Tổ
Đình Minh Đăng Quang
PHẬT HỌC
TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH
- VIETNAMESE ANH VIỆT
Thiện
Phúc
J
Jack-o’-lantern:
Ma trơi.
Jadata
(skt): Trà Đồ Tha.
1)
Coldness: Lạnh.
2)
Stupidity: Ngu si.
3)
Apathy: Tính không tình cảm.
Jade
branches and leaves: Quỳnh chi ngọc diệp—Talk of imperial descendants.
Jade-Buddha
statue: Ngọc Phật—Một tượng Phật bằng ngọc thạch nổi
tiếng được tìm thấy khi đào một cái giếng ở Khotan, cao
khoảng từ 3 đến 4 bộ Anh.
Jade-fountain
and Jade-flower: Ngọc Tuyền Ngọc Hoa Lưỡng Tông—Hai tông phái
Ngọc Tuyền và Ngọc Hoa—The two schools of the Jade-fountain and
Jade-flower:
1)
Jade-Fountain School: Ngọc Tuyền Tông—Yu-Ch’uan sect, was the
name of the monastery in Tang-Yang, Hupei, where Chih-I, the founder of
the T’ien-T’ai school lived—Thiên Thai Tông (T’ien-T’ai Sect)—Ngọc
Tuyền là tên của một tự viện ở Đang Dương thuộc tỉnh
Hồ Bắc, nơi Trí Khải Đại Sư (Trí Nhất), sơ tổ của tông
Thiên Thai đã sống.
2)
Jade-Flower School: Ngọc Hoa Tông—Pháp Tướng Tông (Dharmalaksana
Sect)—Yu-Hua, was the name of a palace which was transformed into a temple
where Hsuan-Tsang, the founder in China, lived and worked. There
he translated the Mahaprajna-Paramita-Sutra, 600 books (chuan)—Ngọc
Hoa là tên của một tự viện, nơi Huyền Trang, tổ của tông
phái nầy đã sống và làm việc. Nơi đây ông đã dịch 600
cuốn của bộ kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa.
Jagarite
and sutte (p): Ngủ trong tỉnh thức.
1)
Jagarite is a Pali term for “mindfulness in waking up.” In waking up,
the application of mindfulness would mean taking up object of meditation
immediately, even before one opens one’s eyes. The term can also
apply to such situations as (1) keeping awake mindfully, not allowing sleep
to overcome one when one is intent on meditating in the sleeping posture,
due to illness or other physical disabilites, and (2) on sleepless nights
when one vainly struggles to catch elusive sleep, mindfulness and clear
comprehension would help one to accept the situation with calmness and
understand the cause of ‘insomina.’ In that very calmness and understanding,
perchance, sleep will come on its own—Danh từ “Jagarite” có nghĩa
là khi thức dậy, hoặc khi tỉnh ngủ. Khi vừa tỉnh giấc,
trước khi mở mắt ra thì hành giả nên chú niệm liền vào
đề mục hành thiền. Danh từ này cũng có thể áp dụng vào
những trường hợp như: (1) thức dậy một cách tỉnh
giác, chứ không để buồn ngủ lấn lướt; (2) trong những
đêm thao thức không yên giấc, khi chúng ta cố dỗ giấc ngủ,
chú tâm và hiểu biết rõ ràng có thể giúp chúng ta chấp
nhận tình thế một cách yên ổn và hiểu biết nguyên do tại
sao chúng ta không ngủ được. Trong chính trạng thái yên ổn
và hiểu biết ấy giấc ngũ có thể sẽ trở lại một cách
tự nhiên.
2)
Sutte is a Pali term for “posture of lying down,” but strictly rendered
it would mean “in sleeping” or “in falling asleep.” A Yogacara
or meditator lies down with his mind on the object of meditation, and thus
falls asleep undeluded—Danh từ “Sutte” khi được dùng để
chỉ một oai nghi có nghĩa là thế nằm. Nhưng chính xác hơn,
chúng ta nên hiểu đó là khi “nằm ngủ,” hoặc khi “thiu
thiu ngủ.” Trong khi nằm xuống ngủ hành giả luôn giữ tâm
niệm vào đề mục hành thiền của mình, và như vậy là hành
giả ngủ với tâm không xao lãng.
3)
In the widest sense the words “sutte” and “jagarite” (in sleeping
and in keeping awake) go beyond the question of postures since one can
be sleeping on a seat or while standing. In the highest sense one sleeps
when one is under the sway of defilements (kilesas). Likewise the word
“Jagarite” in its widest application, embraces that salutary wakefulness
which characterizes vigilance. As the Buddha says: “The defilements disappear
or are destroyed of those who are ever virgilant, who train themselves
day and night; who are wholly intent on Nirvana—Trong ý nghĩa rộng,
hai danh từ “Sutte” và “Jagarite” có nghĩa là khi ngủ và
khi tỉnh giấc, vượt xa hơn là ý nghĩa hàm xúc một oai nghi,
vì chúng ta có thể ngủ trong oai nghi ngồi hay đứng chớ không
phải chỉ nằm mới là ngủ. Trong ý nghĩa cao nhất thường
chúng ta ngủ trong khi tâm chúng ta bị các ô nhiễm chi phối.
Cùng thế ấy, danh từ “Jagarite” bao hàm trạng thái tỉnh
thức, đặc tính của sự chuyên tâm chú niệm, trong ý nghĩa
rộng rãi nhất. Như Đức Phật dạy: “Người luôn luôn tỉnh
giác, ngày đêm tự kềm chế trong khuôn khổ kỷ cương và
trọn vẹn hướng tâm về Niết Bàn, mọi lậu hoặc của người
ấy đều bị tiêu trừ.
Jagat
(skt): Xã Già—All the living—Tất cả chúng sanh.
Jaina
(skt): Kỳ Na—Xà Y Na—Thắng Giả—Victor, he who overcome, a
title of every Buddha; name of various persons; the Jaina religion; the
Jains. The Jains, founded by Jnatrputra, a contemporary of Sakyamuni—Dịch
là Thắng, chỉ ngôi Phật tôn quý, còn có nghĩa là giáo phái
Kỳ Na. Kỳ Na Giáo được sáng lập bởi Ni Kiền Đà Nhã Tử,
một người cùng thời với Đức Phật Thích Ca (kỳ thật
giáo phái nầy ra đời sớm hơn đạo Phật một chút. Lý tưởng
của giáo phái nầy giống như Phật giáo ở chỗ bác bỏ quyền
uy của Phệ Đà và bốn giai cấp của xã hội Ấn Độ thời
bấy giờ).
Jainism:
Jaina or Nirgranta (skt)—Kỳ Na—See Jaina.
Jaken
(jap): Mithya-drsti (skt)—Tà Kiến—See Wrong-views.
Jakumetsu
(jap): Parinirvana or Prasama (skt)—Extinction—Tranquility—Extinction—The
great nirvana—Calmness and extinction—Tịch Diệt—Niết bàn tịch
diệt, hay Đại Niết Bàn.
Jala
(skt): Xà Lợi—Water—Nước.
Jalambara
(skt): Thủy Mãn—Third son of Jalavahana (Lưu Thủy), reborn as Sakyamuni’s
son, Rahula—Con trai thứ ba của Lưu Thủy, tái sanh là La Hầu
La, con trai của Phật.
Jalandhara
(skt): Xà Lạn Đạt Na—Name of an ancient kingdom and city in the
Punjab, the present Jalandar. According to Buddhist legends, a former king
of Mid-India named Wu-Ti (Udita) met an Arhat and appreciated Buddhism.
He gave the Arhat sole control of matters relating to monks. Then he travelled
all over India and erected stupas and monasteries at all the sacred places.
According to Hsuan-Tsang in the Records of the Western Lands, there were
about 20 monasteries with 1,000 monks, who were either Hinayanists or Mahayanists,
but the number of Hinayanists was few. Later, a monastery called Nagaradhana
where Hsuan-Tsang studied Abhidharma with Acarya Candravarma was found—Tên
của một vương quốc và thành phố cổ trong khu vực Punjab,
bay giờ là Jalandar. Theo truyền thuyết Phật giáo, một vị
vua của vùng trung thổ Ấn Độ tên Udita, gặp một vị A La
Hán và cảm kích Phật giáo nên ông trao trọn quyền về vấn
đề Tăng sự cho vị La Hán. Sau đó ông chu du khắp Ấn Độ
và dựng nhiều tháp cũng như tự viện tại các thánh địa.
Theo ngài Huyền Trang trong Tây Vực Ký, có khoảng 20 ngôi tự
viện với 1.000 Tăng sĩ, cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa, nhưng
con số Tiểu thừa rất ít. Về sau một tự viện tên
Nagaradhana được tìm thấy, đây là nơi ngài Huyền Trang đã
lưu lại để nghiên cứu A Tỳ Đạt Ma với ngài Nguyệt Trụ.
Jaliniprabha-Buddha
(skt): Võng Minh Phật.
Jaliniprabha-kumara
(skt): Quang Võng đồng tử—Name of a Bodhisattva, the youth with
the shining net, one of the eight attendants on Manjusri—Tên của một
vị Bồ Tát, một trong tám đồng tử có lưới chiếu sáng,
theo hầu cạnh Ngài Văn Thù.
Jamadagni
(skt): Diệm Ma Đại Hỏa Tiên—One of the seven ancient sage-rsis—Một
trong bảy vị cổ Tiên.
Jambhala
(skt): Jambhira (skt)—Chiêm Bà La—Chiêm Bộ La—Name of a tree
similar to the citron tree—Tên của một loài cây giống như cây
chanh (hoa vàng và có mùi thơm tỏa ngát).
Jambu
(skt): Diêm Phù—Thiệm Bộ—A fruit tree in India (a rose apple).
The rose-apple, described as a lofty tree giving its name to Jambudvipa,
one of the seven continents or rather large islands surrounding the Mountain
Meru—Một loại cây ăn trái ở Ấn Độ (hồng táo). Xà Phù
Thụ hay Uế Thụ, loại cây được tả là cao ngất mà châu
Diêm Phù Đề, một trong bảy châu lớn bọc quanh núi Tu Di,
đã mang tên của loại cây nầy.
Jambud
(skt): Diêm Phù—Thọ—See Jambu.
Jambudvipa
(skt): Jambudipa (p)—The human world—The world in which we are living—The
saha world—The worldly world—Impure Land—Châu Diêm Phù Đề—Nam
Thiệm Bộ Châu (Cõi Diêm Phù Đề)—Nam Châu—Nam Bộ—Nam
Diêm Phù Đề—Nam Phù.
(I)
An overview of Jambudvipa—Tổng quan về Nam Thiệm Bộ Châu: It
is so named (Jambudvipa) either from the Jambu trees abounding in it, or
from an enormous Jambud tree on Mount Meru visible like a standard to the
whole continent. Saha means sufferings and afflictions; it also means worries,
binding, unable to be free and liberated. The worldly world is full of
storm, conflict, hatred and violence. ambudvipa is a small part of Saha
World, the continent south of Mount Sumeru on which, according to ancient
Indian cosmology, human beings live. In Buddhism, it is the realm of Sakyamuni
Buddha. The world in which we live is an impure field, and Sakyamuni is
the Buddha who has initiated its purification. People in this world endure
many sufferings stemming from three poisons of greed, anger and delusion
as well as earthly desires. The Saha World is filled with dirt, rocks,
thorns, holes, canyons, hills, cliffs. There are various sufferings regarding
thirst, famine, hot, and cold. The people in the Saha World like wicked
doctrines and false dharma; and do not have faith in the proper dharma.
Their lives are short and many are fraudulent. Kings and mandarins, although
already have had lands to govern and rule, are not satisfied; as they become
greedy, they bring forces to conquer other countries causing innocent people
to die in vain. In addition, there are other infinite calamities such as
droughts, floods, loss of harvest, thirst, famine, epidemics, etc. As for
this Saha World, the favorable circumstances to cultivate in peace and
contenment are few, but the unfavorable conditions of afflictions destroying
path that are rather losing Bodhi Mind they developed in the beginning.
Moreover, it is very difficult to encounter a highly virtuous and knowledgeable
advisor. According to the Buddha, the planet in which we are currently
living is called Virtuous Southern Continent. It is situated to the south
of Mount Sumeru and is just a tiniest part of the Great World System of
the Saha World in which Sakyamuni Buddha is the ruler—Châu nầy được
đặt tên Diêm Phù Đề có thể là vì trên châu nầy mọc
nhiều cây Diêm Phù, hoặc giả từ trên cây Diêm Phù khổng
lồ trên núi Tu Di có thể nhìn thấy toàn châu. Ta Bà có nghĩa
là khổ não, lại cũng có nghĩa là phiền lụy hay trói buộc,
chẳng được ung dung tự tại. Thế giới mà chúng ta đang
sống hay cõi Diêm Phù đề chỉ là một phần nhỏ của thế
giới Ta Bà, nằm về phía nam của núi Tu Di, theo vũ trụ học
cổ Ấn Độ, đây là nơi sinh sống của con người, là thế
giới Ta Bà của Đức Phật Thích Ca. Thế giới Ta Bà, nơi
đầy dẫy những mâu thuẫn, hận thù và bạo động. Nơi mà
chúng ta đang sống là một thế giới bất tịnh, và Phật
Thích Ca đã bắt đầu thanh tịnh nó. Con người sống trong
thế giới nầy chịu phải vô vàng khổ hãi vì tam độc tham,
sân, si cũng như những dục vọng trần tục. Cõi Ta Bà nầy
đầy dẫy những đất, đá, gai chông, hầm hố, gò nổng,
thường có những mối khổ về đói khát, lạnh, nóng. Chúng
sanh trong cõi Ta Bà phần nhiều tham đắm nơi phi pháp, tà pháp,
chớ chẳng chịu tin chánh pháp, thọ số của họ ngắn ngủi,
nhiều kẻ gian trá. Nói về vua quan, dầu có nước để cai
trị, họ chẳng hề biết đủ, mà ngược lại sanh lòng tham
lam, kéo binh đánh chiếm nước khác, khiến cho nhiều người
vô tội chết oan; lại thêm nhiều thiên tai như hạn hán, bão
lụt, mất mùa, đói khát, vân vân nên chúng sanh trong cõi nầy
phải chịu vô lượng khổ sở. Nơi cõi Ta Bà nầy, sự thuận
duyên cùng an vui tu tập thì ít, mà nghịch duyên phiền não
thì nhiều. Hầu hết người tu hành đều dễ bị thối thất
tâm Bồ Đề đã phát lúc ban đầu. Theo Đức Phật, quả đất
mà chúng ta đang ở đây có tên là Nam Thiệm Bộ Châu, nằm
về hướng nam của núi Tu Di, vốn là một phần nhỏ nhất
trong hệ thống Đại Thiên Thế Giới do Đức Phật Thích Ca
Mâu Ni làm giáo chủ.
(II)
The meanings of Jambudvipa to Buddhism—Ý nghĩa của Nam Thiệm Bộ
Châu đối với Phật giáo: The human world, the world in which we
are living. Jambudvipa is a small part of Saha World, the realm of Sakyamuni
Buddha. The southernmost of the four great land masses (catur-dvipa) of
traditional Buddhist cosmology. It is said to be named after the Jambu
tree that grows there. It measures 2,000 yojanas on three sides, and its
fourth side is only three-and-a-half yojanas long. The Southern Continent,
one of the four continents, that situated south of Mount Meru, comprising
the world known to the early Indian. According to Eitel in The Dictionary
of Chinese-English Buddhist Terms, Jambudvipa includes the following countries
around the Anavatapta lake and the Himalayas—Cõi của thế giới
mà chúng ta đang ở. Diêm Phù Đề là một phần nhỏ của
thế giới Ta Bà, thế giới của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Cõi này nằm về miền cực Nam trong bốn châu theo truyền thống
Vũ Trụ Học Phật giáo. người ta nói cõi này được đặt
tên theo cây “Jambu” là loại cây mọc nhiều trên cõi này.
Cõi này đo được 2.000 na do tha ở ba chiều, còn chiều thứ
tư chỉ dài có 3 na do tha rưởi mà thôi. Nam Thiệm Bộ Châu,
một trong tứ đại châu, tọa lạc phía nam núi Tu Di, bao gồm
thế giới được biết đến bởi người Ấn Độ thời cổ
sơ. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Hoc Từ Điển, Nam Thiệm Bộ
Châu bao gồm những vùng quanh hồ Anavatapta và núi Tuyết (tức
là cõi chúng ta đang ở, trung tâm châu nầy có cây diêm phù.
Chính ở cõi nầy, Đức Phật đã thị hiện, và ở cõi nầy
có nhiều nhà tu hành hơn hết):
1)
North—Bắc: Hung Mông Thổ—Huns-Mongolians-Turks.
2)
East—Đông: Trung Quốc-Đại Hàn-Nhật—China-Korea-Japan.
3)
South—Nam:
i)
Northern India—Bắc Ấn: Hai mươi bảy vương quốc—Twenty-seven
kingdoms.
ii)
Eastern India—Đông Ấn: Mười vương quốc—Ten kingdoms.
iii)
Southern India—Nam Ấn: Mười lăm vương quốc—Fifteen kingdoms.
iv)
Central India—Trung Ấn: Ba mươi vương quốc—Thirty kingdoms.
v)
Western Indian—Tây Ấn: Ba mươi bốn vương quốc—Thirty-four
kingdoms.
Jambunada
(skt): Thiệm Bộ Kim—Produce of gold from the Jambu River (River Jambunadi)—Thiệm
Bộ Nại Hà Kim, vàng từ sông Diêm Phù.
Jambunada-suvarna
(skt): The Jambu-river gold—The Jambud-river gold, the golden sand of
the Jambu—Diêm Phù đàn kim hay cát vàng của dòng sông Diêm
Phù. Diêm Phù Na Đề (Đà) Kim. Tên một loại vàng ở sông
Diêm Phù Đàn (mé dưới rừng cây Diêm Phù có một dòng sông
tên là Diêm Phù Đàn, ở đáy sông có một loại vàng màu
sẫm pha chút sắc tím gọi là Diêm Phù Đàn Kim).
Jambu-river
gold: Jambunada-suvarna (skt)—The golden sand of the Jambu—Cát vàng
của dòng sông Diêm Phù.
Jamgon
Kongtrul Lodro Taye: One of the most influential figures of nineteenth-century
Tibetan Buddhism, who was instrumental in establishing the “Non-Sectarian”
(Ris Med) movement, which sought to overcome the paralyzing sectariansim
that pervaded Tibetan Buddhism at the time. He was born into a Bon po family,
and after taking monastic ordination he studied with, and received initiation
from, a wide variety of teachers from different traditions, He witnessed
first hand the negative effects of the prevailing sectarianism of the time
and sought to combat it by emphasizing the harmony of different Buddhist
traditions. He wrote a number of important works, including his Encyclopedia
of All Knowledge (Shes bya kun khyab) and an electic collection of tantric
texts entitled Treasury of Secret Mantra (gDams ngag mdzod)—Một trong
những nhân vật có ảnh hưởng nhất của Phật giáo Tây Tạng
vào thế kỷ thứ 19, người đã sắp đặt cho việc thiết
lập phong trào “Không Môn Phái,” tìm cách vượt qua chủ
nghĩa môn phái bại liệt đang có ưu thế trong Phật giáo Tây
Tạng thời đó. Ông sanh ra trong một gia đình theo truyền thống
Bon-Po, và sau khi thọ giới ông theo học và nhận lễ quán
đảnh với nhiều vị thầy từ nhiều truyền thống khác nhau.
Chính mắt ông đã chứng kiến những hiệu quả tiêu cực
của chủ nghĩa môn phái đang thịnh hành đương thời và ông
đã tìm cách chống lại chủ nghĩa này bằng cách nhấn mạnh
đến sự hòa hợp giữa các truyền thống khác nhau. Ông viết
một số tác phẩm quan trọng, trong đó có quyển “Bách Khoa
của Tất Cả Tri Thức” và một sư tập tuyển chọn về
kinh văn Mật chú có chủ đề “Kho Tàng Mật Chú.”
Jamyang
Khyentse Chogi Lodro (1896-1969): One of the leading masters of the Ris
Med (Rime) movement in Eastern Tibet, recognized as the activity reincarnation
of “Jam cbyangs mkhyen brtse dbang po” (Jamyang Khyentse Wangpo 1820-1892).
Many of the leading Tibetan lamas of the twentieth century were his
students, including Dingo Khyentse Rinpoche, Kalu Rinpoche, and Sogal Rinpoche—Một
trong những vị thầy hàng đầu của phong trào Rime của miền
Đông Tây Tạng, công nhận sự tái sanh của Jamyang Khyentse
Wangpo. Nhiều vị Lạt Ma hàng đầu của Tây Tạng vào thế
kỷ 20 là học trò của ngài, trong đó có các vị Dingo Khyentse
Rinpoche, Kalu Rinpoche, và Sogal Rinpoche.
Janaka-karma
(skt): Productive karma—Regenerative karma—Nghiệp Tái Tạo—Sinh
nghiệp—See Productive karma.
Jana-kaya
(skt): Cộng đồng—Community—Assemblage—Multitude—Collection.
Janapada
(skt): Địa—Xứ—Cộng đồng—Nation—Inhabited place—Community.
Jangya
Hutukhtu: The major reincarnation lama (Sprul Sku) of Inner Mongolia. The
first was Ngawang Losang Choden (1642-1714). His recognized reincarnation,
Rolbe Dorje (1717-1786), studied in Tibet and became one of the most influential
Gelukpa scholars of the time—Vị Lạt Ma tái sanh chính của Nội
Mông. Vị đầu tiên là Ngawang Losang Choden. Vị tái sanh được
thừa nhận của ngài là Rolbe Dorje, tu học ở Tây Tạng và
trở thành một trong những học giả có ảnh hưởng nhất
đương thời của trường phái Gelukpa.
Janmahetu
(skt): Sinh Nhân—Nguyên nhân của sự sinh—Birth-cause.
Janma-marana
(skt): Samsara (skt)—Rebirth and redeath—Sanh Tử—Life and death—Living
and dying—Birth and death—Sống chết (do hoặc nghiệp của hết
thảy chúng sanh gây ra, hễ có sanh là có tử).
Jantu
(skt): Thiện Đo—Thiền Đầu—Thiền Đậu—Thiền Đâu—Chúng
sanh—All living beings—Human beings—Chúng sanh.
Japanese
Buddhism: Phật Giáo Nhật Bản—When Buddhism first entered Japan
in the sixth century, it was a foreign religion that differed significantly
from the unorganized indigenous cults and practices that would later develop
into Shinto. In the succeeding centuries, however, it gradually adapted
to its new environment, and distinctively Japanese forms of Buddhism arose,
which combined elements of Japanese culture with Buddhist traditions that
were imported largely from China and Korea. According to the Nihomshoki
Buddhism was first imported to Japan in 552 from Paekche, a Korean kingdom
that was at war with the neighboring state of Silla. The king of Paekche
sent Buddhist statues and texts as gifts to enlist (nhận được) the
military support of Japan, but did not send anyone who could explain
their significance. Thus although this is traditionally viewed as the first
introduction of Buddhism to Japan, it had little impact at the time. The
first recorded adoption of Buddhism in Japan was initiated by the Soga
clan, which viewed the Buddha as a god of powerful culture of China. Some
Sogas wanted to adopt Buddhism as a clan cult in hopes of gaining access
to the magical powers that were widely thought to belong to Buddhist monks
and artefacts. When the Sogas later managed to defeat their main rivals,
they apparently credited the Buddha with playing a role in their success
and began to propagate Buddhism. It is clear from records of the time,
however, that they had little or no knowledge of Buddhist philosophy and
practice and conceived of it in terms of indigenous religious paradigms.
During the seventh century Buddhism began to attract converts, and by 624
there were reportedly 816 monks and 569 nuns in Japan. In this early period,
Buddhism was mainly viewed as a means to cure illness and harness (yên
cương) magical power. Ordinations were thought to generate merit, and
this was believed to result in worldly benefits, such as health, protection
of the country, etc. As was true of other countries in which Buddhism became
established, state patronage played a crucial role in propagating the new
religion. The first Japanese ruler to accept Buddhism was Yomei (585-598).
His son Shotoku (574-622) was by all accounts an enthusiastic supporter
of Buddhism, who wrote a constitution based on Buddhist and Confucian principles
and built numerous temples. He also sponsored monks and nuns to travel
to China for study, and he conceived of Buddhism as a national religion
(before this it had mainly been a clan cult). After Shotoku’s death,
the imperial capital moved to Nara, and several emperors increased royal
patronage of Buddhism. In 741 the emperor Shomu (724-749) issued a decree
mandating that a network of temples be built to protect the country, and
in each province at least one was constructed to house twenty or
more monks. One of their primary duties was chanting the Sutra of Golden
Light, which promises that the four celestial kings will protect any ruler
who sponsors chanting of the text. During the Nara period (710-784), interest
in Buddhism increased among the intelligentsia (giới trí thức), and
six schools developed, all of which were imported from China: 1) Ritsu
(Vinaya); 2) Kegon (Hua-Yen); Kusha (Câu Xá); Hosso (Pháp Tướng);
Jojitsu (Satyasiddhi—Thành Thật); Sanron (San-Lun). Three of these
still exist today: Hosso, which has its headquarters at Kofukuji and Yakushiji;
Ritsu, whose main temples is Toshodaiji; and Kegon, which is based at Todaiji.
The three are mainly confined to these temples, however, and are only minor
traditions with little lay support. During the Nara period, interest in
Buddhism was mainly confined to the aristocracy (giới quý tộc), but
there were some Buddhists who began to proselytize (thay đổi ý kiến
về tôn giáo) among the masses. Among these were the Hijiri, monks who
were often self-ordained and who generally kept apart from the major orders.
The most famous of these was Giogi (668-749), who had a background in civil
enginerring that he put to use in projects for rural peasants. The establishment
of new capital in Heiankyo (modern day Kyoto) in 794 marked the beginning
of the Heian period (794-1185), during which many Buddhist orders became
large landholders, which often allied themselves with local hegemons (những
người lãnh đạo—hegemony). During this period, some new schools
were imported from China, most notably Shingon, founded by Kukai (774-835),
and Tendai, founded by Saicho (767-822). One of the most significant developments
of this time was a move toward syncretism. Buddhist traditions borrowed
rituals and practices from each other, and Buddhism as a whole increasingly
incorporated native Shinto deities and practices. During this period electic
temples called Jinguji were constructed, in which Buddhist rituals were
performed in what were otherwise Shinto shrines. At the same time, Buddhists
increasingly identified figures in Buddhist pantheon (buddhas and bodhisattvas)
with the deities in the Shinto. The late Heian period, a sense of
pessimism increased, probably due in part to the increasingly unstable
political situation. This continued into the Kamakura period (1185-1333),
during which military leaders seized power from the aristocracy and developed
a feudal system that lasted until 1868. During this time it was widely
believed that the world had entered the “age of final dharma” that
was foretold in some Indian Buddhist texts. According to this idea, the
time of Sakyamuni Buddha was the “true dharma age,” during which people
had superior capacities, enabling them to practice effectively and attain
liberation. During the next period, the “counterfeit dharma age,” practice
would decline, during the age of final dharma, there would be continued
degenration until Buddhism disappeared altogether. Estimates regarding
the timing of the three periods varied widely, but during the Kamakuta
period it was generally accepted that the third age had begun, and the
schools that arose in Japan at that time developed strategies for coping
with decline. Despite the political uncertainty, however, this was generally
a time of growth for Buddhism, and three new schools appeared: Zen, Jodo
Shu (Pure Land), and Nichiren Shu. Zen was first brought to Japan by Eisai
Zenji (1141-1215), who traveled to China in 1168 and 1187 and subsequently
introduced the Rinzai lineage. The Soto (T’sao-Tung) tradition was first
propagated in Japan by Dogen Zenji (1200-1253), who traveled to China in
1223. Zen’s general response to the final dharma age was to emphasize
the importance of intensive meditative practice, which was believed to
be the only way to overcome the negative influences of the age. By contrast,
both Jodo Shu and Nichiren Shu contended (tranh luận) that the beings
of the ending dharma age are too depraved (suy đồi) and weak-willed
to have any hope of securing salvation through their own efforts, and so
they should rely on others to save them. For Jodo Shu, this involves placing
one’s faith in Amida Buddha, while Nichiren taught his followers to rely
solely on the Lotus Sutra. The Kamakura period is often viewed as the apogee
(điểm cao tuyệt) of the development of Buddhism in Japan, since by
its end all of the major classical Buddhist traditions had been established.
The Tokugawa (1600-1867) was a time of unprecedented power for Buddhism
in Japan, but its success at the political level led to stagnation and
apathy (hững hờ). When the warlord Tokugawa leyasu (1542-1616) seized
power in 1600, he initiated a violent persecution of Chritianity, which
had made significant numbers of converts in Japan. He issued an edict requiring
all Japanese to become officially affiliated with a Buddhist temple, and
people were issued certificates to this effect. Buddhist temples became
part of the government bureacracy and were required to keep records of
births and deaths and also to aid the government’s efforts to eradicate
Christianity . This system called “danka-seido”, was abolished in the
Meiji period (1868-1912), during which Shinto became the state religion,
but the bonds forged by the old system continue to maintain a sense of
connection between many Japanese and their family temples. During the Tokugawa
period, the number of Buddhist temples increased, as did the revenues from
parishioners (giáo khu) who were eager to avoid being suspected of harboring
Christian sympathies. But this very success led to a situation in which
the priesthood became lazy and corrupt, since there was no need for them
to actively work to interest people in Buddhism. The Meiji restoration
revived the old imperial cult, which identified the emperor as living “kami,”
and a nationalistic form of Shinto became the state ideology. At the same
time, Buddhism was suppressed, and because its public support had eroded
(xoi mòn) due to its ossification (hóa thành xương) and corruption,
and this decline persisted (khăng khăng vẫn vậy) through World War
II. Since the post-war Restoration period, Japan has made freedom of regilion
a part of the legal system, but the traditional schools of Buddhism have
generated little enthusiasm among the masses of Japanese. For most Japanese
today, institutional Buddhism is primarily associated with performance
of rituals for the dead, and many Japanese only come into contact with
Buddhism when someone in the family dies and they go to the ancestral temple
for the mortuary rites. A nationwide survey conducted by the Soto school
found that even among Japanese who identify themselves as Buddhists, only
ten percent could even name their sect’s main temple or founder. Government
surveys consistently reveal that only about thirty percent of the population
embraces any religious belief, while sixty-five percent are indifferent
to religion. What vitality there is in Japanese religions is mainly found
in the so-called “New Religions” (Shin-Shukyo), such as Agonshu and
Soka Gakkai, which generally have charismatic founders and make a direct
emotional appeal to their followers. Aside from the fervor of the “New
Religions,” however, there is little interest in religion among most
Japanese—Khi Phật giáo được truyền sang Nhật Bản lần đầu
tiên vào thế kỷ thứ 6, nó là một tôn giáo ngoại lai khác
biệt đáng kể với những giáo phái bản địa không có tổ
chức hẳn hòi và giáo thuyết về sau này phát triển thành
ra Thần Đạo. Tuy nhiên trong những thế kỷ sau đó Phật giáo
tự thích hợp với hoàn cảnh mới, và những hình thức đặc
thù của Phật giáo Nhật Bản khởi lên, pha trộn những yếu
tố văn hóa Nhật Bản với những truyền thống Phật giáo
được du nhập phần lớn từ Trung Hoa và Đại Hàn. Theo Nihomshoki,
Phật giáo được du nhập vào Nhật Bản lần đầu tiên vào
năm 522 từ Paekche, một vương quốc của xứ Triều Tiên thời
đó đang có chiến tranh với vương quốc lân bang là Sila. Vị
vua của Paekche đã gửi tượng Phật và kinh điển cho quân
đội đang yểm trợ Nhật Bản, nhưng không gửi người nào
có thể giải thích về ý nghĩa của nó. Vì vậy mặc dầu
về phương diện truyền thống mà nói thì Phật giáo đã được
giới thiệu vào Nhật Bản vào thời đó nhưng có rất ít
ảnh hưởng. Lần đầu tiên có tài liệu về Phật giáo tại
Nhật Bản bắt đầu từ thời bộ tộc Soga, thời ấy bộ
tộc này xem Đức Phật như một vị thần của sức mạnh
văn hóa của Trung Hoa. Vài người Soga muốn thừa nhận Phật
giáo vào bộ tộc như là một giáo phái có thể có được
thần thông mà rộng rãi quần chúng thời đó nghĩ là thuộc
vào các nhà sư Phật giáo. Sau này khi bộ tộc Soga đánh bại
đối thủ chính của mình, rõ ràng họ cho rằng Đức Phật
đã đóng một vai trò trong sự thành công của họ và bắt
đầu phổ biến Phật giáo. Tuy nhiên, rõ ràng theo tài liệu
thời đó, bộ tộc Soga có rất ít hoặc không có bất cứ
sự hiểu biết gì về triết lý và tu tập của đạo Phật
và chỉ nhận biết đạo Phật như những giáo thuyết của
tôn giáo bản địa. Trong suốt thế kỷ thứ 7 Phật giáo thu
hút nhiều người chuyển đạo, và vào khoảng năm 624 được
báo cáo là có 816 vị Tăng và 569 Ni tại Nhật. Trong giai đoạn
sơ khai này, Phật giáo chỉ chủ yếu được xem như là
phương tiện để chữa trị bệnh hoạn và những thần lực
an toàn yên cương cho quân đội. Lễ quy-y hay quán đảnh được
xem như là lễ khởi phát phước đức, và được tin là sẽ
đưa đến những lợi lạc thế gian, như sức khỏe, bảo vệ
đất nước, vân vân. Cũng đúng như tại các xứ khác nơi
mà đạo Phật được thiết lập, nhà nước bảo trợ đóng
một vai trò quan yếu trong việc hoằng trì giáo thuyết. Người
trị đầu tiên của Nhật Bản chấp nhận Phật giáo là Yomei.
Con trai của ông là Shotoku theo kể lại cũng là một nhà bảo
trợ Phật giáo một cách nhiệt thành, vị vua này đã viết
bản hiến pháp dựa theo những nguyên tắc của Phật giáo
và Khổng giáo, và ông cũng xây rất nhiều chùa viện. Ông
cũng bảo trợ chư Tăng Ni du hành sang Trung Quốc để tu học,
và công nhận Phật giáo là quốc giáo (trước đây thì Phật
giáo chỉ được chủ yếu xem như là tôn giáo của bộ tộc).
Sau khi vua Shotoku qua đời, kinh đô dời về Nại Lương, và
nhiều vị vua kế tục đã gia tăng sự bảo trợ cho Phật
giáo. Năm 741 vua Shomu ban hành một đạo dụ bắt buộc vô
hệ thống tất cả những chùa chiền được xây dựng để
bảo vệ đất nước, và mỗi tỉnh phải xây dựng một Tăng
đường có thể cho 20 vị Tăng trú ngụ. Một trong những nhiệm
vụ chính của các vị Tăng này là trì tụng Kinh Ánh Đạo
Vàng, vì kinh này hứa rằng 4 vị Thiên vương sẽ bảo vệ
những người cai trị nào bảo trợ cho việc trì tụng này.
Trong thời Nại Lương, sự quan tâm (hứng thú) về Phật giáo
gia tăng trong giới trí thức, và có sáu trường phái được
thành lập, tất cả đều được du nhập từ bên Trung Quốc:
1) Luật tông (Ritsu—Vinaya); 2) Hoa Nghiêm (Kegon—Hua-Yen); 3)
Câu Xá (Kusha); 4) Pháp Tướng (Hosso); 5) Thành Thật (Jojitsu—Satyasiddhi);
6) Tam Luận tông (Sanron—San-Lun). Ba trong số 6 tông phái
này vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay: Pháp Tướng tông,
trụ sở chính đặt tại Kofukuji và Yakushiji; Luật tông, tự
viện chính tại Toshodaiji; và Hoa Nghiêm, đặt trụ sở tại
Todaiji. Ba tông phái này chủ yếu co cụm tại những ngôi chùa
vừa kể, tuy nhiên, ngày nay những tông phái này chỉ là những
tông phái nhỏ có rất ít sự bảo trợ của Phật tử tại
gia. Trong suốt thời kỳ Nại Lương, sự quan tâm đến Phật
giáo chủ yếu là trong giới quý tộc, nhưng có vài Phật tử
bắt đầu làm thay đổi ý kiến về tôn giáo trong quần chúng.
Trong số các vị này có nhóm Hijiri, những Tăng sĩ thường
tự làm mình lễ quy-y và thường sống cách biệt với các
Tăng đoàn chính. Người nổi tiếng nhất là sư Giogi, người
đã từng là kỹ sư công chánh đã áp dụng những kế hoạch
xây dựng vào các vùng quê cho nông dân. Sự thiết lập
kinh đô mới ở Heiankyo, bây giờ là Kyoto vào năm 794 đánh
dấu sự bắt đầu của giai đoạn Heian, trong giai đoạn này,
nhiều giáo hội Phật giáo trở thành những nhà chủ đất
lớn, thường tự liên kết với những nhà lãnh đạo địa
phương. Cũng trong giai đoạn này nhiều trường phái mới được
du nhập từ Trung Quốc, nổi tiếng nhất là trường phái Chạn
Ngôn, được Kukai sáng lập, và trường phái Thiên Thai được
ngài Saicho sáng lập. Một trong những sự phát triển có ý
nghĩa nhất vào thời này là sự tiến đến Syncretism. Những
truyền thống Phật giáo thường vai mượn nghi lễ và thực
tập lẫn nhau, và toàn diện Phật giáo phối hợp với giáo
thuyết và sự tu tập của Thần đạo. Trong thời gian này
những chùa được tuyển chọn gọi là Jinguji được xây dựng,
trong đó nghi thức Phật giáo được cử hành ở những nơi
khác như những cung lăng của Thần giáo. Đồng thời Phật
tử cũng gia tăng việc làm giống những hình tượng trong Phật
giáo như tượng của chư Phật và chư Bồ Tát với những
vị thần trong Thần đạo. Vào cuối thời Heian khuynh hướng
bi quan gia tăng vì hoàn cảnh bất ổn chính trị. Khuynh hướng
này tiếp diễn cho đến thời kỳ Kamakura, vào thời đó thì
phe quân nhân đã tóm gọn quyền lực từ trong tay giới quý
tộc và bắt đầu phát triển hệ thống phong kiến tồn tại
cho mãi đến năm 1868. Trong thời kỳ này người ta tin tưởng
một cách rộng rãi rằng đây là thời “Mạt Pháp” mà vài
kinh điển Ấn Độ đã tiên đoán trước đây. Theo ý nghĩa
này, thì thời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là thời “Chánh
Pháp,” vào thời đó con người có khả năng siêu việt, có
thể tu tập một cách có hiệu quả để đạt được giải
thoát. Trong giai đoạn kế tiếp, giai đoạn “Tượng Pháp,”
sự tu tập giảm dần, và trong thời kỳ chót là thời Mạt
Pháp, Phật giáo vẫn tiếp tục suy đồi cho đến khi hoàn
toàn biến mất. Ước lượng về thời gian cho cả ba thời
kỳ thay đổi một cách rộng rãi, nhưng dưới thời Kamakuta
người ta công nhận rằng thời Mạt Pháp đã bắt đầu, và
các trường phái khởi lên ở Nhật Bản vào thời đó khai
triển những phương pháp nhằm thích ứng với sự suy đồi
này. Mặc dù chánh trị bất ổn, tuy nhiên đây là thời kỳ
mà Phật giáo lớn mạnh ở Nhật, và 3 trường phái mới xuất
hiện: Thiền, Tịnh Độ, và Nhật Liên tông. Thiền được
đưa vào Nhật Bản lần đầu tiên bởi thầy Eisai, người
đã du hành sang Trung Quốc vào năm 1168 và năm 1187 giới thiệu
dòng truyền thừa của tông Lâm Tế. Tông Tào Động được
truyền bá lần đầu tiên bởi thiền sư Đạo Nguyên, người
cũng đã từng du hành sang Trung Quốc vào năm 1223. Câu trả
lời chung của Thiền cho thời Mạt Pháp là nhấn mạnh đến
sự quan trọng của việc tu tập thiền một cách mạnh mẽ,
mà người ta tin rằng đây là cách duy nhất khả dĩ giúp vượt
qua những ảnh hưởng tiêu cực của thời Mạt Pháp.
Trái lại, tông Tịnh Độ và Nhật Liên tông tranh luận rằng
chúng sanh trong thời Mạt Pháp quá suy đồi và yếu đuối
nên không có chút hy vọng nào có thể tự cứu mình qua nỗ
lực tu tập của chính mình, và ví thế mà họ nên nương
vào người khác để được cứu độ. Đối với Tịnh Độ,
việc này liên hệ đến tín ngưỡng A Di Đà Phật, trong khi
Nhật Liên dạy đệ tử nên chỉ về nương với Kinh Liên
Hoa. Thời kỳ Kamakuta thường được xem như là cao điểm của
sự phát triển Phật giáo tại Nhật Bản, vì khi nó chấm
dứt thì tất cả mọi truyền thống cổ điển Phật giáo
đã được thiết lập. Thời kỳ Tokugawa là một thời kỳ
không lường trước được sức mạnh của Phật giáo tại
Nhật, nhưng những thành công của nó về mặt chính trị đã
dẫn đến sự trì trệ và hững hờ đối với Phật giáo.
Khi Sứ quân Tokugawa Leyasu nắm quyền vào năm 1.600 thì ông
bắt đầu sự ngược đãi bằng bạo lực đối với Cơ Đốc
giáo, làm gia tăng con số đáng kể về những người cải
đạo sang Phật giáo tại Nhật thời đó. Ông ban hành một
đạo dụ bắt buộc tất cả mọi người Nhật đều phải
chính thức là hội viện thuộc về một ngôi chùa nào đó,
và người ta được cấp giấy chứng nhận cho việc này một
cách hẳn hòi. Các tự viện Phật giáo trở thành những văn
phòng của chánh phủ và bắt buộc phải lưu trữ hồ sơ chứng
nhận khai sanh, khai tử và cũng trợ giúp chánh phủ trong nỗ
lực xóa bỏ Cơ Đốc giáo. Hệ thống này được gọi là
“danka-seido,” bị bãi bỏ vào thời Minh Trị, vì dưới thời
Minh Trị Thần Đạo được xem là quốc giáo, nhưng những
nối kết đã có từ trước vẫn được tiếp tục nhằm duy
trì sự liên kết giữa nhiều người Nhật và các chùa gia
đình của họ. Trong thời Tokugawa, số chùa chiền Phật giáo
cũng như lợi tức của các giáo khu ấy gia tăng, những giáo
khu này luôn hăng hái tránh những nghi ngờ về việc chứa
chấp những người có cảm tình với Cơ Đốc giáo. Nhưng
ngay sự thành công này đã đưa đến việc lười biếng và
tham nhũng của chư Tăng Ni trong các tự viện vì họ đâu cần
chi hoạt động để khích lệ tín đồ Phật giáo. Minh Trị
phục hưng làm sống lại các giáo phái hoàng gia, cho rằng
vua là Thiên tử và hình thức Thần đạo của quốc gia trở
nên ý thức hệ của cả nước. Đồng thời Phật giáo cũng
bị đàn áp vì sự ủng hộ của dân chúng đã bị xói mòn
vì sự cứng nhắc và thối nát của nó, và sự suy tàn này
vẫn tiếp diễn cho đến hết thời đệ nhị thế chiến.
Từ thời tái thiết hậu chiến, nước Nhật đã tuyên bố
tự do tôn giáo là một phần của hệ thống pháp lý, nhưng
các trường phái truyền thống Phật giáo đã phát khởi rất
ít sự nhiệt thành trong quần chúng Nhật. Vì đối với hầu
hết người Nhật ngày nay, Phật giáo chủ yếu chỉ liên hệ
tới việc cử hành nghi lễ cho người chết, và nhiều người
Nhật chỉ tiếp xúc với đạo Phật khi trong gia đình có người
chết và họ chỉ đi tới chùa của tổ tiên chỉ để cử
hành tang lễ mà thôi. Tông Tào Động đã làm một cuộc thăm
dò trên toàn quốc và kết quả cho thấy chỉ có khoảng 10
phần trăm số người tự cho mình là Phật tử biết được
tên của tông phái và ngôi chủa Tổ mà mình theo. Những thăm
dò của chính phủ cho thấy chỉ có 30 phần trăm dân số còn
ấp ủ niềm tin tôn giáo, trong khi 60 phần trăm hờ hững với
tôn giáo. Cái thiết yếu là những tôn giáo Nhật Bản chủ
yếu được sáng lập trong cái gọi là “Tôn Giáo Mới,”
như các tôn giáo Agonshu và Soka Gakkai, thường có những vị
sáng lập hào phóng gây thiện cảm trực tiếp với các đồ
đệ của mình. Tuy nhiên, bên cạnh côn sốt “Tôn Giáo Mới,”
có rất ít sự quan tâm về tôn giáo của người Nhật.
Japanese
Buddhist sects: Tông phái Nhật Bản—See Buddhist sects in Japan.
Japanese
Kosa School: Câu Xá Tông Nhật Bản—According to Prof. Junjiro Takakusu
in the Essentials of Buddhist Philosophy, The Kosa School, or the Kusha
School as it is called in Japan, is generally understood to have been brought
into Japan in 658 A.D. by Chitsu and Chitatsu, two Japanese monks who studied
some time under the famous Hsuan-Tsang. It was brought in once again by
Gembo (in 735 A.D.) who was a pupil of Chih-Chou, the third generation
pupil of Kuy-Ji, a direct disciple of Hsuan-Tsang. In an official document
of 793 A.D. the realistic Kusha School was registered as a sect appended
to the idealistic Dharmalaksana (Hosso) School, no separate position being
given to it, because it had no adherents belonging exclusively to it. Japanese
Kosa School has three branches—Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong
Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, ở Nhật tông phái nầy
được gọi là Kusha, thường được coi như là do Trí Thông
và Trí Đạt truyền vào Nhật Bản vào năm 658; đó là hai
nhà sư Nhật theo học với Huyền Trang một thời gian.
Về sau nầy tông phái nầy lại được truyền vào Nhật lần
nữa với Huyền Phương (735 sau Tây Lịch), đồ đệ của Trí
Châu; Trí Châu lại là đồ đệ của đời thứ ba của Khuy
Cơ và Khuy Cơ vốn là đồ đệ trực tiếp của Huyền Trang.
Trong một tài liệu chánh thức năm 793, phái Câu Xá Duy Thực
được ghi chép như là một tông phái phụ thuộc tông Pháp
Tướng Duy Thức, không có vị trí riêng nào dành cho nó, bởi
vì không có những đồ đệ chuyên nhứt với nó. Câu Xá Tông
Nhật Bản có ba trường phái:
1)
The Realistic School or Sarvastivadins: Học phái Duy Thực hay Nhất
Thiết Hữu Bộ—This school considered Katyayaniputra’s The Source
of Knowledge (Jnana-prasthana) and the Six Padas as its main texts—Học
phái nầy lấy hai tác phẩm Bát Kiền Độ Luận hay Phát Trí
Luận của Ca Đa Diễn Ni Tử và Lục Túc Luận làm văn bản
chính yếu.
a)
Gandhara-Abhidharmikas: Tỳ Đàm tông Kiện Đà La.
b)
Kashmir-Abhidharmikas: Tỳ Đàm Tông Kashmir.
2)
Vaibhasikas: Học phái Cổ Tỳ Bà Sa—This school considered Puarsva’s
Mahavibhasa as its main text—Học phái nầy lấy tác phẩm Đại
Tỳ Bà Sa làm văn bản chính yếu.
3)
Neo-Vaibhasikas: Học phái Tân Phân Biệt Thuyết.
a)
Vasubandhu (420-500 A.D.). This school considered these two texts as its
basic texts: Verses (Abhidharma-kosa-karika) and Commentary (Abhidharma-kosa-sastra)—Thế
Thân (420-500 sau Tây Lịch). Học phái nầy lấy hai tác phẩm
Luận Tụng và Luận Thích làm căn bản.
b)
Samghabhadra: Chúng Hiền—This school considered Nyayanusara and Samaya-pradipika
as its main texts—Học phái nầy lấy hai tác phẩm Chính Lý
Luận và Hiển Tông Luận làm văn bản chính yếu.
Japanese
Zen Sects: Thiền Phái Nhật Bản.
(I)
An overview of the Japanese Zen Sect—Tổng quan về Thiền phái Nhật
Bản: Of the many different forms of Buddhism practiced in Japan, Zen
seems to be the most familiar to a Western people, even though it accounts
for fewer than ten percent of contemporary Japanese Buddhists. Perhaps
it is the “artistic” side of Zen that has appealed to Western sensibilities,
or perhaps it is its apparent directness and humor that have enchanted
a culture weary of religious complexity. Part of the West’s fascination
with Zen lies in the manner in which it was presented as an intelligible
and communicable way to talk about supreme enlightenment, a way that has
a sense of beauty and nonsense, at once exasperating and delightful, as
Alan Watts (1915-1973), an important Western commentator, has explained.
There is no doubt that Zen has had a great influence on Japanese culture:
its ethics and technique were adopted by Samurai warriors and by practitioners
of the martial arts, its simplicity inspired Haiku poetry, its appeal to
nature and beauty inspired architecture and drawing, its serenity found
expression in the tea ceremony and its spirit is preserved also in the
Noh theater. However, there is more to Zen than this, and more to Buddhism
in Japan than Zen. Introduced to Japan in the 6th century A.D. by the Koreans,
Buddhism was welcomed by the Japanese ruling class as a means of stabilizing
and civilizing the country that was torn by strife and feud. For the next
five centuries, it was predominantly the preserve of the aristocracy and
enjoyed increasing royal patronage, notably during the Nara period (710-840),
when the emperor Shomu built national temples throughout the country. The
dominant Buddhist sects during this time, which included Tendai, were all
forms of Chinese Mahayana, based on Indian traditions. On the other hand,
Zen which entered Japan from China in the 12th century, is characteristically
Japanese in its evolved form. Unlike other prominent schools of Japanese
Buddhism, Zen is a monastic tradition: it extols neither sutras nor devotion
but emphasizes meditational and ethical discipline. The name Zen is derived
from the Chinese word “Ch’an,” which in turn is derived from the
Sanskrit “Dhyana” (in Pali, Jhana), meaning meditational absorption
. Zen traces its origins to the monk Bodhidharma (in Japanese, Daruma),
who later carried the tradition to China. Bright red Bodhidharma dolls
are sold in Japan every new year, but having no legs because, according
to legend, Bodhidharma sat so long in meditation that his leg fell off.
It is also said that Bodhidharma cut off his own eyelashes as a penalty
for falling asleep while meditating, and that tea plants later grew from
these clippings. There are two distinct schools of Zen in Japan, both of
which originated from the teaching of monks whose lineages have been traced
to Bodhidharma and, ultimately, to the Buddha himself. Rinzai Zen, founded
by Eisai (1141-1215) at the end of the 12th century, is best known for
its use of the koan (see Koan). The second form of Zen, Soto Zen, was founded
by the great master Dogen (1200-1253). Advocating a simple life for both
monks and laity. Dogen taught a form of meditation called “Zazen” (sitting
meditation), through which enlightenment could be attained gradually, instead
of in an instant, as taught by the Rinzai school. Dogen is one of the most
prominent religious figures in Japanese history. His philosophical writings
are fundamental to Zen thought, and the monastery he founded, Eihei-ji,
is an important Zen center to this day. Soto Zen shows reverence for sutras
and for the exemplary life of the historical Buddha, Siddhartha Gautama.
Stressing discipline, self-control and meditative practices. Soto Zen is
perhaps the more “philosophical” and artistic of the two Zen schools—Trong
nhiều hình thức tu tập khác nhau của Phật giáo Nhật Bản,
dường như Thiền quen thuộc với hầu hết dân chúng phương
Tây, dù tính ra nó chỉ chiếm ít hơn một phần mười Phật
tử Nhật Bản đượng thời. Có lẽ chính phương diện nghệ
thuật của Thiền đã thu hút những cảm xúc của người Tây
phương, hoặc có lẽ tính trực tiếp rõ ràng và hài hước
mà Thiền đã làm say mê một nền văn hóa mệt mỏi và sự
phức tạp của tín ngưỡng. Một phần sự thu hút người
Tây phương của Thiền nằm trong thể cách mà trong đó Thiền
được biểu lộ như một phương tiện dễ hiểu và dễ truyền
đạt nói về sự giác ngộ tối thượng, một phương tiện
có ý nghĩa của vẻ đẹp và vô nghĩa, cùng lúc cảm thấy
vừa khó chịu lẫn thích thú, như Alan Watts, một luận gia
nổi tiếng Tây phương đã giải thích. Không còn nghi ngờ
gì nữa, chính Thiền đã có một ảnh hưởng lớn lao trong
nền văn hóa Nhật Bản: nền đạo đức và kỹ thuật của
nó đã được các võ sĩ đạo và những người luyện tập
võ thuật chấp nhận, sự giản dị của nó đã truyền cảm
hứng cho nền thi ca Haiku, sự quyến rũ của nó với thiên
nhiên và cái đẹp gây ra cảm hứng cho kiến trúc hội
họa, sự thanh thản trầm lặng của nó được biểu lộ trong
nghi lễ trà đạo và cái tinh thần của nó cũng được tồn
tại trong nghệ thuật ca múa Noh. Mặc dù sự kiện này không
có gì hơn đối với tinh thần của Thiền, và đối với Phật
giáo Nhật Bản nhiều hơn Thiền. Phật giáo được người
Triều Tiên truyền bá vào Nhật Bản vào thế kỷ thứ 6 sau
Tây lịch và được giai cấp thống trị Nhật Bản hoan nghênh
đón chào như một phương tiện làm ổn định và khai hóa
xứ sở đã bị xâu xé bởi sự xung đột và hận thù truyền
kiếp. Trong 5 thế kỷ tiếp theo sau đó, nó được tầng lớp
quý tộc nâng cao và được hoàng gia bảo trợ, đáng kể nhất
là trong suốt thời đại Nại Lương (710-784) khi hoàng đế
Shomu xây dựng các quốc tự khắp xứ. Các tông phái vượt
trội thời bấy giờ, trong đó có tông Thiên Thai, tất cả
đều mang hình thức Đại Thừa Trung Hoa, dựa trên các truyền
thống Ấn Độ. Ngược lại, Thiền tông từ Trung Hoa du nhập
vào Nhật Bản từ thế kỷ thứ 12 được phát triển theo
phong cách đặc biệt của Nhật Bản, không giống như những
tông phái Nhật Bản nổi bậc khác, Thiền là một truyền
thống tu viện, nó không đề cao kinh điển cũng như lòng mộ
đạo, nhưng đặt nặng sự tu tập Thiền định và rèn luyện
đạo đức. Danh từ Thiền xuất phát từ thuật ngữ Trung
quốc “Ch’an,” từ này lại xuất phát từ tiếng Bắc Phạn
“Dhyana” hay tiếng Nam Phạn “Jhana,” đều có nghĩa là
“an định.” Thiền tông có nguồn gốc từ Tổ Bồ Đề
Đạt Ma, người đã mang Thiền vào Trung Quốc. Ở Nhật Bản
vào dịp đầu năm mới người ta bán những con búp bê “Bồ
Đề Đạt Ma” màu đỏ chói rực rỡ, nhưng không có chân
vì theo truyền thuyết thì Tổ ngồi diện bích trong một thời
gian dài đến nỗi đôi chân của ngài bị thoái hóa. Người
ta cũng nói rằng Bồ Đề Đạt Ma cắt hết lông mi như là
một hình phạt cho sự buồn ngủ trong lúc hành thiền, và
sau đó những cây trà mọc lên từ những phần cắt này. Có
hai tông phái Thiền đặc biệt ở Nhật, cả hai đều bắt
nguồn từ giáo thuyết của các vị sư có dòng truyền thừa
từ Tổ Bồ Đề Đạt Ma và tối hậu là Đức Phật. Thiền
Lâm Tế được ngài Eisai sáng lập vào thế kỷ thứ 12, nổi
tiếng cho việc dùng công án. Tông phái Thiền thứ 2 là tông
Tào Động, được Đạo Nguyên, một vị thầy vĩ đại, sáng
lập, chủ trương một cuộc sống giản dị cho người xuất
gia lẫn tại gia. Ngài Đạo Nguyên giảng dạy một phương
pháp thiền gọi là “Tọa Thiền,” qua phương pháp này, người
ta có thể dần dần đi đến sự giác ngộ, thay vì giác ngộ
tức thì như sự giảng dạy của tông Lâm Tế. Đạo Nguyên
là một trong những nhân vật tôn giáo nổi bậc trong lịch
sử Nhật Bản. Những tác phẩm triết học của ông là nền
tảng cho tư tưởng Thiền, và tu viện do ông sáng lập, Eihei-ji,
là trung tâm Thiền quan trọng cho đến ngày nay. Tông Tào Động
tỏ ra kính trọng kinh điển và cuộc đời gương mẫu của
Đức Phật lịch sử, Thích ca Mâu Ni. Nhấn mạnh đến hình
thức trì giới, tự chế và các phương pháp tu tập thiền
định. Trong hai tông Lâm Tế và Tào Động, có lẽ tông Tào
Động là tông phái Thiền mang tính triết học và nghệ thuật
hơn.
(II)
The history of the development of Japanese Zen sects—Lịch sử phát
triển Thiền phái Nhật Bản: According to Prof. Junjiro Takakusu
in The Essentials of Buddhist Philosophy, Zen was introduced to Japan several
times—Theo Giáo sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học
Phật Giáo, Thiền du nhập vào Nhật Bản bằng nhiều đợt:
1)
Hsuan-Tsang’s pupil, Dosho, who went to China in 654 A.D., introduced
and taught Zen for the first time in the Zen Hall of Gangôji, Nara: Đệ
tử của Huyền Trang là Đạo Chiêu (Doshô 629-700), đến Trung
Quốc vào năm 654, lần đầu tiên mang Thiền về truyền bá
tại Thiền đường Gangôji ở Nara.
2)
Next, Tao-Hsuan, a Chinese Vinaya (discipline) master, came to Nara in
710 A.D. and taught the Zen of the Northern School. He transmitted it to
Giôhyô in 733 A.D., who in turn taught it to Saicho (Dengyô Daishi):
Kế đến là Đạo Tuấn (Dosen), một vị luật sư Trung Hoa,
đến Nara năm 710 và truyền Bắc Tông. Ngài truyền pháp cho
Hành Biểu (Giôhyô) năm 733 và Hành Biểu truyền cho Tối Trừng.
3)
A special Zen instructor of the Southern School, Giku, a pupil of Ch’i-An,
came to Kyoto and taught Zen from 851 to 858 A.D. in Danrinji Temple built
by the Empress Danrin. He was successful in his teaching: Một vị Thiền
sư Nam tông là Nghĩa Không (Giku), là đệ tử của Diêm Quan
Tề An (Enkwan Saian) đến Kyoto và giảng Thiền từ năm 851 đến
858 tại chùa Đàn Lâm Tự (Danrinji) do hoàng hậu của Ta Nga
Thiên Hoàng (Danrin) lập nên. Ông thành công mỹ mãn trong công
cuộc truyền bá giáo pháp của ông.
4)
In all the above cases the propagation was assisted by the Court but did
not continue long. The last-mentioned teacher went home disappointed in
858 A.D., leaving a monument at Rashomon, Kyoto, inscribed: “A record
of the propagation of Zen in Japan.”: Trong những trường hợp kể
trên, sự truyền bá đều được triều đình ủng hộ nhưng
không bền lâu. Vị thiền sư sau cùng phải thất vọng bỏ
về Trung Quốc năm 858, để lại một thành tích là Lã Sanh
Môn (Rashomon), Kyoto, ghi chứng một kỷ lục về sự truyền
bá Thiền tại Nhật Bản.
(III)
Zen philosophy—Triết lý Thiền: The essence of Zen Buddhism is summed
up as follows: “Look into the mind and you will find Buddhahood,” this
sect lays great stress on meditation or contemplation which alone can lead
one to enlightenment. Zen master Dogen, one of the most important and representative
features of Zen Buddhism. Dogen started his monastic life as a monk seeking
an answer to the question: “Why did so many Buddhas practise the way
of self-enlightenment, although all living beings, by their very nature,
already had Buddhahood in them." As nobody in Japan could satisfy him with
a convincing answer, he went to China to seek light. There he attained
enlightenment under the instruction of a Zen Buddhist monk. On his return
to Japan he propagated the following doctrine: “All human beings
have already been enlightened. They are Buddhas by nature. The practice
of meditation is nothing but the Buddha’s act itself.”—Cốt lõi
của Thiền tông được tóm lược như sau: “Cứ nhìn vào
trong tâm thì sẽ thấy được Phật quả.” Tông phái nầy
nhấn mạnh vào sự thiền định hay thiền quán mà chỉ riêng
một điều nầy đã có thể dẫn đến giác ngộ. Thiền sư
Dogen, một trong những hình ảnh tiêu biểu của Thiền tông
Nhật Bản. Ông đã bắt đầu cuộc sống tu sĩ với sự tìm
lời giả đáp cho câu hỏi: “Vì sao có nhiều vị Phật phải
hành trì con đường giác ngộ cho mình như thế, trong khi tất
cả chúng sanh đều đã sẵn có Phật quả nơi họ?” Không
tìm được người nào ở Nhật Bản có thể giải đáp thỏa
đáng cho mình, ông đã đi đến Trung Quốc để tìm sự soi
sáng. Tại đây, ông đã được giác ngộ bởi một tu sĩ Phật
giáo Thiền tông. Khi trở về Nhật Bản, ông truyền bá chủ
thuyết: “Tất cả mọi người đều đã được giác ngộ.
Về bản chất, họ là những vị Phật. Hành Thiền chính là
một hành động của Phật.”
(IV)
Japanese Zen sects—Các Thiền phái Nhật Bản:
1)
Shingon Sect—Phái Chân Ngôn: The doctrines and practices of this sect
were brought from China to Japan in the ninth century by Kukai (or Kobo-daishi,
as he is more popularly known). Shingon discipline and practice revolve
around three meditational devices: the mandala, the mantra, and the mudra—Các
giáo lý và phương pháp tu tập của phái nầy được đưa
vào Nhật Bản từ Trung Quốc bởi Kukai (hay Hoằng Pháp Đại
Sư vì ông được biết qua danh hiệu nầy nhiều hơn) vào thế
kỷ thứ IX. Pháp môn tu hành của phái Chân Ngôn xoay quanh ba
phương thức quán tưởng: mạn đà la, mật chú, và thủ ấn.
2)
Lin-Chi sect—Phái Lâm Tế: The teachings of Lin-Chi sect were firmly
established in Japan by Fisai Myoan (1141-1215). The Lin-Chi sect is particularly
strong in Kyoto, where many of its head temples and monasteries are located—Giáo
lý phái Lâm Tế được Vinh Tây Minh Am (1141-1215) thiết lập
vững chắc ở Nhật. Phái Lâm Tế đặc biệt mạnh ở Kyoto,
nơi có nhiều chùa và tự viện hàng đầu của phái nầy.
3)
Huang-Po Sect—Phái Hoàng Bá: This Zen sect was introduced into Japan
from China in 1654 by Zen master Yin-Yuan. Its head temple built in the
Chinese style, is Mampukuji, near Kyoto. Huang-Po sect is the least influential
of the Zen sects in present-day Japan—Thiền phái nầy được Ấn
Nguyên đại sư đưa vào Nhật Bản năm 1654. Tổ đình phái
nầy xây theo kiểu Trung Quốc là chùa Mampuku gần Kyoto. Phái
Hoàng Bá là thiền phái ít có ảnh hưởng nhất ngày nay tại
Nhật Bản.
4)
Ts’ao-Tung sect—Phái Tào Động: One of the two dominant Zen sects
in Japan, the other being the Lin-Chi. There are several theories as to
the origin of the names of Ts’ao-Tung. One is that it stems from the
first character in the names of two masters in China, Tung-Shan-Liang-Chih
and Ts’ao-Shan-Pen-Chi. Another theory is that the Ts’ao refers to
the Sixth Patriarch, who was also known in Japan as Ts’ao-Tzi-Hui-Neng—Một
trong hai thiền phái có thế lực hơn cả ở Nhật Bản, phái
kia là Lâm Tế. Có nhiều thuyết nói về nguồn gốc của cái
tên “Tào Động.” Một cho rằng đây là chữ đầu của
tên của hai vị thiền sư Động Sơn Lương Giới và Tào Sơn
Bổn Tịch. Thuyết khác cho rằng chữ Tào chỉ Lục Tổ, vì
ngài cũng được biết qua tên Tào Khê Huệ Năng.
Japati
(skt & p): Nói thầm—Nói lầm bầm—To murmur—To mutter—To
speak to oneself—To whisper.
Jara
(p & skt):
1)
Decay: Dị—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
2)
Old: Già—Aged—Lão—See Twenty-four non-interactive activity dharmas.
Jaramarana
(skt): Decreptitude and death—Old age and death—One of the twelve
nidanas, a primary dogma of Buddhism that decreptitude and death are the
natural products of the maturity of the five skandhas—Lão tử, một
trong thập nhị nhơn duyên, là một giáo lý quan trọng trong
Phật giáo, lão tử là sản phẩm tất nhiên của sự thành
thục (chín mùi) của ngũ uẩn—See Twelve conditions of cause and
effect, Twelve links chain of dependent origination, and Twelve links of
cause and effect.
Jarayu
(skt): Xà Lâu—A placenta—An after-birth—Nhau của thai nhi.
Jarayuja
(skt): Thai sanh—See Chatur-Yoni and Womb-born.
Jasmine:
Mallika (skt)—Bông lài.
Jasmine
flower: Mallika (skt)—Hoa lài.
Jasosnisa
(p): Phật đảnh Thệ Đa (màu vàng nghệ).
Jata
(skt): Sanh.
Jataka
(skt): A birth story—Xà Đa Già—Xà Đà—Xà Đà Ca—Xà
Đà Già—Kinh Bổn Sanh—Kinh Bản Nguyên—Kinh Bản Khởi—Narratives
of birth stories detail past (previous) lives of the Buddha and of his
followers and foes. The sutra shows how the acts of previous lives influence
the circumstances of the present life according to the law of karma. Stories
of previous incarnations of Buddhas and Bodhisattvas. A collection of 550
stories of the former lives of the Buddha Gotama. Jataka Sutra, Birth Stories
or Past Lives Sutra, a part of the Khuddaka-Nikaya. The 547 Jatakas are
by themselves the biggest section of the Sutra Pitaka. These are stories
of the Sakyamuni Buddha’s previous incarnations, one of the twelve classes
of sutras, one of the twelve Mahayana sutras. Legendary stories of the
Buddha’s past lives as a Bodhisattva. These stories depict the series
of good acts by which Sakyamuni was able to be reborn as the Buddha in
India. A Jataka story is traditionally divided into three parts. The first
introduces an incident in the life of Sakyamuni Buddha in India. The second
relates an incident in one of his past existences. The third demonstrates
the casual relationship between the incident in the past and the one in
the present, and identifies the persons involved in the past incident with
those living in the present—Kinh nói chi tiết về tiền thân Đức
Phật, các đệ tử cũng như những kẻ chống phá Ngài. Kinh
chỉ bày những hành động trong tiền kiếp ảnh hưởng thế
nào đến những hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại theo
đúng luật nghiệp quả. Kinh Bản Sanh, gồm những câu chuyện
nói về tiền thân của chư Phật và chư Bồ Tát (thụ sinh
thành vô số thân hình, sắc tướng để hành Bồ Tát Đạo.
Bổn Sanh Kinh gồm 550 câu chuyện nói về tiền thân Đức Phật.
Bổn Sanh Kinh, một phần của Khuddaka-Nikaya. Chỉ riêng phần
nầy, có 547 truyện, là một phần quan trọng nhất của Kinh
Tạng. Đây là một trong 12 bộ Kinh Đại Thừa, còn gọi là
Chuyện tiền thân Đức Phật hay kinh văn mà Đức Như Lai nói
về hành nghiệp tu hành của Ngài khi còn là Bồ Tát. Kinh ghi
lại những bài thuyết pháp của Đức Phật nhắc về các
đời trước của Ngài, hồi Ngài còn trong kiếp Bồ Tát. Kinh
cũng nói về những bài tiên đoán về sự thành Phật của
Ngài tại Ấn Độ. Kinh được chia làm ba phần. Phần đầu
nói về cuộc đời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại Ấn Độ.
Phần thứ nhì nói về tiền thân của Ngài. Phần thứ ba nói
về mối tương giao cũng như những nhân vật liên hệ giữa
tiền thân và hiện kiếp của Ngài—See Jataka stories, and Twelve
sutras.
Jatakamala
(skt): Xã Đắc Ca Ma La—A garland of incarnation stories in verse—Bản
Sanh Man, hay tên của các bài tán tụng (tập hợp các chuyện
về sự tu khổ hạnh của Đức Phật).
Jatakamala-sastra:
Garland of Jatakas—Luận Túc Sanh Truyện (Bản sanh man luận).
Jataka
stories: Bổn Sanh Truyện—Collection of the stories of the Buddha’s
former births—Túc Sanh Truyện.
1)
The Jatakas or previous birth stories of the Buddha are a collection of
547 edifying tales about the adventures of the Buddha in his previous lives.
They share a common form, beginning by explicitly stating the moral of
the story and ending by identifying who the Buddha, then only a Bodhisattva,
was in the tale. The Buddha appears in many guises, including those of
a god, a trader, a bandit, a caravan leader, a deer, an antelope and a
vulture. These fables, some of which are based on pre-Buddhist folk tales,
have been told time and time again. They have become completely ingrained
in the lore of many cultures to which Buddhism has spread and inspired
countless artistic representations. They are especially popular among the
laity of Southeast Asian countries. The Jatakas extol the virtues of leading
a righteous life, which can help to ensure a favorable rebirth. For example,
in the “Monkey-Lord Jataka,” the Bodhisattva tricks a greedy crocodile
by telling the predator that his monkey heart is hanging on a nearby tree,
and thereby teaches the reptile the virtue of truth. In the famous Vesantara
Jataka, where the Bodhisattva appears as a prince, he teaches the merit
of giving by parting with everything, including his children and wife.
The Jataka stories are still popular to this day and have even been transformed
into an Indian comic book series—Túc Sanh Truyện hay truyện tiền
thân của Đức Phật là một tập gồm có 547 câu chuyện làm
sáng tỏ về những cuộc phiêu lưu của Đức Phật trong những
tiền kiếp của Ngài. Những câu chuyện này có chung một hình
thức, bắt đầu bằng cách thể hiện rõ ràng nền tảng đạo
đức của cốt truyện và kết thúc bằng cách đồng hóa Đức
Phật với một vị Bồ Tát. Đức Phật xuất hiện qua nhiều
cách, khi là một vị thần, một thương gia, một tên cướp
đường, một người dẫn đầu đoàn buôn, một con nai, một
con hoẵng hay một con kên kên. Trong những truyền thuyết này,
có một số câu chuyện dựa theo truyện dân gian có trước
thời Đức Phật đã được thuật đi thuật lại nhiều lần.
Chúng hoàn toàn ăn sâu trong kho tàng của nhiều nền văn hóa
mà Phật giáo đã truyền bá và đã gây cảm hứng cho vô số
những sự thể hiện nghệ thuật. Đặc biệt chúng phổ biến
trong thành phần tại gia thuộc các xứ trong vùng Đông Nam
Châu Á. Truyện Túc Sanh ca tụng những giới đức khổ hạnh
dẫn đến một đời sống đúng đắn và đạo đức
có thể bảo đảm cho sự tái sanh tốt đẹp như ý. Ví dụ
như trong câu chuyện “Khỉ Chúa,” vị Bồ Tát đánh lừa
một con cá sấu tham lam bằng cách bảo nó rằng trái tim khỉ
đang treo ở một cành cây gần đó, và nhờ đó dạy cho loài
bò sát này về đạo đức của sự chân thật. Trong câu chuyện
nổi tiếng về Vesantara, nơi Bồ Tát xuất hiện là một hoàng
tử, Đức Phật dạy về công đức bố thí bằng cách từ
bỏ hết mọi thứ, kể luôn cả vợ con. Túc Sanh Truyện vẫn
còn được phổ biến rất rộng rãi cho đến ngày hôm nay,
thậm chí được người ta biến thành một bộ sách ngụ ngôn
của người Ấn Độ.
2)
For more than twenty-five hundred years, the Buddha’s life-story has
been transmitted by generations of Buddhists, making it one of the most
instructive explanations of the Buddhist path. Different renderings have
emphasized different aspects of this great epic. For example, the Pali
Jatakanidana, around the 5th century A.D., goes into great detail about
the Buddha’s previous lives, and the Buddhacharita during the second
century A.D. begins with his last birth. The beautiful Lalitavistara emphasizes
the supernatural, while many works of Western scholarship seek to uncover
the facts behind the legend. All versions, however, share a common heritage,
and it is the core of this legacy that is told here. The Jatakanidana reports
that many, many aeons ago, when another Buddha, Dipankara, was walking
the earth, there lived a pure and virtuous man called Sumedha. He was born
to a wealthy family but renounced his worldly possessions and became an
ascetic. When Sumedha encountered Dipankara, he resolved that he too would
become a Buddha, “one who has awakened” from the sleep of ignorance.
This intention to attain enlightenment made him a Bodhisattva. Dipankara
saw that Sumedha would ultimately become enlightened, and subsequent Buddhas
reaffirmed this prediction. The Bodhisattva was reborn many times and in
many forms, perfecting himself in each life to become a Buddha. He sought
to be more generous with fellow beings, to lead an impeccable moral life,
to make do with as few possessions as possible, to cultivate his mental
and psychic abilities, and to gain insight into the way things are. These
and other perfections were later to become the hallmarks of his teaching
and of Buddhism in general. In his penultimate life the Bodhisattva was
reborn in the Tusita Heaven, where he prepared for his final birth among
humans. From the Tusita Heaven, he surveyed the world, choosing as his
mother the virtuous Queen Maya, wife to Suddhodana, king of the Sakyas
at Kapilavastu. The night on which the Bodhisattva was conceived, the queen
dreamed that an elephant touched her side and placed a white lotus in her
womb, while at the moment of conception the 10,000 world systems quaked
violently. The soothsayers who were summoned to explain the queen’s dream
said that she was pregnant and that the new child would be either a universal
monarch or a Buddha, depending on whether he followed the life of a householder
or that of an ascetic. As the time of birth approached, the queen traveled
toward Devadaha, where her parents lived, stopping to rest in the pleasure
grove of the “sal” trees at the Lumbini gardens. Entering the gardens
she felt the onset of labor, and a great “sal” tree bent gently to
support her. The Bodhisattva emerged from his mother’s side, clean and
pure, like a man descending a staircase, and was received into the golden
net of the great Brahmas. Surveying the ten directions, he took seven strides
to the north and roared: “I am the chief of the world. This is my last
existence; henceforth there is no more rebirth for me.” The miraculous
birth was marked by great joy throughout the world: the blind could see,
the crippled could walk and the deaf could hear the dumb. The world itself
celebrated as the great ocean turned into sweet water and five kinds of
lotuses covered the surface of the earth—Hơn hai ngàn năm qua, câu
chuyện về cuộc đời Đức Phật đã được các thế hệ
Phật tử truyền lại, tạo cho nó trở thành một trong những
sự giải thích về giáo huấn của đạo Phật. Những sự
diễn giảng khác nhau nhấn mạnh đến những khía cạnh khác
nhau của sử thi vĩ đại này. Thí dụ như Túc Sanh Truyện
bằng tiếng Pali, khoảng thế kỷ thứ 5 sau Tây lịch, đi vào
những chi tiết lớn về tiền thân của Đức Phật, và Buddhacharita
vào khoảng thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch mở đầu với kiếp
tái sanh cuối cùng của Ngài. Sử Thi Phật Giáo tuyệt vời
lại nhấn mạnh đến tính chất siêu phàm, trong khi đó nhiều
công trình nghiên cứu uyên thâm của Tây Phương đi tìm kiếm
để khám phá những sự thật phía sau huyền thoại này. Tuy
vậy, tất cả những bản dịch đều có một di sản chung,
và đây là cốt lõi của tài sản kế thừa này đã được
người ta thuật lại ở đây. Truyện Jatakanidana thuật lại
rằng, rất nhiều, nhiều niên kỷ trước đó, khi một vị
Phật khác hiệu là Nhiên Đăng, khi đang đi trên quả địa
cầu, ở đó có một người đạo đức và trong sạch được
gọi là Sumedha. Vị này sinh ra trong một gia đình giàu có nhưng
lại từ bỏ tất cả những tài sản trần tục này để trở
thành một nhà tu khổ hạnh. Khi Sumedha gặp Phật Nhiên Đăng,
vị Phật này khẳng định rằng vị này cũng sẽ thành Phật,
“người đã tỉnh thức” khỏi giấc ngủ vô minh. Ý định
đạt được giác ngộ khiến cho vị này trở thành một vị
Bồ Tát. Đức Phật Nhiên Đăng cuối cùng đã nhận biết
rằng Sumedha sẽ hoàn toàn giác ngộ, và các vị Phật tiếp
theo sau đó tái khẳng định sự tiên đoán này. Vị Bồ Tát
tái sanh trong nhiều kiếp và dưới nhiều hình dáng, tự hoàn
thiện bản thân mình trong từng kiếp để trở thành Phật.
Ngài tìm cách từ bi độ lượng với tất cả cả đồng loại,
để dẫn đến một cuộc sống đạo đức hoàn hảo, thực
hiện lối sống với càng ít tư hữu càng tốt, để tu dưỡng
được những khả năng tinh thần và thể xác, và để đạt
được tuệ giác theo bản chất thật của vạn hữu. Những
hình thức này và những phẩm hạnh bố thí khác nhau sau đó
đã trở thành những chuẩn mực về giáo lý của Ngài và
của đạo Phật nói chung. Trong kiếp sống áp chót, vị Bồ
Tát được tái sinh vào cung trời Đâu Suất, tại đây Ngài
đã chuẩn bị cho lần tái sanh cuối cùng trong cõi người.
Từ nơi cung trời Đâu Suất Ngài xem xét thế gian, chọn lựa
người mẹ đạo đức của Ngài, Hoàng Hậu Ma Gia, vợ của
vua Tịnh Phạn, vua của dòng Thích Ca tại thành Ca Tỳ La Vệ.
Vào đêm Hoàng Hậu thụ thai, bà nằm mơ thấy một con bạch
tượng chạm vào hông bà và đặt một đóa hoa sen trắng trong
tử cung của bà, trong khoảnh khắc thụ thai đó, 10,000 cõi
vũ trụ rung động dữ dội. Những nhà tiên tri được triệu
tập đến để đoán giấc mộng của hoàng Hậu rồi tâu rằng
bà đã thụ thai và đứa bé chào đời sẽ là vua của vũ
trụ hoặc một vị Phật, tùy theo vị này theo đuổi cuộc
sống của một vị gia trưởng hay của một đạo sĩ khổ
hạnh. Đến gần ngày sanh nở, hoàng hậu trên đường về
Devadaha, nơi cha mẹ bà sống, bà dừng lại nghỉ ngơi dưới
cội cây Ta La trong vườn Lâm Tỳ Ni. Khi tiến vào khu vườn
bà cảm thấy mình chuyển dạ và một cây Ta La to lớn nhẹ
nhàng uốn mình xuống để đỡ bà. Vị Bồ Tát từ bên hông
mẹ hiện ra, trong sạch và tinh khiết, giống như một người
từ trên cầu thang hạ dần xuống, và được các vị Phạm
Thiên đỡ vào trong một chiếc lưới đan bằng sợi vàng ròng.
Quan sát mười phương, Ngài bước bảy bước về phía Bắc
và dõng dạc tuyên bố: “Ta là chủ của thế gian. Đây là
lần sinh cuối cùng của ta; kể từ đây ta không còn trở
lại vòng sinh từ.” Sự đời kỳ diệu này được đánh
dấu bởi niềm vui lớn lao khắp thế gian: người mù có thể
nhìn thấy, người què quặt có thể đi, người điếc có
thể nghe, người câm có thể nói. Chính thế gian cũng tán
dương bởi vì biển cả biến thành dòng nước ngọt và năm
loại hoa sen phủ đầy khắp mặt đất.
Jati
(p): Xà Đề—Sanh—Birth or rebirth—The final outcome of karma—Production—Form
of existence—The eleventh in the chain of the Nidanas—Mắc xích thứ
mười một trong 12 mắc xích nhân duyên—See Twelve conditions
of cause and effect, Twelve links chain of dependent origination, Twelve
links of cause and effect, Twenty-four non-interactive activity dharmas,
and Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa.
Jatijara
(skt): Xà Đề Xà La—Birth and decrepitude (aging)—Sanh và lão.
Jatikkhayam
(p): One who has destroyed all the causes of being reborn—Bậc đã
diệt được hết nhân đưa đến tái sanh.
Jatimdhara
(skt): Jatimdhara (skt)—Trì Thủy—A physician who adjusted prescriptions
and diet to the seasons; reborn as Suddhodana—Một vị lương y đã
điều chỉnh toa thuốc và thức ăn trong các mùa cho bệnh nhân,
sau nầy tái sanh làm Tịnh Phạn Vương.
Jati-marana
(skt): Sanh tử—Birth and death—Life and death—Living and dying.
Jatisena
(skt): Xà Đề Thủ Na—Name of a Brahman, an ancient sage mentioned
in the Nirvana Sutra, who converted to Buddhism after hearing a preaching
from the Buddha—Tên của một vị Bà La Môn, một nhà thông
thái được Phật nói đến trong Kinh Niết Bàn, người đã
chịu quy-y Phật sau khi nghe Phật thuyết giảng.
Jati-thero
(p): An elder by birth—Sanh trưởng lão—See Three dharmas (XXXII).
Javana
(p): Impulsion—Impulsive karma-producing moments—Tiến trình thúc
đẩy hay sự năng động (đó cũng chính là lúc mà nghiệp
được thành lập).
Jaya
(skt): Conquering, a manual sign of overcoming—Xà Dạ—Chế ngự,
dấu hiệu của sự chế ngự.
Jayagupta
(skt): Xà Da Cúc Đa—A teacher of Hsuan-Tsang in Srughna—Thầy của
ngài Huyền Trang tại thành Srughna.
Jayanta
(skt): Xà Diễn Đế—Conqueror, name of Siva and others—Người
chế ngự, tên của Thần Siva và các vị Thần khác.
Jayapura
(skt): Xà Da Bổ La—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English
Buddhist Terms, Jayapura, an ancient city in the Punjab, probably the present
Hasaurah, 30 miles north-west of Lahore—Theo Trung Anh Phật Học Từ
Điển, Xà Da Bổ La, một thành phố cổ nằm trong khu Punjab,
khoảng 30 dậm về phía tây bắc của Lahore.
Jayasena
(skt): Xà Da Tể Na—A noted Buddhist scholar of the Vedas, a native
of west India—Một học giả Phật giáo nổi tiếng về Kinh
Vệ Đà, người miền tây Ấn Độ.
Jayata
(skt): Tổ Xà da đa—Xà Dạ Đa—The Indian twentieth patriarch—Vị
tổ thứ 20 của Ấn Độ. **See Twenty eight Indian Patriarchs.
Jayendra
(skt): Xà Da Nhân Đà La—A monastery of Pravarasenapura, now
Srinagar, Kashmir—Tự viện Xà Da Nhân Đà La ở Pravarasenapura,
bây giờ là Srinagar, thuộc Kashmir.
Jealous
(a): Ganh tỵ.
Jealousy
(n): Irshya (skt)—Tật đố—Ganh ghét—Jealousy means to be jealous
of another person thinking he or she has more talent than we do (to become
envious of the who surpass us in one way or other). Jealousy can be a consuming
fire in our mind, a state of suffering. In meditation, if we want to eliminate
jealousy, we should see and feel it without judgment or condemnation for
judgment and condemnation only nourish jealousy in our mind—Ganh tỵ
là tật đố nghĩ rằng người khác có tài hơn mình. Ganh tỵ
có thể là ngọn lửa thiêu đốt tâm ta. Đây là trạng thái
khổ đau. Trong thiền quán, nếu chúng ta muốn đối trị ganh
tỵ chúng ta cần nhìn thấy và cảm nhận nó mà không phê
bình hay lên án vì phê bình và lên án chỉ làm tăng trưởng
lòng ganh tỵ trong ta mà thôi—See Fifty-one Dharmas interactive
with the Mind.
Jealous
contempt: Khinh đố.
Jetaka
(skt): Sadvahana (skt)—Thị Diễn Đắc Ca—Sa Đa Bà Hán Na—A
king of southern Kosala, patron of Nagarjuna—Quốc vương của xứ
Nam Kosala.
Jetavana
Garden: Jetavanarama (skt)—Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên—A park
near Sravasti, said to have been obtained from prince Jeta by the elder
Anathapindika, in which monasterial buildings were erected, one of the
favorite resorts of Sakyamuni Buddha. According to Professor Soothill in
The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Jetavana Garden, or Garden
of Jeta and Anathapindika is a park near Sravasti, bought by Anathapindika
from prince Jeta, which was offered to the Buddha and his Sangha as a result
of the collaboration of Prince Jeta and billionaire Anathapindika. It is
said to have been obtained from Prince Jeta by the elder Anathapindika.
Anathapindika paid for Prince Jeta’s garden in gold, erected monasterial
buildings, and donated it to the Buddha. Prince Jeta was very moved
with this, thus he donated all the trees and another parcel of land to
the Buddha. Thus the double name for the site where the Buddha preached
his teachings: “The Garden of Jeta and Anathapindika.” This garden
was the favourite resort of Sakyamuni. Two hundred years later it is said
the park has been destroyed by fire, rebuilt smaller 500 years after, and
a gain a century later burnt down; thirteen years afterwards it was rebuilt
on the earlier scale, but a century later entirely destroyed—Tại thành
Xá Vệ (Sravasti) có vị trưởng giả giàu có tên Tu Đạt Đa
(Sudatta), lại cũng có tên là Cấp Cô Độ (Anathapindika), người
đã mua khu vườn của Thái Tử Kỳ Đà để kiến lập một
khu tịnh xá cao rộng trang nghiêm mang tên Kỳ Thọ Cấp Cô
Độc Viên. Ông cung thỉnh Đức Phật và đệ tử của Ngài
an cư kiết hạ và giảng thuyết Phật pháp tại địa phương.
Tu Đạt Đa là vị hộ pháp trung thành của Phật giáo thời
bấy giờ). Khu vườn gần thành Xá Vệ, người ta nói trưởng
giả Cấp Cô Độc đã mua lại từ tay thái tử Kỳ Đà, trong
đó những khu tịnh xá được xây dựng lên, là nơi mà Đức
Phật thích ghé về nghỉ ngơi nhất. Theo Giáo Sư Soothill trong
Trung Anh Phật Học Từ Điển (dựa theo Pháp Uyển Châu Lâm
tập 39), vườn Kỳ Thọ gần thành Vương Xá, được cúng
dường cho Phật và Tăng đoàn của Ngài bởi Thái tử Kỳ
Đà và nhà tỷ phú Cấp Cô Độc. Người ta nói Ngài Cấp
Cô Độc đã mua lại khu vườn nầy từ Thái tử Kỳ Đà bằng
vàng, xây dựng tịnh xá, rồi cúng dường cho Đức Phật.
Thái tử Kỳ Đà rất cảm động trước nghĩa cử ấy nên
ông bèn hiến tất cả những cây và khoản đất còn lại.
Chính vì vậy mà khu vườn nơi Phật thường hay thuyết pháp
nầy có tên đôi của hai vị thí chủ là Kỳ Thọ Cấp Cô
Độc Viên (tức là cây của thái tử Kỳ Đà và vườn của
ông Cấp Cô Độc). Đây là khu an cư kiết hạ mà Đức Phật
rất thích. Hai trăm năm sau đó cả khu vườn và tịnh xá bị
thiêu rụi, 500 năm sau được xây lại nhỏ hơn, và rồi một
thế kỷ sau lại bị đốt cháy rụi lần nữa; mười ba năm
sau đó được xây lại bằng khu tịnh xá nguyên thủy, nhưng
một thế kỷ sau đó lại bị hủy diệt (Về phương bắc
nước Kiều Tát La).
Jetavana
Monastery (skt): Kỳ viên Tịnh Xá—Thệ Đa Lâm—Jetavana—Jeta
Grove—Name of an Indian Buddhist monastery located at Sravasti. Jetavana
Garden resulted from the collaboration of Prince Jeta and billionaire Anathapindika
and was made as an offering to the Buddha. According to Eitel from The
Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, this is the seven-storey
abode and park presented to Sakyamuni by Anathapindaka, who bought it from
the prince Jeta. It was a favourite resort of the Buddha, and most of the
sutras date from this spot. The millionaire Sudatta, he was given
the epithet “Anathapindika” because he always helped the orphans and
the Solitary. After discussing with prince Jeta, Anathapindika went back
home to being gold to buy the garden and donated the site to the Buddha.
In fact, the site was selected by Sariputra, who spent the last twenty-five
rainy season retreats of his life there. It was also the Buddha’s favorite
retreat, and he spent nineteen rainy season retreats at Jetavana. Jetavana
is also the name of a monastery in Sri Lanka, built by king Mahasena (334-362)
for Mahayana monks. It maintained a separate Nikaya until the twelfth century,
when king Parakramabahu I ordered it to amalgamate with the Mahavihara
nikaya—Tên của một ngôi tịnh xá Phật giáo tại Ấn Độ
tọa lạc trong thành Xá Vệ (ngôi chùa gần thành Savatthi ở
miền bắc Ấn Độ, nơi đức Phật thường dạy đạo). Vườn
Kỳ Thọ Cấp Cô Độc là kết quả của sự hợp tác cúng
dường lên Phật của Thái tử Kỳ Đà và trưởng giả Cấp
Cô Độc. Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của
Giáo Sư Soothill, đây là tịnh xá bảy từng cùng với công
viên mà ngài Cấp Cô Độc đã mua từ Thái Tử Kỳ Đà để
hiến cho Phật. Đây là nơi an cư mà Đức Phật rất thích,
cũng là nơi mà nhiều bộ kinh đã được Phật thuyết giảng.
Nhà triệu phú Sudatta được người ta ban cho danh hiệu Cấp
Cô Độc vì ông thường giúp đở những trẻ mồ côi và người
cô độc. Sau khi thảo luận với thái tử Kỳ Đà, Cấp Cô
Độc bèn lấy vàng tới mua ngôi vườn và hiến cho Đức Phật.
Kỳ thật, địa điểm này do ngài Xá Lợi Phất lực chọn
và ngài đã trải qua hai mươi lăm lần an cư kiết hạ tại
đây. Đây cũng là nơi mà Đức Phật rất thích, vì chính
Ngài cũng đã trải qua 19 mùa an cư tại vườn Kỳ Thọ này.
Kỳ Viên cũng là tên của một ngôi tịnh xá ở Tích Lan được
vua Mahasena xây dựng cho chư Tăng phái Đại Thừa. Phái này
có hệ kinh điển riêng cho đến thế kỷ thứ 12 khi vua Parakramabahu
đệ nhất ra lệnh cho phái này nhập vào phái Nguyên Thủy.
Jetavaniyah
(skt): Jetiyasailah (skt)—Chỉ Đát—School of the dwellers on Mount
Jeta or school of Jetrvana, a subdivision of Sthavirah—Trường phái
của những người trên núi Chỉ Đát, một tông phái của
Thượng Tọa Bộ.
Jetavana
stupa: The stupa in Jetavana, where the Buddha revealed his supernatural
powers. This is one of the eight Great Spiritual or Sacred Stupas of Buddhism—Ngôi
tháp tại Vườn Kỳ Đà thuộc nước Xá Vệ, nơi Phật hiện
thần thông. Đây là một trong tám ngôi tháp thiêng lớn của
Phật giáo—See Eight great spiritual or sacred stupas.
Jetavana-vihara:
Tịnh Xá Kỳ Thọ Cấp Cô Độc—Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên—See
Jetavana Monastery and Anathapindika.
Jetavaniya
(skt): Caityaka (skt)—Chế Đa Sơn Bộ—Chi Đề Gia Bộ—Chỉ
Để Khả Bộ—Chế Đa Sơn Bộ—See Caityaka.
Jetr
(skt): Jeta (skt)—Thệ Đa—Kẻ Chiến Thắng—Victor—Son of
king Prasenajit of Kosala, previous owner of the Jetavana—Con trai vua
Ba Tư Nặc của xứ Câu Tát La, là chủ trước đây của Thệ
Đa Lâm (ngày thái tử chào đời cũng là ngày mà vua Ba Tư
Nặc vừa chiến thắng địch quân, nên thái tử mang tên “Kẻ
Chiến Thắng.”). **See Jetavana.
Jetrjeta
(skt): Thái tử Kỳ Đà.
Jetrjeta-Vihara
(skt): Kỳ đà Tịnh xá.
Jetsun
Dampa Hutukhtu (tib): The major reicarnate lama of Mongolian Buddhism.
The first was Odur Gegen (1635-1723), whose monastic seat was Erdini Juu.
Khutukhtu is the Mongolian equivalent “noble” or “wise.” The traditional
seat of these lamas was Da Khuree, now known as Ullan Bator. The eighth
member of the lineage died in 1924 after serving as the country’s temporal
ruler following Mongolian independence from China, but when the Communists
re-established control the lineage was banned, and so there is currently
no officially recognized successor in Mongolia. Despite this, in 1991 the
fourteenth Dalai Lama publicly announced that Jambel Namdrol Chogi Gyeltsen
(1929 -) is the ninth member of the lineage. He was born in Lhasa and studied
with teachers from all four of the main orders of Tibetan Buddhism prior
to fleeing the country in 1959 following the Chinese invasion and annexation
of Tibet. His identity as the “rJe btsun giam pa” was not officially
announced until after the fall of the Soviet Union. Mongolian hagiography
(Thánh Nhân Liệt Truyện), for example in a Chinese work entitled
“Meng-ku I-sheh,” which traces the lineage back through fifteenth incarnations
prior to Odur Gegen and claims that the first of the series lived during
the time of Sakyamuni Buddha. The fifteenth was the great Tibetan historian
Taranatha (1575-1634). The identification of Odur Gegen as the reincarnation
of Taranatha was reported first made by the fifth Dalai Lama, Ngawang Losang
Gyatso (1617-1682)—Vị Lạt Ma tái sanh chính của Phật giáo
Mông Cổ. Vị đầu tiên là Odur Gegen, tu viện của ông là
Erdini Juu, Khutukhtu là từ ngữ Mông Cổ tương đương với
“Cao thượng” và “khôn ngoan.” Trụ sở của truyền thống
của những vị Lạt Ma này ở Da Khuree, mà bây giờ là Ullan
Bator. Vị truyền thừa thứ 8 thị t