Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
N
Nabha
(p): The sky—Bầu trời.
Nada
(skt): Sound—Âm thanh.
Nadi
(skt): Na Đề—Sông—Thác—River—Torrent.
Nadikasyapa
(skt): Na Đề Ca Diếp—Nại Địa (Đề) Ca Diếp Ba—Brother
of Mahakasyapa, to become Samantaprabhasa Buddha—Em trai của Đại
Ca Diếp, sau thành Phật Phổ Minh Như Lai.
Na-Fu-Po:
Nạp Phược Ba—Na-Fu-Po, Hsuan-Tsang’s name for a city on the ancient
site of I-Hsun, capital of Shan-Shan in the Former Han dynasty, afterwards
known as Nob or Lop in Marco Polo. It corresponds to the modern Charkhlik—Tên
của một thành phố cổ mà người ta đã lấy tên ngài Huyền
Trang để đặt cho nó. Thành phố nầy nằm gần khu vực Y
Tuần, đế đô của nhà Hán, sau nầy được biết như là
Nob hay Lop trong truyện ký của Marco Polo. Bây giờ là thành
phố Charkhlik.
Naga
(skt): Na Già—Thiên long—Heavenly dragons.
(A)
The meaning of Naga—Nghĩa của Naga:
1)
A kind of snake: Một loại rắn.
2)
A race of serpent-worshippers: Một chủng tộc thờ rắn.
3)
Elephant: Tượng.
4)
As dragon it represents the chief of the scaly reptiles; it can disappear
or manifest, increase or decrease, lengthen or shrink at will. It can mount
in the sky and in water, and enter the earth. In spring it mounts in the
sky and in winter enters the earth. Dragon or a beneficent half-divine
being (serpent or serpent demon). They supposed to have a human face with
serpent-like lower extremities. With Buddhism, they are also represented
as ordinary men. Snakes and Dragons are symbols of initiates of the
wisdom, especially in India the Nagas or Serpent Kings are symbols of initiates
of the Wisdom: Rồng—Như loài rồng tiêu biểu cho loài bò sát
mạnh nhất; nó có thể biến hiện, tăng giảm, dài ngắn tùy
ý. Nó có thể bay trên trời, lội dưới nước hay đi vào
trong đất. Vào mùa xuân nó bay lượn trên trời, mùa đông
lại chui vào đất. Loài rồng mặt nguời. Đối với Phật
giáo, thì đây là tiêu biểu cho những phàm nhân. Loài rồng
hay á thần đầy nhân từ, dấu hiệu của khởi điểm trí
tuệ, đặc biệt là ở Ấn Độ.
a)
Dragons are regarded as beneficent, bringing the rains: Rồng được
xem như hữu ích, vì mang lại mưa.
b
Guarding the heavens: Thiên Long Hộ Pháp.
c)
They control rivers and lakes, and hibernate in the deep: Chúng ẩn dưới
vực sâu để kiểm soát sông hồ.
d)
Naga and Mahagana are titles of a Buddha: Long và Đại Long là danh
hiệu của Phật.
e)
Naga and Mahanaga are titles of those freed from reincarnation, because
of his powers, or because like the dragon he soared above earthly desires
and ties: Long và Đại Long cũng là danh hiệu của những bậc
đã thoát vòng sanh tử, vì lực thoát vòng tham dục và trói
buộc trần thế của các ngài bay vút như rồng bay lên trời.
(B)
Naga in Buddhism—Naga trong Phật giáo:
1)
A Sanskrit term for “Serpent-like beings.” A kind of being with bodies
of snakes and human heads, said to inhabit in the waters or the city of
Bhoga-vati under the waters. They are said to be endowed with miraculous
powers and to have capricious natures. According to Madhyamaka mythology,
they played a key role in the transmission of the “Perfection of Wisdom”
(Prajna-Paramita) texts. Fearing that they would be misunderstood, the
Buddha reportedly gave the texts to the nagas for safekeeping until the
birth of someone who was able to interpret them correctly. This was Nagarjuna
(150-250), who is said to have magically flown to the nagas city and received
the hidden books. The story is apparently intended to explain only the
chronological discrepancy between the death of the Buddha and the appearance
of these texts—Naga là từ Phạn ngữ chỉ “những chúng sanh
giống như loài rắn.” Đây là một loại chúng sanh có thân
hình của loài rắn và đầu của loài người, người ta nói
chúng thường trú ngụ dưới nước hay trong thành Bhoga-vati.
Người ta nói loài này có sức mạnh kỳ diệu và bản chất
khác thường. Theo thần thoại Trung Luận, loài này đóng một
vai trò quan trọng trong việc truyền thừa giáo lý “Bát Nhã
Ba La Mật.” Vì sợ rằng giáo thuyết này có thể bị hiểu
lầm nên Đức Phật đã giao giáo điển này cho loài “thiên
long” bảo hộ cho đến khi nào một vị nào có khả năng
thuyết giảng ra đời. Đó là ngài Long Thọ Bồ Tát, người
ta nói ngài đã dùng phép thần thông bay tới long cung để
nhận những giáo điển được cất giấu ấy. Câu chuyện
rõ ràng cố ý giải thích khoảng trống thời gian giữa lúc
Đức Phật nhập diệt và sự xuất hiện của những giáo
điển này mà thôi.
2)
A serpent of great power, classified with other divine beings in Buddhist
Legends—Rắn thần (thiên long), một loài rắn có sức mạnh
rất lớn, được xếp vào các thần linh trong thần thoại
Phật giáo—See Naga.
3)
Một trong tám chúng sanh siêu nhân trong Kinh Liên Hoa—Naga, one
of the eight classes of supernatural beings in the Lotus Sutra or eight
Vajra Deities—See Eight classes of supernatural beings in the Lotus Sutra.
4)
Một trong tám bộ quỷ chúng—Nagas, one of the eight groups of
demon-followers of the four maharajas—See Eight groups of demon-followers.
Nagabala
(p): Having the strength of an elephant—Mạnh như voi.
Nagabhavana
(p): The region of the nagas—Trú xứ của loài rồng.
Nagabodhi
(skt): Long Trí.
Nagakanya
(skt): Long nữ—A naga maiden—See Dragon-daughter.
Nagalata
(p): The betel creeper—Dây trầu.
Nagaloka
(p): The Naga world—Long giới (thế giới của loài rồng).
Nagamanavaka
(p): A young man of the Naga race—Long tử (một thiếu niên của
loài rồng).
Nagamanavika
(p): Naga maiden—Long nữ.
Naga
meditation: Na Già Định—The naga meditation, which enables one to
become a dragon, hibernate in the deep, prolonged one’s life and meet
Maitreya—Thiền định Na Già, khiến người thành “thọ long”
hay rồng trường thọ ở nơi chỗ sâu, để sau nầy được
gặp Đức Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.
Nagapuspa
(skt): Puspanaga (skt)—Dragon-flower tree—Long Hoa Thụ—Bôn Già
Na—The dragon-flower tree, which will be the bodhi-tree of Maitreya,
the Buddhist Messiah, when he comes to earth—Loại cây bông rồng,
là cây Bồ Đề mà Ngài Di Lặc ngồi dưới gốc khi thành
đạo.
Nagara
(p): Town—Phố thị.
Naga-radja
(skt): Dragon king or queen or water dieties who govern springs, lakes,
rivers and seas—Long vương, các thần linh dưới nước, cai quản
suối, sông, hồ, biển.
Nagarahara
(skt): Nagara (skt)—Kinh thành Na càn ha la—Na Yết La Hát La—According
to The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the name of
an ancient kingdom on the southern bank of the Cabool River, about 30 miles
west of Jellalabad. It’s situated at the confluence of the Surkhar of
Surkh-rud and Kabul rivers. While According to Prof. Bapat in the Twenty-Five
Hundred Years of Buddhism, this is the name of a Buddhist place in southern
India. Nagapattam, near Madras on the East Coast, had a Buddhist settlement
in the time of the Cholas. An important copper-plate inscription of the
eleventh century A.D. states that the Chola King, Rajraja, gave the village
of Anaimangalam for the maintenance of a shrine of the Buddha in
the Culamannivarama Vihara which the Sailendra king, Maravijayottung Varman
of Sri-vijaya and Kataha of Indonesia, had erected at Nagapattam. In the
epilogue of his commentary on the Netti-pakarana, Dharmapala mentions this
place and Dharmasoka Vihara in it, where he composed this commentary—Theo
Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, đây là tên của một
vương quốc cổ, nằm trên bờ nam sông Cabool, khoảng 30 dặm
về phía Tây của Jellalabad. Trong khi theo giáo sư Bapat trong
Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, thì đây là địa danh Phật
giáo ở vùng nam Ấn Độ. Nó nằm ngay chỗ hợp lưu của các
sông Surkhar of Surkh-rud và Kabul. Theo Giáo Sư Bapat trong
Nagapattam ở gần Madras trên bờ biển phía đông, đã có hoạt
động Phật giáo từ thời đại Chola. Một bản khắc chữ
quan trọng trên phiến đồng của thế kỷ 11 cho biết rằng
vua Chola là Rajaraja, đã ban cấp làng Anaimangalam dùng để bảo
dưỡng cho một ngôi đền Phật giáo trong tu viện Culamanivarama
do vua Sailendra, Maravijayottung Varman của Sri-vijaya và Kataha của
Nam Dương dựng lên tại Nagapattam. Trong phần cuối của luận
giải của mình về bộ Nettipakarana, ngài Hộ Pháp (Dharmapala)
đã có nói đến địa điểm nầy và tu viện Dharmasoka trong
đó, nơi mà ông đã viết cuốn luận giải.
Nagaraja
(skt): Long vương—Dragon king—Dragon king, a title for the tutelary
deity of a lake, river, sea, and other places—Vị vua rồng, ngự
trị nơi sông, hồ, biển cả—See Dragon and Naga.
Nagarasodhaka
(p): A town cleaner—Người quét dọn trong khu phố.
Nagaravasi
(p): A citizen—Công dân.
Nagarjuna
(skt): Dragon-Tree Bodhisattva—Long Thọ—An Indian Buddhist philosopher,
founder of the Madhyamika School. He was the 14th Patriarch of Indian Zen.
He composed Madhyamika sastra and sastra on Maha prajna paramita. According
to Kumarajiva, Nagarjuna was born in South India in a Brahmin family. Hsuan-Tsang,
however, stated that Nagarjuna was born in South Kosala, now Berar. When
he was young, he studied the whole of the Tripitaka in three months, but
was not satisfied. He received the Mahayana-Sutra from a very old monk
in the Himalayas, but he spent most of his life at Sriparvata of Sri Sailam
in South India which he made into a center for propagation of Buddhism.
He was one of the most important philosophers of Buddhism and the founder
of the Madhyamika school or Sunyavada. Nagarjuna was a close friend and
contemporary of the Satavahana king, Yajnasri Gautamiputra (166-196 A.D.).
The world has never seen any greater dialectician than Nagarjuna. One of
his major accomplishments was his sytematization of the teaching presented
in the Prajnaparamita Sutra. Nagarjuna’s methodological approach of rejecting
all opposites is the basis of the Middle Way. He is considered the author
of the Madhyamika-Karika (Memorial Verses on the Middle teaching), Mahayana-vimshaka
(Twenty Songs on the Mahayana), and Dvada-Shadvara-Shastra (Treatise of
the Twelve Gates). He was the 14th patriarch of the Indian lineage. He
was the one who laid the foundation for (established) the doctrine of the
Madhyamika in the “Eight Negations” (no elimination, no production,
no destruction, no eternity, no unity, no manifoldness, no arriving, no
departing). To him, the law of conditioned arising is extremely important
for without this law, there would be no arising, no passing away, no eternity,
or mutability. The existence of one presupposed the existence of the other.
Nagarjuna is revered in all of Mahayana as a great religious figure, in
many places as a Bodhisattva. Not only Zen, but also Tantric branch of
Buddhism and the devotional communities of Amitabha Buddha, count Nagarjuna
among their patriarchs. Nagarjuna created an age in the history of Buddhist
philosophy and gave it a definite turn. Hsuan-Tsang speaks of the ‘four
suns which illumined the world.’ One of these was Nagarjuna, the other
three being Asvaghosa, Kumarajiva, and Aryadeva. Indeed as a philosophical
thinker, Nagarjuna has no match in the history of Indian philosohy. According
to one legend, in the 3rd century, Nagarjuna traveled to the sea dragon’s
palace beneath the ocean to retrieve the Avatamsaka Sutra. According to
another legend, he discovered the sutra in an abandoned monastery. Nagarjuna
was the fourteenth patriarch of Indian Zen. He was the founder and first
patriarch of the Madhyamika (Middle Way) school, also the founder of the
Pure Land Sect (Salvation School). Although a great number of works are
attributed to him by Buddhist tradition, only a handful are thought by
contemporary scholars to have actually been composed by him. The most important
of these is the Fundamental Verses on the Middle Way (Mulamadhyamaka-Karika),
in which he extends the logic of the doctrine of emptiness (sunyata). In
the Lankavatara Sutra, the Buddha is asked who will teach the Mahayana
after he has passed away. He fortold the coming of Nagarjuna and Nagarjuna’s
rebirth in the Pure Land: “After 500 years of my passing away, a Bhikshu
most illustrious and distinguished will be born; his name will be Nagarjuna,
he will be the destroyer of the one-sided views based on being and
non-being. He will declare my Vehicle, the unsurpassed Mahayana, to the
world; attaining the stage of Joy he will go to the Land of Bliss.”—Long
Thọ Bồ Tát, một nhà triết học Phật giáo nổi tiếng, người
sáng lập ra trường phái Trung Quán. Ngài là vị tổ thứ 14
dòng Thiền Ấn Độ, người đã biên soạn bộ Trung Quán Luận
và Đại Trí Độ Luận. Long Thọ Bồ Tát, theo Cưu Ma La Thập,
thì ngài sinh ra trong một gia đình Bà La Môn tại miền nam
Ấn Độ, nhưng theo Huyền Trang thì ngài sanh ra ở miền nam
Kiều Tất La, nay là Berar. Ngài đã nghiên cứu toàn bộ tam
tạng kinh điển trong ba tháng nhưng không thấy thỏa mãn. Ngài
tiếp nhận kinh Đại Thừa từ một Tăng sĩ cao niên ở vùng
Hy Mã Lạp Sơn, nhưng phần lớn cuộc đời ngài ngài sống
ở miền Nam Ấn, rồi biến miền nầy thành một trung tâm
quảng bá đạo Phật. Ngài là một trong những nhà triết học
chính của Phật giáo, người sáng lập ra trường phái Trung
Đạo hay Trung Luận Tông (Madhyamika school) hay Không Tông (Sunyavada
school). Long Thọ là bạn thân của vua Yajnasri Gautamiputra của
xứ Satavahana. Ông là một nhà biện chứng vĩ đại chưa từng
thấy. Một trong những thành tựu chính của ông là hệ thống
hóa giáo thuyết trong Kinh Bát Nhã Ba La Mật. Phương pháp lý
luận để đạt đến cứu cánh của ông là căn bản “Trung
Đạo,” bát bỏ nhị biên. Ông được coi là tác giả của
các tác phẩm Nhật ký thơ về Trung Đạo, Hai Mươi ca khúc
Đại Thừa, bàn về Thập Nhị Môn (Mười Hai Cửa). Ông là
Tổ thứ 14 Thiền Tông Ấn Độ. Chính ông là người đặt
cơ sở của phái trung Đạo bằng Tám Phủ định (không thủ
tiêu, không sáng tạo, không hủy diệt, không vĩnh hằng, không
thống nhất, không đa dạng, không đến, không đi). Đối với
ông luật nhân duyên rất quan trọng vì đó là thực chất
của thế giới phi hiện thực và hư không; ngoài nhân duyên
ra, không có sinh ra, biến mất, vĩnh hằng hay thay đổi. Sự
tồn tại của cái nầy là giả định vì phải có sự tồn
tại của cái kia. Ngài Long Thọ được các phái Đại Thừa
Phật Giáo tôn kính như một vị Bồ Tát. Chẳng những Thiền
Tông, mà ngay cả Tịnh Độ tông cũng xem Ngài Long Thọ như
tổ của chính họ. Long Thọ đã tạo ra một kỷ nguyên trong
lịch sử triết học Phật giáo và khiến cho lịch sử nầy
có một khúc quanh quyết định. Huyền Trang đã nói về bốn
mặt trời rọi sáng thế giới. Một trong số đó là Long Thọ;
còn ba mặt trời kia là Mã Minh, Cưu Ma La Thập, và Thánh Thiên.
Thật vậy, Long Thọ là một nhà triết học không có đối
thủ trong lịch sử triết học Ấn Độ. Theo truyền thuyết
thì vào thế kỷ thứ ba, ngài Long Thọ du hành xuống
Long cung để chép kinh Hoa Nghiêm. Theo một truyền thuyết
khác thì Ngài đã tìm thấy kinh nầy trong một tu viện bỏ
hoang. Ngài là tổ thứ 14 của dòng Thiền Ấn Độ, là sơ
tổ của phái Trung Quán hay Tam Luận và Tịnh Độ tông. Mặc
dù một số tông phái tin rằng ngài đã trước tác một số
lớn các tác phẩm, nhưng các học giả đương thời lại cho
rằng ngài chỉ thực sự sáng tác một vài bộ mà thôi.
Quan trọng nhất là bộ Kệ Căn Bản về Trung Đạo trong đó
ngài mở rộng lý luận về học thuyết “Tánh Không.” Trong
Kinh Lăng Già, khi được hỏi ai là người sẽ giảng dạy
giáo pháp Đại Thừa về sau nầy, thì Đức Phật đã tiên
đoán về sự xuất hiện cũng như sự vãng sanh Cực Lạc của
ngài Long Thọ: “Khi ta diệt độ khoảng 500 về sau sẽ có
một vị Tỳ Kheo tên là Long Thọ xuất hiện giảng pháp Đại
Thừa, phá nát biên kiến. Người ấy sẽ tuyên dương pháp
Đại Thừa Tối Thượng của ta, và người ấy sẽ vãng sanh
về cõi Cực Lạc.”
Nagarjunakonda
(skt): Name of a Buddhist place in the Southern India. According
to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, nothing was
known of this great stupa of Nagarjunakonda or the Hill of Nagarjunakonda
before it was discovered in 1934. It is situated on the south bank of the
river Krishna in the Guntur district. It was also a mahastupa, enshrining
the mortal remains of the Buddha, and was probably built in the time of
Asoka. It was renovated with additions by Santisiri and other ladies of
the local Iksvaku royal family, to whom goes the credit of making Buddhism
popular in Andhra in the third century A.D. Now it is in ruins which are
greater than those at Amaravati. Hundreds of remarkable sculptures executed
in the Amaravati style have been found. From the inscriptions on the Ayapa
pillars, it is evident that Nagarjunakonda the ancient city of Vijayapuri,
was of great importance as a centre of Buddhism and enjoyed international
fame. Several monasteries were buitl at this place for the residence of
Buddhist monks of different schools coming from different countries like
Ceylon, Kashmir, Gandhara, and China, etc. The people of Andhra traded
in and outside the country and had close contacts with the Roman world
of the time. This is proved by the discovery of inscriptions, of sculptures
depicting a bearded soldier wearing a tunic, and trousers, and of various
other objects of Roman origin. In Andhra, Guntapalli, about 28 miles of
Ellore railway station, and Sankaram, a mile east of Anakapalli, are important
for their rock-cut architecture. Other places in the neighborhood appear
to have assumed significance in Buddhist times, as the presence of stupas
and other antiquities testifies. The most notable among these are Goli,
Chezarta, Gummatia, Bezwada, Garikapadu, Uraiyur, Kuvain, Che and Vidyadharpur—Địa
danh Phật giáo ở vùng Nam Ấn Độ. Theo Giáo sư Bapat trong
Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, người ta không được biết
gì về ngôi tháp lớn ở Nagarjunakonda hay đồi Nagarjunakonda
cho đến khi tháp nầy được phát hiện vào năm 1934. Tháp
nằm trên mạn phía nam của sông Krishna trong quận Guntur. Đây
cũng là một đại tháp vì có cất giữ di hài của Đức Phật,
và có lẽ được xây vào thời vua A Dục. Tháp được tân
tạo và xây cất bổ sung bởi Santisiri cùng các mệnh phụ
khác trong hoàng tộc. Những người nầy được xem là đã
có công giúp cho Phật giáo phát triển tại Andhra trong
thế kỷ thứ 3. Tháp nầy ngày nay tuy đã đổ nát nhưng trông
còn đồ sộ hơn tháp ở Amaravati. Hàng trăm công trình
điêu khắc thực hiện theo phong cách Amaravati đã được tìm
thấy tại đây. Qua các dòng chữ khắc trên các cây trụ Ayaga,
người ta thấy rõ rằng Nagarjunakonda, thành phố cổ của Vijayapuri,
có tầm quan trọng to lớn của một trung tâm Phật giáo đã
có danh tiếng quốc tế. Nhiều tu viện đã được xây cất
tại nơi nầy để làm nơi trú ngụ cho tu sĩ Phật giáo thuộc
các tông phái khác từ nhiều nước đến như Tích Lan,
Kashmir, Gandhara, Trung Hoa, vân vân. Người dân Andhra giao thương
với cả trong nước và nước ngoài, họ đã có sự tiếp
xúc sâu xa với xã hội La Mã thời ấy. Điều nầy được
chứng minh qua sự phát hiện những bản khắc và công
trình điêu khắc mô tả một chàng lính râu ria mặc áo chẽn,
quần tây, và nhiều vật dụng khác có nguồn gốc từ La Mã.
Tại Andhra, các nơi như Guntapali, cách ga xe lửa Ellore chừng
28 dặm, và Sankaram, cách Anakapalli một dặm về phía Đông,
là những địa điểm nổi tiếng vì các công trình kiến trúc
trong đá. Các địa điểm khác trong vùng lân cận cũng được
xem là có tầm quan trọng trong thời đại của Phật giáo,
điều nầy được xác nhận qua sự hiện diện của các ngôi
tháp cùng các di tích cổ tại đây. Các địa điểm đáng
chú ý nhất trong số nầy là Goli, Chezarta, Gummatia, Bezwada,
Garikapadu, Uraiyur, Kuvain, Chinve và Vidyadharpur.
Nagaravasi
(p): A citizen—Công dân.
Nagasena
(skt): Long Quân—A learned monk whose conversations with King Milinda
on difficult points of Buddhist teaching. He is considered to have been
extremely talented; he had the ability to memorize the entirety of the
Abhidharma-pitaka after hearing only one time. Nagasena, a famous Indian
monk of the second century B.C. According to the Milidapanha Sutra (The
Questions of King Milinda), he was born to a Brahman family, in a city
called Kajangala, a well-known town near the Himalayas, on the eastern
border of the Middle country, and his father was a Brahmin called Sonuttara.
When Nagasena was well-versed in the study of the three Vedas, history
and other subjects, he studied the Buddha's doctrine and entered
the Buddhist Order. First, he studied the Buddha’s doctrine with the
Elder Rohana. Later he studied under the Elder Assagutta of Vattaniya.
Afterwards he was sent to Pataliputra, now Patna where he made a
special study of the Buddha’s doctrine. Then he stayed at Sankheyya monastery,
where he met king Milinda. He debated on various subjects with the Greek
King Menander, who ruled in northern India and is said to have been converted
by Nagasena. This debate is famous as an example of the earliest encounters
between Greek civilization and Buddhism. According to Prof. Bapat in
The Twenty-Five Hundred Years Of Buddhism, after the Pali scriptures, the
Questions of King Milinda (Milinda-panha) supposed to have been compiled
by Mahathera Nagasena, is considered almost as authoritative a text—Na
Tiên tỳ kheo, một nhà sư thông thái đã đối thoại với
vua Di Lan Đà (Milinda) về những điểm tinh tế của học thuyết
Phật. Ngài có khả năng thuộc lào Kinh Tạng sau khi chỉ nghe
một lần. Ông là một vị Tăng nổi tiếng người Ấn vào
thế kỷ thứ hai trước Tây Lịch. Theo Na Tiên Tỳ Kheo
Kinh (hay Di Lan Đà Vấn Kinh), Na Tiên sanh ra trong một gia đình
Bà La Môn, tại Kajangala, một thành phố nhiều người biết
đến bên cạnh dãy Hy Mã Lạp Sơn. Cha ông là một người
Bà La Môn tên Sonutttara. Khi Na Tiên đã học hành thông thạo
ba kinh Vệ Đà, lich sử cũng như các môn khác thì ông nghiên
cứu Phật giáo và xuất gia theo đạo Phật. Thoạt tiên ông
học với trưởng lão Rohana, kế tiếp với trưởng lão Assagutta
ở Vattaniya. Sau đó ông được gửi đến thành Hoa Thị, nay
là Patna để nghiên cứu về giáo lý của đạo Phật. Sau đó
ông gặp vua Milinda tại tu viện Sankheyya ở Sagala. Ông là một
luận sư rất nổi tiếng. Chính ông đã biện luận với vua
Hy Lạp là Di Lan Đà và độ cho vị vua nầy trở thành Phật
tử. Đây là cuộc tranh luận nổi tiếng và được biết như
là một điển hình về những cuộc gặp gỡ sớm nhất giữa
nền văn minh Hy Lạp và Phật giáo. Theo Giáo Sư Bapat trong Hai
Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo thì các tài liệu Pali còn lưu
lại cho thấy cuốn Di Lan Đà Vấn Đạo có lẽ được đại
trưởng lão Na Tiên biên soạn, được xem là cuốn sách đáng
tin cậy.
Nagatomi,
Masatoshi: Eminent scholar of Buddhist Studies who spent most of his career
at Harvard University’s Yenching Institute. Best known for his work on
Buddhist epistemology (theory of the nature, sources and limits of knowledge),
he is also renowned in the field for his extensive knowledge of the whole
of Indian Buddhism, and is responsible for training a number of prominent
scholars—Học giả nổi bật trong nghiên cứu Phật giáo, ông
đã trải qua gần hết những năm làm việc của ông với Viện
Yenching của trường Đại Học Harvard. Nổi tiếng nhất là
tác phẩm Nhận Thức Luận Phật Giáo, ông cũng nổi tiếng
trong lãnh vực kiến thức về tổng thể Phật giáo Ấn Độ,
và ông cũng đã trách nhiệm dạy dỗ cho một số học giả
nổi tiếng.
Naga-worship:
Accent religion—Đạo thờ rồng—Under the reign of emperor Asoka,
even though the emperor strongly supported Buddhism and the glorious accounts
of the popularity of Buddhism in Northern India, especially in Kashmir,
the fact remains that Buddhism had to face a strong opposition in the country
from the established beliefs in Naga-worship being the practice of ancient
Indian before the appearance of Buddhism. According to Buddhist legends,
Naga-worship was quite common in India when Buddhism made its appearance
and that is the reason why the legends of Nagas and their conversion by
the Buddha occur occasionally in Buddhist texts. According to the Buddhist
Chronicles, Kashmir was the land of lakes under the control of the Nagas.
They are generally associated with watery and mountainous regions, and
so it is quite likely that Kashmir should be called a land of Naga-worhsippers—Dưới
thời vua A Dục, dù có sự hỗ trợ mạnh mẽ của nhà vua
và theo những bài tường thuật về sự phổ cập của Phật
giáo ở vùng Bắc Ấn, đặc biệt là trong vùng Kashmir, nhưng
Phật giáo vẫn phải đối mặt với sự chống đối mạnh
mẽ của tín ngưỡng thờ rồng đã đặt nền tảng vững
chắc và rất thịnh hành ở Ấn Độ thời bấy giờ, trước
khi có sự xuất hiện của đạo Phật. Theo truyền thuyết
Phật giáo, tín ngưỡng thờ rồng khá phổ biến ở Ấn Độ
khi Phật giáo xuất hiện và đó là lý do tại sao truyền thuyết
thờ rồng và Đức Phật hóa độ rồng thỉnh thoảng được
tìm thấy trong kinh điển Phật giáo. Theo Biên Niên Sử Phật
Giáo, vùng Kashmir là vùng đất của nhiều hồ có rồng đang
trú ngụ. Rồng thường liên hệ tới những vùng có nước
và núi non, và cũng chính vì thế mà vùng Kashmir cũng được
gọi là vùng đất của những người thờ rồng.
Nagga
(p): Naked (a)—Lõa thể.
Naggiya
(p): Nudity—Sự trần truồng.
Nagna
(skt): Nặc Già Nặc.
1)
Naked: Trần truồng.
2)
A naked mendicant: Đạo sĩ lõa thể.
3)
A name of Siva: Tên của Thần Siva.
4)
Name of a Vajra-king: Tên của Kim Cang vương.
Nahapana
(p): Bathing or washing—Tắm gội.
Nahayati
(p): To take a bath—Tắm gội.
Naiads:
Quỷ Vọng Lượng—See Ten kinds of ghosts that will be reborn as
an animal to continue to pay their debts.
Nai-e
(jap): Inner robe—Nội y (cho chư Tăng Ni).
Naihsargika-prayascittika
(skt): Ni Tát Kỳ Ba Dật Đề—Xả Đọa (một trong ngũ thiên
tội)—The thirtieth of the 250 rules of nuns: Luật thứ 30 trong
250 giới Tỳ Kheo:
1)
The sin is being forgiven on confession and restoration being made: Ni
Tát Kỳ (Xả)—Tội được xả bỏ vì người phạm biết
thú tội và sám hối.
2)
The sin is not being forgiven because of refusal to confess and restore:
Ba Dật Đề (Đọa)—Tội phải bị đọa vì người phạm
không chịu thú nhận và sám hối.
**
See Complete moral precepts for nuns in Mendicant school.
Nairanjana
(skt): Neranjara (p)—The Nilajan River that flows past Gaya—Sông Ni
Liên chảy ngang qua Bồ Đề Đạo Tràng—Ni Liên Thiền—Ni
Liên Thiền Na—The name of a river Nairanjana (Nilajan) that flows
past Gaya, an eastern tributary of the Phalgu, during the Buddha’s time.
It is now called by Indian people the Phalgu or Lilajana river with its
clear, blue, pure and cold water. The river has its source near the Simeria
region in the district of Hazaribad in the central Bihar state of the northeast
India. This river was visited and bathed by Siddarttha after he gave up
his ascetic practices. There was a Sala grove on the banks where the Buddha
spent the afternoon before the night of his enlightenment after sitting
meditation forty-nine days under the Bodhi-Tree, located in the present-day
Buddha-Gaya village which is situated at a short distance to the west of
this river.
(Dried
Nairanjana River, now Nilajan River, near Bodhgaya, Bihar State,
India—Sông Ni Liên Thiền khô cạn, gần Bồ Đề Đạo Tràng,
bang Bihar). Tên của con sông Ni Liên Thiền, một phụ lưu về
hướng Đông của sông Phalgu. Bây giờ dân Ấn Độ gọi là
sông Lilajana với nước trong xanh, tinh khiết và mát mẻ. Dòng
sông phát xuất gần vùng Simeria, trong quận Hazaribad, miền
trung tiểu bang Bihar, thuộc vùng đông bắc Ấn Độ. Nơi mà
nhà tu khổ hạnh Sĩ Đạt Đa đã thăm viếng và tắm sau khi
Ngài từ bỏ lối tu khổ hạnh. Trên bờ sông Ni Liên có khu
rừng Sa La, nơi Đức Phật đã nghỉ ngơi vào buổi chiều
trước khi Ngài lên ngồi thiền định 49 ngày dưới cội Bồ
Đề và thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng, cách một khoảng
ngắn về phía tây sông Ni Liên.
Nairatmyadvaya
(skt): Dharma-nairatmya (skt)—Pháp Vô Ngã—No permanent individuality
in or independence of things—See Two categories of non-ego.
Nairatmyam
(skt): Anatma (skt)—Vô Ngã—Không có tự ngã—Soullessness—The
fact that there is no Self. **See Anatman.
Nairmanika
(skt): Hóa—Biến đổi, giáo hóa, hướng dẫn vào đạo Phật—To
transform—Metamorphose—Conversion by instruction into Buddhism—Magic
power of transformation.
Nairmanikabuddha
(skt): Nirmanabuddha (skt)—Hóa Phật—Buddhas of transformation—According
to the Contemplation on the Infinite Life Sutra, an incarnate or metamorphosed
Buddha, or Buddhas and Bodhisattvas have universal and unlimited powers
of appearance—Theo Kinh Quán Vô Lượng Thọ thì hóa thân Phật
hay thân Phật được hóa hiện tùy ý. Phật hay Bồ Tát có
khả năng vô hạn về sự hiện biến.
Naiskramya
(skt): Viễn trần ly cấu (xa rồi trần cấu của thế tục)—To
be far removed from the dust and defilement of the world.
Naivasamjnana-samjnayatana
(skt): Phi tưởng phi phi tưởng xứ—The state of neither thinking
nor not thinking—Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Thiên—Hữu Đỉnh
Thiên—The heaven or place where is neither thinking nor not-thinking.
It is beyond thinking, the fourth of the four Immaterial Heavens (Tứ
Không Thiên). The samadhi or degree of meditation of this leads to rebirth
in the rupa heaven; which is not entirely free from eight forms of distress.
This fourth and final immaterial attainment is so called because it cannot
be said either to include perception or to exclude perception. The nature
of this concentration is neither in the sphere of mental activities nor
out of it. This is the state or heaven of neither thinking nor not thinking
which may resemble a state of intuition. The realm of consciousness or
knowledge without thought is reached (intuitive wisdom). Existence in this
stage may last to 80,000 great kalpas—Trời Tứ Không Thiên hay trời
vô sắc thứ tư (tầng cao nhất trong tam giới), nơi không còn
suy nghĩ hay không suy nghĩ nhờ đi vào thiền định cực kỳ
tĩnh diệu. Mức độ thiền định của Phi Tưởng Phi Phi Tưởng
xứ dẫn đến tái sanh vào cõi Trời vô sắc, vẫn chưa hoàn
toàn giải thoát khỏi bát khổ. Gọi là “Phi Tưởng Phi Phi
Tưởng Xứ” vì ở trạng thái nầy, “tưởng” không thể
được bao gồm mà cũng không thể bị loại trừ. mà cũng
không có “không tưởng.” Bản chất của cái định nầy
là không ở trong cảnh giới hoạt động của tâm thức mà
cũng không ở ngoài cảnh giới ấy. Đây là cõi trời vô tưởng,
nơi chỉ còn trí trực giác chứ không còn suy tưởng nữa.
Thọ mệnh trong cõi trời nầy có thể kéo dài đến 80.000
đại kiếp—See Four formless jhanas and Nine lands (C).
Naive
realism: Thực tại luận chất phác.
Naka
(p): Heaven—Trời.
Nakagawa
Soen Roshi (1908-1983): Japanese Zen master of the Rinzai tradition, dharma-successor
(Hassu) of Yamamoto Gempo Roshi (1865-1901), who was influential in both
Japanese and Western Zen. He made his first visit to the U.S.A. in 1949,
which led to the founding of the Zen Studies Society in New York in 1965—Thiền
sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, pháp tử của Yamamoto Gempo
Roshi, người có ảnh hưởng về Thiền cho cả Nhật Bản và
Tây phương. Ông đã lần đầu tiên du hành sang Mỹ vào năm
1949, đưa đến việc sáng lập Hội Thiền Học ở Nữu Ước
vào năm 1965.
Nakamura,
Hajime (1912-1999): One of the leading figures in Buddhist studies in Japan,
best known for his Indian Buddhism: A Survey with Bibliographical Notes,
which covers an impressive range of studies in the field by Japanese and
Western scholars. According to Nakamura, there are eight treasuries in
Buddhist theories: the womb treasury, the intermediate treasury, the maha-vaipulya
treasury, the sila treasury, the treasury of the ten grounds, the miscellaneous
treasury, the diamond treasury and the Buddha-treasury—Một trong những
nhân vật lãnh đạo trong ngành nghiên cứu Phật giáo tại
Nhật Bản, nổi tiếng với tác phẩm “Phật Giáo Ấn Độ:
Nghiên Cứu Thánh Điển,” bao gồm một loạt những nghiên
cứu trong lãnh vực Phật giáo rất có ấn tượng với các
học giả Nhật Bản và Tây phương. Theo ông thì có tám tạng
(kho chứa) trong giáo thuyết Phật giáo: thai tạng, trung ấm
tạng, ma ha phương đẳng tạng, giới luật tạng, thập trụ
tạng, tạp tạng, kim cương tạng, và Phật tạng.
Naked
asetics: Nirgrantha (skt)—Lõa Hình Ngoại Đạo—One of the twenty
heretic (non-Buddhist) sects in India at the time of the Buddha—Một
trong 20 phái ngoại đạo ở Thiên Trúc trong thời Phật còn
tại thế, khổ hạnh trần truồng.
Naked
cave-dwelling: Đầu Uyên Ngoại Đạo—Naked cave-dwelling or throwing
oneself down precipices, one of the six austerities which are referred
to as outsiders—Sống nơi hang đá trơ trọi hay tự gieo mình
vào vực thẳm mà chết, một trong sáu lối tu khổ hạnh của
ngoại giáo—See Six austerities.
Naked
are clothed, the troubled and suffering all gain peace and happiness: Kẻ
nghèo khổ thiếu thốn được ấm no hạnh phúc—See Ten kinds
of Buddha-work in all worlds in all times of the Buddhas (B) (7).
Nakha
(p): Nail—Móng tay.
Naksatranatha
(skt): Lord of constellations—Tinh Tú Vương.
Naksatra-raja-sankusumitabhijna
(skt): King of the star-flower—Túc Vương Hoa—King of the star-flower,
a bodhisattva in the Wonder Lotus Sutra—Một vị Bồ Tát trong
Kinh Diệu Pháp Liên Hoa.
Naksatra-raja-vikridita
(skt): Túc Vương Hý—The play of the star-king, or king of the constellations,
one of the samadhi in the Lotus sutra—Túc Vương Hý là vua của
chòm sao nhị thập bát tú, một loại tam ma địa trong Kinh
Diệu Pháp Liên Hoa.
Naksatratara-raja-ditya
(skt): Nhật Tinh Tú—A degree of meditation, such as the sun, stars
and constellations samadhi—Mức độ thiền định, chẳng hạn
như nhắm vào mặt trời, tinh tú hay chòm sao mà định.
Nakula
(skt): La Hán Nặc cự la.
Nalagiri
(skt): Nalagiri is the name of an elephant which Devadatta once used
with an intention to try to harm the Buddha. Devadatta was one of the Buddha’s
disciple and also His cousin. He therefore expected to become the future
leader among the monks. To his surprise, the Buddha treated him like everyone
else. This made him so angry that he plotted to harm the Buddha. In the
village, there was an elephant known to be a man-killer. Her name was Nalagiri.
One day, Devadatta gave Nalagiri some alcohol to make her go wild. He then
drove the elephant onto the path where the Buddha was walking. As soon
as Nalagiri caught sight of the Buddha, she rushed towards Him in a mad
fury. People scattered in fright in all directions. They shouted, “Mad
elephant! Run for your lives!” To everyone’s surprise, the Buddha faced
Nalagiri calmly as He raised his hand to touch her. The huge creature felt
the power of the Buddha’s compassion and readily went on her knees in
front of Him, as if bowing humbly—Nalagiri là tên của
con voi mà Đề Bà Đạt Đa đã dùng để chủ ý hảm hại
Đức Phật. Đề Bà Đạt Đa là đệ tử mà cũng là em họ
của Phật. Ông ta mong muốn trở thành người lãnh đạo Tăng
già trong tương lai. Nhưng ông ta rất đỗi ngạc nhiên khi thấy
Đức Phật đối xử với ông như bao nhiêu người khác. Việc
này làm cho ông giận dữ đến nỗi ông đã âm mưu hãm hại
Đức Phật. Trong làng có một con voi nổi tiếng giết người.
Tên của nó là Nalagiri. Một ngày nọ, Đề Bà Đạt Đa cho
voi Nalagiri uống rượu và làm cho nó trở nên hung dữ. Đoạn
Đề Bà đưa voi đến con đường mà Đức Phật đang đi. Ngay
khi vừa thấy Phật, voi Nalagiri phóng nhanh đến Ngài một cách
hung tợn. Mọi người đều hoảng sợ và tản ra tứ hướng.
Họ la lớn cho Đức Phật nghe: “Voi điên! Ngài hãy chạy
mau!” Tuy nhiên, ai nấy đều ngạc nhiên, Đức Phật đối
đầu với voi Nalagiri một cách bình thản khi Ngài đưa tay
vỗ về nó. Sinh vật khổng lồ này quỳ mọp một cách khiêm
cung trước trước sức mạnh từ bi của Đức Phật.
Nalanda
Monastery University: Khu Đại Học Na Lan Đà.
The
ruins of Nalanda University are famous to the whole world, located in a
village called ‘Bada Gaon’, Southeast of Patna (used to be Pataliputra)
in Bihar State, Northeast of India. One of the greatest centers of Buddhist
learning in ancient India, founded in Bihar some time around the second
century by King Sakraditya of Magadha. Though it is traditionally dated
to the time of the Buddha (6th-5th centuries B.C.), however, archaeological
excavations date its current foundations to the 5th century A.D. It was
probablly name after a local spirit and was originally a small institution,
but beginning with Kumara Gupta I (414-455) it began to receive royal support
from the Hupta rulers of North India. In its heyday, it attracted some
of the greatest scholars of Mahayana Buddhism in India, both as teachers
and students, and pilgrims from all over the Buddhist world traveled there
to study, and it later became one of the principal sources for the transmission
of Buddhism to Tibet. It then developed into a university located in now
North India. There was a great library there. According to Hsuan-tsang
and I-Ching, who visited Nalanda on various occasions, stated that at the
height of its activity, 10 thousand monks were resident there and studied
the teaching of Hinayana and Mahayana, with more than 2,000 teachers. The
university flourished for seven centuries from the 5th to the 12th century.
However, Nalanda is thought have been destroyed by Muslims in the 12th
or 13th century. The famous monastic establishments at Nalanda, near Rajgir,
were of extreme importance in the history of latter day Buddhism. The history
of the monastic establishments can be traced back to the days of Asoka.
According
to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Nalanda is
a famous monastery which was located 7 miles north of Rajarha in Maghada,
northern India, built by the King Sakraditya after the Buddha’s nirvana.
Now Baragong. As a center of Buddhist study, particularly of Madhyamika
philosophy. It prospered from the fifth through the twelfth centuries.
Thereafter, the monastery was enlarged by the kings of the late Gupta period.
The Nalanda Monastery was in reality a Buddhist university, where many
learned monks came to further their study of Buddhism. The ruins of Nalanda
extend over a large area. The structures exposed to view represent only
a part of the extensive establishment and consist of monastic sites, stupa
sites, and temple sites. Lengthwise they extend from north to south, the
monasteries on the eastern flank, and stupas and temples on the west.
Through the ruins, we can see the evidence that these monasteries were
storeyed structures; and even in their ruins, they still convey a memory
of their imposing and glorious past. In the museum are deposited numerous
sculptures and other antiquities recovered during the excavations. Besides,
there are a lot of epigraphic materials, including copper-plate and stone
inscriptions, and inscriptions on bricks, and terracotta seals. Among the
seals, we have the official seal belonging to the community of venerable
monks of the great monastery. Through these materials, we can see that
the Buddhism that was practised at Nalanda and other contemporary institutions
in Bengal and Bihar was neither the simple Hinayana, nor Mahayana of the
early days. It was strongly influenced by the Brahmanism and Tantrism.
Hsuan-Tsang, a famous Chinese monk, who traveled to India in the seventh
century, wrote of the imposing structure and prosperity of this monastery.
According to Hsuan-Tsang, at one time, there were more than 10,000 Mahayana
Buddhist monks stayed there to study. He stated very clearly about their
rules and practices. He also mentioned Harsa and several of his predecessors
as beneficent patrons of this institution. I-Ching, another Chinese traveller,
had also left us a picture of the life led by Nalanda monks. According
to I-Ching, Nalanda was maintained by 200 villages which donated by different
kings. Nalanda was known throughout the Buddhist world of that time for
its learned and versatile teachers, and the names of Acarya Silabhadra,
Santaraksita, and Atisa or Dipankara, were shining stars among a
galaxy of many others, conjure up a vision of the supreme eminence of the
Nalanda Mahavihara throughout its prosperous history.
Phế
tích của khu trường Đại Học Na Lan Đà nổi tiếng khắp
thế giới, nằm trong một ngôi làng tên ‘Bada Gaon’, về
phía Đông Nam thủ phủ Patna (ngày xưa là thành Hoa Thị) của
bang Bihar, thuộc vùng Đông Bắc Ấn Độ. Na Lan Đà là một
trong những trung tâm Phật Học lớn nhất trong thời cổ Ấn
Độ, theo truyền thuyết Phật giáo, được vua Sakraditya của
xứ Ma Kiệt Đà thiết lập trong tỉnh Bihar vào khoảng thế
kỷ thứ hai. Dù theo truyền thống thì Na Lan Đà có từ thời
Đức Phật, vào khoảng thế kỷ thứ 5 hay thứ 6 trước Tây
Lịch, tuy nhiên, các phế tích được các nhà khảo cổ đào
lên cho thấy nền tảng Na Lan Đà được xây dựng vào khoảng
thế kỷ thứ 5 sau Tây Lịch. Có lẽ nó được đặt tên theo
một vị thần của địa phương và khởi thủy chỉ là một
học viện nhỏ, nhưng bắt đầu từ thời vua Cưu Ma La Cúc
Đa đệ nhất tu viện bắt đầu nhận được sự bảo trợ
của hoàng gia từ những nhà cai trị Hupta của miền Bắc Ấn
Độ. Trong thời vàng son tu viện này đã thu hút vài học giả
vĩ đại của trường phái Đại Thừa ở Ấn Độ, cả thầy
lẫn trò, và những nhà hành hương du hành từ thế giới Phật
giáo đến đó để tu học, và sau này nó trở thành nguồn
truyền giáo chính của đạo Phật từ Ấn Độ sang Tây Tạng.
Thành Na lan đà, một tu viện, trung tâm nghiên cứu. Sau được
triển khai thành trường Đại học Phật giáo đầu tiên tại
Bắc Ấn Độ. Tại đây có một thư viện phong phú. Chính
Huyền Trang và Nghĩa Tịnh, hai nhà sư thỉnh kinh nổi tiếng
của Trung Quốc đã tới đó nhiều lần và đã ghi lại là
nơi nầy đã từng chứa đến 10.000 học Tăng cho cả Tiểu
lẫn Đại thừa, với trên 2.000 giáo thọ. Trường Đại Học
Na Lan Đà phồn thịnh trong khoảng bảy thế kỷ từ thế kỷ
thứ 5 đến thề kỷ thứ 12. Tuy nhiên, Nalanda bị người Hồi
giáo phá hủy vào thế kỷ thứ XII hay XIII. Các cơ sở tu viện
lừng danh tại Na Lan Đà trong thành Vương Xá có tầm quan trọng
rất lớn trong lịch sử Phật giáo thời gian sau nầy. Lịch
sử của các kiến trúc tại đây có thể bắt đầu từ
đời vua A Dục (Asoka). Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ
Điển, Na Lan Đà là ngôi chùa nổi tiếng, nơi mà ngài Huyền
Trang từng tòng học, trường khoảng 7 dặm về phía bắc thành
Vương Xá của xứ Ma Kiệt Đà,miền bắc Ấn Độ, được
vua Thước Ca La A Dật Đa (Sakraditya) xây dựng sau khi Phật
nhập diệt. Bây giờ là Baragong. Na Lan Đà được xem như là
một trung tâm nghiên cứu Phật giáo, đặc biệt là về triết
lý Trung Quán. Na Lan Đà cực thịnh vào khoảng từ thế kỷ
thứ 5 đến thế kỷ thứ 12. Sau đó Na Lan Đà được các
vua cuối triều Gupta mở mang rộng lớn. Kỳ thật Na Lan Đà
là một trường Đại Học Phật Giáo, nơi những cao Tăng tòng
học tu để mở mang kiến thức về Phật giáo. Các di tích
của tu viện Na Lan Đà trải ra trên một vùng rộng lớn.
Các công trình xây dựng được thấy hôm nay chỉ là một
phần của cơ ngơi đồ sộ và là dấu tích của các tu viện,
đền, tháp. Các công trình kiến trúc chạy theo hướng bắc
nam, các tu viện nằm bên sườn đông, còn các đền tháp nằm
bên sườn tây. Qua phế tích, chúng ta thấy những tu viện
được xây nhiều tầng và ngay trong những đổ nát ngày nay,
chúng vẫn còn gợi lên cho chúng ta sự hoài niệm về một
quá khứ đường bệ và vinh quang. Trong viện bảo tàng hiện
còn trưng bày nhiều tác phẩm điêu khắc cùng các cổ vật
khác tìm được trong các cuộc khai quật. Ngoài ra, còn nhiều
di sản khác như các lá đồng, các bia ký bằng đá, chữ khắc
trên gạch và các con dấu bằng đất nung. Trong số các con
dấu, chúng ta có con dấu thuộc cộng đồng tu sĩ khả kính
của Đại Tu Viện. Những chứng liệu cho thấy Phật giáo
hành trì tại Na Lan Đà cùng các tu viện đương thời tại
Bengal và Bihar không phải là Phật giáo Tiểu Thừa đơn thuần,
cũng không phải Đại Thừa thời khởi thủy, mà nó thâm nhiễm
các tư tưởng Bà La Môn và Mật tông. Huyền Trang, một cao
Tăng Trung Quốc, đã du hành sang Ấn Độ vào thế kỷ thứ
bảy, đã kể lại về sự đồ sộ và phồn thịnh của Na
Lan Đà. Theo ông thì tu viện nầy đã có lần có đến 10.000
vị sư Đại Thừa đến tu tập tại đây. Ông đã nói rất
rõ về các giới điều và sự hành trì của chư Tăng tại
đây. Ông còn nhắc đến vua Harsa và các vị tiền nhiệm như
những nhà bảo trợ đắc lực cho tu viện nầy. Nghĩa Tịnh,
một nhà hành hương khác của Trung Hoa, cũng đã để lại
cho chúng ta một bản mô tả cuộc sống của các tu sĩ tại
Nalanda, tu viện nầy được duy trì bằng số tiền thu được
từ 200 ngôi làng được các đời vua ban cấp cho tu viện.
Vào thời ấy, Na Lan Đà nổi tiếng trong thế giới Phật giáo
vì có những giáo sư tài giỏi, uyên bác và những tên tuổi
như Giới Hiền (Silabhadra), Tịch Hộ (Santaraksita), A Để Sa
(Atisa), hay Dipankara, những ngôi sao sáng đã gợi lên hình ảnh
cao trọng của tu viện trong suốt thời kỳ phồn thịnh của
nó.
Nalata
(p): Forehead—Trán.
Nalaya
mandala (skt): Non-alaya-mandala— Na A Lại Da Mạn Đà La—The non-alaya
mandala, or the bodhi site or seat, which is without fixed place, independent
of place, and entirely pure—Không phải là A Lại Da Mạn Đà La,
hay là Bồ Đề Đạo Tràng, không phải là nơi cố định.
Nalini
(p): Lotus pond—Ao sen.
Nama
(skt & p):
1)
Immaterial factors—Yếu tố không có thực thể.
2)
Name—Danh hay tên gọi.
3)
Danh hay tâm—Tâm, theo nguyên nghĩa, là cái hướng đến đối
tượng hay cái làm cho những cái khác hướng đến chúng. Đây
là một từ để chỉ mọi hiện tượng của tâm.
Namah
(skt) Namo (p): Quy mạng—Blessing—Adoration—Taking refuge—See
Take refuge in Triratna.
1)
Homage: To submit oneself to—To make obeisance—Quy Mạng.
2)
To pay homage to: To bow to—An expression of submission to command—Complete
commitment—Reverence—Devotion—Kỉnh Lễ.
Namah
Amitabha: Namo Amitayuse-Buddha (skt)—Nam Mô A Di Đà Phật—Namah
Amitabha, the formula of faith of the Pure Land sect, representing the
believing heart of all beings and Amitabha’s power and will to save;
repeated in the hour of death it opens the entrance to the Pure Land—Nam
Mô A Di Đà Phật, là quy mệnh đối với Đức Phật A Di Đà
hay chúng sanh một lòng quy ngưỡng nơi lời nguyện cứu độ
của Đức Phật A Di Đà mà niệm hồng danh của Ngài, tức
là mở cửa đi vào cõi Tịnh Độ.
Namah
Amitabha Buddha of the Land of Ultimate Bliss: Nam Mô Cực Lạc Thế
Giới A Di Đà Phật.
Namah
Descending line of Patriarchs Bodhisattvas: Nam Mô Chư Tổ Bồ Tát.
Namah
Medicine Master Assembly of Buddhas and Bodhisattvas: Nam Mô Dược Sư
Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Namah
Sakya Muni Buddha: Namah Fundamental (Original) Teacher Sakyamuni Buddha—Homage
to our Teacher Sakyamuni Buddha—Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
(con xin quy mạng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni).
Namah
Wonderful-Law Lotus-Flower: Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa—The recitation
of the Nichiren Sect—Câu trí niệm của Tông Pháp Hoa bên Nhật.
Nama-kaya
(skt): Name—Danh thân—See Twenty-four non-interactive activity dharmas,
and Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
Naman
(skt) Nama (p): Name, refers to psychological as opposed to the physical.
Naman includes the four skandhas of feeling, perception, mental formations,
and consciousness (the last aggregate is corporeality)—Danh hay tên
(name), có tính cách tâm lý đối chọi với thể chất. Naman
bao gồm bốn trong năm uẩn tạo thành kinh nghiệm cá nhân là
tri giác, ý thức, khái niệm, và nhận thức. (uẩn thứ năm
là hình thức bên ngoài hay tính thể chất).
Namarupa
(Name and form) (skt & p): Danh sắc—Mind and body—Mentality and
corporeality—Name and form—Mentality and corporeality—Mind and matter—See
Twelve conditions of cause and effect.
1)
Name and form or mind and body (mental and physical energies). This is
the result of the conscioussness which stands for the first skandha, and
the fourth link in the chain of conditioned arising: Danh sắc, thể
chất và tâm thần hay tên gọi và hình thể hay vật lý và
tâm lý. Đây là kết quả của ý thức, là uẩn thứ nhất
của ngũ uẩn, và mắc thứ tư của thập nhị nhân duyên.
2)
Name under which Subhuti will be reborn as Buddha: Tên của ông Tu Bồ
Đề khi thành Phật.
3)
One of the twelve nidanas: Một trong mười hai nhân duyên.
4)
Name (feeling, perception, volition, and consciousness) and form (both
are unreal and give rise to delusion): Danh (gồm thọ, tưởng, hành,
thức) và sắc đều không thật, nhưng lại có khả năng khởi
lên phiền não.
i)
A Sanskrit term for “psycho-soma” or body and mind formation. The mind-body
as one entity. The same thing sometimes appears as mind, and sometimes
appears as body—Thuật ngữ Bắc Phạn dùng để chỉ “tâm-sinh-lý”
hay hợp thể của thân và tâm. Cùng một thứ mà có khi phát
hiện ra như thuộc về tâm, mà có khi lại phát hiện ra như
thuộc về thân.
ii)
The fourth part of the twelvefold process of dependent arising (pratitya-samutpada).
Name and form or mind and body (mental and physical energies). This is
also the result of the conscioussness which stands for the first skandha—Phần
thứ tư trong mười hai nhân duyên. Danh sắc, thể chất và
tâm thần hay tên gọi và hình thể hay vật lý và tâm lý.
Đây cũng là kết quả của ý thức, là uẩn thứ nhất của
ngũ uẩn.
iii)
Our dualistic view tells us that mind cannot be body, and body cannot be
mind. But looking deeply, we see that body is mind and mind is body. If
we can overcome the duality that sees the mind and body as entirely separate,
we come very close to the truth. Many people are beginning to realize that
what happens to the mind, and vice versa. Modern medicine is aware that
the sickness of the body may be a result of the sickness in the mind. And
sickness in our minds may be connected to sickness in our bodies. Body
and mind are not two separate entities, they are one—Do nhận thức
nhị nguyên của chúng ta mà chúng ta nghĩ rằng tâm không phải
là thân và thân không phải là tâm. Nhưng nếu quán chiếu
sâu sắc chúng ta sẽ thấy rằng thân tức là tâm và tâm tức
là thân. nếu vượt thoát được lối nhìn nhị nguyên cho
rằng thân tâm là hai thực thể riêng biệt thì có thể đạt
đến gần chân lý thực tại. Nhiều người đã bắt đầu
ý thức rằng tất cả những gì xảy đến cho thân thì cũng
xảy đến cho tâm và ngược lại. Y khoa hiện đại đã nhận
ra rằng thể xác bị bệnh có thể do tâm thần gây nên. Thân
và tâm không phải là hai thực thể riêng biệt mà chỉ là
một.
Namassana
(p): Worship—Sự thờ phụng.
Namassati
(p): To pay honor—To venerate—Tôn kính.
Namasya
(skt): Thờ cúng—According to our old customs, Buddhists worship ancestors
to show our appreciations. According to Buddhism, worshiping ancestors,
with the hope of relieving their karma, is not a bad custom. Buddhists
diligently cultivate is the best way to show our appreciations to our ancestors.
However, some Buddhists misunderstand about Buddhism and consider the worshiping
the most important issue in Buddhism—Theo cổ tục, Phật tử chúng
ta thờ cúng tổ tiên là để tỏ lòng biết ơn.
Theo đạo Phật thì thờ cúng tổ tiên, không phải là một
phong tục xấu, với hy vọng mong cho họ được nhẹ nghiệp.
Người Phật tử nên luôn nhớ rằng tu hành tinh tấn là cách
đền đáp tổ tiên xứng đáng nhất. Tuy nhiên, một số Phật
tử vì hiểu lầm Phật giáo nên xem chuyện thờ cúng là tối
quan trọng trong đạo Phật.
Namati
(p): To bend—Cúi xuống.
Nambokucho
(jap): Nam Bắc Triều (Nhật Bản).
Name:
Nama or Namakaya (skt)—Danh.
1)
Fame—Renown—Reputation—See Twenty-four non-interactive activity dharmas,
and Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
2)
Which are merely indications of the temporal—Giả danh tướng—See
Three kinds of appearance (B).
Name
and appearance: Danh tướng—Visible—One of the five laws or categories,
everything has a name and an appearance—Một trong ngũ pháp, mọi
sự vật đều có danh có tướng.
Names
of all appearance or phenomena: Danh—Tên gọi các tướng hay hiện
tượng—According to Zen Master D. T. Suzuki in The Studies In The Lankavatara
Sutra, this is one of the five categories of forms. Names are not real
things, they are merely symbolical, they are not worth getting attached
to as realities. Ignorant minds move along the stream of unreal constructions,
thinking all the time that there are really such things as “me” and
“mine.” They keep tenacious hold of these imaginary objects , over
which they learn to cherish greed, anger, and infatuation, altogether veiling
the light of wisdom. These passions lead to actions, which, being repeated,
go on to weave a cocoon for the agent himself. He is now securely imprisoned
in it and is unable to free himself from the encumbering thread of wrong
judgments. He drifts along on the ocean transmigration, and, like the derelict,
he must follow its currents. He is again compared to the water-drawing
wheel turning around the same axle all the time. He never grows or develops,
he is the same old blindly-groping sin-commiting blunderer. Owing to this
infatuation, he is unable to see that all things are like maya, mirage,
or like a lunar reflection in water; he is unable to free himself from
the false idea of self-substance (svabhava), of “me and mine,” of subject
and object, of birth, staying and death; he does not realize that all these
are creations of mind and wrongly interpreted. For this reason he finally
comes to cherish such notions as Isvara, Time, Atom, and Pradhana, and
becomes so inextricably involved in appearances that he can never be freed
from the wheel of ignorance—Theo Thiền Sư D. T. Suzuki trong Nghiên
Cứu Kinh Lăng Già, đây là một trong năm pháp tướng. Tên
gọi các tướng hay hiện tượng. Danh không phải là những
cái gì thực, chúng chỉ là tượng trưng giả lập, chúng không
đáng kể để cho người ta chấp vào như là những thực tính.
Phàm phu cứ trôi lăn theo dòng chảy của những cấu trúc không
thực mà lúc nào cũng nghĩ rằng quả thực là có những
thứ như “tôi” và “của tôi.” Họ cứ nắm chắc lấy
những đối tượng giả tưởng này, từ đó mà họ tôn giữ
tham lam, sân hận và si mê, tất cả đều che lấp ánh sáng
của trí tuệ. Các phiền não nầy dẫn họ đến các hành
động mà những hành động nầy cứ tái diễn, tiếp
tục dệt cái kén cho chính tác nhân. Tác nhân nầy giờ đây
được giam giữ một cách an toàn trong cái kén ấy và không
thể thoát ra khỏi sợi chỉ rối ren của các phán đoán sai
lầm. Anh ta trôi dật dờ trên biển luân hồi sanh tử, và
như con tàu vô chủ, anh ta phải trôi theo các dòng nước biển
ấy. Anh lại còn được ví như bánh xe kéo nước, cứ luôn
quay tròn trên cùng một cái trục mà thôi. Anh không bao giờ
vươn lên hay phát triển, anh vẫn chính là anh chàng xưa cũ
khờ khạo, mù quáng mò mẫm và phạm tội ấy. Do bởi si muội,
anh không thể thấy được rằng tất cả các sự vật đều
như huyên thuật, ảo ảnh hay bóng trăng trong nước. Do bởi
si muội, anh không thể thoát ra khỏi ý niệm hư ngụy về
ngã thể hay tự tính về “tôi” và “của tôi,” về “chủ
thể” và “đối tượng,” về “sinh trụ dị diệt.”
Anh không thể hiểu được rằng tất cả những thứ nầy
đều là những sáng tạo của tâm và bị diễn dịch sai lầm.
Vì lý do ấy mà cuối cùng anh trở nên tôn giữ những khái
niệm như đấng Tự Tại, Thời Gian, Nguyên Tử, và Thắng
Giả, để rồi trở nên dính chặt trong các hình tướng mà
không thể nào thoát ra được bánh xe vô minh—See Five laws
or categories (I).
Name
and description: Name—Danh tự.
Name
and form: Nama-rupa (skt)—Mentality and corporeality—Danh-sắc (sự
tổng hợp tên gọi và hình thể, tâm lý và vật lý)—See
Twelve conditions of cause and effect.
Name
only: Duy danh.
Names
of people and places: Nhân danh địa danh.
Name
received by a monk on ordination: Pháp Hiệu—Tên đạo của một
vị sư khi được làm lễ thọ giới.
Name
of a school: Tông Môn.
1)
Name of a sect: Tên của một tông phái.
2)
It refers to the Ch’an (Zen) or Intuitional schools, other schools are
called “Teaching Sects,” or those who rely on the written word rather
than on the “inner light.”: Tiếng dùng để gọi Thiền tông
hay tông phái tu tập bằng trực giác, trong khi các tông phái
khác được gọi là Giáo Môn hay những tông phái tu bằng giáo
điển được ghi lại.
Name
still unknown: Khuyết danh.
Names
are unreal: One of the three unrealities—Danh giả—Các tên của
chư pháp đều không thật, một trong tam giả (Danh nương vào
ý tưởng mà có chứ không có tự tánh)—See Three fallacious
postulates, and Three unrealities.
Naming
ceremony: Lễ đặt tên.
Namkkara
(p): Homage (n)—Sự tôn kính.
Namo
(p) Namah (skt): Adoration—Blessing—To pay homage to—To submit oneself
to—Quy mạng—Nam Mô—Quy mệnh hay về nương—Devotion-of-life
bow.
1)
To entrust one’s life, or to devote one’s life to the Buddha, etc.:
Thân mệnh nương theo Đức Phật.
2)
To obey Buddha’s teaching: Quy thuận theo giáo mệnh hay lời dạy
của Phật.
3)
To cultivate the Buddha’s way, hoping one day we can enter nirvana as
did the Buddha: Căn mệnh quy nguyên như Đức Phật đã từng
quy nguyên vậy.
Namo
all Buddhas of the Ten Directions (Quarters) and three times: Namo all
Buddhas everywhere throughout all realms of time—Nam Mô Thập Phương
Tam Thế Nhứt Thiết Chư Phật.
Namo
All Dharma Guardian Deva Bodhisattvas: Nam Mô Hộ Pháp Thiên Long Bồ
Tát.
Namo
Diamond Buddha of the ten directions: Quy Mạng Thập Phương Kim Cang
Phật—Take refuge in the Diamond Buddha of the ten directions.
Namo
All Heavenly Dharma-Protecting Bodhisattvas: Nam Mô Hộ Pháp Chư Thiên
Bồ Tát.
Namo
Amitabha Buddha of the Land of Ultimate Bliss: Nam Mô Cực Lạc Thế
Giới A Di Đà Phật.
Namo
Bodhisattva, Mahasattva of the Clear Cool Ground: Nam Mô Thanh Lương
Địa Bồ Tát Ma Ha Tát.
Namo
Buddha: Nam Mô Phật—Namo Buddha; I devoted myself entirely to the
Buddha, or Triratna, or Amitabha—Quy mệnh đối với Phật, với
Tam Bảo, với Phật A Di Đà.
Namo
Buddhaya: Nam Mô Phật Đà Gia—Homage and honor to the Buddha—Đệ
tử sùng kính và ngưỡng mộ Phật.
Namo
Descending line of Patriarchs Bodhisattvas: Nam Mô Chư Tổ Bồ Tát.
Namo
Earth Treasury King Vow Bodhisattva: Namo Great Vows Earth Store Bodhisattva—Namo
Earth Store King Bodhisattva of great vows—Nam Mô Đại Nguyện Địa
Tạng Vương Bồ Tát.
Namo
Enlightened Being, Cloud Canopy of Fragrance Bodhisattva, Mahasattva: Nam
Mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát .
Namo
Eternally Dwelling Ten Directions Buddhas: Nam Mô Thường Trụ Thập
Phương Phật.
Namo
Eternally Dwelling Ten Directions Sangha: Nam Mô Thường Trụ Thập
Phương Tăng.
Namo
Generations of Patriarchs, Bodhisattvas: Nam Mô Lịch Đại Tổ Sư
Bồ Tát.
Namo
Great Holy Kinnara King Bodhisattva: Nam Mô Đại Thánh Khẩn Na La
Vương Bồ Tát.
Namo
Great Merciful and Compassionate Buddha Amitabha of the Western Land of
Ultimate Bliss: Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật.
Namo
Great Strength Bodhisattva: Namo Bodhisattva Mahasthama—Namo Bodhisattva
who has attained great strength—Nam Mô Đại Thế Chí Bồ Tát.
Namo
Great Virtues Universal Worthy Bodhisattva: Nam Mô Đại Hạnh Phổ
Hiền Bồ Tát.
Namo
Great Vows Earth Store Bodhisattva: Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng
Vương Bồ Tát.
Namo
Heaven: Nam Mô Trời—Usually used to pray for blessing by the Vietnamese
countryside people—Từ nầy thường được dân miền quê Việt
Nam dùng để cầu nguyện.
Namo
All Heavenly Dharma-Protecting Bodhisattvas: Nam Mô Hộ Pháp Chư Thiên
Bồ Tát.
Namo
Holy Assembly of Temple-Guarding Bodhisattvas: Nam Mô Già Lam Thánh
Chúng Bồ Tát.
Namo
Homage To The Ullambana Assembly of Buddhas and Bodhisattvas: Nam Mô Vu
Lan Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Namo
Kuan Shi Yin Bodhisattva: Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
Namo
Kuan Shi Yin Great Compassion Bodhisattva: Namo Great Compassionate Bodhisattva
Avalokitesvara—Namo Kuan Shi-Yin Bodhisattva of great Compassion—Nam
Mô Đại Bi Quan Thế Âm Bồ Tát.
Namo
The Land of Ultimate Bliss Amitabha Buddha: Nam Mô Cực Lạc quốc
A Di Đà Phật.
Namo
(Homage) Lord of Brahma Net, Vairocana Buddha: Nam Mô Phạm Võng Giáo
Chủ Tỳ Lô Xá Na Phật (Tỳ Lô Giá Na Phật).
Namo
Maitreya Honored Future Buddha: Namo the Honoured Buddha Maitreya, Soon
to be born in the world)—Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn
Phật.
Namo
Manjusri Great Wisdom Bodhisattva: Bodhisattva of great wisdom—Nam
Mô Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
Namo
Medicine Master Assembly of Buddhas and Bodhisattvas: Nam Mô Dược Sư
Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Namo
Medicine Master Buddha who dispels calamities and lengthens life: Nam Mô
Tiêu Tai Diên Thọ Dược Sư Phật.
Namo
Permanently Dwelling Ten Directions Buddhas: Nam Mô Thường Trụ Thập
Phương Phật—Namo Eternally Abiding (Everlasting) Buddhas of the ten
directions.
Namo
Permanently Dwelling ten Directions Dharmas: Nam Mô Thường Trụ Thập
Phương Pháp.
Namo
Permanently Dwelling (abiding) of the Ten Directions of Sanghas:
Nam Mô Thường Trụ Thập Phương Tăng—Namo Eternally Abiding
(Everlasting) Sangha of the ten directions.
Namo
Pure Assembly of Bodhisattvas as Vast as the Oceans: Namo Great Pure Sea-Vast
Assembly of Bodhisattvas—Nam Mô Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ
Tát.
Namo
Quelling Disasters Lengthening Life Medicine Master: Nam Mô Dược Sư
Lưu Ly Quang Phật.
Namo
Ratnatrayaya: Homage to the Triple Jewels—Nam Mô hắc ra đá ra dạ
da (Quy-y Tam Bảo).
Namo
Sakya Muni Buddha: Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật—Namo Fundamental
(Original) Teacher Sakyamuni Buddha—Homage to our Teacher Sakyamuni Buddha—Con
xin quy mạng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Namo
Sea Vast Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisatvas: Homage to the
Lotus Pool Assembly of Buddhas and Bodhisattvas as vast as the sea—Nam
Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ Tát.
Namo
Shurangama Assembly of Buddhas and Bodhisattvas: Nam Mô Lăng Nghiêm
Hội Thượng Phật Bồ Tát.
Namo
Supreme Shurangama of the Buddha’s Summit: Nam Mô Phật Đảnh Thủ
Lăng Nghiêm.
Namo
Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhasa: A formula of homage to the Buddha—Kính
lễ Đức Thế Tôn, Ngài là bậc giải thoát, giác ngộ hoàn
toàn.
Namo
Universal Eye Bodhisattva, Mahasattva: Nam Mô Tịnh Nhãn Bồ Tát Ma
Ha Tát.
Namo
Universal Worthy Great Conduct Bodhisattva: Namo Samantabhadra Bodhisattva
of great conduct—Nam Mô Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ Tát.
Namo
Vaira Treasury Bodhisattvas: Nam Mô Kim Cang Tạng Bồ Tát.
Namo
Vairocana Buddha: Quy Mạng Tỳ Lô Xá Na Phật—Take refuge in Vairocana
Buddha.
Namo
Vajrapani Bodhisattvas, Dharma Protector and Honoured Deva (God): Nam Mô
Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát.
Nam
Pho Da Temple: Chùa Nam Phổ Đà—Name of a famous pagoda, located
in the sixth district, Saigon City, South Vietnam. The pagoda was built
in 1953 and headed by four successive elders. It was constructed with three
Holy Shrines worshipping Sakyamuni Buddha, Avalokitesvara Bodhisattva,
and Yama of Hell. Nam Phổ Đà is a famous Chinese pagoda from Fu-Chian
province belonging to the Buddhist sect of Tsi-Shan Ch’an Tzih. In the
the Main Hall stand stone statues of the Three Jewels and the wooden statues
of the Three Noble Ones of the West Heaven are worshipped. On both sides
of the statues stand those of Buddhist Bonze, Dharma Guardian. Patriarch
Bodhidharma is worshipped in the Back Hall—Tên một ngôi chùa nổi
tiếng trong quận sáu, thành phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa
được xây dựng vào năm 1953 và đã trải qua bốn đời trụ
trì. Chùa kiến lập ba ngôi điện thờ của Phật Thích Ca,
Bồ Tát Quán Thế Âm, và Bồ tát Địa Tạng. Nam Phổ Đà
là ngôi chùa nổi tiếng của người Trung Hoa bên tỉnh Phúc
Kiến, thuộc dòng Thiền Phổ Đà Tây Sơn. Chánh điện tôn
trí thờ Tam Bảo với tượng Phật bằng đá, tượng gỗ Tây
Thiên Tam Thánh, hai bên có tượng Già Lam, Hộ Pháp. Mặt sau
thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma.
Nampon-Nehangyo
(jap): Nam Bản Niết Bàn Kinh.
Namskara
(skt): Homage—The Mudra of folded hands raised in salutation—Chấp
tay xá một cách tôn kính.
Nam
Thien Nhat Tru Temple: Chùa Nam Thiên Nhất Trụ—Name of a famous
pagoda located in Thủ Đức district, Saigon City, South Vietnam. It
was built in 1959 by Most venerable Trí Dũng. Its general structure follows
the design of One-Pillar Pagoda in Hà Nội. The Main Hall was constructed
skillfully. The Buddha statues, altars, carved drafts, bas-reliefs, etc.
are magnificient masterpieces. The pagoda has conserved a sutra copied
on palm leaves, a gift from Indian Prime Minister in 1964—Tên của
một ngôi chùa nổi tiếng nằm trong quận Thủ Đức, thành
phố Sài Gòn, Nam Việt Nam. Chùa được Hòa Thượng Trí Dũng
kiến lập vào năm 1959, được làm theo kiểu chùa Một Cột
ở Hà Nội. Chánh điện được xây cất rất công phu. Các
pho tượng Phật, các bàn hương án, bao lam, và phù điêu là
những tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Chùa có bản kinh Phật
bằng lá bối do Thủ Tướng Ấn Độ tặng năm 1964.
Namuci
(p): The Death—The Destroyer—Tử thần (tên khác của Mara).
Namu-Myohorengekyo
(jap): Nam Mô Diệu Phap1 Liên Hoa Kinh—See Nichiren Sect.
Nana
(p): Tứ đế.
Nana-dassana
(p): Insight—Vision through wisdom—Sự nhìn thấy bằng trí tuệ.
Nanamoli
Bhikkhu: Osbert Moore (1905-1960), a British Theravada monk who was ordained
in 1950 in Sri Lanka. He translated a number of important Pali works into
English, including Buddhaghosa’s Visuddhimagga or the Path of Purification—Một
nhà sư Phật Giáo Nguyên Thủy thọ giới Tỳ Kheo vào năm 1950
tại Tích Lan. Ông đã phiên dịch nhiều tác phẩm quan trọng
từ tiếng Pali sang tiếng Anh bao gồm bộ Thanh Tịnh Đạo của
Buddhaghosa.
Nananda
(p): Husband’s sister—Chị em chồng.
Nan-Chuan
Pu-Yuan: Nan Ch’uan-Pu-Yuan 749-835—Nam Tuyền Phổ Nguyện—Zen
master Nan-Ch’uan-Pu-Yuan was born in 749 A.D., was a disciple of Ma
Tsu (Mã Tổ) and a teacher of Zhao-Chou. Nan-Ch’uan, one of the great
Chinese Zen masters of the T’ang dynasty. Nan-Ch’uan already had a
period of intensive study of Buddhist philosophy behind him, including
the teachings of the Fa-Hsiang, Hua-Yen, and San-Lun doctrines of Chinese
Buddhism. When he came to Ma-Tsu, under whose guidance he realized profound
enlightenment. Later, he became a Dharma successor of Ma-Tsu Tao-I—Thiền
sư Nam Tuyền Phổ Nguyện sanh năm 749, là đệ tử của Mã
Tổ và là thầy của Triệu Châu. Nam Tuyền là một trong những
thiền sư lớn của Trung Quốc vào thời nhà Đường. Nam Tuyền
đã nghiên cứu sâu xa triết học Phật giáo, đặc biệt là
triết thuyết của các phái Pháp Tướng, Hoa Nghiêm và Tam Luận
của Trung Quốc. Khi ông đến học với Mã Tổ Đạo Nhất,
ông đạt được đại giác thâm sâu. Về sau, ông trở thành
Pháp tử của Mã Tổ Đạo Nhất.
*
At his first meeting with Ma-Tsu, he is said to have “instantly forgot
the net of delusions and delighted in samadhi.”—Trong cuộc gặp
gỡ đầu tiên với Mã Tổ, người ta nói sư đã đạt được
Du hý tam muội (chánh định ngao du tự tại)
*
One day, Nan-Ch’uan was serving rice gruel to the monks from a bucket,
Ma-Tsu asked: “What’s in the bucket?” Nan-Ch’uan said: “The old
monk should close his mouth and say this!”—Một hôm, sư bưng cháo
cho chúng Tăng, Mã Tổ hỏi: “Trong thùng thông là cái gì?”
Sư thưa: “Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?”
*
In 795, after gaining transmission from Ma-Tsu, Nan-Ch’uan built a solitary
hut on Mount Nan-Ch’uan in Chi-Chou, from which his naem is derived,
and remained there for more than thirty years practicing Zen. In 827, a
high-ranking official named Lu-Kung and some Zen monks persuaded and invited
Nan-Ch’uan to descend from the mountain and honoured him by becoming
his student. Due to this event, Nan-Ch’uan’s reputation spread widely
and students numbering in hundreds came to study under him—Năm 795,
sau khi được Mã Tổ truyền pháp, sư đến núi Nam Tuyền cất
am, lấy tên ngọn núi nầy làm tên mình, và ở mãi hơn ba
mươi năm chưa từng xuống núi. Niên hiệu Thái Hòa năm 827.
Liêm sứ thành Tuyền Châu là Lục Công Tuyên nghe đạo phong
của sư bèn cùng Giám quân, và nhiều thiền sư khác trong vùng
đồng đến thỉnh sư xuống núi, với tư cách đệ tử thỉnh
thầy. Từ đây, sư mở rộng đạo huyền, số người tham
học không khi nào dưới vài trăm.
*
Once, Zen master Nan-Ch’uan said: “Ma-Tsu of Jiang-Xi said: ‘Mind
is Buddha.’ But old teacher Wang doesn’t talk that way. It’s not
mind, it’s not Buddha, it’s not a thing. Is there any error in speaking
thus?” Zhao-Chou bowed and went out—Sư dạy chúng: “Mã Tổ ở
Giang Tây nói ‘Tức tâm tức Phật,’ Vương lão sư chẳng
nói thế ấy, mà nói ‘Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật,
chẳng phải vật,’ nói thế có lỗi chăng?” Triệu Châu
lễ bái lui ra.
*
The monks of the eastern and western halls were arguing about a cat. Nan-Ch’uan
picked it up and said to the monks: “Say the appropriate word and you’ll
save the cat. If you don’t say the appropriate word then it gets cut
in two!” The monks were silent. Nan-Ch’uan cut the cat in two. Later,
Zhao-Chou returned from outside the temple and Nan-Ch’uan told him what
had happened. Zhao-Chou then removed his sandals, placed them on his head
and went out. Nan-Ch’uan said: “If you had been there, the cat would
have been saved.”—Nhà Đông nhà Tây tranh nhau hai con mèo, sư
trông thấy liền bảo chúng: “Nói được là cứu con mèo,
nói không được thì chém nó.” Chúng Tăng đều ngơ
ngác không nói được. Sư liền chém con mèo. Triệu Châu ở
ngoài đi vào. Sư dùng câu nói trước hỏi. Triệu Châu liền
cỡi giày để trên đầu đi ra. Sư bảo: “Giá khi nảy có
ngươi ở đây, đã cứu được con mèo.”
*
Zen Master Nan-Ch’uan-Pu-Yuan entered the hall and addressed the monks,
saying: “Dipamkara Buddha said: ‘The arising in mind of a single thought
gives birth to the myriad things.’ ‘Why is it that phenomenal existence
is empty? If there is nothing within mind, then how does one explain how
the myriad things arise? Isn’t it as if shadowy forms differentiate emptiness?
This question is like someone grasping sound and placing it in a box, or
blowing into a net to fill the air. Therefore some old worthy said: ‘It’s
not mind. It’s not Buddha. It’s not a thing.’ Thus we just teach
you brethren to go on a journey. It’s said that Bodhisattvas who have
passed through the ten stages of development and attained the Surangama
Samadhi and the profound Dharma store-house of all Buddhas naturally realize
the pervasive wondrous liberation of Zen samadhi. Throughout all worlds
the form-body is revealed, and the highest awakening is manifested. The
great Wheel of Dharma is turned, nirvana is entered, and limitless space
can be placed in the hole on the point of a feather. ‘Although a single
phrase of scripture is recited for endless eons, its meaning is never exhausted.
It’s teaching transports countless billions of beings to the attainment
of the unborn and enduring Dharma. And that which is called knowledge or
ignorance, even in the very smallest amount, is completely contrary to
the Way. So difficult! So difficult!. Take care!"—Sư thượng đường
dạy chúng: “Phật Nhiên Đăng nói: ‘Nếu tâm tướng khởi
nghĩ sanh ra các pháp là hư giả chẳng thật.’ Vì cớ sao?
Vì tâm còn không có, lấy gì sanh ra các pháp, ví như bóng
phân biệt hư không, như người lấy tiếng để trong rương,
cũng như thổi lưới mà muốn được đầy hơi. Cho nên lão
túc bảo: ‘Chẳng phải tâm, chẳng phải Phật, chẳng phải
vật.’ Nói thế là dạy các huynh đệ chỗ đi vững chắc.
Nói: ‘Bồ Tát Thập Địa trụ chánh định Thủ Lăng Nghiêm
được pháp tạng bí mật của chư Phật, tự nhiên được
tất cả thiền định giải thoát thần thông diệu dụng, đến
tất cả thế giới khắp hiện sắc thân, hoặc thị hiện
thành Phật chuyển bánh xe Đại Pháp, vào Niết Bàn, khiến
vô lượng vào một lỗ chơn lông, nói một câu trải vô lượng
kiếp cũng không hết nghĩa, giáo hóa vô lượng ngàn ức chúng
sanh được vô sanh pháp nhẫn, còn gọi là sở tri ngu vi tế.
Sở tri ngu cùng đạo trái nhau. Rất khó! Rất khó! Trân trọng.”
*
One of the most impressive koans with Nan-Ch’uan is example 40 of the
Pi-Yen-Lu. Lu-Huan Tai-Fu said to Nan-Ch’uan in the course of their conversation,
“Chao the Dharma teacher said, ‘Heaven and Earth and I have the same
root; the ten thousand things and I are one body.’ Absolutely wonderful!
Nan-Ch’uan, pointing to a blossom in the garden said, “The man of our
times sees this blossoming bush like someone who is dreaming.”—Một
trong những công án gây ấn tượng mạnh nhất về Nam Tuyền
được ghi trong thí dụ 40 Bích Nham Lục. Đại sư Lục Hoàn
nói với Nam Tuyền trong cuộc trò chuyện. Lục Hoàn hỏi, “Triệu
Pháp sư nói ‘Trời đất cùng ta đồng gốc, vạn vật cùng
ta một thể,’ thật là kỳ quái! Nam Tuyền chỉ một bông
hoa trong vườn rồi nói với Đại Sư, “Thời nhân thấy gốc
hoa nầy giống như cơn mộng.”
*
Nan-Ch’uan was famous for his vivid expressions and paradoxical pronouncements
in the course of Zen training, come a number of much-cited Zen sayings.
Thus, in apparent contradiction of his master Ma-Tsu, such as “Consciousness
is not Buddha, knowledge is not the way.” (Wu-Men-Kuan 34)—Nam Tuyền
còn nổi tiếng về những châm ngôn sinh động và những thuật
ngữ trái nghịch được ông dùng để đào tạo đệ tử.
Có lúc ông tuyên bố có vẻ đi ngược lại với thầy Mã
Tổ của mình như: “Ý thức không phải là Phật; nhận thức
không phải là đường đi (Vô Môn Quan 34).
*
Another equally well known is example 27 of the Wu-Men-Kuan: “The way
is not mind, it