Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
Trang
1/2
M
Macchariyam
(p): Avarice—Xan Tham—See Fifty-two mental states.
Macchariya
(p): Bủn xỉn—Không muốn thấy người khác hạnh phúc như
mình.
Maccu
(p): Tử Ma vương.
Machik
Lapgi Dronma (1055-1145): A student of Padampa Sangye (eleventh century)
who is best known for developing the practice “cho” (cutting off).
This is based on the doctrines of the “Perfection of Wisdom” sutra
and involves practices designed to destroy attachment to the notion of
“self.” Central to the system of “cutting off” are visualizations
in which one imagines that one’s body is cut up and devoured by demons,
which is believed to illustrate its impermanence graphically and to lead
to a sense of detachment from physical things. According to traditional
biographies, Machik Lapgi Dronma was born an Indian brahman male
near Varanasi. He converted to Buddhism , but after a debate with other
brahmans he was urged to flee the country. He separated his consciousness
from his body and transferred it into a female body in Tibet, who was named
Machik Lapgi Dronma. She married a tantric yogin and later gave birth to
three sons and two daughters. After receiving tantric instructions
from Padampa Sangye and his student Gyodon Sonam Lama, she built a hermitage,
where she spent the rest of her life. She died at the age of ninety-five—Một
đệ tử của Padampa Sangye vào thế kỷ thứ 11, người nổi
tiếng về việc phát triển thực tập “cắt đứt.” Giáo
pháp này dựa trên học thuyết của Kinh Bát Nhã Ba La Mật
Đa. và liên hệ đến việc tu tập được phác họa để hủy
diệt sự chấp trước với khái niệm “tự ngã.” Chủ yếu
của hệ thống “cắt đứt” lá quán tưởng và tưởng tượng
thân mình bị cắt đứt và bị ăn tươi nuốt sống bởi bọn
ma, mà người ta tin rằng minh họa sự vô thường bằng hình
sẽ dẫn đến cảm giác buông bỏ vật chất. Theo truyền thống
tiểu sử học thì Machik Lapgi Dronma sanh làm một người
Nam trong một gia đình Bà La Môn ở Ấn Độ, gần xứ Ba La
Niết Tư. Ông bèn cải sang đạo Phật, nhưng sau một cuộc
tranh luận với những người Bà La Môn khác, ông bị thúc
giục phải rời khỏi xứ. Ông bèn tự tách thức ra khỏi
thân và chuyển nó qua thân một người nữ ở Tây Tạng, có
tên là Machik Lapgi Dronma. Bà lập gia đình với một người
tu theo Mật giáo và sau đó sanh ra ba người con trai và hai người
con gái. Sau khi thọ giáo pháp Mật giáo với Padampa Sangye và
đệ tử của ông là Gyodon Sonam Lama, bà dựng một túp lều
ẩn cư, tại đó bà đã sống hết cuộc đời còn lại của
mình. Bà mất năm 95 tuổi.
Mad
(a): Cuồng.
Mad
and cruel: Cuồng bạo.
Mad
elephant: Compared with a deluded person—So sánh với một kẻ ám
muội u mê—Cuồng tượng.
Mad
Zen: Cuồng Thiền—Mad Zen is a false method of practicing Zen. It
is erronous and not according to the proper Dharma teachings of the Buddha.
People who follow this type of Zen practice are often possessed by demonic
spirits and eventually become mad. Mad Zen also includes those who never
practice but saying practicing, never obtaining enlightenment but saying
obtaining enlightenment, those who are still eating sentient beings’
flesh and drinking wine everyday, but always pretending themselves as Zen
Master—Thiền bậy bạ, không đúng theo Chánh Pháp Phật Giáo.
Người tu theo loại thiền nầy thường bị âm ma ám nhập
trở nên điên cuồng. Cuồng Thiền cũng bao gồm những kẻ
không thực hành mà nói thực hành, không đắc mà nói đắc,
ngày ngày họ hãy còn ăn thịt uống rượu mà vỗ ngực xưng
tên là Thiền Sư nầy nọ.
Mada
(skt):
1)
Arrogance: Kiêu—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
2)
Conceit of or about: Presumption—Lust—Inspiration—Excitement—Sexual
desire or enjoyment—One of the Upaklesa, or secondary hindrances.
Madana
(skt): Mạt Đạt Na—Túy quả—A fruit called the intoxicating fruit.
Madarava
flowers: Mạn đà la hoa.
Maddava
(p): Mềm mỏng—Softness—Gentleness.
Made
known to the near, but the remote not: Gần thì biết, xa không biết—See
Eight kinds of prediction.
Made
known to others, not to self: Mọi người đều biết, chỉ mình
không biết—See Eight kinds of prediction.
Made
known to self, not to others: Chỉ mình biết, người khác không
biết—See Eight kinds of prediction.
Made
known to the remote, but not the intermediate: Xa biết nhưng gần không
biết—See Eight kinds of prediction.
Made
known to self and others: Mọi người và mình đều biết—See
Eight kinds of prediction.
Madhu
(skt): Ma Thâu.
1)
Sweet: Ngọt.
2)
An intoxicating liquor: Một loại nước có chất làm say.
3)
Honey: Mật ong.
Madhuka
(skt): Mạt Độ Ca—Bassia latifolia, a fine or pleasant fruit—Một
loại trái rất ngon.
Madhya
(skt): Mạt Đà.
1)
Intoxicating liquor: Chất cay độc—Intoxicating.
2)
One hundred thousand: 100.000.
3)
Middle: Trung.
**
See Madhyama.
Madhyadesa
(skt): Mạt Thể Đề Xá—The central kingdom (in Central India)—Vương
quốc trung tâm (trung tâm Ấn Độ).
Madhyama
(skt): Middle way—Trung đạo—A Sanskrit term for “Middle
Way.” The “mean” between two extremes (between realism and nihilism,
or eternal substantial existence and annihilation or between), the idea
of a realm of mind or spirit beyond the terminology of substance (hữu)
or nothing (vô); however, it includes both existence and non-existence.
This doctrine attributed to Sakyamuni Buddha rejects the extremes of hedonistic
self-indulgence on the one hand and extreme asceticism on the other. Sakyamuni
Buddha discovered the Middle Path which advises people to give up extremes,
to keep away from bad deeds, to do good and to purify the mind. The Eightfold
Noble Path. The Buddha taught: “When discrimination is done away with,
the middle way is reached, for the Truth does not lie in the extreme alternatives
but in the middle position.” The doctrine of the Middle Path means in
the first instance the middle path between the two extremes of optimism
and pessimism. Such a middle position is a third extreme, tending neither
one way nor the other is what the Buddha wanted to say. The Buddha certainly
began with this middle as only one step higher than the ordinary
extremes. A gradual ascent of the dialectical ladder, however, will
bring us higher and higher until a stage is attained wherein the
antithetic onesidedness of ens and non-ens is denied and transcended
by an idealistic synthesis. In this case the Middle Path has a similar
purport as the Highest Truth. In the Katyayanavavade sutra, the Buddha
told Maha-Kasyapa: “Kasyapa! ‘It is one extreme alternative, not is’
is another extreme alternative. That which is the madhyama position is
intangible, incomparable, without any position, non-appearing, incomprehensible.
That is what is meant by madhyama position. Kasyapa! It is perception of
Reality.” Extremes become the dead ends of eternalism and annihilism.
There are those who cling exclusively to nonbeing and there are others
who cling exclusively to being. By his doctrine of Middle Way (madhyama
pratipat), the Buddha meant to show the truth that things are neither absolute
being nor absolute nonbeing, but are arising and perishing, forming continuous
becoming, and that Reality is transcendent to thought and cannot be caught
up in the dichotomies of the mind—Phạn ngữ chỉ “Trung Đạo.”
Con đường giữa mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra, khuyên
người nên từ bỏ nhị biên, tránh làm các điều ác, làm
các điều lành và giữ tâm thanh tịnh. Giáo thuyết này do
chính Đức Phật thuyết giảng, nó chối bỏ thái cực đam
mê khoái lạc, và nó cũng chối bỏ thái cực hành xác thái
quá. Trung Đạo có nghĩa là “bất nhị (không hai)”. Trung
Đạo vượt trên hữu vô, nhưng chứa đựng tất cả. Đức
Phật dạy: “Khi phân biệt bị loại bỏ thì trung đạo được
đạt đến, vì chân lý không nằm trong sự cực đoan mà là
trong trung đạo.” Học thuyết về Trung Đạo khởi thủy có
nghĩa là con đường giữa của hai thái cực lạc quan và bi
quan. Địa vị chính giữa như vậy lại là thái cực thứ
ba, không nghiêng theo bên đường nầy hay bên đường kia là
ý chỉ của Phật. Chắc chắn như vậy, vì Đức Phật
bắt đầu bằng con đường giữa nầy coi như một bước tiến
duy nhất cao hơn những cực đoan thông thường kia. Tuy nhiên,
từng cấp hướng thượng của nấc thang biện chứng sẽ nâng
dần chúng ta lên cao mãi cho đến lúc đạt tới giai đoạn
loại hẳn thiên kiến của phản đề về ‘hữu’ và ‘vô,’
và siêu việt chúng bằng một tổng đề về duy tâm luận.
Trung Đạo cũng có ý vị như là Chân Lý Tối Cao. Theo Kinh
Giáo Thọ Ca Chiên Diên, Đức Phật đã nói với tôn giả Ca
Diếp: “Nầy ông Ca Diếp! ‘Là’ là một cực đoan, ‘không
là’ cũng là một cực đoan. Cái được coi là trung đạo
thì không thể sờ thấy, không thể so sánh, không nơi chốn,
không hiển hiện, không thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó
chính là trung đạo. Trung đạo là sự cảm nhận Thực Tại.”
Những sự cực đoan trở thành những con đường không có
lối thoát của chủ thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có
những người chỉ bám víu vào ‘vô,’ hoặc có những người
chỉ bám víu vào ‘hữu.’ Đức Phật đã xử dụng thuyết
Trung Đạo để vạch ra chân lý mọi sự vật trên thế giới
nầy không phải là ‘hữu’ tuyệt đối, mà cũng không phải
là ‘vô’ tuyệt đối. Kỳ thật, mọi vật đều có sanh
có diệt, tạo nên sự chuyển hóa liên tục không ngừng. Trung
Đạo có nghĩa là thực tại siêu việt đối với những cách
lý luận nhị phân của lý trí và thực tại không thể bị
hạn định hoặc đóng khung trong những lựa chọn ‘là,’
‘không là.’—See Madhyama philosophy.
Madhyama
philosophy: Học thuyết Trung Đạo—See Madhyamaka philosophy.
Madhyamagamas
(skt): Majjhima Nikaya (p)—Trung A Hàm—Middle Work, or Middle Length
Discourses in the Pali Canon. Metaphysical, 60 books. The sutra preached
by the Buddha about his life as well as those of his disciples’, fundamental
doctrine of the Hinayana Buddhism, the Four Noble Truths and the Dependent
Origination. This collection was recited by Sariputra at the First Buddhist
Council—60 quyển, tập hợp kinh văn không dài không ngắn.
Kinh nói về những lời dạy và đức hạnh của Đức Phật
Thích Ca cũng như các đệ tử của Ngài, về Giáo lý căn bản
của Phật giáo nguyên thủy, Tứ đế, Thập nhị nhân duyên.
Kinh nầy được Ngài Xá Lợi Phất trùng tụng trong lần Đại
Hội Kết Tập Kinh Điển đầu tiên ngay sau khi Phật nhập
diệt—See Agamas, Four agamas, and Five Agamas.
Madhyamaka
(skt): Phái Trung Quán—Middle View School—A Sanskrit term for “Middle
Way School.” This is one of the two Indian Mahayana Buddhist schools,
the other being the Yogacara. This school developed the doctrines of the
“Perfection of Wisdom” in the Prajna-Paramita literature. The teachings
are based on the notion that all phenomena are empty (sunyata) of inherent
existence (svabhava), presented and followed by the Madhyamikas, founded
by Nagarjuna and Aryadeva in the second century AD, which attained great
influence in India, Tibet, China and Japan, etc. According to one legend,
in the 3rd century, Nagarjuna travelled to the sea dragon’s palace beneath
the ocean to retrieve the Avatamsaka Sutra. According to Buddhist legends,
he discovered the sutra in an abandoned monastery. Nagarjuna was the fourteenth
patriarch of Indian Zen. He was the founder and first patriarch of the
Madhyamika (Middle Way) school, also the founder of the Pure Land Sect
(Salvation School). One of the two Mahayana schools in India (together
with the Yogacara). The basic statement of the doctrines of this school
is found in Master Nagarjuna’s Madhyamika-karika—Từ Phạn ngữ
chỉ “Trung Đạo.” Đây là một trong hai trường phái Đại
Thừa ở Ấn Độ, trường phái kia là Du Già. Trường phái
này khai triển học thuyết “Bát Nhã Ba La Mật” trong kinh
Bát Nhã Ba La Mật Đa. Học thuyết căn cứ trên khái niệm
vạn hữu không có tự tánh, được trình bày và theo đuổi
bởi phái Trung Đạo, được Long Thọ và Thánh Đề Bà (Aryadeva)
lập ra vào thế kỷ thứ hai sau CN, có một vị trí rất lớn
tại các nước Ấn độ, Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật, vân vân.
Theo truyền thuyết Phật giáo thì vào thế kỷ thứ ba, ngài
Long Thọ du hành xuống Long cung để chép kinh Hoa Nghiêm.
Theo một truyền thuyết khác thì Ngài đã tìm thấy kinh nầy
trong một tu viện bỏ hoang. Ngài là tổ thứ 14 của dòng Thiền
Ấn Độ, là sơ tổ của phái Trung Quán hay Tam Luận và Tịnh
Độ tông. Trường phái Trung Đạo là một trong hai trường
phái Đại thừa ở Ấn Độ (cùng với Thiền Phái Yogacara).
Giáo lý căn bản của trường phái nầy dựa vào thuyết Trung
Quán của Ngài Long Thọ.
Madhyamaka
philosophy: Học thuyết Trung Quán.
(I)
An overview on “Madhyama philosophy”: Tổng quan về học thuyết
Trung Đạo—The Madhyama, one of the two main schools of Mahayana Buddhism,
of which philosophy was systematized by Nagarjuna, one of the greatest
thinkers of India. According to the Madhyama, the Buddha followed a moderate
path avoiding the two extremes, indulgence in sensual pleasures and the
habitual practice of self mortification. When an attempt was made to interpret
and discover the import of that path, Nagarjuna came forward with his own
interpretation and called it Madhyamika, or moderate. The central idea
in his philosophy is “Prajna,” “wisdom,” or ultimate knowledge
derived from an understanding of the nature of things in their true perspective,
“sunyata.” Sunyata for him is a synonym for “dependent origination.”
So the dictum: “Everything is void” must be taken to mean that everything
has a dependent origination and is hence non-substantial. Here everything
stands for all things, dharma internal and external. So everything for
him is devoid of nay substantiality and becomes illusory. When this is
realized the “Dharmadhatu,” or the monistic cosmic element, becomes
manifest. Another fundamental principle in his philosophy is Ajativada,
the non-origination theory. Things declared non-substantial, sunya, also
bring home to us by implication the idea that they are un-originated
and undestroyed. Nagarjuna takes great pains to expound the non-origination
theory in his works, such as the Madhyamika Sastra. His method of exposition
and logic were so convincing that even those who belonged the opposite
camp were tempted to adapt them to their own theories. To quote one example,
Gaudapada, a great exponent of Advaitism, was influenced considerably by
Nagarjuna’s method of arguments. The external world, for both the Madhyamikas
and Advaitins, is unreal. The arguments advanced by Nagarjuna were also
adopted by Gaudapada in so far as they supported his propositions. The
formulation of the non-origination theory by Nagarjuna is a logical corollary
of his doctrine and relativity. The non-origination theory, as applied
to the phenomenal world, was unknown in Advaitism before Gaudapada. The
Upanisads speak several times of the Atman and Brahmin as unborn,
imperishable and eternal, but no-where do they speak thus of the external
world. Nor do we find anybody before Gaudapada in the galaxy of Advaitins
who pleaded for the non-origination of things in general as did Gaudapada
in his Karikas. Therefore there is no denying the fact that Gaudapada must
have taken the idea from Nagarjuna and adapted it suitably to provide the
Advaita doctrine with a firm foundation—Một trong hai trường phái
chính của Phật giáo Đại Thừa, mà triết lý của nó được
ngài Long Thọ, một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất
của Ấn Độ, hệ thống hóa. Theo trường phái Trung Quán,
Đức Phật đã đi theo con đường ôn hòa để tránh hai điều
cực đoan: buông thả dục lạc và hành xác vốn đang được
áp dụng rất phổ thông vào thời của Đức Phật. Một khi
đã thông hiểu con đường này, ngài Long Thọ đã đi thẳng
tới theo cách giải thích của riêng mình gọi là Trung Quán,
hay trung hòa. Ý tưởng chủ yếu trong triết lý này là “Bát
Nhã,” “Tuệ giác,” hay “kiến thức tối hậu có được
do sự hiểu biết được bản chất vạn vật trong bối cảnh
thực của chúng, nghĩa là “sunyata” hay sự rỗng không. Theo
ngài Long Thọ thì “sunyata” đồng nghĩa với duyên khởi.
Vì thế câu “vạn hữu giai không” (vạn vật đều là không)
phải được hiểu là vạn vật đều có một duyên khởi,
cho nên không có tự tánh. Ở đây, vạn vật muốn nói đến
vạn pháp, cả trong và ngoài. Thế nên, theo ngài Long Thọ thì
vạn vật đều không có tự tính và trở thành hư ảo. Khi
đã nhận thức ra điều đó thì pháp giới, hay nguyên lý vũ
trụ nhất nguyên, sẽ trở nên hiển lộ. Một nguyên tắc
căn bản khác trong triết lý của ngài Long Thọ là thuyết
không sinh khởi. Vạn pháp được gọi là không có thể tính
(sunya), nên cũng ngụ ý là vạn pháp không sinh không diệt.
Ngài Long Thọ đã tốn nhiều công sức để trình bày lý thuyết
không sinh khởi trong các cuốn sách của mình, như cuốn Trung
Quán Luận. Cách trình bày và lý luận của ngài có tính thuyết
phục mạnh mẽ đến nỗi những người ở phía đối nghịch
cũng đã tìm cách phỏng theo phương pháp này trong các lý thuyết
của họ. Tóm tắt lại trong một thí dụ, Gaudapada, một nhân
vật lớn của thuyết Bất nhị, người đã chịu ảnh hưởng
nặng nề phương pháp lý luận của ngài Long Thọ. Thế giới
bên ngoài, đối với cả phái Trung Quán và thuyết Bất Nhị,
đều là không thực. Các luận chứng do ngài Long Thọ đưa
ra đã được Gaudapala mô phỏng khá nhiều đến mức chúng
được dùng để làm hậu thuẫn cho các lời nói của ông.
Sự phát biểu thuyết không sinh khởi của ngài Long Thọ là
một hệ luận tất yếu của thuyết tương đối (sunyata) của
ông. Trước Gaudapala thì trong thuyết Bất Nhị chưa ai biết
đến thuyết không sinh khởi, được dùng để nói về thế
giới hiện tượng Áo Nghĩa Thư nhiều lần nói rằng Ngã (Atman)
theo người Bà La Môn là bất sinh (aja), bất hoại (avyaya) và
vĩnh cửu (natya) nhưng không có chỗ nào lại nói như thế
về thế giới bên ngoài. Trước Gaudapala chúng ta cũng chẳng
thấy một ai trong các bậc tài danh của thuyết Bất Nhị bênh
vực cho sự không sinh khởi của vạn vật nói chung như là
Gaudapala đã làm trong bộ Tụng “Karika” của ông. Do đó,
không thể bác bỏ sự kiện là Gaudapala hẳn đã sử dụng
các ý tưởng của ngài Long Thọ và mô phỏng theo đó một
cách khéo léo để tạo một nền tảng vững chắc cho giáo
lý Bất nhị.
(II)
The meanings of “Madhyama Philosophy”—Ý nghĩa của học thuyết
Trung Đạo:
1)
Middle way: The “mean” between two extremes (between realism and nihilism,
or eternal substantial existence and annihilation or between), the idea
of a realm of mind or spirit beyond the terminology of substance (hữu)
or nothing (vô); however, it includes both existence and non-existence—Middle
path—Sakyamuni Buddha discovered the Middle Path which advises people
to give up extremes, to keep away from bad deeds, to do good and to purify
the mind—The Eightfold Noble Path. The Buddha taught: “When discrimination
is done away with, the middle way is reached, for the Truth does not lie
in the extreme alternatives but in the middle position.”—Con đường
giữa mà Phật Thích Ca Mâu Ni đã tìm ra, khuyên người nên
từ bỏ nhị biên, tránh làm các điều ác, làm các điều
lành và giữ tâm thanh tịnh. Trung Đạo có nghĩa là “bất
nhị (không hai)”. Trung Đạo vượt trên hữu vô, nhưng chứa
đựng tất cả. Đức Phật dạy: “Khi phân biệt bị loại
bỏ thì trung đạo được đạt đến, vì chân lý không nằm
trong sự cực đoan mà là trong trung đạo.”
2)
The doctrine of the Middle Path means in the first instance the middle
path between the two extremes of optimism and pessimism. Such a middle
position is a third extreme, tending neither one way nor the other is what
the Buddha wanted to say. The Buddha certainly began with this middle
as only one step higher than the ordinary extremes. A gradual ascent
of the dialectical ladder, however, will bring us higher and higher
until a stage is attained wherein the antithetic onesidedness of
ens and non-ens is denied and transcended by an idealistic synthesis.
In this case the Middle Path has a similar purport as the Highest Truth:
Học thuyết về Trung Đạo khởi thủy có nghĩa là con đường
giữa của hai thái cực lạc quan và bi quan. Địa vị chính
giữa như vậy lại là thái cực thứ ba, không nghiêng theo
bên đường nầy hay bên đường kia là ý chỉ của Phật.
Chắc chắn như vậy, vì Đức Phật bắt đầu bằng con
đường giữa nầy coi như một bước tiến duy nhất cao hơn
những cực đoan thông thường kia. Tuy nhiên, từng cấp hướng
thượng của nấc thang biện chứng sẽ nâng dần chúng ta lên
cao mãi cho đến lúc đạt tới giai đoạn loại hẳn thiên
kiến của phản đề về ‘hữu’ và ‘vô,’ và siêu việt
chúng bằng một tổng đề về duy tâm luận. Trung Đạo cũng
có ý vị như là Chân Lý Tối Cao.
(III)
The development of the Madhyamaka—Sự phát triển của thuyết Trung
Quán: The Madhyamaka system of philosophy was developed mainly by Nagarjuna.
He was one of the greatest geniuses the world has ever known. The system
of which he laid the foundation was developed by his brilliant followers.
It had a continuous history of development from the second century A.D.
up to eleventh century A.D. Three stages of its development can be easily
marked. In the first stage, there was a systematic formulation of the Madhyamaka
philosophy by Nagarjuna and Aryadeva. The second stage is one of division
of the system into two schools, the Prasangika and the Svatantrika. The
third stage is one of re-affirmation of the Prasangika school—Trường
phái triết học Trung Quán chủ yếu là do ngài Long Thọ khai
triển. Ngài là một trong những thiên tài vĩ đại nhất trong
lịch sử thế giới. Ngài đã đặt nền móng cho trường phái
này, và sau đó các môn đồ lỗi lạc của ngài đã tiếp
tục phát triển. Lịch sử phát triển của nền triết học
này đã liên tục từ thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch cho mãi
đến thế kỷ thứ 11. Sự phát triển của trường phái này
gồm 3 giai đoạn rất dễ đánh dấu. Trong giai đoạn thứ
nhất, ngài Long Thọ và Thánh Đề Bà đã đề xướng và giảng
giải một cách có hệ thống. Giai đoạn thứ hai, hệ thống
triết học này được phân chia làm hai trường phái là Qui
Mậu Luận Chứng (Prasangika) và Tự Y Luận Chứng (Svatantrika).
Gia đoạn thứ ba là khẳng định lại “Qui Mậu Luận Chứng
Phái.”
1)
First stage: Nagarjuna was the author of a voluminous commentary on Prajnaparamita
known as Prajnaparamita-sastra. This was translated into Chinese by Kumarajiva
(402-405). The original is not available now. He, however, formulated his
main philosophy in Prajna-mula or Mula-Madhyamaka-Karikas known also as
Madhyamaka-Sastra. His devoted pupil Aryadeva elaborated his philosophy
in Catuh-sastra—Ngài Long Thọ đã viết rất nhiều chú giải
cho Bát Nhã Ba La Mật Đa, những chú giải này được gọi
là “Bát Nhã Ba La Mật Đa Luận (Prajnaparamita-sastra). Bộ luận
này được ngài Cưu Ma La Thập dịch ra Hoa ngữ. nguyên bản
của bộ luận này đã bị thất lạc. Tuy nhiên, chính ngài
đã hệ thống hóa tư tưởng chính của ngài trong bộ “Bát
Nhã Căn” (Prajna-mula or Mula-Madhyamaka-Karikas) hoặc “Trung Quán
Luận.” Vị đệ tử thuần thành của ngài là Đề Bà đã
khai triển tư tưởng triết học ấy trong Tứ Bách Luận (Catuh-sastra).
2)
Second stage: Nagarjuna had used the technique of “prasanga” in formulating
his Madhyamaka philosophy. “Prasanga” is a technical word which
means “reduction ad absurdum” argument. Nagarjuna did not advance any
theory of his own, and therefore, had no need to advance any argument to
prove his theory. He used only “Prasangavakya” or “reduction ad absurdum”
argument to prove that the theories advanced by his opponents only led
to absurdity on the very principles accepted by them. This implied that
Reality was beyond thought-constructs. Buddhapalita who flourished in the
middle of the sixth century was an ardent follower of Nagarjuna. He felt
that “Prasanga” was the correct method of the Madhyamaka philosophy
and employed it in his teachings and writings. He wrote a commentary called
“Madhyamakavrtti” on the “Madhyamaka Sastra” of Nagarjuna. This
is available only in Tibetan translation. The original is lost. A junior
contemporary of Buddhapalita, named Bhavya or Bhavaviveka maintained that
the opponent should not only be reduced to absurdity, but Svatantra or
independent logical argument should also be advanced to silence him. He
believed that the system of dialectics alone could not serve the purpose
of pinpointing the Absolute Truth. He wrote the Mahayan-Karatala-ratna
Sastra, Madhyamikahrdaya with an auto-commentary, called Tarkajvala, Madhyamartha-Samgraha,
and Prajna-pradipa, a commentary on the Madhyamaka Sastra of Nagarjuna.
Only a Tibetan translation of these works is a vailable. Dr. L.M. Joshi
transcribed the Madhyamartha-Samgraha into Nagari letters and translated
it into Hindi which appeared in the Dharmaduta (August 1964). N. Aiyswami
Sastri has restored Karatalaratna from the Chinese translation of Hsuan-Tsang
into Samskrta (Visvabharati Santiniketan 1949). So we see that in the sixth
century, nearly 400 years after the death of Nagarjuna, the Madhyamaka
school was split into two: 1) Prasangika school, led by Buddhapalita and
2) Svatantrika school, led by Bhavaviveka. According to Y. Kajiama, the
problem which divided the Madhyamakas was whether the system of relative
knowledge could be recognized as valid or not, though it was delusive from
the absolute point of view. According to Hsuan-Tsang, Bhavaviveka
externally wore the Samkhya cloak, though internally he was supporting
the doctrine of Nagarjuna—Ngài Long Thọ đã xử dụng kỹ thuật
“Prasanga” (Qui Mậu Luận Chứng) để giảng giải một cách
rõ ràng triết học Trung Quán của mình. Chữ “Prasanga” là
một thuật ngữ có nghĩa là “Qui Mậu Luận Chứng.” Long
Thọ đã không đề ra học thuyết nào của riêng mình; vì
thế, ngài không cần đề ra bất cứ luận chứng nào để
chứng minh cho học thuyết của mình cả. Ngài chỉ xử dụng
“qui mậu luận chứng pháp” để chứng minh rằng những
lý luận do đối thủ của ngài đề ra chỉ đưa đến
sự phi lý, ngay cả đối với những nguyên lý mà chính họ
đã chấp nhận. Điều này ngụ ý rằng “thực tại” là
thứ gì vượt lên trên tư tưởng.
a)
Buddhapalita who flourished in the middle of the sixth century was an ardent
follower of Nagarjuna. He felt that “Prasanga” was the right and correct
method of the Madhyamaka philosophy and employed it in his teachings and
writings. He wrote a commentary called “Madhyamakavrtti” on the “Madhyamaka
Sastra” of Nagarjuna. This is available only in Tibetan translation.
The original is lost—Phật Hộ (Buddhapalita) sanh vào giữa thế
kỷ thứ 6, là đệ tử nhiệt thành của ngài Long Thọ. Ngài
cảm thấy rằng “Qui Mậu Luận Chứng Pháp” là phương pháp
đúng đắn và chính xác của hệ thống triết học Trung Quán
nên đã ứng dụng nó trong học thuyết và tác phẩm của mình.
Ngài viết bộ “Trung Quán Chú” (Madhyamakavrtti) chú giải
dựa theo bộ Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Sách này nguyên
tác đã bị thất lạc, chỉ còn lại bản dịch bằng Tạng
văn.
b)
A junior contemporary of Buddhapalita, named Bhavya or Bhavaviveka maintained
that the opponent should not only be reduced to absurdity, but Svatantra
or independent logical argument should also be advanced to silence him.
He believed that the system of dialectics alone could not serve the purpose
of pinpointing the Absolute Truth. He wrote the Mahayan-Karatala-ratna
Sastra, Madhyamikahrdaya with an auto-commentary, called Tarkajvala, Madhyamartha-Samgraha,
and Prajna-pradipa, a commentary on the Madhyamaka Sastra of Nagarjuna.
Only a Tibetan translation of these works is available. Dr. L.M. Joshi
transcribed the Madhyamartha-Samgraha into Nagari letters and translated
it into Hindi which appeared in the Dharmaduta (August 1964). N. Aiyswami
Sastri has restored Karatalaratna from the Chinese translation of Hsuan-Tsang
into Samskrta (Visvabharati Santiniketan 1949). So we see that in the sixth
century, nearly 400 years after the death of Nagarjuna, the Madhyamaka
school was split into two: 1) Prasangika school, led by Buddhapalita and
2) Svatantrika school, led by Bhavaviveka. According to Y. Kajiama, the
problem which divided the Madhyamakas was whether the system of relative
knowledge could be recognized as valid or not, though it was delusive from
the absolute point of view. According to Hsuan-Tsang, Bhavaviveka
externally wore the Samkhya cloak, though internally he was supporting
the doctrine of Nagarjuna—Một người cùng thời nhưng nhỏ hơn
Phật Hộ là ngài Thanh Biện. Ngài cho rằng chỉ nêu ra sự
sai lầm của đối thủ vẫn chưa đủ, mà còn phải đề ra
“Tự Y Luận Chứng” (Svatantra) hoặc luận chứng độc lập
hợp lý để khiến kẻ đó phải im tiếng. Ngài tin rằng chỉ
dựa vào phương pháp biện chứng thì không thể nêu ra được
chân lý tuyệt đối một cách chính xác. Ngài đã viết bộ
“Đại Thừa Chưởng Trân Bảo Luận, Trung Quán Tâm Luận
(Madhyamikahrdaya) với lời chú giải có tên là “Tư Trạch
Diệm Luận” (Tarkajvala), “Trung Luận Yếu Chỉ” (Madhyamartha-Samgraha)
để chú giải Trung Luận của ngài Long Thọ và “Bát Nhã
Đăng Luận” (Prajna-pradipa). Những tác phẩm này hiện nay
chỉ còn tồn tại bằng những bản dịch Tạng ngữ mà thôi.
Tiến Sĩ L.M. Joshi đã chuyển dịch Trung Luận Yếu Chỉ sang
ngữ Nàgari và dịch sang tiếng Hindi được đăng ở “Pháp
Sứ” (Dharmaduta) vào tháng 8 năm 1964. Giáo sư N. Aiyswami đã
phục hồi bộ “Chưởng Trân Bảo Luận” từ Hoa ngữ của
ngài Huyền Trang sang trở lại Phạn ngữ. Như trên chúng ta
thấy rằng trong thế kỷ thứ 6, gần 400 sau khi ngài Long Thọ
viên tịch, triết học Trung Quán đã được chia thành 2 phái:
1) Trường phái Qui Mậu Luận Chứng, do Phật Hộ dẫn đầu,
và 2) trường phái Tự Y Luận Chứng, do Thanh Biện dẫn đầu.
Theo Y. Kajiama, nguyên nhân gây chia rẽ trong phái Trung Quán chính
là câu hỏi rằng là hệ thống tri thức tương đối
có thể được thừa nhận hay không, mặc dù đứng trên quan
điểm tuyệt đối thì nó là hư vọng.
3)
Third stage: In the third stage, we have two very brilliant scholars of
the Madhyamaka system: Candrakirti and Santideva—Trong giai đoạn này,
phái Trung Quán đã xuất hiện hai vị học giả sáng chói,
đó là Nguyệt Xứng và Tịch Thiên.
a)
About 20 of his commentaries were written on Nagarjuna’s Madhyamaka Sastra.
They are available only in Tebetan translation. Candrakirti’s Prasan-napada
commentary is the only one that has survived in the original Samskrta.
It seems to have elbowed every other commentary out of existence. He flourished
early in seventh century A.D. and wrote several works. He was born in Samanta
in the South. He studied Madhyamaka philosophy under Kamalabuddhi, a disciple
of Buddhipalita, a disciple of Kamalabuddhi, a disciple of Buddhapalita
and probably under Bhavya also. His prasannapada commentary on Nagarjuna’s
Madhyamaka sastra, has already been mentioned. He wrote an independent
work, named “Madhyamakavatara” with an auto-commentary. He frequently
refers to Madhyamakavatara in his Prasannapada which goes to show that
the former was written earlier than the latter. He also wrote commentaries
on Nagarjuna’s Sunyata Saptati and Yukti Sastika and on Aryadeva’s
Catuhsataka. Two other manuals (prakaranas), Madhyamaka-prajnavatara and
Pancaskandha were also written by him. Of all his works, only Prasannapada
is available in the original; other works are available only in Tibetan
translation. Candrakiirti vigorously defends the Prasangika school, and
exposes the hollowness of Bhavaviveka’s logic at many places. He also
supports the common sense view of sense perception and criticizes the doctrine
of the ‘unique particular’ (Svalaksana) and perception devoid of determination
(kalpanapodha). He has also criticized Vijnanavada and maintains that consciousness
(vijnana) without an object is unthinkable—Ông đã viết khoảng
20 bộ luận giải về Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Những
tác phẩm này hiện chỉ còn được bảo tồn ở những bản
dịch bằng tiếng Tây Tạng. Trong đó “Minh Cú Luận” của
ngài là bản duy nhất còn tồn tại trong văn bản Bắc Phạn
nguyên thủy. Dường như chính nó đã hất cẳng tất cả những
bản chú giải khác. Nguyệt Xứng nổi tiếng vào đầu thế
kỷ thứ 7 và ngài đã viết một số tác phẩm xuất sắc.
Ngài đã từng theo Liên Hoa Giác, một đệ tử của ngài Phật
Hộ, để nghiên cứu về giáo lý Trung Quán, và có thể ngài
cũng là đệ tử của Thanh Biện. Như đã nói, tác phẩm “Minh
Cú Luận” là bộ luận giải do ngài viết nhằm chú giải
Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Ngoài ra, “Nhập Trung Luận”
và chú thích của nó chính là tác phẩm độc lập của ngài.
Trong Minh Cú Luận ngài thường đề cập đến “Nhập trung
Luận,” điều này cho thấy rõ rằng “Nhập trung Luận”
đã được viết sớm hơn Minh Cú Luận. Ngoài ra, ngài còn
chú giải “Thất thập tụng không tánh luận,” “Lục Thập
Tụng Chánh Lý Luận” của ngài Long Thọ và “Tứ Bách Luận”
của ngài Thánh Đề Bà. Ngoài ra, còn có hai bản khái luận,
đó là “Nhập trung Đạo Bát Nhã Luận” và “Ngũ Uẩn Luận.”
Trong tất cả các sách của ngài, hiện chỉ còn Minh Cú Luận
là vẫn còn bản gốc, còn thì tất cả chỉ còn tồn tại
qua bản dịch bằng Tạng ngữ mà thôi. Nguyệt Xứng đã biện
hộ cho Quy Mậu Luận Chứng Phái một cách nhiệt liệt, hơn
nữa ngài còn nêu ra rất nhiều điểm sơ hở về luận lý
của Thanh Biện. Ngài cũng ủng hộ chủ trương quan điểm
thông thường của cảm quan tri giác và chỉ trích học thuyết
“Tự Tướng” và “Vô Phân Biệt.” Ngài cũng phê bình
về thuyết “Vô Thức” và cho rằng ý thức mà không có
đối tượng là một điều không thể quan niệm được.
b)
Santideva was one of the great pillars of the Prasangika School. He flourished
in the seventh century. According to Taranathaas, Santideva was the son
of King Kalyanavarman of Saurastra and was the rightful successor to the
throne. As a prince he was known as Santivarman. He was so deeply inspired
by Mahayanic ideal that he fled away from his kingdom and took orders with
Jaideva in Nalanda after which he was known as Santideva. He was the author
of Siksa-samuccaya and Bodhicaryava-tara. In the former, he has referred
to many important Mahayana works, nearly 97 in number which are now completely
lost. In the Bodhicaryavatara he has emphasized the cultivation of Bodhicitta.
He was the greatest poet of the Madhyamaka school and his work was a beautiful
fusion of poetry and philosophy. He was the follower of the Prasangika
method and has criticized Vijnanavada vehemently—Tịch Thiên là một
trong những cột trụ vĩ đại của trường phái Qui Mậu Luận
Chứng. Ngài đã xuất hiện và nổi tiếng vào thế kỷ thứ
7 sau Tây lịch. Theo Taranathaas thì Tịch Thiên là con của vua
Đức Khải trị vì xứ Saurastra, và là người thừa kế chánh
thống ngai vàng. Khi còn là một Thái tử, tên ngài là Tịch
Khải. Vì chấp nhận một cách sâu sắc tư tưởng Đại Thừa
nên ngài đã phát tâm để lìa bỏ vương quốc và đã đến
xuất gia với Tu Viện Na Lan Đà và sau đó ngài được biết
với tên Tịch Thiên. Những tác phẩm của ngài gồm có “Học
Xứ Yếu Tập (Siksa-samuccaya) và “Nhập Bồ Đề Hành Luận”
(Bodhicaryava-tara). Trong bộ Học Xứ Yếu Tập, ngài đã đề
cập đến rất nhiều kinh điển Đại Thừa vô cùng quan trọng,
tất cả gồm 97 loại, những loại sách này hiện nay đã hoàn
toàn bị thất truyền. Trong Nhập Bồ Đề Hành Luận, ngài
đã nhấn mạnh đến việc tu tập Bồ Đề Tâm. Ngài là một
thi hào vĩ đại nhất trong học phái Trung Quán. Hầu hết những
tác phẩm của ngài đều biểu hiện sự kết hợp đẹp đẽ
giữa thi ca và triết học. Ngài là tín đồ của phái Qui Mậu
Luận Chứng và đã phê bình phái Duy Thức một cách mạnh
mẻ.
(IV)
The Buddha’s teachings in the Katyayanavavade sutra: Lời Phật dạy
về Trung Đạo trong Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên—In the Katyayanavavade
sutra, the Buddha told Maha-Kasyapa: “Kasyapa! ‘It is one extreme alternative,
not is’ is another extreme alternative. That which is the madhyama position
is intangible, incomparable, without any position, non-appearing, incomprehensible.
That is what is meant by madhyama position. Kasyapa! It is perception of
Reality.” Extremes become the dead ends of eternalism and annihilism.
There are those who cling exclusively to nonbeing and there are others
who cling exclusively to being. By his doctrine of Middle Way (madhyama
pratipat), the Buddha meant to show the truth that things are neither absolute
being nor absolute nonbeing, but are arising and perishing, forming continuous
becoming, and that Reality is transcendent to thought and cannot be caught
up in the dichotomies of the mind—Theo Kinh Giáo Thọ Ca Chiên Diên,
Đức Phật đã nói với tôn giả Ca Diếp: “Nầy ông Ca Diếp!
‘Là’ là một cực đoan, ‘không là’ cũng là một cực
đoan. Cái được coi là trung đạo thì không thể sờ thấy,
không thể so sánh, không nơi chốn, không hiển hiện, không
thể giải thích. Ông Ca Diếp, đó chính là trung đạo. Trung
đạo là sự cảm nhận Thực Tại.” Những sự cực đoan
trở thành những con đường không có lối thoát của chủ
thuyết vĩnh hằng và đoạn diệt. Có những người chỉ bám
víu vào ‘vô,’ hoặc có những người chỉ bám víu vào ‘hữu.’
Đức Phật đã xử dụng thuyết Trung Đạo để vạch ra chân
lý mọi sự vật trên thế giới nầy không phải là ‘hữu’
tuyệt đối, mà cũng không phải là ‘vô’ tuyệt đối. Kỳ
thật, mọi vật đều có sanh có diệt, tạo nên sự chuyển
hóa liên tục không ngừng. Trung Đạo có nghĩa là thực tại
siêu việt đối với những cách lý luận nhị phân của lý
trí và thực tại không thể bị hạn định hoặc đóng khung
trong những lựa chọn ‘là,’ ‘không là.’
Madhyamaka
Refutal of Four Possibilities: Sự phản bác bốn khả năng (về
nguồn gốc của vũ trụ) của phái Trung Quán—In the first verse
of the Mulamadhyamakarika, Nagarjuna stated: “No entity is produced at
any time, anywhere, or in any manner from self, from other, from both,
or without cause.” This is the fundamental Madhyamaka critique of causality.
This is also the refutal of the Madhyamaka on the four possibilities for
the origination of phenomena, or the relationship between cause and effect
of philosophical schools contemporary with the Madhyamaka. Madhyamaka school
utilized a method called “reductio ad adsurdum”, or a negative dialectic
that exposes the inherent contradictions and adsurdities in the opponent's
position—Trong câu kệ đầu tiên của Trung Quán Luận, Ngài
Long Thọ đã nói: “Không có thực thể nào phát sinh vào bất
cứ lúc nào, ở đâu, hay bằng phương cách nào từ chính nó,
từ những cái khác, cả hai, hay không có nguyên nhân.” Đây
là sự phê bình căn bản về nguyên nhân của phái Trung Quán.
Đó cũng chính là sự phản bác của phái Trung Quán về ý
niệm về bốn khả năng về nguồn gốc của vũ trụ của
các trường phái triết học đồng thời với phái Trung Quán.
Phái Trung Quán đã dùng phương pháp bác bỏ một luận đề
bằng cách chứng minh rằng nếu lý giải chính xác từng chữ,
nó sẽ dẫn đến một kết quả vô lý:
1)
The Sankhya system, one of the classical systems of Indian philosophy,
advocated the position that maintains that the cause and effect are identical.
However, the Madhyamaka says that, if in fact cause and effect are identical,
then having bought cottonseed with the price one would pay for cloth would
be the same. The idea that cause and effect are identical thus leads to
absurdity. If cause and effect were identical, then there would be no difference
between father and son, and also no difference between food and excrement:
Hệ thống Sankhya, một trong những hệ thống cổ điển của
triết học Ấn Độ, tán thành lập trường xác nhận nhân
quả đồng dạng. Tuy nhiên, phái Trung Quán cho rằng, nếu thực
tế nguyên nhân và hậu quả đồng dạng, như thế là mua hạt
giống cây bông nhưng phải trả với giá quần áo. Như vậy
khái niệm về nhân quả đồng dạng dẫn đến vô lý. Nếu
nguyên nhân và hậu quả đồng dạng thì không có sự khác
biệt giữa cha mẹ và con cái, và cũng không có sự khác biệt
giữa đồ ăn và phân.
2)
The Hinayana schools of Buddhism, Vaibahashika, Sautrantika and some
of the Brahmanical schools agreed that the position which cause and effect
are different. However, the Madhyamaka says that, if in fact cause and
effect are different, anything could originate from anything else, because
all phenomena are equally different. Hence a stalk of rice might just as
easily originate from a piece of coal as from a grain of rice, for there
would be no connection between a stalk of rice and a grain of rice; and
a piece of coal and a grain of rice would have the same relationship of
difference to a stalk of rice. Thus the notion that cause and effect are
absolutely different is an intrinsically absurd idea: Trường phái Phật
giáo Tiểu Thừa, phái Vaibahashika, Sautrantika, và vài nhóm của
hệ phái Bà La Môn lại đồng ý về nhân quả khác biệt.
Tuy nhiên, phái Trung quán cho rằng nếu nguyên nhân và hậu
quả khác biệt, thì cái gì cũng có thể bắt nguồn từ bất
cứ cái gì khác vì tất cả các hiện tượng đều khác nhau.
Vậy thì thân cây lúa có thể bắt nguồn từ một miếng than
đá cũng dễ như từ một hạt gạo, vì không có sự liên
hệ giữa thân cây lúa và hạt gạo, và miếng than đá và
hạt gạo cùng có mối liên hệ về sự khác biệt đối với
thân cây lúa. Bởi vậy khái niệm nguyên nhân và hậu quả
tuyệt đối khác biệt là một khái niệm vô lý.
3)
The position according to which phenomena originated from causes that are
both identical and different (cause and effect are both identical and different)
was affirmed by the Jaina philosophers. However, the Madhyamaka says that,
no phenomenon can have contradictory characteristics. An entity cannot
be both existent and nonexistent at the same time, just as one entity cannot
be both red and not red at the same time. Thus there are no such phenomena
that can be originated from cause and effect that are identical and different
at the same time: Lập trường cho rằng nhân quả vừa đồng
dạng vừa khác biệt được xác nhận bởi các nhà triết
học Jaina. Tuy nhiên, phái Trung Quán nói rằng, không có một
hiện tượng nào có thể có những đặc điểm mâu thuẫn.
Một thực thể không thể nào vừa hiện hữu lại vừa không
hiện hữu được, cũng như một thực thể không thể vừa
đỏ lại vừa không đỏ. Như vậy không có chuyện nguyên
nhân và hậu quả vừa đồng dạng vừa khác biệt.
4)
Phenomena arise without cause or phenomena originate without a cause was
affirmed by the materialists in ancient India. However, the Madhyamaka
says that, the idea that phenomena originate without a cause is nonsense
by appeal to common experience. For instance, if we set a kettle of water
on a lighted stove, the water will boil, but if we set it on a block of
ice, it won’t. So the position that maintains phenomena originate without
a cause is impossible: Hiện tượng nảy sinh không có nguyên nhân
được xác nhận bởi những nhà duy vật thời cổ Ấn Độ.
Tuy nhiên, phái Trung Quán nói rằng, khái niệm hiện tượng
duyên khởi không có nguyên nhân bị bác bỏ bởi kinh nghiệm
chung. Chẳng hạn như chúng ta để một siêu nước trên một
lò lửa thì nước sẽ sôi, nhưng nếu chúng ta để siêu nước
này trên một khối nước đá thì nó sẽ không sôi được.
Vì vậy lập trường cho rằng hiện tượng không bắt nguồn
từ nguyên nhân là không thể nào có được.
Madhyamayana
(skt): Trung thừa—See Madhyamikas.
Madhyamikas:
Tam Luận Tông—Trung Thừa—See Ten schools of Chinese Buddhism.
1)
The doctrine of Mahayana sutras, and of the Prajnaparamita in particular,
was developed in a systematic and philosophical form by the Madhyamikas.
Madhyama means middle, and the Madhyamikas are those who take the Middle
Way, between affirming and denying. The school was founded, probably about
150 A.D., by Nagarjuna and Aryadeva. Nagarjuna was one of the most subtle
dialecticians of all times. Of Brahmin family, he came from Berar in South
India, and was active in Nagarjunikonda near Amaravati, in Northern India.
His name is explained by the legend that he was born under an Arjuna tree,
and that Nagas, i.e. serpent-kings, or dragons, had instructed him in secret
lore in the Dragons’ Palace under the sea. His theory is called “Sunya-vada,”
or “Emptiness doctrine.” He supplemented with a logical apparatus the
views expounded in the Sutras on perfect wisdom, which he is said to have
rescued from the Nether world of the Nagas. While Sakyamuni, so the story
goes, taught to men the doctrine of the Disciples, in heaven he taught
at the same time a deeper doctrine, which was first preserved by the Dragons,
and then brought to earth by Nagarjuna. The Madhyamika school flourished
in India for well over 800 years. About 450 A.D. it split into two subdivisions:
one side, the Prasangikas, interpreted Nagarjuna’s doctrine as a universal
skepticism, and claimed that their argumentations had the exclusive purpose
of refuting the opinions of others; the other side, the Svatantrikas, maintained
that argument could also establish some positive truths. Together with
Buddhism the Madhyamikas disappeared from India after 1,000 A.D. Their
leading ideas have survived up to the present day in the Vedanta system
of Hinduism into which they were incorporated by Gaudapada and Sankara,
its founders. Translations of the Prajnaparamita-sutras have exerted a
profound influence in China from 180 A.D. onwards. The Madhyamikas existed
for a few centuries, from 400 or 600 to 900, as a separate school called
San-Lun tsung. In 625 the school came to Japan, as Sanron, but it has been
extinct there for a long time. Adapted to the Chinese and Japanese outlook
on life, the doctrine lives on as Ch’an or Zen—Giáo thuyết của
những kinh điển Đại Thừa và của kinh Bát Nhã Ba La Mật
Đa nói riêng, được phát triển dưới hình thức triết học
và hệ thống trong Trung Quán Luận. Madhyama có nghĩa là trung
đẳng, và những bộ Trung Quán Luận là những bộ luận chủ
trương Trung Đạo, giữa khẳng định và phủ định. Có thể
trường phái này được ngài Long Thọ và Thánh Thiên thành
lập vào khoảng năm 150 sau tây lịch. Long Thọ là một
trong những nhà biện chứng bén nhạy nhất của mọi thời
đại. Dòng dõi Bà La Môn, ngài từ Berar đến Nam Ấn và hành
động của ngài tác động trong vùng Nagarjunikonda gần Amaravati,
vùng Bắc Ấn. Tên ngài được giải thích bằng thần thoại,
theo đó ngài sinh ra dưới tàng cây Arjuna, và loài rồng hay
xà thần đã huấn đạo ngài những mật học trong Long Cung
dưới đáy biển. Giáo thuyết của ngài được gọi là Không
Luận. Ngài đã bổ túc bằng một hệ thống luận lý những
khái niệm trình bày trong những kinh điển về trí tuệ viên
mãn mà ngài đã vớt được từ Long cung của những xà thần.
Theo thần thoại thì khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết pháp
cho con người về Thanh Văn Thừa, ngài đã giảng ở Thiên
giới, đồng thời, một giáo lý sâu xa hơn, được loài rồng
cất giữ, sau đó được ngài Long Thọ mang về trần gian.
Phái trung Quán phồn thịnh ở Ấn Độ trong suốt 800 năm.
Vào khoảng năm 450 sau Tây lịch, nó tách ra làm đôi; phái
Ứng Thành (Prasangikas) giải thích giáo lý của ngài Long Thọ
như một thuyết hoài nghi phổ quát và chủ trì rằng lý luận
của họ hoàn toàn có mục đích bác bỏ những ý kiến khác;
phái kia là Trung Luận Tam Quán (Svatantrikas) chủ trương rằng
sự biện luận có thể cũng thiết định được một vài
chân lý thực nghiệm. Những bộ Trung Quán Luận biến mất
ở Ấn Độ sau năm 1.000, cùng với Phật giáo. Những tư tưởng
chỉ đạo của Trung Quán vẫn còn tồn tại đến ngày nay
trong hệ thống Vendanta của Ấn Độ Giáo, trong đó chúng được
sáp nhập vào bởi Gaudapada và Sankara, những nhà sáng lập
ra Vedanta. Những bản dịch kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa đã gây
một ảnh hưởng sâu đậm ở Trung Hoa từ năm 180 sau Tây lịch.
Những bộ Trung Quán Luận đã tồn tại trong vài thế kỷ,
từ năm 400, hay 600 đến năm 900, như một tông phái riêng biệt
gọi là Tam Luận tông. Năm 625 tông phái này được truyền
sang Nhật với tên Sanron, nhưng sau đó nó bị lu mờ trong một
thời gian dài. Thích nghi với những quan niệm về nhân sinh
của Trung Hoa và Nhật Bản, giáo lý này vẫn tiếp tục sống
trong Thiền Tông.
2)
The Madhyamikas, founded about 150 A.D. by Nagarjuna, expected salvation
from the exercise of wisdom understood as the contemplation of emptiness.
Because they formulated their doctrines in deliberate contrast to those
of the “Old Wisdom School,” we speak of a “New Wisdom School.”—Phái
Trung Quán do ngài Long Thọ thành lập vào khoảng năm 150 sau
Tây lịch, mong sự giải thoát bằng tu tập trí huệ hiểu
như là sự quán tưởng về không tính. Vì họ xây dựng học
thuyết trong sự tương phản cố ý đối với “Cổ phái
Trí Tuệ” nên chúng ta gọi là “Tân phái trí Tuệ.”
3)
See Madhyamikas.
Madhyamika-karika
(skt): Trung Quán Luận—The Middle View, name of a work by Master Nagarjuna,
which is relating to the middle region—See Madhyamika Sastra.
Madhyamika-sastra
(skt): Madhyamaka Sastra (skt)—Middle View School—Trung Quán Luận
của Ngài Long Thọ—The Treatise on the Middle way or the Guide-Book
of the School of the Middle Way. The sastra stressed on the teaching of
the Middle Way, the basic teaching of the Madhyamika school of the Indian
Mahayana Buddhism. The teaching of the Middle Way, presented and followed
by the Madhyamikas, founded by Nagarjuna and Aryadeva in the second century
AD, which attained great influence in India, Tibet, China and Japan. One
of the two Mahayana schools in India (together with the Yogacara). The
basic statement of the doctrines of this school is found in Master Nagarjuna’s
Madhyamika-karika. According to the Madhyamaka Sastra, the true meaning
of Emptiness (Sunyata) is non-existence, or the nonsubstantiveness. The
Madhyamika-sastra, attributed to the Bodhisattva Nagarjuna as creator,
and Nilakasus as compiler, translated into Chinese by Kumarajiva in 409
A.D. It is the principal work of the Madhyamika, or Middle School.
The teaching of this school opposes the rigid categories of existence and
non-existence, and denies the two extremes of production or creation and
non-production and other antitheses, in the interests of a middle or superior
way. According to Nagarjuna, the Middle Way is true nature of all
things which neither is born nor dies, and cannot be defined by either
the two extremes, existence or non-existence. The first and principle work
of the three main works of the Middle School. Fortunately the Sanskrit
text of it has been preserved. It was translated into Chinese by
Kumarajiva. It is a treatise of 400 verses in which Nagarjuna refutes certain
wrong views of Mahayana or of general philosophers, thereby rejecting all
realistic and pluralistic ideas, and indirectly establishing his monistic
doctrine. The Madhyamaka system is neither scepticism nor agnosticism.
It is an open invitation to every one to see Reality face to face. According
to the Survey of Buddhism, Sangharakshita’s summary of the Madhyamaka
system as follows: “Buddhism may be compared to a tree. Buddha’s transcendental
realization is the root. The basic Buddhism is the trunk, the distinctive
Mahayana doctrines the branches, and the schools and subschools of the
Mahayana the flowers. Now the function of flowers, however beautiful, is
to produce fruit. Philosophy, to be more than barren speculation, must
find its reason and its fulfilment in a way of life; thought should lead
to action. Doctrine gives birth to method. The Bodhisattva ideal is the
perfectly ripened fruit of the whole vast tree of Buddhism. Just as the
fruit encloses the seeds, so within the Bodhisattva Ideal are recombined
all the different and sometimes seemingly divergent elements of Mahayana.”
According to Jaidev Singh in An Introduction To Madhyamaka Philosophy,
we have seen the main features of Madhyamaka Philosophy. It is both philosophy
and mysticism. By its dialectic, its critical probe into all the categories
of thought, it relentlessly exposes the pretensions of Reason to know Truth.
The hour of Reason’s despair, however, becomes the hour of truth. The
seeker now turns to meditation on the arious forms of ‘Sunyata,’ and
the practice of ‘Prajnaparamitas.’ By moral and yogic practices, he
is prepared to receive the Truth. In the final stage of Prajna, the wheels
of imagination are stopped, the discursive mind is stilled, and in that
silence Reality stoops to kiss the eye of the aspirant; he receives the
accolade of prajna and becomes the knighterrant of Truth. It is an
experience of a different dimension, spaceless, timeless, which is beyond
the province of thought and speech. Hence it cannot be expressed in any
human language—Học thuyết về Trung Đạo, được trình bày
và theo đuổi bởi phái Trung Đạo, được Long Thọ và Thánh
Đề Bà (Aryadeva) lập ra vào thế kỷ thứ hai sau CN, có một
vị trí rất lớn tại các nước Ấn độ, Tây Tạng, Trung
Hoa, Nhật. Một trong hai trường phái Đại thừa ở Ấn Độ
(cùng với Thiền Phái Yogacara). Giáo lý căn bản của trường
phái nầy dựa vào thuyết Trung Quán của Ngài Long Thọ. Bộ
Trung Luận nhấn mạnh vào giáo lý Trung Đạo, giáo lý căn
bản của trường phái Trung Quán của Phật giáo Đại
thừa Ấn Độ. Theo Trung Quán, nghĩa chân thật của Tánh Không
là Phi Hữu hay không thực chất. Tên đầy đủ là Trung Quán
Luận, do Bồ tát Long Thọ biên soạn và Thanh Mục Bồ tát
chú thích, Cưu Ma La Thập đời Tần dịch sang Hoa Ngữ. Đây
là một trong ba bộ luận căn bản của tông Tam Luận. Luận
nầy chủ trương trung đạo triệt để, chống lại luận cứ
“hữu” “không” hoặc nhị biên “sanh” và “vô sanh.”
Theo Ngài Long Thọ thì trung đạo là chân tánh của vạn hữu,
không sanh không diệt, không hiện hữu, không phi hiện hữu.
Bộ luận thứ nhất và cũng là bộ luận chính trong ba bộ
luận chính của Tam Tông Luận. May mắn nguyên bản tiếng Phạn
vẫn còn tồn tại. Bản Hán văn do Ngài Cưu Ma La Thập dịch.
Tác phẩm nầy gồm 400 bài tụng, trong đó Ngài Long Thọ đã
bác bỏ một số những kiến giải sai lầm của phái Tiểu
Thừa hay của các triết gia thời bấy giờ, từ đó ông bác
bỏ tất cả những quan niệm duy thức và đa nguyên để
gián tiếp thiết lập học thuyết “Nhất Nguyên” của mình.
Triết học Trung Quán không phải là chủ thuyết hoài nghi mà
cũng không phải là một chủ thuyết bất khả tri luận. Nó
là một lời mời gọi công khai đối với bất cứ ai muốn
trực diện với thực tại. Theo Nghiên Cứu về Phật Giáo,
ngài Tăng Hộ đã nói về lý tưởng Bồ Tát trong Trung Quán
như sau: “Phật Giáo có thể ví như một cái cây. Sự giác
ngộ siêu việt của Đức Phật là rễ của nó. Phật Giáo
cơ bản là cái thân cây, các học thuyết Đại Thừa là nhánh
của nó, còn các phái và chi của Đại Thừa là hoa của nó.
Bây giờ, dù hoa có đẹp đến thế nào thì chức năng của
nó là kết thành quả. Triết học, để trở thành điều gì
cao hơn là sự suy luận vô bổ, phải tìm động cơ và sự
thành tựu của nó trong một lối sống; tư tưởng cần phải
dẫn tới hành động. Học thuyết nầy sinh ra phương pháp.
Lý tưởng Bồ Tát là trái cây hoàn mỹ chín mùi trên cây
đại thụ của Phật Giáo. Cũng như trái cây bao bọc hạt
giống, vì vậy bên trong lý tưởng Bồ Tát là sự kết hợp
của tất cả những thành tố khác nhau, và đôi khi dường
như chia rẽ của Đại Thừa.” Theo Jaidev Singh trong Đại Cương
Triết Học Trung Quán, chúng ta thấy rằng những nét chính
yếu của triết học Trung Quán vừa là triết học vừa là
thuyết thần bí. Bằng cách xử dụng biện chứng pháp và
chiếu rọi sự phê bình vào tất cả những phạm trù tư tưởng
, nó đã thẳng tay vạch trần những khoa trương hư trá của
lý trí để nhận thức Chân Lý. Bây giờ người tầm đạo
quay sang với thiền định theo những hình thức khác nhau
của ‘Không Tánh,” và thực hành Bát Nhã Ba La Mật Đa. Nhờ
thực hành tinh thần đức hạnh Du Già, người tầm đạo theo
Trung Quán dọn đường để tiếp nhận Chân Lý. Tại giai đoạn
sau cùng của Bát Nhã, những bánh xe tưởng tượng bị chận
đứng, tâm trí vọng động lắng đọng tịch tịnh lại, và,
trong sự tịch tịnh đó, Thực Tại cúi hôn lên đôi mắt
của người tầm đạo; kẻ đó đón nhận sự tán dương của
Bát Nhã và trở thành hiệp sĩ phiêu du của Chân Lý. Đây
là kinh nghiệm thuộc về một chiều khác, một chiều vô không
gian, vô thời gian, nó siêu việt lên trên lãnh vực của tư
tưởng và ngôn ngữ. Cho nên nó không thể diễn đạt được
bằng bất cứ ngôn ngữ nào của nhân loại.
Madhyamika
school (skt): Phái Trung Đạo—The Middle Doctrine School of Mahayana
Buddhism founded by Nagarjuna in the second century AD.—Tam Luận Tông—Trung
Luận Tông được ngài Long Thọ khai sáng vào thế kỷ thứ
hai sau Tây Lịch.
Madhyamika
School in China: Trung Luận Tông Trung Hoa.
(I)
History of the formation of Madhyamika in China—Lịch sử thành lập
Trung Luận tông tại Trung Hoa: Tại Trung Hoa, Trung Luận tông
hay Tam Luận tông được chia thành hai nhóm. Nhóm thứ nhất
đi theo truyền thống ‘Cổ Tam Luận tông’ từ thời
ngài Long Thọ đến ngài Cưu Ma La Thập, còn nhóm thứ hai theo
truyền thống ‘Tân Tam Luận tông’ từ thời Cát Tạng 549-623),
một môn đệ của Cưu Ma La Thập đến thời kỳ suy thoái
của truyền thống nầy vào khoảng thế kỷ thứ tám: In China,
the Three Madhyamika Treatises is divided into two groups. The first tradition
is called the ‘old’ follows the tradition from Nigarjuna to Kumarajiva;
and the second is called the ‘new’ tradition from Chi-Tsang (549-623
A.D.), a disciple of Kumarajiva, to the time of its decline in the eighth
century A.D.
(II)
Philosophy and works—Triết lý và kinh sách:
(A)
Madhyamika philosophy—Triết lý Tam Luận: The San-Lun-tsung was a
Buddhist sect which expressed the Madhyamika doctrine according
to absolute truth (paramartha-satya). These schools stress the doctrine
of conventional truth (samvrti-satya), according to which all beings are
conditioned and merely interrelated, but do not come into existence in
the absolute sense. The practical aspect of the Madhyamika philosophy was
expressed by these schools in their approach to human life. Although these
schools contributed to the cultural development of ancient China for eight
centuries, today they are only objects of historical, textural and philosophical
study. They no longer exist as religious institutions in China, except
in the modified form of Tibetan Lamaism—Tam Luận tông là một bộ
phái Phật giáo diễn tả Trung Luận theo chân lý tuyệt đối.
Các tông phái nầy nhấn mạnh ở thuyết chân lý qui ước
hay tục đế (samvrti-satya) theo đó thì vạn vật đều do duyên
sinh và chỉ có sự tương quan với nhau chứ không phải
hiện hữu theo nghĩa tuyệt đối. Khía cạnh thực tế
của triết lý Trung Luận được các trường phái nầy thể
hiện trong cách sống gần gũi với con người bình thường.
Mặc dù đã đóng góp nhiều cho sự phát triển của nền văn
hóa Trung Hoa trong tám thế kỷ, nhưng các tông phái nầy ngày
nay chỉ còn là những đối tượng để nghiên cứu về lịch
sử, kinh sách và triết học mà thôi. Các tông phái nầy không
còn tồn tại dưới dạng thể chế tôn giáo ở Trung Hoa, ngoại
trừ hình thức đã sửa đổi như là đạo Lạt Ma (Lamaism)
ở Tây Tạng.
(B)
Chief works—Kinh sách chính đã tạo nên hệ Tam Luận của Phật
giáo Trung Hoa: Chief texts which constitute the San-Lun literature
of Chinese Madhyamika Buddhism—Các kinh sách chính của tông phái
nầy gồm:
1)
The Mahaprajnaparamita-sastra: Đại Trí Độ Luận.
2)
The Dasabhumivibhasa-sastra: Thập Địa Tỳ Bà Sa Luận.
3)
The Madhyamika-sastra: Trung Luận.
4)
Sata-sastra: Bách Luận.
5)
Dvadasanikaya-sastra: Thập Nhị Môn Luận.
(III)
The development of Chinese Madhyamika Buddhism—Sự phát triển của
Trung Luận tông ở Trung Hoa: In China, the groups which embrace Madhyaminka
Buddhism are Si-Lun-Tsung, Prajna tsung, Hsing-tsung, in which the San-Lun-tsung
and Hua-Yen-tsung are also included—Tại Trung Quốc, các nhóm khác
đi chung với Phật giáo Trung Luận gồm có Tứ Luận tông,
Bát Nhã tông, Hưng tông, trong đó bao gồm cả Tam Luận tông
và Hoa Nghiêm tông.
Madhyamika
School in India: Trung Luận tông Ấn Độ.
(I)
The history of the formation of the Madhyamaka sect—Lịch sử thành
lập Trung Luận Tông: The Madhyamikas were so called on account of
the emphasis they laid on the middle view (madhyamika-pratipat). In his
first sermon at Banares, the Buddha preached the Middle Path, which is
neither self-mortification nor a life devoted to the pleasures of the senses.
However, the middle path, as advocated by the adherents of the Madhyamika
system, is not quite the same. Here, the middle path stands for the non-acceptance
of the two views concerning existence and non-existence, eternity and non-eternity,
self and non-self, and so on. In short, it advocates neither the theory
of reality nor that of the unreality of the world, but merely of relativity.
It is, however, to be noted that the middle path propounded at Banares
has an ethical meaning, while that of the Madhyamikas is a metaphysical
concept. The Middle School of which doctrine was based on the three main
works of Nagajuna. The most striking feature of Madhyamaka philosophy is
its ever-recurring use of ‘Sunya’ and ‘Sunyata.’ So this system
is also known as the school with the philosophy that asserts Sunya as the
characterization of Reality. Besides, there was a galaxy of Madhyamika
thinkers, such as Aryadeva in the third century A.D.), Buddhapalita in
the fifth century, Bhavaviveka in the fifth century, Chandrakirti in the
sixth century, and Santideva in the seventh century—Được gọi là
Trung Quán Tông vì bộ phái nầy chú trọng đến quan điểm
trung dung (madhyamika-pratipat). Trong bài thuyết pháp đầu tiên
trong vườn Lộc Uyển, Đức Phật đã giảng về Trung đạo,
vốn là con đường tu tập không phải qua sự hành xác mà
cũng không phải buông xuôi theo dục lạc. Trung đạo không
chấp nhận cả hai quan điểm liên quan đến sự tồn tại
và không tồn tại, trường cửu và không trường cửu, ngã
và vô ngã, vân vân. Nói tóm lại, tông phái nầy không chấp
nhận thuyết thực tại mà cũng không chấp nhận thuyết không
có thực tại, phái nầy chỉ chấp nhận sự tương đối.
Tuy nhiên, cần nên thấy rằng Trung Đạo được đề xướng
ở Ba La Nại có một ý nghĩa về đạo đức sống, còn Trung
Đạo của Trung Luận tông là một khái niệm siêu hình. Trường
phái mà chủ thuyết dựa vào ba bộ luận chính của Ngài Long
Thọ. Đặc điểm nổi bậc nhất của tông phái nầy là nhấn
mạnh đến chữ ‘Không’ và ‘Không Tánh’ nhiều lần,
cho nên nó cũng còn được gọi là tông phái có ‘hệ thống
triết học xác định rằng ‘không’ là đặc tánh của Thực
Tại. Ngoài ra, đã có rất nhiều nhà tư tưởng Trung Luận
đi theo ngài Long Thọ như Thánh Thiên (Aryadeva) vào thế kỷ
thứ ba, Buddhapatila vào thế kỷ thứ năm, Chandrakirti vào thế
kỷ thứ sáu, và Santideva vào thế kỷ thứ bảy.
(II)
Important points of the Madhyamika school—Những luận điểm quan
trọng của Trung Luận tông:
1)
Nagarjuna, the first patriarch of the Madhyamika school, wrote a number
of works, of which the Madhyamika-karika is regarded as his masterpiece.
It presents in a systematic manner the philosophy of the Madhyamika school.
In the invocation in verse at the beginning of the book, Nagarjuna gives
the fundamentals of his philosohy in a nutshell. He describes Dependent
Origination (Pratitya-samutpada) by means of eight negations: Ngài Long
Thọ, sơ tổ Trung Luận tông đã viết rất nhiều sách, trong
số đó Trung Quán Luận được xem là tác phẩm quan trọng
của ông. Sách nầy trình bày triết lý Trung Luận tông một
cách có hệ thống. Trong bài kệ mở đầu cuốn sách, ngài
Long Thọ đã tóm lược các điều cơ bản của triết lý nầy.
Ngài đã giảng giải luật Duyên Khởi bằng tám sự phủ định
(see Eight Negations).
2)
According to the Madhyamika school, the indescribable absolute (sunyata)
is the absolute: Theo Trung Luận thì tánh không (sunyata) là
tuyệt đối.
3)
There is no difference between phenomenal world (samsara) and nirvana or
sunyata (reality): Không có sự khác biệt giữa luân hồi
(samsara) và Niết Bàn (nirvana) hay sự trống không (sunyata).
4)
Sunyata or the absolute corresponds to the nirguna Brahman of the Upadesads:
Sự trống không hay tuyệt đối tương ứng với Phạm Thiên
(Brahman) nirguna trong sách Upanisads.
5)
Through the philosophy of Sunyata, the Madhyamika school discussed about
the relative existence of thing, not the absolute one: Qua triết lý
‘Tánh Không,’ Trung Luận tông bàn về cái hiện hữu tương
đối, chứ không phải là hiện hữu tuyệt đối.
6)
According to the views of the Madhyamika school, sunyata is the central
idea of its philosophy and is therefore designated the ‘sunyatavada.’
The Madhyamika-karika further deals with two kinds of truths: the conventional
or empirical truth (samvrti), and the higher or transcendental truth (paramartha):
Theo quan điểm của Trung Luận tông thì ‘Tánh Không’ là
ý tưởng trung tâm trong triết lý của họ, do đó chủ thuyết
nầy có tên là Sunyatavada. Trung Quán Luận còn bàn về hai loại
chân lý: tục đế hay chân lý theo qui ước hay theo thường
nghiệm (samvrti), và chân đế hay chân lý siêu nhiên (paramartha).
**See Two truths.
(III)
The development of the Madhyamika school—Sự phát triển của Trung
Luận tông: According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years
of Buddhism, towards the beginning of the fifth century A.D., the Madhyamika
school was divided into two schools of thought: the Prasanghika school
and the Svatantra. The Prasanghika school uses the method of ‘reason
of reduction’ to establish its thesis, while the Savtantra school employs
independent reasoning. The former was founded by Buddhapalita and the latter
by Bhavaviveka. It may bementioned that the T’ien-T’ai and San-Lun
sects in China advocated the doctrine of ‘sunyata’ and were thus a
continuation of the Indian Madhyamika sect: Theo Giáo sư Bapat trong
Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, tới đầu thế kỷ thứ 5,
Trung Luận tông được chia làm hai trường phái tư tưởng
là Prasanghika và Svatantra. Trường phái đầu do Buddhapalita và
trường phái sau do Bhavaviveka thành lập. Prasanghika dùng phương
pháp suy luận loại trừ để xây dựng luận thuyết, còn Svatantra
thì dùng kiểu suy luận độc lập. Có thể nói rằng các trường
phái Thiên Thai và Tam Luận ở Trung Hoa chủ trương thuyết
‘Không Tánh,’ do đó là một sự tiếp nối của Trung Luận
tông ở Ấn Độ.
Madhyanta-vibhanga-sastra
(skt): Biện Trung Biện Luận—Treatise on the Discriminating between
the middle and the extremes. The sastra was composed by Vasubandhu on the
Coming Buddha, Maitreya—Trung Biên Phân Biệt Luận. Bộ Luận
được Ngài Thế Thân soạn về Đức Phật Di Lặc.
Madhyantika
(skt): Mạt Điền—Mạt Điền Để Ca—One of the two chief disciples
of Ananda, to whom he handed down the Buddha’s doctrine. He is reputed
to have been sent to convert Kashmir, the other, Sanakavasa, to convert
Middle Lands, which is probably Central India, though it is understood
as China—Còn gọi là Mạt Đàn Địa, Mạt Điền Đạc Ca,
Mạt Điền Đề, Mạt Điền Địa, Mạt Điền Địa Na, Mạt
Xiển Đề, tên của một trong hai đệ tử lớn của ngài A
Nan Đa, người được ngài A Nan truyền lại giáo pháp của
Phật, và nổi tiếng vì đã đến hoằng hóa tại vùng Kế
Tân (Kashmir); người khác là ông Thương Na Hòa Tu, đã đến
vùng Trung Quốc (những xứ Trung Ấn) dù được hiểu là Trung
Hoa.
Madman:
Người điên.
Madura
(skt): Tổ Ma nô la.
Madyapanaviratih
(skt): Sura-meraya-majja-pamadatthana (p)—Not to drink intoxicants (alcohol)—
Không
uống rượu—See Five precepts.
Mae
chi: Người nữ xuất gia—A Thai term for “female renunciants,”
who take the eight or ten precepts for lay Buddhists but also observe many
of the rules for novice nuns outlined in the Vinaya. The term is derived
from the Pali word “Pabbajita,” one who has gone forth from the home
life into homelessness. Their position in Thai society is ambiguous, as
they are not recognized as nun either by the Samgha or by most of the laity
and are not able to take full monastic ordination because the Bhiksuni
lineage disappeared in Theravada countries centuries ago. They generally
wear white robes and shave their heads and eyebrows, and like monks they
avoid eating after noon and do not wear perfume or jewelry—Từ ngữ
Thái có nghĩa là “người nữ xuất gia,” người thọ tám
hay mười giới dành cho Phật tử tại gia, nhưng cũng trì giữ
rất nhiều giới của sa di Ni được đặt ra trong Luật Tạng.
Từ ngữ được lấy từ chữ Pali cho chữ “Pabbajita,” một
người rời bỏ đời sống gia đình để sống cuộc sống
không nhà. Vị trí của những vị nữ tu này trong xã hội
Thái Lan không rõ rệt, vì họ không được Tăng đoàn và phần
lớn Phật tử tại gia công nhận như là những vị Ni, và
họ không thể thọ giới Tỳ Kheo Ni bởi vì truyền thống
Tỳ Kheo Ni đã biến mất trong các xứ theo Phật giáo Theravada
mấy thế kỷ qua. Họ cũng mặc đồ trắng và cạo tóc và
chân mày, và cũng như chư Tăng họ cũng không ăn sau giờ ngọ
và không dùng nước hoa hay đồ trang sức.
Magadha
(skt): Ma Ha Đà—Ma Kiệt Đề—Ma Già Đà—Xứ Ma Kiệt Đà—Magadha,
one of the sixteen kingdoms of ancient India during the Buddha’s time,
located in north-eastern India. Nalanda and Buddha Gaya lay within this
kingdom. This kingdom was stretching along the southern bank of the
Ganges at the time of the historical Buddha. Its capitals were Rajagriha
and Pataliputra successively. Among the kings of Magadha at the time of
the Buddha were Bimbisara and his son Ajatasattu, and Asoka. Magadha was
the country of origin of Buddhism. One of the two main kingdoms (together
with Kosala) determining the political scene in the central Gangetic plain
in the 6th century BC. It was in Magadha that the Buddha realized the truth
and first turned the Dharma wheel. Magadha was one time the headquarters
of ancient Buddhism, covered with viharas and therefore called Bahar. Magadha
was the most powerful kingdom, ruled by the king Bimbisara (543-493 B.C.)
with its capital in Rajagaha. Later, Magadha was ruled by Ajatasatru (son
of Bimbisara). King Asoka of Maurya dynasty also ruled this kingdom in
the third century B.C. According to the Indian archeologists, the old country
of Magadha is now in the modern Patna and Gaya district of Bihar state
in the northeast India. Both Nalanda and Buddha Gaya, Rajagriha,
Vulture Peak and the Bamboo Grove Monastery lay within this kingdom—Ma
kiệt đà, một trong 16 vương quốc cổ Ấn Độ. Vương quốc
nầy nằm về phía Bắc Ấn độ, trong đó có tu viện Na Lan
Đà và Bồ Đề Đạo Tràng, trải dài theo phía Nam bờ sông
Hằng vào thời Phật, các kinh đô kế tục nhau của nó là
Rajagriha và Pataliputra. Các triều vua trước và sau thời Phật
gồm Bimbisara, Ajatasattu, Asoka. Ma kiệt đà là cái nôi Phật
giáo. Đây là một trong hai vương quốc (cùng với vương quốc
Kosala) quyết định khung cảnh chính trị vùng sông Hằng vào
những thế kỷ trước thế kỷ thứ sáu trước Tây lịch.
Đây cũng chính là nơi Đức Phật giác ngộ sự thật và chuyển
Pháp luân. Ma Kiệt Đà từng là một trung tâm Phật giáo thời
cổ, nơi có nhiều tịnh xá gọi là Bahar. Thời Đức Phật
còn tại thế, Ma Kiệt Đà là một vương quốc hùng cường,
dưới quyền cai trị của vua Tần Bà Sa La (khoảng từ năm
543-493 trước Tây Lịch), có kinh đô trong thành Vương Xá.
Sau đó Ma Kiệt Đà dưới quyền của vua A Xà Thế. Vua A Dục
cũng đã từng ngự trị xứ nầy vào khoảng thế kỷ thứ
ba trước Tây Lịch. Theo các nhà khảo cổ Ấn Độ thì vương
quốc cổ Ma Kiệt Đà bây giờ là Patna và quận hạt Gaya,
tiểu bang Bihar, thuộc miền đông bắc Ấn Độ. Cả Nalanda
và Gaya, thành Vương Xá, núi Linh Thứu, và Trúc Lâm Tịnh xá
đều nằm trong xứ Ma Kiệt Đà ngày xưa.
Magadha
stupa: Tháp Ma Kiệt Đà—The stupa is located in Magadha, where the
Buddha first enlightened. This is one of the eight Great Spiritual
or Sacred Stupas of Buddhism—Tháp nằm trong xứ Ma Kiệt Đa, gần
sông Ni Liên Thiền là nơi Phật thành đạo. Đây là một trong
tám ngôi tháp thiêng lớn của Phật giáo—See Eight great spiritual
or sacred stupas.
Magga
(p): Marga (skt)—Đạo đế—Path—Way—The Noble Eightfold Path—Danh
từ để chỉ giây phút giác ngộ, khi mọi phiền não đều
được loại trừ. Tâm đầu tiên của Niết bàn.
Maggaliputta
Tissa (p): Mục Kiền Liên Tư Đế Tu.
1)
Moggaliputta-Tissa was born in a Brahmin family and learned the three Vedas
before he was sixteen. He was, however, won over to the new faith by Thera
Siggava and very soon attained to Arhatship with all its attendant supernatural
powers. It was under his influence that the Emperor made over to the Buddhist
Order his son Mahinda and daughter Sanghamitta. Later, these two crossed
to Ceylon and converted the whole island to the Buddhist faith: Theo Mahavamsa,
Mục Kiền Liên Tư Đế Tu sinh ra trong một gia đình Bà La Môn,
chưa đến 16 tuổi ngài đã tinh thông hết ba kinh Vệ Đà.
Tuy nhiên, sau đó ngài được trưởng lão Siggava hóa độ.
Ngài đã đi theo Phật giáo và nhanh chóng đạt đến quả vị
A La Hán với đầy đủ mọi phép thần thông. Chính do ảnh
hưởng của ngài mà vua A Dục đã cho con trai của mình là
Ma Thẩn Đà và con gái là Tăng Già Mật Đa xuất gia tu theo
đạo Phật. Sau đó, hai vị nầy đã vượt biển đến Tích
Lan để hóa độ cho cả hòn đảo nầy tin theo Phật.
2)
With the conversion of King Asoka, the material prosperity of the monasteries
grew by leaps and bounds and the monks lived in ease and comfort. The heretics
who had lost their income were attracted by these prospects to enter the
Buddhist Order. They continued, however, to adhere to their old faiths
and practices and preached their doctrines instead of the doctrines of
the Buddha. This caused extreme distress to Thera Moggaliputta-Tissa who
retired to a secluded retreat on Mount Ahoganga and stayed there for seven
years. The number of heretics and false monks became far larger than that
of the true believers. The result was that for seven years no Uposatha
or retreat (Pavarana) ceremony was held in any of the monasteries. The
community of the faithful monks refused to observed these festivals with
the heretics. King Asoka was filled with distress at this failure of the
Sangha and sent commands for the observance of the Uposatha. However, a
grievous blunder was committed by the Minister who was entrusted with this
task. His misunderstood the command and beheaded several monks for their
refusal to carry out the King’s order. When this sad news reported to
Asoka, he was seized with grief and apologized for this misdeed. He then
invited Maggaliputta Tissa to go to Pataliputta to advise the king on this
issue. After several unsuccessful attempts, the elder Tissa was prevailed
upon to consent to go to Pataliputta. The king asked Tissa whether he was
guilty of the murder of the monks through his Minister. The Thera answered
that there was no guilt without evil intent. This satisfied the scruples
of the King. Then the Elder expounded the holy teachings of the Buddha
for a week that helped the king see the misguided beliefs brought to Buddhism
by heretics and false monks. Therefore, the king convened the Third Council:
Với việc vua A Dục đi theo đạo Phật, nhiều tu viện nhanh
chóng phát triển về mặt vật chất và các tu sĩ có một
đời sống đầy đủ dễ chịu hơn. Nhiều nhóm dị giáo đã
bị mất nguồn thu nhập nên ngã theo Phật giáo. Tuy nhiên,
dù theo đạo Phật, nhưng họ vẫn giữ tín ngưỡng, cách hành
trì, cũng như thuyết giảng giáo lý của họ thay vì giáo lý
đạo Phật. Điều nầy khiến cho trưởng lão Mục Kiền Liên
Tư Đế Tu đau buồn vô cùng, nên ông lui về ở ẩn một nơi
hẻo lánh trong núi A Phù suốt bảy năm. Số người dị giáo
và tu sĩ giả hiệu ngày một đông hơn những tín đồ chân
chánh. Kết quả là trong suốt bảy năm chẳng có một tự
viện nào tổ chức lễ Bố Tát hay tự tứ. Cộng đồng tu
sĩ sùng đạo từ chối không chịu làm lễ nầy với những
người dị giáo. Vua A Dục rất lo lắng về sự xao lãng nầy
của Tăng chúng nên phải ra lệnh thực hiện lễ Bố Tát.
Tuy nhiên, vị đại thần được nhà vua giao phó nhiệm vụ
nầy đã gây ra một vụ thảm sát đau lòng. Ông ta hiểu sai
mệnh lệnh nhà vua nên đã chặt đầu những tu sĩ không chiu
thực hiện lệnh vua. Hay tin nầy, vua rất đau lòng. Ngài đã
cho thỉnh trưởng lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu về Hoa Thị
để thỉnh ý. Sau nhiều lần từ chối không được, trưởng
lão Mục Kiền Liên Tư Đế Tu phải nhận lời đi đến gặp
vua để cố vấn cho nhà vua về vấn đề nầy. Vua hỏi xem
mình có mang tội sát hại các tu sĩ do hành động của viên
quan đại thần của mình. Trưởng lão trả lời rằng nếu
không chủ ý xấu thì không có tội. Như thế mọi thắc mắc
trong lòng nhà vua được giải tỏa. Đoạn trưởng lão Mục
Kiền Liên Tư Đế Tu còn giảng giải cho nhà vua về chánh
pháp của Đức Phật trong một tuần lễ. Chính nhờ vậy mà
nhà vua thấy được những sai lầm của ngoại đạo cũng như
những vị Tăng giả hiệu, nên ngài cho triệu tập Hội Nghị
Kết Tập Kinh Điển lần thứ ba. ** See Buddhist Councils (3).
Magga
(p) Marga (skt): Con đường diệt khổ—A path or way to eliminate
suffering—The Noble Eightfold Path.
Magga-sacchikaranam
(p): Chứng đạo.
1)
Religious experience: Chứng nghiệm tôn giáo.
2)
Understanding clearly or realizing the Path: Realization of the way—Having
attained the way (of mystic experience) or to witness to the truth—Sự
lãnh hội rõ ràng hay nhận ra rõ ràng về đạo.
Magha
(skt):
1)
Month between the months of January and February— See Twelve Months of
a Year in India.
2)
Tinh—Name of one of the twenty eight constellations—See Twenty eight
constellations.
Magha
Puja (p): Festival celebrated in Theravada countries, which commemorates
the Buddha’s miraculous gathering of 1,250 disciples at Veluvana Mahavihara
in Rajagrha—Lễ hội được các xứ theo Phật giáo Theravada
cử hành để tưởng niệm ngày Đức Phật hội họp với
1.250 đệ tử trên núi Linh Thứu.
Magic
(a):
1)
Magical powers: Thần túc lực—See Sixteen great powers obtainable
by a Bodhisattva.
2)
Prestidigitation: Ảo thuật—Ma thuật.
3)
Wizardry—Mystery—Bí thuật.
Magic
art: Bí Thuật.
Magic
bottle: Bhadra-kumbha (skt)—Hiền Bình—Thiện Bình—Bình Như
Ý—Hữu Đức Bình—Auspicious jar—See Bhadra-kumbha.
Magic
circle:
1)
Bodhimandala (skt)—Truth-plot, place of enlightenment—Đạo tràng—See
Bodhimandala.
2)
Luân Viên Cụ Túc—A complete Mandala showing the Buddhas and
others, symbolizing their works—Mạn Đồ La như chiếc bánh xe
(có đầy đủ vành, trục, nan hoa, tròn trịa đầy đủ), nói
về công đức viên mãn của chư Phật không một chút khiếm
khuyết (tập trung tất cả công đức chư Phật vào Mạn Đồ
La để cho chúng sanh bước vào Phổ Môn).
Magic
City: See Illusion city.
Magic
formula: Dharma-jnana-mudra (skt)—Pháp Trí Ấn—See Four wisdom symbols
of the Shingon cult.
Magic
incantations: Rddhi-mantra (skt)—Dharani—Thần Chú—Dharani, or
magic or divine incantations—Đà La Ni hay những lời chú thần
bí.
Magic
powers: Rddhipada (skt)—Thần túc lực—Tiên lực—One of the
ten great powers obtainable by a Bodhisattva—Một trong thập đại
lực có thể đạt được bởi một vị Bồ Tát—See Ten kinds
of powers and Ten powers of a Buddha.
Magic
powers in the body: Rddhi (skt)—Như Ý Thân—Thần lực nơi thân—Magic
power exempting the body from physical limitations.
Magic
powers of the mind: Rddhipada (skt)—Như Ý Túc—Magical psychic power
of ubiquity. **See Four Sufficiences.
Magic
words: Chữ huyền diệu—There are eight magic words to be placed
on eight parts of the body—Có tám chữ phân bố trên thân—See
Eight magic words to be placed on eight parts of the body.
Magical
changes: Huyễn hoá.
Magical
display of all bodies: Tất cả thân biến hóa—See Ten kinds of
magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all lands: Khắp các cõi biến hóa—See Ten kinds of magical
displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of education and civilization of sentient beings: Tất cả giáo
hóa và điều phục chúng sanh biến hóa—See Ten kinds of magical
displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of gifts: Tất cả cúng dường biến hóa—See Ten kinds
of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all practical undertakings: Tất cả hạnh nguyện biến
hóa—See Ten kinds of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all voices: Tất cả âm thanh biến hóa—See Ten kinds
of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all attainment of true enlightenment: Tất cả thành chánh
giác biến hóa—See Ten kinds of magical displays of Great Enlightening
Beings.
Magical
display of explanation of all truth: Tất cả thuyết chân pháp biến
hóa—See Ten kinds of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all empowerments: Tất cả gia trì biến hóa—See Ten
kinds of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of education and civilization of sentient beings: Tất cả giáo
hóa và điều phục chúng sanh biến hóa—See Ten kinds of magical
displays of Great Enlightening Beings.
Magical
display of all sentient beings: Tất cả chúng sanh biến hóa—See
Ten kinds of magical displays of Great Enlightening Beings.
Magical
formulas: Dharani (skt)—Protective spells—Năng trì—Đà La Ni—Maintain
or preserve the power of wisdom or knowledge. Able to hold on of the good
so that it cannot be lost, and likewise of the evil so that it cannot arise—Trì
giữ, tổng trì hay bảo tồn huệ lực và trí lực, không để
cho thiện pháp bị tán loạn, ngăn che không cho các ác pháp
tăng trưởng—See Dharani.
Magical
formula employed in Tantric Buddhism: Dharani (skt)—Mantra (skt)—Mystical
formula employed in Tantric Buddhism—Vow with penalties for failure—An
incantation—Spell—Oath—Curse—Thần chú.
Magical
illusion: Maya (skt)—Huyễn hóa.
Magical
palace: Hóa Cung Điện—The magical palace, or, palace of joy, held
in the fortieth left hand of Kuan-Yin of the thousand hands—Cung điện
hoan hỷ được giữ trên tay thứ 40 của Thiên Thủ Quan Âm.
Magical
power: Supernatural power—Báo thông—Thần thông (đại thần
lực)—See Supernatural power.
Magical
power of determination: Adhisthanabala (skt)—Buddha confers his strength
on all (who seek it) and upholds them—Gia trì lực hay uy thần lực—See
Adhisthanabala.
Magical
powers of goblins, satyrs, etc: Yêu thông—See Five kinds of supernatural
powers (A).
Magically
producing the appearance of all realms of sentient beings: Khắp hóa
hiện tất cả chúng sanh giới—See Ten unimpeded functions relating
to sentient beings of Great Enlightening Beings.
Magics
(n): Ảo thuật—(Black) Magics: Ma thuật.
Magnanimity
(n): Khoan dung—Rộng lượng—Đại lượng.
Magnanimous
Vows: The four universal vows of a Buddha or Bodhisattva (four magnanimous
Vows or four all-encompassing vows)—Bốn phổ nguyện lớn của
Phật và Bồ Tát—See Four universal vows of a Buddha or Bodhisattva.
Magnificence
(n): Glory—Sự vinh quang.