An was born in 750 in Hai-Men, was a disciple of Ma-Tsu—Thiền sư Tề An sanh năm 750 tại Hải Môn, đệ tử của Thiền sư Mã Tổ.

* A monk asked: “What is the true body of Vairocan Buddha?” Qi-An said: “Bring me that pitcher of pure water.” The monk brought him the pitcher. Qi-An then said: “Now put it back where it was before.” The monk returned the bottle to its former position. The he asked his previous question again. Qi-An said: "The ancient Buddhas are long gone.”—Có vị Tăng đến hỏi: “Thế nào là bổn thân Phật Tỳ Lô Giá Na?” Sư bảo: “Đem cái bình đồng kia đến cho ta.” Vị Tăng liền lấy tịnh bình đem lại. Sư bảo: “Đem để lại chỗ cũ.” Vị Tăng đem bình để lại chỗ cũ rồi, bèn hỏi lại câu trước. Sư bảo: Phật xưa đã quá khứ lâu rồi.” 

* A scholar monk came to visit Zen Master Qi-An. Qi-An asked him: “What do you do?” The monk said: “I expound the Flower Garland Sutra.” Qi-An said: “How many different Dharma realms. But they can be reduced to four types.” Qi-An held his whisk upright and said: “What type of Dharma realm is this?” The monk sank into reflection. Qi-An said: “Knowing by thinking, resolving through consideration, these are the startegies of a devil house. A single lamp, when it’s put beneath the sun, it really isn’t bright.”—Có vị giảng sư đến tham vấn. Sư hỏi: “Tọa chủ chứa chất sự nghiệp gì?” Giảng sư đáp: “Giảng Kinh Hoa Nghiêm.” Sư hỏi: “Có mấy thứ pháp giới?” Vị giảng sư nói: “Nói rộng thì có thứ lớp không cùng, nói lược có bốn thứ pháp giới.” Sư dựng đứng cây phất tử , hỏi: “Cái nầy là pháp giới thứ mấy?” Giảng sư trầm ngâm lựa lời để đáp: “Sư bảo: “Suy mà biết, nghĩ mà hiểu là kế sống nhà quỷ, ngọn đèn cõi dưới trời quả nhiên mất chiếu.” 

* Qi-An called to his attendant, saying: “Bring me the rhinoceros fan.” The attendant said: “It’s broken.” Qi-An said: “If the fan is broken, then bring me the rhinoceros.” The attendant didn’t answer. T’ou-Tzi answered on behalf of the attendant, saying: “I don’t mind to bring the rhinoceros, but I’m afraid that he doesn’t have all his horns—Sư gọi thị giả: “Đem cái quạt tê ngưu lại đây.” Thị giả thưa: “Rách rồi.” Sư nói: “Nếu quạt đã rách, trả con tê ngưu lại cho ta!” Thị giả không đáp được. Đầu Tử trả lời dùm thị giả nói: “Con không ngại đem con tê lại cho sư, nhưng con e rằng nó chưa mọc đủ sừng.” 

* A Zen master named Fa-Kong came to visit Qi-An and inquired about some ideas expressed in the Buddhist sutras. Qi-An answered each question in turn. When they had finished, Qi-An said: “Since the master arrived here, I haven’t been able to play the host.” Fa-Kong said: “I invite the master to take the role of host.” Qi-An said: “It’s late today, so let’s go back to our quarters and take a rest. Tomorrow come here again.” Fa-Kong then went back to his room. The next morning, Qi-An sent a novice monk to invite Fa-Kong for another meeting. When Fa-Kong arrived, Qi-An looked at the novice monk and said: “Aiee! This novice can’t do anything! I told him to go get Zen master Fa-Kong. Instead he went and got this temple maintenance man!” Fa-Kong was speechless—Thiền sư Pháp Không đến thưa hỏi những nghĩa lý trong kinh, mỗi mỗi sư đều đáp xong. Sư bèn bảo: “Từ Thiền Sư lại đến giờ, bần đạo thảy đều không được làm chủ nhơn.” Pháp Không thưa: “Thỉnh Hòa Thượng làm chủ nhơn lại.” Sư bảo: “Ngày nay tối rồi hãy về chỗ cũ nghỉ ngơi, đợi sáng mai sẽ đến.” Sáng sớm hôm sau, sư sai sa Di đi mời Thiền sư Pháp Không. Pháp Không đến, sư nhìn Sa Di bảo: “Bậy! Ông sa Di nầy không hiểu việc, dạy mời Thiền sư Pháp Không, lại mời cái người giữ nhà đến.” Pháp Không chẳng đáp được. 

* The temple director named Fa-Xin, came to see Qi-An (when he was ill). Qi-An said: “Who are you?” The temple director said: “Fa-Xin.” Qi-An said: “I don’t know you.” Fa-Xin couldn’t respond—Viện chủ Pháp Hân đến tham vấn. Sư hỏi: “Ông là ai?” Pháp Hân đáp: “Pháp Hân.” Sư nói: “Tôi không biết ông.” Pháp Hân không đáp được. 

* Later, the master became ill and he calmly passed away in 839. He received the posthumous title “Zen Master Enlightened Emptiness.”—Sau sư bệnh, ngồi an nhiên thị tịch. Vua ban hiệu “Ngộ Không Thiền Sư”. 

Qing-Pou-Xing-Yang: Thiền sư Thanh Phẩu Hưng Dương—Zen master Qing-Pou-Xing-Yang was a disciple of Zen master T’a-Yang. Although he was a successor of T’a-Yang, he unfortunately did not outlive his teacher, nor did he have any Dharma heirs to carry on the Cao-T’ong line—Thiền sư Thanh Phẩu Hưng Dương là đệ tử của Thiền sư Đại Dương. Tuy vậy ông không may chết trước Đại Dương và không có Pháp từ nào để nối dõi Tào Động.

* After becoming the abbot of a temple, Xing-yang entered the hall and addressed the monks, saying: “The principle of the great way that came from the west cuts off the hundred negations. Words that accord with the essential teaching go on without end. But what benefit could there be in just arduously submitting to the teachings of our school? Although it’s like this, there are many different affairs to deal with. But in the teaching of our school, there is only one path that passes through. Everyone discuss this!”—Sau khi trụ ở Hưng Dương, sư thượng đường dạy chúng: “Đại đạo từ Tây sang, lý bặt bách phi, trong câu hợp cơ toàn trái diệu chỉ, bất đắc dĩ mà có làm cong vạy tông Tổ Sư, huống là lăng xăng có lợi ích gì? Tuy nhiên như thế, việc không phải một chiều, hãy ở trong cửa xướng giáo mở một con đường cùng toàn thể thương lượng.” 

* A monk asked Xing-Yang-Qing-Pou: “When the Sagara Dragon emerges from the sea, the entire universe shudders. At just such a time, how is this expressed?” Qing-Pou said: “The Garuda King confronts the universe! Among you here, who can come forth?” The monk asked: “If suddenly someone comes forth, then what?” Qing-Pou said: “It’s like a falcon striking a pigeon. You don’t believe me. If you can experience it behind your skull, then you’ll at last realize the truth.” The monk said: “In that case, I’ll just fold my hands on my chest and retreat three steps.” Qing-Pou said: “The tortoise that upholds Mount Sumeru won’t tolerate another one going back with a dot on its forehead!”—Có vị Tăng hỏi: “Rồng Ta Kiệt ra khỏi biển thì càn khôn chấn động, thấy mặt trình nhau việc thế nào?” Sư đáp: “Chim Đại bàng cánh vàng kình vũ trụ, trong ấy ai là người xuất đầu?” Vị Tăng hỏi: “Nếu khi gặp người xuất đầu thì làm sao?” Sư đáp: “Giống như chim cắt anh không tin, trước sọ khô nghiệm mới biết thật.” Vị Tăng hỏi: “Thế ấy thì khoanh tay bày ngực lui ba bước?” Sư đáp: “Dưới tòa Tu Di con rùa quạ, chớ đợi điểm trán lần thứ hai.”

* When Qing-Pou was ill in bed, T’a-Yang said to him: “The body is an illusion, and within this illusion affairs are carried out. If not for this illusion, the great matter would have no place from which to be undertaken. If the great matter is undertaken, it is seen to be an illusion. What do you say?” Qing-Pou said: “There is still this matter here.” T’a-Yang said: “And what is that matter?” Qing-Pou said: “Encircling the earth, the lustrous crimson orb. At ocean bottom, not planting flowers.” Qing-Pou paused and closed his eyes. T’a-Yang smile and said: “Are you awake?” Qing-Pou said: “I’ve forgotten what I was about to say.” He then passed away—Sư bệnh, Đại Dương đến hỏi: “Thân nầy như bọt huyễn, trong bọt huyễn thành tựu. Nếu không có cái bọt huyễn thì đại sự không do đâu mà hiện. Nếu cần đại sự xong, biết cái bọt huyễn này làm gì?” Sư thưa: “Vẫn là việc bên này.” Đại Dương bảo: “Việc bên kia thế nào?” Sư thưa: “Khắp đất vầng hồng suốt, đáy biển chẳng trồng hoa.” Đại Dương cười: “Là người tỉnh chăng?” Sư hét: “Nói! Sẽ bảo tôi mất rồi.” Nói xong thầy thị tịch. 

Quagmire of mortal life: Sinh tử nê (vũng bùn sanh tử). 

Quake: Shake—Rung chuyển. 

Qualified candidates for monks and nuns: Giới Khí—Those who meet the criteria to receive the rules, i.e. one who is not debarred from entering the order, such as not killing parents, not slandering the Triratna, etc.—Những người đủ tư cách thọ giới hay không bị ngăn cản gia nhập giáo đoàn, chẳng hạn như những người không giết cha mẹ, không hủy báng Tam Bảo, vân vân—See Five betrayals. 

Qualitative forms: As heat is in fire—Thể tướng—See Three kinds of appearance (A).

Qualities: Good, bad, length, shortness—Phẩm chất—Tướng trì hữu—See Three kinds of rupa (B), and Three states of mortal existence (A).

Qualities of certainty: Phẩm chất quyết định—According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten qualities of certainty of Great Enlightening Beings. After practicing the ten paths of emancipation, Enlightening Beings attain these ten qualities of certainty—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười pháp quyết định của chư Đại Bồ Tát. Sau khi đã thành tựu mười pháp xuất ly, chư Bồ Tát sẽ đạt được mười pháp quyết định (see Ten paths of emancipation)—See Ten qualities of certainty of Great Enlightening Beings.

Qualities that make a woman seek birth in happy states: Phẩm Chất Của Người Nữ Có Thể Giúp Đưa Người Ấy Lên Các Cảnh Trời—On various occasions, the Buddha mentioned to Visakha the eight qualities that make a woman seek birth in happy states; or she will be born again where lovely devas dwell—Trong một vài dịp giảng cho bà Visakha, Đức Phật đã đề cập đến tám phẩm chất có thể giúp người nữ sanh lên các cảnh trời—See Eight qualities that make a woman seek birth in happy states.

Qualities of mind: Tâm Số.
1) Knowledge: Trí.
2) Several qualities of mind, or mental content or conditions: Vài phẩm chất của tâm.
3) Several qualities of mind. The esoterics make Vairocana the Mind or Will, and the moral qualities, or mental attributes, are personified as his retinue: Mật tông coi Phật Tỳ Lô Giá Na là tâm vương như tâm và ý chí; và tâm số là những phẩm chất hay điều kiện tinh thần, được nhân cách hóa như đoàn tùy tùng của Ngài.
4) Mental factors: Cetasikas (p)—Mental actions—Mental conditions or emotions—The attributes of the mind, especially the moral qualities, emotions, love, hate, etc.—Tâm pháp sở hữu của tâm vương hay những điều kiện tinh thần, những đóng góp của tâm, đặc biệt là những phẩm chất luân lý, tình cảm, thương yêu, hận thù, vân vân. 

Qualities of the non-learner: Asekha (p)—Những phẩm chất của bậc vô học—According to the Sangiti Sutta in the Long Discourses of the Buddha, there are ten qualities of the non-learner—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có mười Pháp Vô Học—See Ten qualities of the non-learner. 

Qualities of the sage as to the body: Kaya-moneyyam (p)—Thân tịnh mặc—See Three dharmas (XLVI).

Qualities of the sage as to mind: Mano-moneyyam (p)—Ý tịnh mặc—See Three dharmas (XLVI).

Qualities of the sage as to speech: Vaci-moneyyam (p)—Ngữ tịnh mặc—See Three dharmas (XLVI).

Qualities of the true man: Sappurisa-dhamma (p)—Thượng nhân pháp—According to the Sangiti Sutta, there are seven qualities of the true man—Theo Kinh Phúng Tụng trong Trường Bộ Kinh, có bảy thượng nhân pháp—See Seven qualities of the true man.

Quality (n): Attribute—Đức tính—Phẩm hạnh—Phẩm chất—See Three states of mortal existence (A).

Quan Am Bo Tat Pagoda: Chùa Quán Âm Bồ Tát—The pagoda was just built in 1976 on a Big Mountain in Vung Tau city, Ba Ria province. This is a small pagoda; however, it’s famous for its huge statue of Goddess of Mercy. The statue is 16 meter high, pure white, standing on a lotus throne with a water vase in her hand and a benevolent face toward the sea. In recent years, the pagoda receives a lot of visitors everyday—Chùa Quan Âm Bồ Tát được xây dựng vào năm 1976 tại vùng núi Lớn  thuộc thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa. Đây là một ngôi chùa nhỏ, nhưng được rất nhiều người biết đến vì một pho tượng của Đức Quan Âm Bồ Tát. Tượng cao 16 mét, sơn màu trắng tinh, đứng trên tòa sen, tay cầm bình cam lồ với khuôn mặt hiền từ đứng nhìn ra biển. Trong những năm gần đây, mỗi ngày có rất nhiều du khác đến viếng thăm vãng cảnh tại ngôi chùa này. 

Quan Am Sac Tu Temple: Quan Âm Sắc Tứ Tự—Name of a temple located in Cà Mau town, Cà Mau province. It is also called Phật Tổ Temple. It was built in the middle of the nineteenth century by Most Venerable Tô Quang Xuân. At first it was only a small temple where he stayed and worshipped Buddhism, and made prescription to cure the local people. Later, he moved to Gia Định and stayed at Kim Chương Temple, with Buddhist name “Trí Tâm” and passed away there. In 1842, King Thiệu Trị proclaimed him Most Venerable, and offered the Royal Recognization to the temple. The present temple was rebuilt by Most Venerable Thiện Tường and Most Venerable Thiện Đức in 1936—Tên của một ngôi chùa tọa lạc trong thị xã Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Chùa còn gọi là chùa Phật Tổ, được Hòa Thượng Tô Quang Xuân dựng lên vào giữa thế kỷ thứ 19. Nguyên thủy chùa chỉ là một cái am nhỏ làm nơi tu hành và phát thuốc cho nhân dân trong vùng. Sau đó Hòa Thượng lên thành Gia Định, tu ở chùa Kim Chương và thị tịch ở đó. Năm 1842, vua Thiệu Trị đã sắc phong cho Hòa Thượng và sắc tứ chùa Quan Âm. Ngôi chùa hiện tại đã được hai vị Hòa Thượng Thiện Tường và Thiện Đức xây dựng vào năm 1936.

Quan Su Pagoda: Chùa Quán Sứ—The pagoda was probably built during the reign of king Tran Du Tong (1341-1369). According to legend, during the reign of King Tran Du Tong, at the area today pagoda, there was a common house built by the royal court for receiving foreign ambassadors, especially ambassadors from China. because most of them followed Buddhism, King Du Tong ordered to built a pagoda next to the common house for ambassadors to come to pray. Later, the common house was destroyed with the time, but the pagoda still exists. Inside the main hall, the front vestibule worships Buddha. In the Patriarchal altars, people placed  altars of national teachers under the Ly-Tran Dynasties and Khong Lo Zen Master. In 1822, king Minh Mang ordered to rebuild the pagoda. Later, Zen master Thanh Hương came to be the headmonk of the pagoda. He enlarged the corridors and casted more statues. After that, his disciple, Van Nghiem, casted 27 statues of Buddhas and Bodhisattvas that we still can see today—Chùa Quán Sứ có lẽ được xây dựng dưới triều vua Trần Dụ Tông (1341-1369). Tương truyền dưới thơì vua Trần Dụ Tông, nơi mà bây giờ là chùa, có một công quán dành cho sứ ngoại quốc, đặc biệt là sứ giả từ Trung Quốc. Vì đa số họ theo Phật giáo nên nhà vua ra lệnh xây dựng một ngôi tự viện bên cạnh công quán cho các sứ giả đến cầu nguyện. Về sau, nhà công quán bị tàn phá với thời gian, nhưng ngôi tự viện vẫn còn tồn tại. Bên trong tiền đường thờ Phật, hậu đường thờ các vị quốc sư dưới triều nhà Lê và Không Lộ Thiền sư. Năm 1822, chùa được vua Minh Mạng trùng tu. Sau đó sư Thanh Hưng đến trụ trì và cho đúc thêm chuông, tượng, và xây lớn hành lang. Về sau đệ tử của Thiền sư Thanh Hưng là sư Văn Nghiêm, đúc thêm 27 pho tượng Phật và Bồ Tát, vẫn còn đến ngày nay. 

Quang Duc: Thích Quảng Đức—Vietnamese Buddhist  monk whose public self-immolation in 1963 became one of the eminent images of the Vietnam War. He took this desperate measure in protest at the jailing of hundreds or thousands of monks and nuns without trial by the regime of President Ngo Dinh Diem of the first Republic of South Vietnam, and he is widely credited with helping to restore religious freedom in Vietnam as a result of his self-sacrifice—Vị Tăng Việt Nam người đã tự thiêu vào năm 1963 và trở thành một trong những hình ảnh nổi bật trong chiến tranh Việt Nam. Ngài đã dùng phương cách liều mạng để chống lại sự bắt bớ cầm tù hàng trăm hay hàng ngàn chư Tăng Ni mà không xét xử của chế độ Tổng Thống Ngô Đình Diệm của nền đệ nhất Cộng Hòa của miền Nam Việt Nam, và sự hy sinh của ngài đã giúp phục hồi sự tự do tôn giáo ở Việt Nam. 

Quang Huong Temple: Chùa Quảng Hương—Name of a famous pagoda in Gò Vấp district, Saigon City, South Vietnam. It was built in 1958 by Most venerable Trí Thủ. It has been the school of basic Buddhist Studies for Monk students. A 330 kilogram great bell cast at Nha Trang Institute of Buddhist Studies in 1966 is hung on the right of the Main Hall. On the bell there is a text written by Most Venerable Trí Thủ on March 31, 1966, telling us the history of the monastery. On the right, in the back of the monastery, stands a stupa and stele commemorating Most Venerable Trí Thủ—Tên một ngôi già lam nổi tiếng trong quận Gò Vấp, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Thủ xây năm 1958. Đây là chi nhánh của Phật Học Viện Nha Trang. Bên phải Chánh điện có đại hồng chung nặng 330 kí lô, đúc tại Phật Học Viện Nha Trang năm 1966. Trên chuông có khắc bài văn ghi lại lịch sử của chùa mà Hòa Thượng Trí Thủ đã ghi lại vào ngày 31 tháng 3 năm 1966. 

Quang Linh Pagoda: Chùa Quang Linh—Quang Linh Pagoda was one of the most ancient pagodas in Vietnam. It was built in the fifteenth century in Thien Thi Hamlet, Tho Xuong District, Hanoi City. It’s also called Mrs. Ba Da Pagoda (Mrs. Stone). It’s said that under King Le Thanh Tong period (1460-1497), when digging soil to build Thang Long Fortress, people found a female statue made of stone. Everybody believed that it was the statue of the Holy Mother so they constructed a temple  with the name of “Mrs. Stone”. Later, it became the place for worshipping Lord Buddha. Inside the main hall, there are a lot of Buddha and Bodhisattva statues made of wood with red lacquer trimed with gold, such as Sakyamuni Buddha, Amitabha Buddha, Manjusri Bodhisattva, and Samantabhadra Bodhisattva, etc. Monks and Nuns of this pagoda belong to the Lin-Chi Zen Lineage—Chùa Quang Linh là một trong những ngôi chùa cổ nhất Việt Nam. Chùa được xây dựng vào thế kỷ thứ 15 trong thôn Thiên Thị, quận Thọ Xương, thành phố Hà Nội. Chùa còn có tên là Chùa Bà Đá. Tương truyền rằng dưới thời Vua Lê Thánh Tông (1460-1497), khi đào đất đắp bờ thành Thăng Long, người ta tìm thấy trong lòng đất một pho tượng người nữ bằng đá. Người ta tin rằng đó chính là bức tượng của Thánh Mẫu nên lập đền thờ tượng và đặt tên là Đền Bà Đá. Về sau này đền biến thành nơi thờ Phật. Bên trong chánh điện có rất nhiều tượng Phật và Bồ Tát sơn son thếp vàng như các tượng Phật Thích Ca, Phật Di Đà, Bồ Tát Văn Thù, Bồ Tát Phổ Hiền. Chư Tăng Ni trụ xứ trong chùa thuộc dòng Thiền Lâm Tế. 

Quang Nghiem Zen Master: Thiền Sư Quảng Nghiêm (1121-1190)—A Vietnamese Zen master from Đan Phượng, North Vietnam. He lost his parents when he was very young. After his parents passed away, he studied Buddha Dharma with master Bảo Nhạc, his uncle on the mother side. After his master passed away, he met and became a disciple of Zen master Trí Thiền. He was the dharma heir of the eleventh generation of the Wu-Yun- T’ung Zen Sect. He passed away in 1190, at the age of 69—Thiền sư Việt Nam, quê ở Đan Phượng, Bắc Việt. Ngài mồ côi cha mẹ từ lúc nhỏ. Sau khi cha mẹ mất, ngài theo học Phật pháp với cậu là thầy Bảo Nhạc. Khi thầy Bảo Nhạc thị tịch, ngài gặp và trở thành đệ tử của Thiền sư Trí Thiền. Ngài là pháp tử đời thứ 11 dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Ngài thị tịch năm 1190, thọ 69 tuổi. 

Quang Te Temple: Quảng Tế Tự—Name of an ancient temple in Huế, Central Vietnam. The temple is situated on the east side of Quảng Tế hill, which is northwest of the Altar to Heaven. In 1807, Lương Tài Hầu Trần Văn Năng built a thatched temple on the east side of Quảng Tế hill and named it after the land.  Sometime after the temple was built, the senior monk named Tánh Linh Quang Hiển took charge of the temple. In 1844, Most Venerable Hải Nhu, the royal-recognized monk of Thiên Mụ temple with lay person named Bùi Tín Tại rebuilt the temple, enlarged the structure and replaced thatched with tiles for the roof.  In 1894, Most Venerable Thanh trí, with the help from Thánh Cung, wife of king Đồng Khánh, undertook the reconstruction. A great-sized bell, 230 pounds was contributed to the temple by the royal family.  In 1989, Venerable Chơn Hương constructed an old-style three-entrance gate giving the temple a more impressive appearance—Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế, Trung Việt. Chùa tọa lạc tại phía đông triền đồi Quảng Tế, về phía tây bắc Đàn Nam Giao. Năm 1807, vị Tiền Quân Đô Đốc Phủ Chưởng Phủ Sự tước phong Lương Tài Hầu Trần Văn Năng dựng lên một thảo am, lấy địa danh gọi tên chùa là Quảng Tế. Sau khi xây chùa một thời gian, đại sư Tánh Linh Quang Hiển đã được cử trông coi chùa. Năm 1844, Hòa Thượng Hải Nhu, tăng cang chùa Thiên Mụ, cùng với thí chủ Bùi Tín Tại đã kiến thiết chùa, mở rộng qui mô, đổi tranh lợp ngói. Năm 1894, Hòa Thượng Thanh Trí, với sự hỗ trợ của bà Thánh Cung, vợ vua Đồng Khánh, tiến hành trùng tu chùa, đúc một đại hồng chung nặng 230 cân. Năm 1989, Thầy Chơn Hương đã xây cổng Tam Quan làm cho cảnh chùa thêm vẻ uy nghi. 

Quang Tri Zen Master: Quảng Trí Thiền Sư—A  Vietnamese Zen master from Thăng Long, North Vietnam. He left home in 1059 to become a disciple of Zen master Thiền Lão in Tiên Du. He became the Dharma heir of the seventh generation of the Wu-Yun-T’ung Zen Sect. His reputation soon spread all over North Vietnam and he had a lot of followers. Later, he stayed at Quán Đỉnh Temple on Mount Không Lộ. He spent most of his life to revive and expand Buddhism in North Vietnam. He passed away in 1091—Thiền sư Việt Nam, quê ở Thăng Long, Bắc Việt. Năm 1059, ngài xuất gia làm đệ tử của Thiền sư Thiền Lão tại núi Tiên Du. Ngài trở thành Pháp tử đời thứ bảy dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Chẳng bao lâu sau tiếng tăm của ngài lan rộng và nhiều đệ tử đến với ngài. Về sau ngài trụ tại chùa Quán Đảnh trên núi Không Lộ. Hầu hết cuộc đời ngài, ngài đã chấn hưng và hoằng hóa Phật giáo tại Bắc Việt. Ngài thị tịch năm 1091. 

Quan Su Temple: Chùa Quán Sứ—Name of an ancient temple, located in Hoàn Kiếm district, Hanoi City, North Vietnam. At first, it belonged to An Tập village, Thọ Xương district, Thăng Long ancient citadel. According to Đại Nam Nhất Thống Chí, in the Lê dynasty (1428-1788), Champa, Siam, Laos, all sent their envoys to Vietnam to offer the tributes. The King had a temple built as the residence for the envoys, because these above countries are devout Buddhists. The temple, therefore, was named Quán Sứ to distinguish it from other temples. Quán Sứ Temple has been changed many times. In 1934, the North Vietnam Buddhist Sangha Association was founded and the temple was chosen its headquarter. It was rebuilt, following a plan drawn out by the two architects Nguyễn Ngọc Ngoạn and Nguyễn Xuân Tùng, with the acceptance of Patriarch Vĩnh Nghiêm in 1941. The Main Hall is solemnly decorated. The statues are pretty big and splendidly lacquered in red and gild colours. For the first time in Vietnam, the flag of the World Buddhist Association was hung at Quán Sứ Temple in 1951for celebrating the Buddha’s Holy Birthday—Tên của một ngôi chùa cổ, tọa lạc trong quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Bắc Việt Nam. Xưa kia thuộc địa phận thôn An Tập, huyện Thọ Xương, Thăng Long thành. Theo Đại Nam Nhất Thống Chí, vào thời nhà Lê, các nước Chiêm Thành, Siêm, và Ai Lao thường gửi sứ thần đến triều cống. Nhà vua cho xây một ngôi chùa dùng làm nơi trú ngụ cho các sứ thần nầy vỉ các nước nầy rất sùng đạo Phật, vì thế mà chùa có tên là chùa Quán Sứ. Chùa đã trải qua nhiều thay đổi. Năm 1934, Tổng Hội Phật Giáo Bắc Phần ra đời, đặt trụ sở tại chùa. Chùa đã được xây dựng lại theo bản thiết kế của hai kiến trúc sư Nguyễn Ngọc Ngoạn và Nguyên Xuân Tùng do Tổ Sư Vĩnh Nghiêm duyệt xét bào năm 1941. Chánh Điện trong chùa được trang trí trang nghiêm. Các pho tượng đều khá lớn và thếp vàng lộng lẫy. Lá cờ Phật giáo thế giới lần đầu tiên được treo tại Việt Nam tại chùa Quán Sứ nhân ngày lễ Phật Đản năm 1951 (Phật lịch 2495). 

Quan The Am Temple: Chùa Quan Thế Âm—Name of a famous pagoda located in Phú Nhuận district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built in 1922 and rebuilt from 1964 to 1969. It is the last memento of Thích Quảng Đức Bodhisattva (burnt himself for the sake of Buddhism)—Tên của một ngôi chùa nổi tiếng tọa lạc trong quận Phú Nhuận, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được xây vào năm 1922 và được trùng tu lại từ năm 1964 đến 1969. Chùa là di tích cuối cùng của Bồ Tát Thích Quảng Đức (vị Pháp thiêu thân). 

Quantum (n): Lượng tử.

Quantum mechanics: Nguyên lượng cơ học.

Quantum Physics: Vật Lý Lượng tử.

Quarrel (v): Cãi vã—To argue—To dispute. 

Quarrels: Tranh chấp.

Quarrelsome (a): Hay gây gỗ. 

Queen of Heaven: Thiên Hậu. **See Marichi (1). 

Quell (v): Dập tắt. 

Quell calamities by spells or ceremonies: Tịch Tai (niệm chú trừ tai). 

Quell  all greed, anger, jealousy and ignorance: Dập tắt tham, sân,  đố kỵ và si mê. 

Quench (v): Đáp ứng. 

Quest (n): Sự tìm kiếm.

Quests for becoming: Bhavesana (p)—Hữu cầu—See Three dharmas (XVIII).

Quests for the holy life: Brahmacariyesana (p)—Phạm hạnh cầu—See Three dharmas (XVIII).

Quests for sense-desire: Kamesana (p)—Dục cầu—See Three dharmas (XVIII).

Quest for truth to benefit self and others, all sentient beings, not just helping themselves: Vì lợi mình, lợi người, cũng như lợi tất cả chúng sanh mà cầu pháp, chứ chẳng vì tư lợi—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to destroy all sentient beings’ afflictions, not doing it for fame, profit, or respect: Vì muốn trừ phiền não cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì chẳng vì danh, lợi hay sự cung kính—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to enter knowledge of wisdom, not taking pleasure in literature: Vì nhập trí huệ mà cầu pháp, chẳng vì văn tự—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to fulfill Buddhahood, not being inclined to lesser aims: Vì đầy đủ Phật phát mà cầu pháp, vì chẳng thích những thừa khác—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for Truth of Great Enlightening Beings: Sự cầu đạo của chư Đại Bồ Tát— According to the Flower Adornment Sutra, Chapter 38, there are ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.  Enlightening Beings who abide by these can attain great knowledge of all elements of Buddhahood without being instructed by another—Theo Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm 38, có mười điều cầu pháp của chư Đại Bồ Tát. Chư Bồ Tát an trụ trong pháp nầy thời được đại trí huệ tất cả Phật pháp chẳng do người khác dạy—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to leave birth and death, not craving worldly pleasures: Vì thoát sanh tử mà cầu pháp, vì chẳng tham thế lạc—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to liberate sentient beings, engendering the determination for enlightenment: Vì độ chúng sanh mà cầu pháp, vì phát Bồ Đề tâm—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth to resolve the doubts of all sentient beings, to free them from vacillation: Vì dứt nghi cho tất cả chúng sanh mà cầu pháp, vì làm cho họ không do dự—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Quest for truth with a straightforward mind, being free from dishonesty: Trực tâm cầu pháp, vì không dua nịnh phỉnh phờ—See Ten kinds of quest for truth of Great Enlightening Beings.

Questions (n): Câu hỏi—Vấn đề.

Questions and answers: Vấn Đáp—A uniquely Zen type of dialogue between a master and a student wherein the student asks a question on Buddhism which has deeply perplexed him, and the master, skirting theory and logic, replies in such a way as to evoke an answer from the deeper levels of the student’s intuitive mind —Hỏi và trả lời, một kiểu đối thoại độc đáo của Thiền giữa một một thầy một trò, trong ấy trò hỏi các vấn đề Phật giáo làm mình bối rối sâu xa, và thầy men theo lãnh vực lý thuyết và lý luận, đáp bằng cách nào để gợi lên câu trả lời từ các tầng mức trực thức sâu hơn của trò.

Question to be answered directly: Ekamsa-vyakaraniyo-panho (p)—Trả lời câu hỏi một cách dứt khoát—See Four ways of answering questions.

Question of concentration: Vấn đề thiền định. 

Question of ignorance: Bất Hội—In Zen, there is a kind of question called “question of ignorance.” This does not seem to differ from the sixth question. A monk asked Hsuan-Sha: “I am a new comer in the monastery; please tell me how to go on with my study.” Hsuan Sha replied: “Do you hear the murmuring stream?” The monk said: “Yes, master.” Hsuan-Sha said: “If so, here is the entrance.”—Trong Thiền, có loại câu hỏi được gọi là “hỏi vì không hiểu”; ở đây có vẻ không khác với loại câu “Tâm Hành.” Một nhà sư hỏi Huyền Sa: “Tôi là một người mới nhập tòng lâm; mong sư chỉ thị tôi cần phải học tập như thế nào.” Huyền Sa đáp: “Nhà ngươi có nghe dòng suối rì rào kia chăng?” Vị sư đáp: “Bẩm, có!” Huyền Sa nói: “Vậy theo lối đó mà vào.”—See Eighteen kinds of questions.

(To ask) questions not with intention to learn: Hỏi những câu không với ý định học tập.

Questions in meditation: Những câu hỏi về Thiền— According to Zen Master  D.T. Suzuki in the essays in Zen Buddhism, Book II, The Eighteen Kinds of Question, compiled by Shan-Chao of Fen-Yang, the way Zen teaching was practiced until about the tenth century. Fen-Yang-Shan-Chao lived at the end of the tenth century and was a disciple of Sheng-Nien of Shou-Shan. The classification in the work is unscientific but the “Questions” are illuminating in many ways as they illustrate how Zen was studied in those days—Theo Thiền Sư D.T. Suzuki trong Thiền Luận Tập II, Thập Bát Vấn của Phần Dương Thiện Chiểu là đường lối thực hành của giáo lý Thiền cho đến khoảng thế kỷ thứ mười. Phần Dương Thiện Chiểu sống vào khoảng cuối thế kỷ thứ mười, là môn nhân của Thủ Sơn Tĩnh Niệm. Sự xếp loại trong Thập Bát Vấn tuy không có tính cách khoa học nhưng các câu hỏi rất là sáng sủa vì chúng phác họa cách thức học tập của Thiền thời bấy giờ—See Eighteen kinds of questions.

Questioning in return: One of the Buddha’s four methods of dealing with questions—Trả lời bằng cách hỏi lại, một trong bốn phương pháp Phật trả lời câu hỏi—See Four methods of dealing with questions.

Quick (a): Còn sống. 

Quick in attaining the vision: Bất thời giải thoát—See Two kinds of deliverance (D).

Quick discernment: Mục Cơ Thù Lạng (Lượng)—The power of the eye to discern triffling differences—Khả năng phân biệt nhanh nhẹn, chỉ người nhạy bén. 

Quick-tempered: Hay giận—To be angry quickly—To have a short temper.

Quiet (a): 
1) Nơi cô tịch hẻo lánh: Sama (p)—Prasama, Vivikta, or Santi (skt)—Calmness—Quietude—Quietism—Tranquility—Still—Silent—Quiet—Solitary
—Secluded—Rustic—Nirvana.
2) Ksema (skt)—Peace—Tranquil—Pacify—An.
3) Samatha (skt): Chỉ—Tranquility—Calmness—Absence of passion—Cessation. 

Quiet breathing: Hơi thở im lặng (không ồn ào)—To Buddhists, our breath should always by light, even, and flowing, like a thin stream of water running through the sand. Our breath should be quiet, so quiet that a person sitting next to us cannot hear it. Our breath should flow gracefully, like a river, like a watersnake crossing the water, and not like a chain of rugged mountains or the gallop of a horse. Quiet breathing is extremely important for any Zen practitioner, because when we are able to master our breath, we are able to control not only our bodies but also our minds—Đối với người Phật tử lúc nào hơi thở chúng ta cũng phải thật nhẹ nhàng, đều đặn và trôi trải như một lạch nước nhỏ chảy trên cát.  Hơi thở phải thật im lặng, im lặng đến nỗi người ngồi kế bên cũng không nghe được mình đang thở. Hơi thở nên uyển chuyển như một dòng sông uốn khúc, một con rắn nước đang vượt nước, chứ không thể như một dãy núi lởm chởm hay như nhịp phi nước đại của một con ngựa được. Hơi thở im lặng cực kỳ quan trọng cho Thiền giả, vì khi chúng ta có thể kiểm soát được hơi thở của mình là chúng ta có thể kiểm soát được chẳng thân mà còn tâm mình nữa. 

Quiet (v) the heart or mind: Be at rest—Heartened—Reassured—An tâm. 

Quiet patience: Calmness and endurance—Tịch Nhẫn (tịch tĩnh và nhẫn nhục, hay sự nhẫn nhục tịch tĩnh). 

Quiet and Reflecting:  Samatha and Vipasyana (skt)—Shikan (jap)—Ceasing and reflecting—Chỉ Quán—See Samatha-Vipasyana. 

Quietism (n): 
1) Chủ nghĩa an tịnh—Chủ trương giảm thiểu hoạt động và trách nhiệm của con người xuống mức tối thiểu. 
2) Chủ trương tịnh mặc—Quietism, by which he tries to suppess ideas and feelings in order to realize a state of tranquilization or perfect blankness. This is one of the ten wrong ways into which the Yogin may fall—Tịnh mặc khiến hành giả trấn áp các ý tưởng và cảm giác  hầu chứng trạng thái tịch tĩnh hay ngoan không. Đây là một trong mười lầm lạc mà thiền giả có thể bị rơi vào—See Ten wrong ways into which Zen practitioners may fall.

Quietist (n): Người theo chủ nghĩa an tịnh. 

Quietistic (a): Thuộc về thuyết tĩnh tại. 

Quietness (n): Ekagra (skt)—Calmness—Stillness—Sự yên lặng.

Quietude: Tịch Nhiên—Calmness—Silence—Stillness—Undisturbed—Sự yên lặng hay trạng thái lặng lẽ vô tư lự đối với cảnh. 

Quinquennial assembly: Panca-varsika-parisad (skt)—Vô Già Đại Hội—The quinquennial assembly, for having all things in common, and for confession, penance, and remission—Cứ năm năm thì chư Tăng Ni họp đại hội một lần để chia xẻ kinh nghiệm tu hành, và cùng nhau phát lồ sám hối (tục có từ thời Lương Võ Đế). 

Quintessence: Tinh anh. 

Quintessence or energy of all living beings: Sarvasattvaujohari (skt)—Vitality of all beings—Nhất thiết chúng sanh tinh khí—Tinh chất của tất cả chúng sanh.

Quit (v): Parityajati (skt)—Từ Bỏ—See Renunciation. 

Quoc An Temple: Quốc Ân Tự—Name of an old temple in Huế. It is located at northwest of Ngự Bình Hill, in Phước  Quả hamlet, Trường An precint.  Its original name was Vĩnh An. The temple was built in 1683 by Most Venerable Siêu Bạch Nguyên Thiều, a wandering Chinese monk. Five years later, Lord Nguyễn Phước Thái recognized it as a national temple and renamed it Quốc Ân. In 1805, Princess Long Thành, an elder sister of king Gia Long, had it rebuilt with 300 ounces of silver. In 1842, king Thiệu Trị granted 500 ounces of silver to accomplish its reconstruction as we can see it today—Tên của một ngôi chùa cổ ở Huế. Chùa tọa lạc tại phía tây bắc núi Ngự Bình, trong thôn Phước Quả, phường Trường An. Nguyên chùa có tên là Vĩnh Ân do Hòa Thượng Siêu Bạch Nguyên Thiều, một du tăng Trung Hoa khai sơn vào khoảng năm 1683. Năm năm sau, chúa Nguyễn Phước Thái công nhận là quốc tự và đặt tên lại là Quốc Ân. Năm 1805, công chúa Long Thành hiến 300 lạng bạc để trùng tu. Năm 1842, vua Thiệu Trị lại cấp cho chùa 500 lạng bạc để hoàn chỉnh như chúng ta thấy ngày nay. 

Quoc Tu Giam Temple: Quốc Tử Giám—The first Vietnamese Temple of Literature, was built by King Ly Thanh Tong in 1070. In 1156, under the reign of king Ly Anh Tong, the Temple of Literature was used to worship only Confucius, a Chinese Thousand-generation Teacher. At the end of the Tran Dynasty, two Vietnamese famous scholars, Chu Van An and Truong Han Sieu, were also worshipped in the temple. From 1442, tablets of Vietnamese doctorates were erected inside the temple. Today, the Temple of Literature is known as a symbol of the studious tradition and the veneration to teachers and morality of Vietnamese people—Văn miếu đầu tiên của Việt Nam được vua Lý Thánh Tông xây dựng vào năm 1070. Năm 1156, dưới triều vua Lý Anh Tông, Văn miếu chỉ được thờ Đức Khổng Phu Tử, Vạn Thế Sư Biểu của người Trung Hoa. Cuối đời nhà Trần, có hai học giả nổi tiếng của Việt Nam cũng được thờ trong miếu là Chu Văn An và Trương Hán Siêu. Từ năm 1442, các bia Tiến Sĩ được dựng lên bên trong Quốc Tử Giám. Ngày nay, Văn Miếu được xem như là một biểu tượng hiếu học và tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam. 

Quotation (n): Sự trích dẫn. 

Quotation book: Ngữ lục. 
 
 
 
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap