THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Phật Pháp Index Tác-Giả

 

 
 

 

Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Thiện Phúc.
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Phạn/Pali-Việt, Thiện Phúc.
Tự Điển Phật Học Thiện Phúc-Mục Lục &Phụ Lục.
Tự Ðiển Phật Học Việt Anh, Minh Thông
Tự Ðiển Phật Học Anh Việt, Minh Thông
Từ Ngữ Phật Học Việt Anh, Trần Nguyên Trung
Từ Ngữ Thiền Học Tiếng Việt, Thích Duy Lực
Tổ Đình Minh Đăng Quang 
PHẬT HỌC TỪ ĐIỂN - BUDDHIST DICTIONARY
ENGLISH - VIETNAMESE  ANH VIỆT
Thiện Phúc
A
B
C.
D
E
F
G
H
I
J
K
L
M
N
O
P
Q
R
S
T
U
V
W
X
Y
 Z
Trang C1.
Trang C2.
Trang C3.

C


Caga (p): 
1) Generosity: Lòng quảng đại. 
2) The treasure of renunciation: Thí Tài—See Seven Treasures of Enlightened Beings. 

Caganussati (p): Niệm Thí—The recollection of generosity which involves mindful reflection on the special qualities of generosity—Suy niệm về Tâm Bố Thí. Tỉnh thức về việc tu hành hạnh bố thí—See Ten recollections. 

Caitasika-dharma (skt): Mental function—Tâm sở hữu pháp—See One hundred divisions of all mental qualities and their agents.

Caitra (skt): Chế Đát La—The spring month in which the full moon is in this constellation.  In China and Vietnam, it is the first month of spring from the 16th  of the first moon to the 15th of the second moon (between the months of March and April)—Tên một ngôi sao xuất hiện vào đêm trăng tròn tháng giêng (tháng giêng của Ấn Độ cũng được gọi là tháng Chế Đát La). Ở Trung Quốc và Việt Nam nhằm từ 16 tháng giêng đến 15 tháng hai, khoảng tháng ba và tháng tư dương lịch—See Twelve Months of a Year in India.  

Caitrarathavana (skt): The park of chariots in the east, one of Indra’s four parks
—Chúng Xa Uyển—See Four pleasure grounds.  

Caitta-dharmah (skt): Cetasika (p)—Mental factors. 

Caitya (skt): Cetiya (p)—Sepulchral monument—Pagoda—Shrine—Chế đa (tháp mộ).
1) To assemble: To pile up—Chất Để—Chồng chất lên. 
2) Temple or stupa where the Buddha’s relics are stored—Tháp Phật—Chế Để—Chế Thể.
3) The main flagstaff on a pagoda: Cột cờ chánh. 
4) A Sanskrit term for “Sanctuary.” Reliquary monuments that are built to house the remains of a Buddha or some other revered personage. A place where the relics of Buddha were collected. Also a place where the Buddhist sutras or images are placed. Eight famous Caityas formerly existed—Chế Đa Sơn Bộ—Chế Đa (điện thờ hay linh miếu): Chi Đề—Chi Đế—Chi Trưng—Chế Đa—Chế Để Da—Thuật ngữ Bắc Phạn dùng để chỉ “Khu Bảo Tồn.” Những tượng đài thánh tích được xây dựng lên để cất giữ xá lợi của Đức Phật cũng như những danh Tăng khác. Đây cũng chính là nơi tồn trữ tất cả những kinh điển và hình tượng Phật giáo. Có tám Chi Đề nổi tiếng từ xưa—See Caityaka.
1) Lumbini: Vườn Lâm Tỳ Ni—See Lumbini.
2) Buddha-Gaya: Bồ Đề Đạo Tràng—See Buddha-Gaya.
3) Varanasi (skt): Thành Ba La nại—See Benares.
4) Jetavana (skt): Vườn Kỳ Thọ Cấp Cô Độc—See Jetavana.
5) Kanyakubja  (skt): Sông Ni Liên Thiền—See Kanyakubja.
6) Rajagriha: Thành Vương Xá—See Rajagriha.
7) Vaisali: Thành Xá Vệ: See Vaisali.
8) Sala Grove in Kusinagara: Ta La Song Thọ ở Câu Thi Na—See Kusinara.

Caityacarika (skt): Go on a pilgrimage—Hành hương.

Caityaka (skt): Chi Đề Sơn Bộ—Chi Đề Gia Bộ—Chỉ Để Khả Bộ—Chế Đa Sơn Bộ.
(I) The history of formation of the Caityaka: Lịch sử thành hình Chế Đa Sơn bộ—Caitya-saila, described as one of the twenty sects of the Hinayana, founded by Bhikkhu Mahadeva, comprised of ascetic dwellers among tombs or in caves. This Mahadeva is to be distinguished from the Mahadeva who was responsible for the origin of the Mahasanghikas. He was a learned and diligent ascetic who received his ordination  in the Mahasanghika Sangha. Since he dwelt on the mountain where there was a caitya, the name Caityaka was given to his adherents. It may be noted that Caityavada was the source of the Saila schools, both East and West. Inscription of the second and third centuries A.D. indicates that at the same time  with the Caityaka, there were also the following sects: the Sarvastivadins, the Mahasanghikas, the Sammitiyas, the Purvasailiyas, the Aparasailiyas, the Bahusrutiyas, and the Kasyapiya

s—Bộ phái Chế Đa Sơn, một trong hai mươi bộ phái Tiểu Thừa, do Tỳ Kheo Đại Thiên sáng lập, gồm những nhà tu khổ hạnh cư ngụ trong các lăng mộ hay hang hóc. Cũng nên phân biệt Đại Thiên nầy với Đại Thiên đã đề ra năm điều dẫn đến sự phân phái đầu tiên. Ông nầy là một tu sĩ khổ hạnh thông thái, tinh chuyên và xuất gia theo Đại Chúng bộ, rồi sau đó lập ra Chế Đa Sơn bộ. Vì ông sống trên ngọn núi có bảo tháp xá lợi của Phật (catya) nên lấy tên Caityaka hay Chế Đa Sơn bộ đặt cho bộ phái của mình. Cũng nên nhớ rằng chính Chế Đa Sơn bộ đã sản sinh ra Đông Sơn Trụ bộ và Tây Sơn Trụ bộ. Nói chung thì Chế Đa Sơn bộ có chung các chủ thuyết căn bản với Đại Chúng Bộ, nhưng khác Đại Chúng bộ ở các chi tiết nhỏ. Theo bia ký ghi lại vào thế kỷ thứ hai và thứ ba sau Tây Lịch, cho thấy cùng thời với Chế Đa Sơn Bộ còn có các bộ phái khác như Nhất Thiết Hữu Bộ, Đại Chúng Bộ, Chánh Lượng Bộ, Hóa Địa Bộ, Đa Văn Bộ, và Ấm Quang Bộ.  

(II) Main views of the Caityaka: Quan điểm chính của Chế Đa Sơn Bộ
—Generally speaking, the Caityakas shared the fundamental doctrines of the original Mahasanghikas, but differed from them in minor details. The doctrines specially attributed to the Caityaka school are as follows—Nói chung Chế Đa Sơn Bộ có chung chủ thuyết căn bản với Đại Chúng Bộ, nhưng khác Đại Chúng Bộ ở các chi tiết nhỏ. Các chủ thuyết được xem là của Đại Chúng Bộ như sau: 

1) One can acquire great merit by the creation, decoration and worship of  caityas; even a circumambulation of caityas engenders merit: Người ta có thể tạo được công đức  lớn bằng cách xây dựng, trang hoàng, và cúng dường các bảo tháp  (caitya). Ngay cả việc đi rảo xung quanh bảo tháp cũng có công đức. 

2) Offerings flowers, garlands and scents to caityas are likewise meritorious: Dâng cúng hương hoa cho bảo tháp cũng là một công đức.

3) By making gifts on can acquire religious merit, and one can also transfer such merit to one’s friends and relatives for their happiness. A conceptionquite unknown in primitive Buddhism but common in Mahayanism. These articles of faith made Buddhism popular among the laity: Công đức tạo được do sự cúng dường có thể được hồi hướng cho thân quyến, bạn bè để đem lại an lạc cho họ. Quan niệm nầy hoàn toàn xa lạ  trong Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng rất phổ biến trong Phật giáo Đại Thừa. Các kiểu tin tưởng nầy được phổ thông giữa những người Phật tử tại gia. 

4) The Buddhas are free from attachment, ill-will and delusion (jita-raga-dosa-moha), and possessed of finer  elements (dhatuvara-parigahita). They are superior to the Arhats by virtue of the acquisition of ten powers (balas): Chư Phật đã hoàn toàn không có tham, sân, si (jita-raga-dosa-moha) và đạt đến những quyền năng siêu việt (dhatuvara-parigahita). Chư Phật cao hơn các A La Hán vì có được Thập Lực (bala).

5) A person having the right view (samyak-dristi) is not free from hatred (dvesa) and, as such, not free from the danger of committing the sin of murder: Một người có chánh kiến (samyak-drsti) vẫn không thoát khỏi tính sân, và do đó vẫn có nguy cơ phạm tội giết người. 

6) Nirvana is positive, faultless state (amatadhatu): Niết Bàn là một trạng thái tích cực và hoàn thiện (amatadhatu). 

Caityasaila (skt): Caityaka (skt)—Chế Đa Sơn Bộ—Chi Đề Gia Bộ—Chỉ Để Khả Bộ—See Caityaka.

Caitya-vandana (skt): Chế Để Bạn Thễ—Chế Để Bạn Đạn Na—To pay reverence to, or worship a stupa, image, etc.—Tôn kính tháp thờ hay hình tượng Phật. 

Cakkavattin (p): Minh vương.

Cakkavattirajasìhanada-sutta (p): Chuyển luân thánh vương sư tử hống kinh.

Cakkhu (p): Nhãn quan. 

Cakkhuvinnana (p): Cakshurvijnana (skt)—Eye-consciousness accompanied by equanimity—Nhãn thức, đồng phát sanh cùng thọ xả—See Eye-consciousness.

Cakra (skt): Disc—Wheel—Luân (bánh xe)—See Chakra. 

Cakravada: Thiết vi sơn—Núi Sở Ca La—See Nine concentric mountain ranges and eight seas.

Cakravala (skt): Cakravada (skt)—Trác Ca La Sơn—Luân Vi Sơn—The double concentric circles of mountains forming the periphery of a world. Nine concentric mountain ranges or continents, separated by eight seas, of a universe

—Hai vòng núi đồng tâm tạo nên chu vi của thế giới. Vòng núi Thiết Vi tạo thành ngoại biên của vũ trụ. Chín rặng núi hay lục địa bị phân cách bởi tám biển của vũ trụ—See Nine concentric mountain ranges and eight seas. 

Cakravarti: Chuyển luân Vương—Luân vương—Ruler the wheels of whose chariot roll everywhere without hindrance. There are six kinds of cakravarti, or wheel kings, each allotted to one of the six positions—Có sáu luân vương, mỗi vị trị vì một phương. ** See Six kinds of cakravarti. 

Cakravartin (skt): Luân Vương.
(I) The meaning of Cakravartin—Nghĩa của Luân Vương: Tiếng Phạn là Chước Ca La Đại Cức Để Hạt La Xà hay Giá Ca Việt La—Cajravartin có nghĩa là bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương, giúp ngài du hành các nơi để hàng phục chúng sanh—A Cakravatin’s wheel, either gold, silver, copper or iron, manifesting his rank and power.
1) A ruler of the wheels of whose chariot roll everywhere without obstruction: Vị Chuyển Luân Vương vận chuyển luân bảo đi khắp nơi không trở ngại để hàng phục bốn phương.
2) An emperor, a sovereign of the world, a supreme ruler: Vị quốc vương tối thượng cai trị thế giới.
3) A Buddha whose truth and realm are universal (Buddha as universal spiritual king): Đức Phật với giáo thuyết phổ cập và pháp giới của Ngài. 
(II) The symbol is the cakra or disc, which is of four kinds indicating the rank—Dấu hiệu của Luân Vương là một cái dĩa gồm bốn thứ theo thứ tự:
1) Gold cakra: Kim Luân Vương.
2) Silver cakra: Ngân Luân Vương.
3) Copper cakra: Đồng Luân Vương.
4) Iron cakra: Thiết Luân Vương. 

Cakravartin kings: Luân Vương—There are four kinds of Cakravartin kings—Có bốn loại Thiên Vương—See Four wheels (D).

Cakravartin’s troops: Catur-angabalakaya (skt)—Tứ Binh—See Four divisions of a cakravarti’s troops. 

Cakravatin’s wheel: Luân Bảo—A Cakravatin’s wheel, either gold, silver, copper or iron, manifesting his rank and power—Bánh xe báu của Chuyển Luân Thánh Vương, giúp ngài du hành các nơi để hàng phục chúng sanh. Có bốn loại bằng vàng, bạc, đồng và sắt:
1) Cakravatin’s Gold Wheel: Kim Luân Vương.
2) Cakravatin’s Silver Wheel: Ngân Luân Vương.
3) Cakravatin’s Copper Wheel: Đồng Luân Vương.
4) Cakravatin’s Iron Wheel: Thiết Luân Vương.   
 
Cakravati-raja (skt): Chuyển Luân Vương—Wheel king—Wheel-Rolling King—World ruler—See Cakravartin.  

Cakravati-raja-Simhanada-sutra (skt): Cakravati-raja- sihanada-sutta (p)—Chuyển Luân Vương Sư Tử Hống Kinh—The Wheel-Rolling King-Lion’s Roar Sutra.  

Cakshu-rupayatana (skt): The eyes that produce the characteristics of form—Nhãn sắc Xứ—See Twelve entrances (II).

Caksuh (skt): Eye—Mắt (Nhãn)—Nhục Nhãn—See Sense of vision, Five kinds of eyes or vision,  Mamsacaksu, and Eye. 

Caksurdhatu (skt): Nhãn Căn—Nhãn Giới—Realm of sight—Field of vision, or the eye-realm, or sight faculty; the element of sight. One of the six senses, the organ of sight—Nhãn căn, một trong lục căn—See Six Sense-organs.

Caksurindriya (skt): Eye—Nhãn căn—See Twenty two roots.

Caksur-vijnana (skt): Cakshurvijnana (skt)—Eye consciousness—The sense of vision—Sight consciouness—Seeing—Nhãn thức—See Sense of vision, and Eight consciousnesses (I) (A).

Caksur-vijnana-dhatu (skt): Nhãn Thức Giới—The element of sight-perception—Realm of sight perception—See Sense of vision. 

Caksus (skt)—Eye—Nhãn—See Seventy-five dharmas of the Abhidharma Kosa (I) (A).

Calamities (n): Catastrophe—Disaster—Nạn (tai ương)—Suy Hoạn—The calamities of decadence, famine, epidemics. The calamities of fire, wind and water during the kalpa of destruction—Tai họa của suy thoái như nạn đói hay dịch bệnh. Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp có ba tai nạn hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại hết thế giới)**See Seven calamities. 

(Great) calamity: Đại nạn.

Calamity of famine: Cơ Cẩn Tai—One of the three destructive calamities to end the world—Nạn đói (theo thuyết nhà Phật đây là một trong ba tai nạn nhỏ hay tiểu tam tai, xãy ra dưới thời trung kiếp, hai nạn kia là nạn binh đao và nạn bệnh dịch)—See Three minor calamities, and Three major calamities. 

Calamity of fire: Kiếp Tai—Great fire—Đại hỏa—One of the three destructive calamities to end the world—Những thời kỳ tai họa của lửa, một trong ba tai họa tiêu diệt thế giới—See Three calamities or three final catastrophes, and Three major calamities.

Calamity of fire, wind and water during the kalpa of destruction: Kiếp tai—Những thời kỳ tai họa của lửa, gió, nước trong thời hoại kiếp (sau thành kiếp là hoại kiếp, cuối hoại kiếp có ba tai nạn hỏa tai, phong tai, và thủy tai lan tràn phá hoại hết thế giới)—See Three calamities or three final catastrophes, and Three major calamities. 

Calamity and happiness is of one’s own seeking: Họa phúc đều do chính mình tạo ra (Họa phúc vô bất tự kỷ cầu chi giả)—There is no calamity and happiness that is not of one’s own seeking. 

Calamities of pestilence: Tật dịch tai—See Three minor calamities, and Three major calamities.

Calamities of wars (swords): Đao binh tai—See Three minor calamities, and Three major calamities.

Calamity of water: Great water—Đại thủy—One of the three destructive calamities to end the world, or the three final world catastrophes: fire, wind and water)—Thủy tai là một trong ba tai họa lớn vào thời hoại kiếp, tai họa tiêu diệt thế giới là lửa, gió và nước (hỏa, phong, thủy)—See Three calamities or three final catastrophes, and Three major calamities.

Calamity of wind: The calamity of destruction by wind—Phong tai (đại phong hay nạn gió trong thời hoại kiếp)—See Three calamities or three final catastrophes, and Three major calamities. 

Calendraradja (skt): Ta La thọ vương Phật.

Call (v): Invite to come—Beckon—Notify—Chiêu—Kêu gọi.

Call upon Amitabha Buddha within the heart: Tức Tâm Niệm Phật—To remember Amitabha within the heart. At that  moment, one’s mind identifies with the Buddha’s (Pure Land)—Niệm hoặc nhớ tưởng đến hồng danh Phật A Di Đà trong tâm. Ngay lúc đó tâm mình là Tịnh Độ. 

Call upon Buddha at special time: Biệt Thời Niệm Phật—To call upon Buddha at special time. The most practical and effective way for all Buddhists, especially lay followers. When the ordinary religious practicies are ineffective the Pure Land sect call upon Buddha for a period of one to seven days, or ten to ninety days—Niệm Phật trong một thời khắc đặc biệt. Đây là một phương pháp thực tiển và hữu hiệu nhứt cho Phật tử, nhứt là Phật tử tại gia. Khi những cách tu tập bình thường không hữu hiệu, nên người tu tịnh độ lấy kỳ hạn một ngày, hai ngày, ba ngày, cho tới bảy ngày, hoặc mười ngày cho tới 90 ngày chuyên cần niệm Phật, như thế gọi là “Biệt Thời Niệm Phật.” 

Call the Buddha to witness: Xin Đức Phật chứng giám. 

Call forth a spirit: Call home the soul of someone—Invite the spirit of someone to return home—Invoke a spirit—Chiêu hồn.

Call ghosts and spirits to witness: Swear by all the gods—Xin quỷ thần chứng minh. 

Call home the soul of someone: Call forth a spirit—To invite the spirit of someone to return home—Invoke a spirit—Chiêu hồn (gọi hồn người chết trở về). 

Call a name: Vyapadisati (skt)—Định danh—To designate—To give a name or title. 

Call on the name of a Buddha with undivided mind: Nhất Tâm Xưng Danh—With undivided mind to call on the name of a Buddha, either Amitabha or Kuan Shi Yin—Nhất tâm trì niệm hồng danh Phật A Di Đà hay Bồ Tát Quán Thế Âm.

Call on Nirvana: Xướng Tịch—To cry or to call on Nirvana, as the Buddha is said to have done at his death—Niệm Niết Bàn, như người ta nói Đức Phật đã làm lúc Ngài thị tịch. 

Call upon someone to speak: Nhường lời. 

Call forth a spirit: To call home the soul of someone—To invite the spirit of someone to return home—Chiêu hồn (gọi hồn người chết trở về). 

Calligraph: The art of producing beautiful and artistic handwriting using a brush—Thư pháp (phép viết chữ đẹp bằng bút lông)

Callous: Nhẫn tâm.

Callous abandonment: Nhẫn tâm từ bỏ 

Calm (a): Ekagga (p)—Ekagra (skt).
1) Santi (p): Santa (skt)—Quiet—Sedate—Serene—Peaceful—Silent—An Bình—An nhiên—An tĩnh—Tịnh lặng.
a) (a)—Calm—Tranquil—Free from passions—Undisturbed. 
b) (n)—Upasanti (skt)—Tranquility—Peace—Security—Calmness.
c) (v)—Upasamayati (skt)—To pacify—To become calm or quiet—To make quiet—To tranquilize.
2) One of the six subjects in meditation. By meditations on the distasteful and the delight, delusions and passions may be overcome—Tịnh, một trong sáu đối tượng thiền quán. Bằng thiền quán chúng ta có thể vượt qua mọi ảo tưởng dục vọng—See Six subjects in meditation.
3) Cool: Trầm tĩnh—According to Buddhism, calmness is not weakness. A calm attitude at all times shows a man of civilization and culture. It’s not too hard for man to be calm when things are favorable, but to be composed when things are wrong is extremely hard indeed, and it is this difficult quality that is worth achieving; for by such calm and control he builds up strength of character. It is quite wrong to imagine that they alone are strong and powerful who are noisy and showing off their power—Theo đạo Phật, sự trầm tĩnh không phải là sự yếu đuối. Thái độ trầm tĩnh trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, biểu hiện một con người văn minh và có văn hóa. Giữ tâm trầm tĩnh trong hoàn cảnh thuận lợi không khó khăn, nhưng trầm tĩnh trước hoàn cảnh khó khăn quả thật là khó khăn, và càng có giá trị khi thực hiện được sự trầm tĩnh trước hoàn cảnh khó khăn, vì qua sự trầm tĩnh này chúng ta mới tạo được nghị lực cho cá tính của mình. Thật là hoàn toàn sai lầm khi tưởng rằng mình có sức mạnh và quyền lực khi mình tỏ ra ồn ào và chứng tỏ được quyền lực của mình.   
4) (v): Proclaim an amnesty—Chiêu an.

Calm abiding: Tỉnh trụ. 

Calm abiding meditation: In all Buddhist traditions, two principal qualities are developed in meditation: calming abiding (samatha) and special insight (vipassana). Generally, calm abiding is practiced first to free the mind from its internal chatter and to develop concentration. In both Mahayana and Theravada traditions, the breath is taken as the object of meditation, and one trains the mind to be alert and focused on the sensation of the breath in each moment. When initially trying to concentrate, the mind is cluttered with mental noise. Several techniques are applied to help solve this problem. One may relax each part of the body, and while doing so, let go of a distracting thought. In another technique, one simply acknowledges the presence of the thoughts and emotions which arise, but doesn’t give them attention and energy. In this way, they settle of their own accord. Another technique, one may recite the name of the Buddha on the in- and out-breaths to help focus one’s concentration (the name of any Buddha one likes to recite)

—Trong tất cả các truyền thống Phật giáo đều có hai phẩm tính căn bản trong công phu thiền định: tịnh trú và quán sát. Nói chung, thiền tịnh trú được thực tập nhằm giải thoát tâm khỏi những tiếng rù rì từ bên trong và phát triển sức tập trung. Trong cả hai truyền thống Đại Thừa và Nguyên Thủy, hơi thở được vận dụng làm đối tượng của thiền tập, và hành giả tu tập để được một tâm thức tỉnh giác, tập trung vào sự cảm thọ của hơi thở từng giây từng phút. Lúc mới khởi đầu cố gắng tập trung, tâm thức chúng ta lộn xộn với những tiếng ồn ào của tạp niệm. Có một số phương cách thiền định nhằm giúp giải quyết trở ngại này. Chúng ta có thể thư giãn từng phần trong thân thể song song với việc xẻ bỏ những tạp niệm làm tâm mình phân tán. Một phương cách khác, hành giả chỉ đơn thuần ghi nhận sự có mặt của những ý tưởng hay những cảm thọ đang khởi lên, nhưng không để tâm cũng không truyền thêm sức mạnh cho chúng. Làm được như vậy thì những ý tưởng và những cảm thọ tự khởi lên rồi cũng tự lặng xuống. Một phương cách khác nữa là niệm hồng danh Đức Phật (tên bất cứ Đức Phật nào mà mình muốn niệm) trong hơi thở vào, thở ra nhằm giúp tập trung tâm ý.  

Calm the activity of body: Tịnh chỉ thân hành (tham ái của thân). 

Calm the activities of life: Tịnh chỉ các hành (tận diệt mọi tham ái trong cuộc sống hằng ngày). 

Calm the activity of thought: Tịnh chỉ tâm hành (tham ái của tâm). 

Calm and clear state of samadhi: Am tường Tam muội. 

Calm and illumination: Tịch Quang.
1) Calm and illuminating as are Truth and Knowledge: Chân lý tịch tĩnh và chân lý chiếu rọi. 
2) The hidden truth illuminating: Chỗ tịch lý được ánh sáng chiếu rọi. 

Calm meditation and insight meditation: Thiền định và Thiền tuệ giác—Buddhist meditation is based on two methods, calm (samatha) and insight (vipasyana), both of which are necessary vehicles on the path to the Cessation of Duhkha. Calm meditation aims at achieving calmness and concentration, and at raising the perception of the meditational subject to the point of abstraction. After mental obstacles have been eliminated, the mind “absorbs” itself into an abstract idea of the subject: this absorption is called “dhyana” (in Pali, jhana); in Chinese “Ch’an,” in Japanese “Zen,” and in Vietnamese “Thiền.” Different meditational  ‘aids’ give rise to different mental absorptions. A beginner might concentrate on a colored disc, while a more advanced practitioner could focus on reflecting the Buddha. The goal of insight meditation is to realize wisdom. This is also acquired gradually and ultimately achieved through the mental absorptions of samatha meditation. The practitioner aims to directly comprehend the three characteristics of the phenomenal world: impermanence, duhkha and no-self

—Thiền của Phật giáo dựa trên 2 phương pháp: vắng lặng hoặc tịnh tâm, và tuệ giác, cả hai đều là những phương tiện thiết yếu trên con đường tiến tới chấm dứt khổ đau. Thiền tịnh tâm nhằm vào việc đạt được sự vắng lặng và tập trung định lực và nâng cao nhận thức về đề mục thiền đến một điểm trừu tượng. Tất cả những chướng ngại tinh thần đã được loại trừ, khỏi tâm “hòa nhập” vào một ý tưởng trừu tượng của đề mục: sự an định này được gọi là “dhyana” (thiền định gom tâm lại), tiếng Pali là Jhana, tiếng Trung Hoa là Ch’an, tiếng Nhật là “Zen” và tiếng Việt là Thiền. Những công cụ hỗ trợ thiền mang lại những trạng thái an định khác nhau. Những người mới bắt đầu hành thiền có thể tập trung vào một cái đĩa có màu sắc làm đề mục tham thiền, trong khi những người tiến bộ hơn có thể tập trung vào sự tưởng niệm đến Phật. Mục đích của thiền tuệ giác  là nhận thức được tuệ giác (prajna). Điều này người ta sẽ có thể dần dần đạt được qua các trạng thái an định của thiền chỉ. Hành giả tập trung sự hiểu biết sâu sắc vào 3 đặc tính của thế tục: vô thường, khổ và vô ngã. 

Calm (v) oneself in a crisis: An thể định thần (tự trấn tĩnh lấy mình trong cơn khủng hoảng). 

Calm, Peaceful, Happy: Tĩnh lặng, an bình, hạnh phúc.

Calm progress: Sama-patipada (p)—Tịch Tịnh Hành—See Four kinds of progress (B).

Calm and pure: Tỉnh lặng và thanh tịnh. 

Calm and quiet: Tịch Tĩnh—Calm and quiet; free from temptation and distress; nirvana—Xa rời phiền não là tịch, dứt hết mọi khổ đau là tĩnh. Tịch tĩnh là cái lý của Niết Bàn. 

Calm thought: Tĩnh tư. 
1) Tịch Niệm—Calm the mind—Contemplation—Suy nghĩ một cách lặng lẽ an nhiên, không để cho tham sân si xen vào. 
2) Unperturbed abstraction: Dhyana (skt)—Đà Da Diễn Na—Tĩnh Lự—See Contemplation, Dhyana and      Meditation.

Calm tranquility: An ổn. 

Calm water: Định Thủy—Quieting the waters of the heart, and so beholding the Buddha, as the moon is reflected in still water—Định tâm trong sáng ví như mặt nước phẳng lặng. 

Calm wisdom: Tĩnh Huệ (tĩnh trí hay tĩnh tuệ).
1) The wisdom derived from quietness or mystic trance: Trí tuệ có được từ sự tĩnh lặng.
2) Calm wisdom, insight into the void, or immaterial, removed from the transient: Trí huệ tĩnh lặng, có khả năng thấu suốt tánh không của vạn hữu.  

Calmadana (skt): Chiết Ma Đà Na—Niết Mạt—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Calmadana is an ancient kingdom and city at the south-east borders of the desert of Gobi—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Chiết Ma Đà Na là tên của một vương quốc cổ nằm về phía đông nam sa mạc Gobi. 

Calming: Samatha (skt & p)—Calming is a meditative state characterized by a one-pointedness  of mind (cittaikagrata) on an internal meditative object. One of the seven definitions of dhyana described as samatha or samadhi; it is defined as silencing, or putting to rest the active mind, or auto-hypnosis. The mind is centered or the mind steadily fixed on one place, or in one position. It differs from “contemplation” which observes, examines, sifts evidence. Samadhi or samatha has to do with getting rid of distraction for moral ends; it is abstraction, rather than contemplation. Theoretically, any object may serve as the focus of concentration, though virtuous objects such as the body of a Buddha are said to be preferable. It is attained when the mind is able to remain upon its object one-pointedly, spontaneously and without effort, and for as long a period of time as one wihes, without being disturbed by laxity or excitement. There are said to be six prerequisites for achieving calming. They are staying in an agreeable place, having few desires, knowing satisfaction, not having many activities, pure ethics, and thoroughly abandoning thoughts. It is generally considered to be a prerequisite for attainment of “higher insight” or “Prajna”

—Chỉ là một trạng thái thiền định biểu trưng sự nhất tâm (hay tâm tụ vào nhất điểm) trên một vật thể. Một trong bảy định nghĩa của Thiền Định, được diễn tả như là Xa-Ma-Tha hay Tam Ma Địa, có nghĩa là dẹp yên tâm loạn động, hay là để cho tâm yên định, dừng ở một chỗ. Tâm định chỉ ư nhứt xứ, khác với “quán” là xác nghiệm bằng chứng cứ. Chỉ là dẹp bỏ các vọng niệm, còn quán dùng để chứng nghiệm chân lý. Về mặt lý thuyết mà nói, bất cứ vật thể nào cũng có thể được dùng làm điểm tập trung, dù vậy những vật thể như thân Phật vẫn được người ta ưa thích dùng làm điểm tập trung hơn. Chỉ được thành đạt khi tâm có khả năng trụ yên một chỗ trên vật thể một cách tự nhiên không cần phải nỗ lực, và có khả năng trụ tại đó trong thời gian người đó muốn mà không bị phóng dật hay tán loạn quấy rầy. Người ta nói có sáu điều tiên quyết trước khi thành đạt được “Chỉ”, trụ nơi thích hợp, thiểu dục, tri túc, không có nhiều sinh hoạt, tịnh giới và phải hoàn toàn rũ bỏ mọi vọng niệm. Chỉ là điều cần có trước khi đạt được trí huệ “Bát Nhã”.    

Calmly joyful life of the mind: Ý An Lạc Hạnh—According to The Lotus Sutra, the calmly joyful life of the mind, one of the four means of attaining to happy contentment—Theo Kinh Pháp Hoa, đây là một trong tứ an lạc hạnh. Ý xa lìa lỗi lầm để được an lạc vui vẻ—See Four means of attaining to a happy contentment (3). 

Calmness (n): 
1) Ekagra (skt): Stillness—Quietness—Sự yên lặng.
2) Sànti (p & skt)—Sự tĩnh lặng—Tịch tĩnh (sự trầm lặng và tỉnh giác của tâm thức)—Tranquillity. 
3) Calmness is not weakness. A calm attitude at all times shows a man of culture. It is not too hard for a man to be calm when things are favorable, but to be composed when things are wrong is hard indeed, and it is this difficult quality that is worth achieving; for by such calm and control he builds up strength of character. It is quite wrong to imagine that they alone are strong and powerful who are noisy, garrulous and fussily busy. According to the Anguttara Nikaya, “Emptiness is loud, but fullness, calm. The fool’s a half-filled little tin box; the sage, a lake. The man who cultivates calmness of mind rarely gets upset when confronted with the vicissitudes of life. He tries to see things in their proper perspective, how things come into being and pass away. Free from anxiety and restlessness, he will try to see the fragility of the fragile. According to Suttanipata, quiet mind... go on, in fortune or misfortune, at their own private pace, like a clock during a thunderstorm.”

—Điềm tĩnh không phải là sự nhu nhược. Một thái độ điềm tĩnh lúc nào cũng cho thấy là một người có văn hóa. Thật ra, khi mọi vấn đề đều thuận lợi, không quá khó khăn cho một người giữ được thái độ điềm tĩnh, nhưng giữ được thái độ nầy trong những tình huống bất lợi thì quả thật là khó, mà chính cái khó nầy mới đáng để thành tựu, vì nhờ sự điềm tĩnh và kiểm soát như vậy mà chúng ta củng cố được nhân cách. Thật là sai lầm khi nghĩ rằng chỉ có những người ồn ào, ba hoa và lăng xăng mới là những người mạnh mẽ, đầy quyền lực. Theo Kinh Tăng Chi Bộ, “Cái gì trồng rỗng thì kêu to, cái gì đầy thì yên lặng. Theo Kinh Suttanipata, ngu như một nửa hộp nước nhỏ, bậc trí như ao đầy. Người thường xuyên trau dồi tâm điềm tĩnh khó có thể bị nao núng khi đương đầu với những thăng trầm của cuộc đời. Người ấy cố gắng thấy các pháp đúng theo viễn cảnh của nó, nghĩa là thấy được vì sao các pháp có mặt để rồi hoại diệt. Không còn lo lắng và bất an, người ấy cố gắng để thấy tính chất mong manh của các vật mỏng manh, dễ vỡ. Hãy làm cho tâm yên tĩnh tiến tới, dù vận may hay rủi, với từng bước chân của chính mình, giống như chiếc kim đồng hồ ung dung từng nhịp, từng nhịp trong cơn bão đầy sấm sét.”

Calmness and endurance: Quiet patience—Tịch Nhẫn (tịch tĩnh và nhẫn nhục, hay sự nhẫn nhục tịch tĩnh). 

Calmness and extinction: Parinirvana or Prasama (skt)—Tịch Diệt—Niết bàn tịch diệt, hay Đại Niết Bàn—Tranquility—Extinction—The great nirvana.

Calumniation (n): Sự vu khống. 

Calumniatory (a): Nói xấu—Vu khống. 

Calumny (n): Lời nói xấu hay vu khống. 

Camara (skt): 
1) Chiêm Mạt La: Name of several plants in India—Tên của vài loại cây ở Ấn Độ.
2) Già Đoạn: Già Mạt La—Name of one of the central parts of the southern continent, Jambudvipa—Tên của một trong những vùng trung tâm của miền nam châu Diêm Phù Đề (Già Mạt La Châu và Phiệt La Già Mạt La Châu).  

Cambodian Buddhism: Like its neighnors in Southeast Asia, Cambodia was heavily influenced by Indian culture from an early date. Cambodia is located in the mekong Valley on a trade route between India and China. So a variety of influences passed through the region, and there is evidence that by the fifth century Mahayana Buddhism, as well as Brahmanism, had become established in the area. According to Prof. P.V. Bapata in The Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, the archaeological finds and the Chinese Chronicles prove that from the end of the fifth or the beginning of the sixth century A.D., Buddhism flourished in Cambodia, though it did not occupy a dominant position, as it was less popular than some forms of Brahmanical religion. According to Chinise Chronicles, in 503 King Jayavarman of Fu-Nan sent representatives to China with gifts that included a Buddha image, and an inscription of his son Rudravarman mentions the Buddha. Later on, the dominant people of Cambodian are the Khmers, who constitute seventy percent of the population. The Khmers developed a great civilization centered in the area of Angkor, and in the following centuries a royal cult developed, which treated the Khmer rulers as “divine kings” (devaraja) or “Buddha kings” (Buddharaja). The great emperor, Yasovarman, who ruled at the end of the ninth century A.D., established a Saugatasrama which was specially meant for Buddhist monks, and elaborate regulations were laid down for the guidance of this asrama or hermitage. King Jayavarman VII (1181-1220) was a devout Buddhist and received the posthumous title, Mahaparamasaugata. The records of his reign express beautifully the typical Buddhist view of life, particularly the feelings of charity and compassion towards the whole universe. His role in the founding of religious institutions was magnificent. A Sanskrit inscription of Jayavarman VII gives us interesting information about the religious mood of his queen. It is said that when Jayavarman first went to Champa, his wife, Jayarajadevi, showed her conjugal fidelity by undergoing austerities of diverse types and of long duration. She was then initiated to Buddhism by her elder sister. It is said that she performed a ceremony by which she could see before her the image of her absent husband. When her husband returned, she increased her pious and charitable works. These included a dramatic performance, the plot of which was drawn from the Jatakas and which was acted by a body of nuns recruited from among castaway girls. The Bayon Temple, constructed by Jayavarman VII, the king identified himself with Lokesvara and sometimes he was considered to be an incarnate Buddha. The Khmer kings built extensive monuments to themselves, the most famous being Angkor Wat, but the enormous cost of financing such huge projects appears to have weakened the monarchy. Several of the kings of Angkor proclaimed themselves to be Mahayana Buddhists, but after the abandoning of Angkor in 1431 Theravada eventually became the dominant form of Buddhism in the area. Theravada was first introduced to the region in the 12th century by a Burmese monk. The first documented Theravada inscription has been dated to around 1230, during the reign of king Indravarman II, and it appears that the tradition spread rapidly among the masses. King Jayavarman Paramesvara, who ascended the throne in 1327, was a supporter of Theravada, who replaced Sanskrit with Pali as the language of religious texts and rituals. Buddhism continued to flourish in Cambodia in the thirteenth century A.D. It must be remembered, however, that up to this time, although Buddhism was in a flourishing condition, it was neither the State religion, nor even the dominating religious sect in the country. There is no definite information as to when Buddhism attained this position. But the change was undoubtedly due to the influence of the Thais, who were ardent Buddhists, and had conquered a large part of Cambodia. Whereas, in the earlier period, Thailand was influenced by Cambodia, the role was now reversed, and Cambodia, under the influence of the Thais, was converted, almost the whole country, to Buddhism. Even the Brahmanical gods in the great sanctuaries like Angkor Vat were replaced by Buddhist images. We cannot trace the exact stages of this conversion, but, gradually, Buddhism became the dominant creed in Cambodia and totally there is hardly any trace of the Brahmanical religion in the country, except in some of the ceremonies and festivities of the people

—Cũng như các lân bang trong vùng Đông Nam Á, Cam Bốt đã chịu ảnh hưởng nặng bởi nền văn hóa Ấn Độ ngay từ những ngày rất sớm. Cam Bốt tọa lạc trong vùng châu thổ sông Cửu Long, trên đường giao thương giữa Ấn Độ và Trung Hoa. Vì vậy mà một số những ảnh hưỡng khác nhau đã được truyền qua khu vực này, và có bằng chứng là vào thế kỷ thứ 5 thì cả Phật Giáo Đại Thừa lẫn Bà La Môn giáo đã được thiết lập trong khu vực. Theo Giáo Sư P.V. Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, nhiều phát hiện khảo cổ học và Biên Niên Sử Trung Hoa cho thấy rằng từ cuối thế kỷ thứ 5, hoặc đầu thế kỷ thứ 6, Phật giáo đã phát triển tại Cam Bốt, dù rằng chưa chiếm được một địa vị nổi bật, vì ít được biết đến so với một số hệ phái Bà La Môn. Theo Biên Niên Sử Trung Hoa, vào năm 503 vua Jayavarman của vương quốc Phù Nam đã gởi đại diện sang Trung Hoa với cống vật trong đó có một hình tượng Phật và một câu viết của con ông là Rudravarman nói về Đức Phật. Về sau này, đa số dân chúng của Cam Bốt là người Khmer, gồm khoảng 70 phần trăm. Người Khmer phát triển một nền văn minh lớn được đặt tâm điểm trong vùng Angkor, và những thế kỷ sau này sự tôn sùng hoàng tộc phát triển nên người ta coi những người cai trị Khmer như những vị Thiên vương hay Phật vương. Đại đế Yasovarman trị vì vào cuối thế kỷ thứ 9 đã cho xây một đại tịnh thất (Saugatasrama) dành riêng cho các tu sĩ Phật giáo và ban hành những qui định tỉ mỉ về việc điều hành tịnh thất nầy. Vua Jayavarman VII (1181-1220) là một Phật tử sùng đạo và đã được truy phong danh hiệu Mahaparamasaugata sau khi qua đời. Tài liệu ghi chép về triều đại của ông thể hiện một cách đẹp đẽ nhân sinh quan điển hình của đạo Phật. Sự đóng góp của ông trong việc xây dựng các công trình tôn giáo vô cùng to lớn. Một tài liệu khác bằng tiếng Phạn về vua Jayavarman VII, cho ta chi tiết thú vị về tâm đạo của vợ ông. Theo lời kể thì Jayavarman lần đầu tiên đi đến Chiêm Thành, hoàng hậu là Jayarajadevi đã tỏ lòng chung thủy của mình bằng trải qua khổ hạnh nhiều ngày. Bà liền được chị mình khai tâm đạo Phật. Bà đã cử hành một buổi lễ, qua đó bà có thể nhìn thấy ảnh chồng mình hiện ra trước mặt. Đến khi nhà vua trở về, bà càng gia tăng các công việc từ thiện và lòng mộ đạo. Trong khu đền Bayon, được vua Jayavarman VII xây dựng, nhà vua đã tự đồng nhất mình với Đức Quán Thế Âm, hoặc tự coi mình như Phật hóa thân. Những vị vua Khmer xây nhiều đền đài cho mình, nổi tiếng nhất là khu Angkor Wat, nhưng sự tốn kém tài chánh làm yếu dần vương triều. Những vương triều Khmer ở Angkor tự cho mình theo Phật giáo Đại Thừa, nhưng sau khi Angkor bị phế bỏ vào năm 1431, Phật giáo Nguyên Thủy cuối cùng chế ngự trong vùng. Phật giáo Nguyên Thủy đầu tiên được một nhà sư Miến Điện đưa vào Cam Bốt vào thế kỷ thứ 12. Những tài liệu đầu tiên cho thấy kinh điển Phật giáo Nguyên Thủy đã có mặt tại Cam Bốt vào khoảng năm 1230, dưới thời vua Indravarman II, và truyền thống này đã nhanh chóng truyền khắp dân gian. Vua Jayavarman Paramesvara lên ngôi năm 1327 là một vị quân vương hỗ trợ Phật giáo Nguyên Thủy, chính ông đã cho thay thế tất cả những kinh điển và nghi thức ngôn ngữ  Bắc Phạn bằng ngôn ngữ Nam Phạn. Phật giáo tiếp tục phát triển ở Cam Bốt trong thế kỷ 13. Tuy nhiên, cần nhớ rằng mãi cho đến thời điểm đó, mặc dù đạo Phật có điều kiện thuận lợi để phát triển nhưng vẫn không trở thành quốc giáo và thậm chí cũng không là một tôn giáo chiếm ưu thế tại đất nước nầy. Không có chi tiết chính xác là Phật giáo đã đạt tới địa vị nầy vào lúc nào. Nhưng sự thay đổi nầy chắc chắn là do ảnh hưởng của người Thái Lan, vốn là những tín đồ Phật giáo cuồng nhiệt và họ đã xâm chiếm một phần lớn đất đai của Cam Bốt. Trong khi vào lúc đầu thì Thái Lan chịu ảnh hưởng Phật giáo Cam Bốt, thì nay vai trò đã đảo ngược lại, người Cam Bốt dưới ảnh hưởng của người Thái Lan đã chuyển tín ngưỡng gần như toàn bộ theo đạo Phật. Ngay cả các vị Thần trong các đền lớn như Đế Thiên Đế Thích (Angkor Vat) cũng được thay thế bằng những tượng Phật. Chúng ta không thể tìm thấy bằng chứng đích xác về các giai đoạn của sự chuyển đạo nầy, nhưng Phật giáo đã dần dần trở thành một tôn giáo chiếm ưu thế ở Cam Bốt, và ngày nay chúng ta khó tìm thấy một dấu tích nào về đạo Bà La Môn trên đất nước nầy, ngoại trừ một số sinh hoạt lễ hội của dân chúng. 

Campa (skt): Campa or Campaka (skt)—Chiêm Bặc Ca—Chiêm Ba Ca—Chiêm Bà—Chiêm Bác—Chiêm Bác Ca—Chiêm Bặc—A yellow fragrant flower. Its fragrance spreading very far—Kim Sắc Hoa hay Mộc Lan, tên của một loại bông thơm màu vàng, hương thơm của nó lan tỏa rất xa.
 
Campaka (skt): Chiêm Ba Quốc—A kingdom and city od Campa in the central India, along the riverbank of the Ganges, according to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, the modern Bhagalpur or a place in its vicinity, founded by Campa, a district in the upper Punjab—Nước Chiêm Ba ở miền Trung Ấn Độ, bên bờ sông Hằng (xứ có nhiều cây Chiêm Ba hay Mộc Lan, nên lấy tên ấy mà đặt cho xứ), là một nước ở miền trung Ấn Độ, mà theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, bây giờ là Bhagalpur hay vùng phụ cận phía trên Punjab được thành lập bởi dân Chiêm Ba.  

Cam Thanh Zen Master: Thiền Sư Cảm Thành (?-860)—Zen Master Cảm Thành (?-860)—Zen Master Cảm Thành, a Vietnamese monk from Tiên Du, North Vietnam. He previously practiced Buddhism at Phật Tích Temple. He was the first lineage of the Wu-Yun-T’ung Sect. When he left home to become a monk, he focused in reciting sutras. There was a patron of Buddhism, whose last name was Nguyễn, a rich landlord from Phù Đổng hamlet, donated his land for him to build a temple. First, he was reluctant to accept it because he did not want to be attached to anything; however, later in his dream, he met someone who recommended him to accept the land to build a temple for the benefits of other people.  In fact, not long after the Kiến Sơ Temple was built, in 820, under the T’ang dynasty in China, Zen Master Vô Ngôn Thông, used to be Head of Hòa An Temple in China, arrived in Vietnam and stayed at Kiến Sơ to practice “face-to-a-wall” meditation for several years. Later he founded the Wu-Yun-T’ung (Vô Ngôn Thông) Zen Sect right at the Kiến Sơ Temple and became the First Patriarch, and Cảm Thành became his disciple. When he passed away, Zen Master Cảm Thành became the second Patriarch. In 860, Zen master Cảm Thành passed away quietly

—Sư quê ở huyện Tiên Du, trước tu ở chùa Phật Tích. Thiền Sư Cảm Thành, đời thứ nhất của dòng Vô Ngôn Thông. Khi mới xuất gia, sư lấy hiệu là Lập Đức, chuyên trì tụng kinh điển. Lúc ấy có người họ Nguyễn ở hương Phù Đổng hiến đất lập chùa. Thoạt tiên, ông e ngại không nhận vì ông không muốn vướng mắc vào bất cứ thứ gì; tuy nhiên, sau đó ông nằm mộng có người mách bảo nên nhận vì lợi ích của nhiều người khác. Quả thật, sau khi xây chùa Kiến Sơ chẳng bao lâu, vào năm 820, dưới thời nhà Đường, có Thiền Sư Vô Ngôn Thông, nguyên trụ trì chùa Hòa An từ bên Tàu qua, ghé lại chùa và thiền diện bích tại đây trong nhiều năm. Sư Cảm Thành rất kính mộ và tôn Thiền Sư làm Thầy. Sau khi Thiền Sư Vô Ngôn Thông thị tịch thì Sư Cảm Thành trở thành nhị tổ của Thiền phái Vô Ngôn Thông. Vào năm 860, Sư an nhiên thị tịch—See Kien Sơ Temple.  

Camunda (skt): Già Văn Đồ.
1) A Jealous woman: Tật đố của người nữ—Hạng đàn bà hay ganh ghét.
2) An angry spirit: Nộ Thần.
3) Evil Demon, one used to call up the dead to slay an enemy: Quỷ Nhập Tràng—Loại ác quỷ chiêu hồn người chết để giết kẻ thù. 

Can be leaders of sentient beings: Chư Phật đều hay vì tất cả chúng sanh mà làm chủ—See Ten kinds of measureless, inconceivable ways of fulfillment of Buddhahood of all Buddhas.

Can believe: Năng Tín—Can be believed, contrasted with that which is believed—Năng tín là có thể tin được, đối lại với sở tín hay cái được tin.

Can see things in the dark: Trong Tối Thấy Vật—See Ten states of the form-skandha.

Can teach all sentient beings: Chư Phật đều hay giáo hóa tất cả chúng sanh—See Ten kinds of measureless, inconceivable ways of fulfillment of Buddhahood of all Buddhas. 

Canavasa: See Canavasa. 

Canca’s false accuse: Sự vu cáo của Chiên Già—Canca tried to dishonor him by pretending to pregnant and falsely accusing him—Nàng Chiên Già cố làm nhục Ngài bằng cách giả bụng chửa rồi vu cáo—See Nine distresses.

Canca’s malicious plot: Âm mưu xấu của Chiên Già—See Canca’s false accuse, and Nine distresses.

Candala (skt): Chiên đà la—Outcast—Untouchable—The lowest class in the Indian caste system, beneath even the lowest of the four formal castes. Its members are fishermen, jailers, slaughterers—Giai cấp thấp nhất trong hệ thống giai cấp ở Ấn Độ, dưới cả giai cấp thứ tư trong hệ thống này. Thành viên của giai cấp này gồm những người đánh cá, cai ngục, và những người làm nghề đồ tể—See Four castes in India.  

Candali (skt): A Sanskrit term for “heat yoga.” First of the “six dharmas of Naropa,” which involves developing the ability to increase and channel inner heat, generally involving  the visualization of the sun in various places of the meditator’s body. The technique requires that the meditator become aware of subtle energies that move through energy channels. Through manipulating and directing these energies, the meditator learns to concentrate them in particular places

—Thuật ngữ Bắc Phạn dùng để chỉ “Du Già Nhiệt.” Pháp thứ nhất trong sáu pháp của Naropa, liên hệ tới việc phát triển khả năng làm tăng kênh nội nhiệt, thường liên hệ tới việc quán tưởng mặt trời ở những nơi khác nhau trong thân thể của hành giả. Kỹ thuật đòi hỏi hành giả trở nên tỉnh thức về những nguồn năng lượng vi tế di chuyển qua các kênh trong cơ thể. Qua vận động và đưa những nguồn năng lượng này, hành giả biết được cách tập trung những nguồn năng lượng này tại những nơi đặc biệt. 
 
Candana (skt): Gỗ Chiên đàn trắng—White sandalwood. 

Candana-Cave-Adornment-Excels Buddha: Chiên Đàn Quyệt Trang Nghiêm Thắng Phật. 

Candana-Merit-Virtue Buddha: Chiên Đàn Công Đức Phật. 

Candanaprabha Buddha: Chiên Đàn Quang Phật. 

Candid (a): Ngay thật—Honest—Sincere.

Candle (n): Cây nến. 

Candleholder: Candlestick—Chân nến. 

Candra (skt): Chiến Đạt La—Chiến Nại La.
1) The moon: Mặt Trăng.
2) The moon deity: Nguyệt Thần.
3) Name of a heretical leader: Tên của một vị lãnh đạo một phái ngoại đạo. 

Candlestick: Đèn nến—See Three essential articles for worship.

Candra (p): Nguyệt cung thiên tử—Nguyệt Thần—Glittering—Shining—Having the brilliancy or hue of light—See Twenty devas. 

Candra-dipa-samadhi (skt): Nguyệt Đăng Tam Muội—The samadhi said to have been given to the “Nguyệt Quang Đồng Tử” by the Buddha, the sutra of which is in two translations—Tam muội mà Phật đã thuyết cho Nguyệt Quang Đồng Tử nghe về pháp môn Nhất thiết chư pháp thể tánh bình đẳng vô lý luận tam muội, kinh Nguyệt Đăng Tam Muội vẫn còn với hai bản dịch. 

Candrakanta (skt): Nguyệt Ái Châu—The moon-love pearl or moonstone, which bestowes abundance of water or rain—Ngọc châu Nguyệt Ái, được dùng để ban nước hay mưa. 

Candrakirti (skt): Nguyệt Xứng.

(I) A brief biography of Candrakirti—Sơ lược tiểu sử của ngài Nguyệt Xứng: An influential Madhyamaka philosopher and polemicist, considered by Tibetan doxographers to be the most important commentator of the Prasangika-Madhyamaka tradition. He saw himself as defending the commentarial tradition of Buddhapalita against its rivals, most importantly the tradition of Bhavya and the Yogacara tradition, founded by Asanga and Vasubandhu. His commentary on Nagarjuna’s Fundamental Verses on the Middle Way (Mulamadhyamaka-Karika), entitled Clear Words (Prasanna-pada), became the definitive interpretation of Nagarjuna in Tibet. One of the most important representatives of the school of Madhyamika in the 8th century. He played an important role and had great influence on the development of the Madhyamika in Tibet

—Một trong những triết gia theo chủ trương bút chiến của trường phái Trung Đạo vào thế kỷ thứ tám, ông đã có ảnh hưởng rất lớn trong việc truyền bá trường phái Trung Đạo vào đất Tây Tạng. Ông tự xem mình như là nhà phê bình bảo vệ truyền thống giáo thuyết của Ngài Buddhspalita chống lại các đối thủ của nó, quan trọng hơn hết là truyền thống Bhavya và truyền thống Du Già được các ngài Vô Trước và Thế Thân sáng lập. Tập phê bình của ông trên tác phẩm Căn Bản Kệ về Trung Đạo, có nhan đề “Minh Ngữ” đã trở thành tập sách giảng giải dứt khoát về Long Thọ tại Tây Tạng. Ông là một trong những đại biểu quan trọng nhất của trường phái Trung Quán vào thế kỷ thứ 8. Ông giữ một vai trò quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển Trung Quán tại Tây Tạng—See Madhyamika.

(II) Commentaries written by Candrakirti—Những bộ luận của ngài Nguyệt Xứng: About 20 of his commentaries were written on Nagarjuna’s Madhyamaka Sastra. They are available only in Tebetan translation. Candrakirti’s Prasannapada commentary is the only one that has survived in the original Samskrta. It seems to have elbowed every other commentary out of existence. He flourished early in seventh century A.D. and wrote several outstanding works. He was born in Samanta in the South. He studied Madhyamaka philosophy under Kamalabuddhi, a disciple of Buddhipalita, a disciple of Kamalabuddhi, a disciple of Buddhapalita and probably under Bhavya also. His prasannapada commentary on Nagarjuna’s Madhyamaka sastra, has already been mentioned. He wrote an independent work, named “Madhyamakavatara” with an auto-commentary. He frequently refers to Madhyamakavatara in his Prasannapada which goes to show that the former was written earlier than the latter. He also wrote commentaries on Nagarjuna’s Sunyata Saptati and Yukti Sastika and on Aryadeva’s Catuhsataka. Two other manuals (prakaranas), Madhyamaka-prajnavatara and Pancaskandha were also written by him. Of all his works, only Prasannapada is available in the original; other works are available only in Tibetan translation. Candrakiirti vigorously defends the Prasangika school, and exposes the hollowness of Bhavaviveka’s logic at many places. He also supports the common sense view of sense perception and criticizes the doctrine of the ‘unique particular’ (Svalaksana) and perception devoid of determination (kalpanapodha). He has also criticized Vijnanavada and maintains that consciousness (vijnana) without an object is unthinkable

—Ông đã viết khoảng 20 bộ luận giải về Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Những tác phẩm này hiện chỉ còn được bảo tồn ở những bản dịch bằng tiếng Tây Tạng. Trong đó “Minh Cú Luận” của ngài là bản duy nhất còn tồn tại trong văn bản Bắc Phạn nguyên thủy. Dường như chính nó đã hất cẳng tất cả những bản chú giải khác. Nguyệt Xứng nổi tiếng vào đầu thế kỷ thứ 7 và ngài đã viết một số tác phẩm xuất sắc. Ngài đã từng theo Liên Hoa Giác, một đệ tử của ngài Phật Hộ, để nghiên cứu về giáo lý Trung Quán, và có thể ngài cũng là đệ tử của Thanh Biện. Như đã nói, tác phẩm “Minh Cú Luận” là bộ luận giải do ngài viết nhằm chú giải Trung Quán Luận của ngài Long Thọ. Ngoài ra, “Nhập Trung Luận” và chú thích của nó chính là tác phẩm độc lập của ngài. Trong Minh Cú Luận ngài thường đề cập đến “Nhập trung Luận,” điều này cho thấy rõ rằng “Nhập trung Luận” đã được viết sớm hơn Minh Cú Luận. Ngoài ra, ngài còn chú giải “Thất thập tụng không tánh luận,” “Lục Thập Tụng Chánh Lý Luận” của ngài Long Thọ và “Tứ Bách Luận” của ngài Thánh Đề Bà. Ngoài ra, còn có hai bản khái luận, đó là “Nhập trung Đạo Bát Nhã Luận” và “Ngũ Uẩn Luận.” Trong tất cả các sách của ngài, hiện chỉ còn Minh Cú Luận là vẫn còn bản gốc, còn thì tất cả chỉ còn tồn tại qua bản dịch bằng Tạng ngữ mà thôi. Nguyệt Xứng đã biện hộ cho Quy Mậu Luận Chứng Phái một cách nhiệt liệt, hơn nữa ngài còn nêu ra rất nhiều điểm sơ hở về luận lý của Thanh Biện. Ngài cũng ủng hộ chủ trương quan điểm thông thường của cảm quan tri giác và chỉ trích học thuyết “Tự Tướng” và “Vô Phân Biệt.” Ngài cũng phê bình về thuyết “Vô Thức” và cho rằng ý thức mà không có đối tượng là một điều không thể quan niệm được.       

Candraprabha (skt): Chiến Đạt La Bát Lạt Bà—Moonlight, name of Sakyamuni when a king in a former incarnation, who cut off his head as a gift to others—Tên của Phật Thích Ca trong tiền kiếp khi Ngài còn là một vị quốc vương, cắt đầu bố thí. 

Candraprabha Bodhisattva: Nguyệt Quang Vương—See Twenty five Bodhisattvas who protect all who call Amitabha.

Candra-surya-pradipa (skt): Nhựt Nguyệt đăng minh—Sun Moon Torchlight—Sun Moon light (name of a Buddha). According to the Lotus Sutra, the is the title of 20,000 Buddhas in the past kalpas, who succeeded each other preaching the Lotus Sutra—Theo Phẩm Tự của Kinh Pháp Hoa, đời quá khứ có hai vạn vị Phật có cùng tên là Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật, đã kế tiếp nhau xuất hiện nơi đời mà thuyết Kinh Pháp Hoa.  

Candravamsa (skt): Nguyệt Chủng—Descendants of the moon, the lunar race of kings or the second great line of Kshatriya or royal dynasties in India—Dòng dõi mặt trăng, một dòng họ thuộc giai cấp Sát Đế Lợi ở Ấn Độ.

Candravarma (skt): Nguyệt Trụ (Chiến Đạt La Phạt Ma)—A learned monk of the Nagavadana monastery. 

Candra-vimala-surya-prabhasa-sri (skt): Nhật Nguyệt Tịnh Minh Đức—A Buddha whose realm resembles Sukhavati of Amitabha Buddha—Vị Phật mà pháp giới cũng giống như An Dưỡng Quốc của Phật A Di Đà. ** See      Sukhavati. 

Candrottaradarikapariprccha-Sutra (skt): Kinh Nguyệt Thượng Nữ Kinh—The sutra mentioned about Candrottara, a daughter of a rich old man named Vilamakirti (not the layman Vilamakirti). She was predicted by the Buddha that she would become a Buddha in a future life. The sutra was translated into Chinese by Jnanaguptaad

—Kinh nói về nàng Nguyệt Thượng, con gái của ông trưởng giả Duy Ma Cật (không phải là Cư Sĩ Duy Ma Cật). Nàng được đức Phật thọ ký rằng trong một kiếp tương lai sẽ trở thành một vị Phật. Kinh được Ngài Xà Na Quật Đa dịch sang Hán tự.  

Cane used to awaken sleepers during meditation: Cảnh Sách—A switch or cane to awaken sleepers during an assembly for meditation—Roi dùng ngăn chận cơn buồn ngủ của chư Tăng Ni trong lúc ngồi thiền trong thiền đường (roi dài 4 thước 2 tấc, có đầu mềm, kẻ bị đánh phải cúi đầu tạ tội). 

Canker (n): Lậu Hoặc—See Asrava. 

Canker of becoming: Bhavasava (p)—Hữu lậu—Attachment to the world of form and formlessness. It is craving for jhanas accompanied by the false views of eternalism and annihilationism—Tham ái các cõi thiền đi kèm với tà kiến về thuyết thường hằng và thuyết đoạn diệt.  

Canker of false views: Ditthasava (p)—Kiến lậu—Canker of false views is often included in the canker of becoming—Kiến lậu thường được bao gồm vào hữu lậu. 

Canker of ignorance: Avijjasava (p)—Vô minh lậu—Ignorance of the way or not understanding the Four Noble Truths—Không hiểu đạo hay không hiểu Tứ Thánh Đế.

Canker of sense-sphere: Kamasava (p)—Attachment to the world of sense-desire—Dục lậu hay luyến ái cõi dục. 

Cankerless: Free from cankers—Canker-free—Không có lậu hoặc. 

Cankrama (skt): Kinh Hành.
1) Meditative walking by walking up and down. To walk about when meditating to prevent sleepiness: Hành thiền bằng cách đi tới đi lui để tránh buồn ngủ (có thể đi trong sân nhà, sân chùa, hay quanh Phật điện).
2) Exercise to keep in health; the cankramana was a place for such exercise, i.e. a cloister, a corridor: Tập dưỡng thân phòng bệnh trong hành lang tự viện. 

Cannot be covered: Vô Cái.
1) Cannot be covered or contained, universal: Không bao trùm hay chứa đựng được (phổ quát).
2) A characteristic of the pity of Buddha which includes all beings: Tính bi mẫn của Đức Phật rộng lớn cùng cực, bao trùm lên tất cả chúng sanh. 

Canon (skt): Kinh điển—The discourses of Buddha—Tipitaka. 
1) Tipitaka: Three baskets in Pali recognized by Theravada school.
2) Mahayana sutras: Written in Sanskrit recognized by the Mahayana school, including the sutras (kinh), Tantras (luật), and the Commentary (luận). 
3) See Tripitaka. 

Canon Treasury: The treasury for holy text books—Tàng Kinh Các. 

Canonical (a): Thuộc về kinh điển. 

Canonical subjects: Các môn nội điển. 

Canonically (adv): Hợp với kinh điển.  

Canonist (n): Nhà nghiên cứu kinh điển. 

Canonization (n): Sự liệt kê vào Thánh Điển—Sự công nhận như là Kinh Điển. 

Canonize: Phong Thánh.  

Canopy (n): Lộng dù. 

Canopy of blessing: Cover of blessing—Phước cái. 

Caodaism (n): Đạo Cao Đài ở Việt Nam, do ông Ngô văn Chiêu sáng lập năm 1926 tại Tậy Ninh, Nam Việt—Caodaism in Vietnam, founded by Ngo van Chiêu in 1926 in Tây  Ninh, South Vietnam. 

Cap made of bits of given material: Nạp Mạo—Chiếc nón được làm bằng những vật liệu vải do đàn na bố thí. 

Capability (n): Sak (skt)—Ability—Khả năng.

Capacity (n): Năng lực.

Capacity for Buddhism: Vessel of religion—Đạo khí.

Capacity for immediate enlightenment: Đốn Cơ—The opportunity for immediate elightenment—Căn cơ tức thì giác ngộ. 

Capacity of any organ: Natural capacity—Căn khí.

Capacity to use supernatural powers without hindrance: Thông Lực—The capacity to employ supernatural powers without hindrance—Tác dụng của sức mạnh thần thông không chướng ngại.
1) Buddhas or Bodhisattvas, etc, have spiritual or transcendent power: Thần Thông—Thông lực của chư Phật và chư Bồ Tát.
2) Demons have magical powers acquired through their karma: Nghiệp Thông—Thông lực của quỷ thần đạt được bằng nghiệp lực.  

Capital punishment: Tội tử hình—Death penalty.

Capital sins: Deadly sins—Tội nặng. 

Capitalism (n): Chủ nghĩa tư bản—Hình thức tư bản—Thể chế tư bản. 

Captain (n): Thuyền Sư—Captain, i.e. the Buddha as captain of salvation, ferrying across to the nirvana shore—Thuyền trưởng, ý nói Đức Phật là vị thuyền trưởng cứu độ chúng sanh đáo bỉ ngạn—See Captain of the great ship of salvation. 

Captain of the great ship of salvation: Đại Thuyền Sư—Phật là vị thuyền trưởng của con thuyền cứu độ—The Buddha.

Captivity (n): Sự nô lệ. 

Card reading: Cartomancy—Thuật bói bài để biết tương lai hậu vận—Đức Phật nghiêm cấm Phật tử tin tưởng vào thuật bói bài—The Buddha strictly prohibited Buddhists to believe in cartomancy. 

Cardinal (n): Hồng y Thiên Chúa giáo—Chủ yếu—Chính yếu. 

Cardinal patience: Ksanti-paramita (skt)—Sằn đề ba la mật (nhẫn nhục ba la mật)—See Six paramitas. 

Cardinal virtue: Công đức chủ yếu—There are five cardinal virtues—Có năm đạo làm người—See Five cardinal virtues.  

Care for: Chăm nom—To take care of—To look after.

Carefree and contented: Người có lòng rộng lượng thì thân cũng thoải mái—Fit and happy—A liberal mind and well-nourished body. 

Careful: Cẩn trọng—Prudent—Cautious.

Careful consideration: Suy đi xét lại (Tâm vấn khẩu, khẩu vấn tâm hay lòng hỏi miệng, miệng hỏi lòng). 

Careful in speech: Thận ngôn.

Carefully: In detail—Tế tâm (còn gọi là tiểu tâm hay cẩn thận). 

Careless: Cẩu thả—Neglectful.

Careless speech: Cẩu ngôn.

Caretaking Spiritual Advisor: Ngoại Hộ Thiện Tri Thức—This refers to one or several persons assisting with outside daily chores such as preparing meals or cleaning up, so that on retreat can cultivate peacefully without distraction. Such persons are called “Retreat assistant.”—Đây là một hay nhiều vị ủng hộ bên ngoài, lo việc cơm nước, quét dọn, cho hành giả được yên vui tu tập. Thông thường, vị nầy thường được gọi là người hộ thất—See Good spirit advisor and Three types of  good spiritual advisors. 

Caritra (skt): Chiết Lợi  Đản La—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Caritra, a port on the south-east frontier of Uda (Orissa) whence a considerable trade was carried on with Ceylon
—Phát Hạnh Thành
—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Chiết Lợi Đản La, một cảng nằm về phía đông nam biên giới Uda, nơi có những cuộc trao đổi thương mãi đáng kể với xứ Tích Lan.

Caritramati (p): Hành Huệ. 

Cariya-pitaka (p): Collection of the conducting—Sở hạnh tạng.  

Carnal (a): Thuộc về nhục dục.   

Carnality (n): Nhục dục—See Four  deadly sins.
 
Caroline A.F. Rhys Davids: Mrs. C.A.F. Rhys Davids, one of the most eminent English Buddhist scholars in the late nineteenth century, and beginning of the early twentieth century, who brought her mighty contributions to Pali studies as a crowning glory to her husband’s work. According to Prof. Bapat in The 2,500 Years of Buddhism, Prof. Rhys Davids was perhaps excelled only by his wife, Mrs. C.A.F. Rhys Davids, as a life-long companion and co-worker of her husband, she took active part in the publication of the Pali Text Society and, after the death of the founder, conducted the affairs of the Society admirably in spite of adverse circumstances. Even as early as 1909, she had translated into English the “Theri-gatha” (Psalms of the sisters), which for lyrical beauty, is next only to Sir Edwin Arnold’s Light of Asia (1885). This book was soon followed by an English translation of the Thera-gatha (Psalms of the Brethren, 1913). In 1917 she gave another fine English translation of the “Sagathavagga of the Samyutta-nikaya.” The credit for bringing the abstruse “Abhidharma-pitaka” to light also goes to her. In addition, she gave readable editions of otherwise difficult texts, such as “Vibhanga” (1904), the “Patthana” (1921), the “Yamaka” (1912) and the “Visuddhimagga” (1920). She also translated into English the “Dhammasangani” (Buddhist Manual of Psycholoogical Ethics, 1923), the “Abhidhammattha-sangha” (Compendium of Philosophy, 1910), and the “Katha-vatthu” (Points of Controversy, 1915), the last two in collaboration with Z. Aung. Apart from these editions and translations, Mrs. Rhys Davids wrote a number of original books dealing with the history of early Buddhist thought. The impact of the researches in Mahayana Buddhism on the one hand, and the repulsion caused by the dogmatic Anatmavada of the Southern Buddhists on the other, inspired Mrs. Rhys Davids to look for the original teachings of the Buddha and she brought out her thought-provoking Sakya or Buddhist Origins in 1931. She was a lady of astonishing energy and also wrote a large number of articles. These have been collected in Wayfarer’s Words in three volumes which were published posthumously in 1942. Whatever she wrote, she wrote with conviction and every word of her writing bear the stamp of her unique personality

—Bà C.A.F. Rhys Davids, một trong những học giả Phật giáo nổi tiếng người Anh, người đã có sự cống hiến to lớn cho việc nghiên cứu kinh điển Pali, và đem lại vinh quang cho chồng mình là ông Rhys Davids. Theo giáo sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, giáo sư Rhys Davids có lẽ đã nổi tiếng phần lớn là nhờ ở vợ ông, bà C.A.F. Rhys Davids, một người bạn đồng hành và một cộng sự viên suốt đời của chồng, bà đã tham dự phần lớn vào công việc xuất bản của Hội Kinh Thư Pali, và sau khi chồng bà, vị sáng lập ra Hội, qua đời, bà đã điều hành công việc của Hội một cách đáng khen dù gặp phải nhiều khó khăn trở ngại. Từ năm 1909, bà đã dịch sang Anh ngữ bộ “Trưởng Lão Ni Kệ,” tác phẩm này với nét đẹp trữ tình, chỉ đứng sau cuốn “Ánh Sáng Á Châu” của Ngài Edwin Arnold (xuất bản năm 1885). Sau đó không lâu, bà cho xuất bản bản dịch tiếng Anh của bộ “Trưởng Lão Tăng Kệ” (năm 1913). Năm 1917 bà lại có một bản dịch tiếng Anh tuyệt tác của phẩm Tương Ưng Bộ Kinh. Công lao đưa bộ Luật Tạng thâm thúy ra ngoài ánh sáng cũng thuộc về bà. Ngoài ra, bà đã biên tập lại cho dễ đọc nhiều kinh sách khó hiểu như bộ Phân Biệt Luận năm 1904, bộ Nhân Quả Tương Quan năm 1921, bộ Song Luận năm 1912, bộ Thanh Tịnh Đạo năm 1920. Bà còn dịch ra tiếng Anh bộ “Pháp Tập Luận” vào năm 1923; và hợp tác với Z. Aung dịch hai bộ Triết Học Trích Yếu năm 1910, và bộ Luận Sự năm 1915. Ngoài những việc biên tập và phiên dịch trên đây, bà C.A.F. Rhys Davids còn viết một số sách có giá trị về lịch sử tư tưởng Phật giáo buổi ban đầu. Một phần là do kết quả những công cuộc nghiên cứu  về Phật giáo Đại Thừa, một phần gây ra bởi giáo lý “Vô Ngã” độc đoán của Phật Giáo Nam Tông, nên bà C.A.F. Rhys Davids đã quyết định đi tìm giáo lý đích thực của Đức Phật và bà đã cho xuất bản cuốn sách gây nhiều suy nghĩ, đó là cuốn “Thích Ca hay Nguồn Gốc Phật Giáo vào năm 1931. Bà là một phụ nữ có nghị lực phi thường và đã viết một số lớn bài đăng báo. Các bài này được sưu tập lại với nhan đề “Lời Người Bộ Hành” thành 3 cuốn được xuất bản sau khi bà mất vào năm 1942. Những gì bà viết, đều được viết với niềm tin chắc chắn và từng chữ từng câu đều mang dấu ấn nhân cách độc đáo của bà.    
    
Carry down to the hades: Mang xuống tuyền đài.