Như
chúng ta đều biết, Albert Einstein là người triển khai thuyết
Tương đối cách đây đúng một thế kỷ. Einstein cũng đóng
góp rất nhiều cho nền vật lý lượng tử bằng cách là người
đầu tiên nêu lên quan niệm ánh sáng là những hạt quang tử
photon. Với quan niệm này cơ học lượng tử ngày càng được
phát triển một cách mạnh mẽ, đồng thời những đặc tính
của vật chất trong thuyết lượng tử cũng ngày càng xuất
hiện rõ nét.
Suốt
một trăm năm qua, hai nền vật lý tương đối và lượng tử
được phát triển cao độ với những lý thuyết mới cũng
như các phương pháp thực nghiệm mới. Song song, người ta
tìm cách thống nhất hai lý thuyết đó với hy vọng tiến
tới một lý thuyết chung nhằm soi sáng toàn bộ thế giới
vật chất, từ lĩnh vực vô cùng nhỏ của nguyên tử và hạ
nguyên tử đến mức độ vô cùng lớn của các thiên hà cách
ta hàng tỉ năm ánh sáng. Giữa hai lĩnh vực cực tiểu và
cực đại này, người ta hy vọng tìm những đơn vị cuối
cùng của vật chất trong lĩnh vực cực tiểu và do đó thuyết
lượng tử được phát triển hết sức mạnh mẽ. Ngày nay
ngành vật lý lượng tử vẫn nằm trong đà triển khai, chưa
ai có thể kết luận điều gì về cơ chế cuối cùng của
vật chất cả. Trong quá trình khảo sát những đơn vị nhỏ
nhất của vật chất, nền vật lý lượng tử phát hiện rất
nhiều "nghịch lý" xuất phát từ những kết quả đo lường
và phương cách xuất hiện của vật chất. Những nghịch lý
đó nêu lên những câu hỏi quan trọng về triết học, về
nhận thức luận, về bản thể học..., thậm chí về cả
những vấn đề dường như không liên quan đến vật lý như
khả năng của ngôn ngữ khi diễn đạt các vấn đề vật
lý, như các vấn đề sinh lý học (physiology) liên quan đến
cái thấy cái nghe trong việc thu lượm kết quả thực nghiệm
v.v...
Vì
những lý do trên, nền vật lý lượng tử đang đứng trước
những luận đề vô cùng cơ bản của loài người như: thế
giới vật chất này gồm những gì tạo ra, tự tính nó là
gì, mối tương quan của nó với ý thức con người ra sao,
liệu thế giới vật chất như ta thấy phải chăng nó tồn
tại độc lập thực như thế, hay nó chỉ là bóng dáng của
một thực tại khác...Bài này sẽ giới thiệu một trong những
hướng phát triển của vật lý lượng tử và nêu lên sự
song hành của nó với vũ trụ quan của Phật giáo Đại thừa,
được phát biểu trong kinh Lăng Nghiêm.
1.
Điểm xuất phát
Trong
thời điểm hiện nay, theo thuyết lượng tử, vật chất có
ba đặc tính sau đây:
1.
Trong thế giới cực tiểu, vật chất vận động một cách
phi liên tục, trong nghĩa là hoạt động của vật chất được
hình thành bởi những "lượng tử" rất nhỏ nhưng cụ thể
và không thể phân chia. Sự vận động của vật chất "nhảy
từng bước" chứ không "chảy" một cách liên tục.
2.
Các đơn vị vật chất (thí dụ electron) có những đặc tính
khác nhau. Khi thì nó xuất hiện như hạt, khi thì như sóng,
khi thì nửa sóng nửa hạt, tùy theo điều kiện xung quanh và
tùy theo các phương tiện quan sát và dò tìm chúng.
3.
Trong một số trường hợp, hai đơn vị vật chất (thí dụ
hai electron trước đó thuộc về một phân tử nay đã bị
cách ly) có một mối liên hệ liên thông (non-local). Hai đơn
vị đó "biết" đến tình trạng của nhau một cách tức thời,
dù chúng bị cách ly với khoảng cách bất kỳ.
Đặc
tính thứ nhất của sự vận động của vật chất trong mức
độ vô cùng bé là khác với sự vận động trong thế giới
vĩ mô của chúng ta. Đường đi của vật thể trong sự rơi
tự do hay quĩ đạo của thiên thể luôn luôn vẽ nên một
đường cong liên tục. Tuy thế đặc tính thứ nhất này vẫn
còn tương thích với lý tính (reason) của đầu óc con người.
Đặc tính thứ hai được xem là một nghịch lý vì sóng và
hạt là hai dạng tồn tại của vật chất hoàn toàn khác nhau,
loại bỏ lẫn nhau. Thế nhưng hai dạng tồn tại đó của
vật chất được kết quả thực nghiệm thừa nhận một cách
thuyết phục, do đó người ta vẫn chấp nhận chúng như hai
dạng tồn tại song song, thậm chí thiết lập mối quan hệ
về toán học giữa hai bên một cách dễ dàng.
Đặc
tính thứ ba của vật chất mới nghe qua không có gì to tát
lắm, nhưng thực ra nó dẫn ta tới nghịch lý quan trọng nhất
từ xưa tới nay. Đó là, vì tính chất "liên thông" này, ta
phải từ bỏ một trong hai quan niệm sau đây: a) có một thế
giới khách quan tồn tại độc lập ở bên ngoài ý thức con
người, hay b) vận tốc của tín hiệu vật lý có thể đi
nhanh hơn ánh sáng. Cả hai quan niệm nói trên đều là những
điều bất khả xâm phạm trong ngành vật lý, bởi lẽ nếu
không có một thế giới vật chất độc lập thì toàn bộ
ngành vật lý mất đi đối tượng của mình, thì vật lý
và tâm lý sẽ bị qui thành một. Mặt khác, nếu có tín hiệu
đi nhanh hơn ánh sáng thì thuyết tương đối bị bác bỏ,
thì con người có thể đi trước cả tương lai và biết bao
nhiều điều "vô lý" của khoa học giả tưởng sẽ thành sự
thực cả.
Nhưng
trước hết ta cần giải thích do đâu mà có đặc tính thứ
ba nói ở trên. Năm 1935, Einstein và cộng sự đề nghị một
phép "thí nghiệm bằng tư tưởng" nhằm nêu lên sự thiếu
sót của thuyết lượng tử trong việc tìm hiểu tính chất
thực sự của các hạt hạ nguyên tử[1]. Thí nghiệm nổi
tiếng này được mệnh danh là nghịch lý EPR. Ở đây ta chỉ
trình bày EPR một cách hết sức đơn giản. Trong nghịch lý
này Einstein cho cách ly hai đơn vị vật chất A và B (thí dụ
nguyên tử hay electron), chúng vốn nằm trong một thể thống
nhất và do đó chúng có sẵn một mối liên hệ với nhau,
thí dụ tổng số spin của chúng bằng không. Nay ta cách ly
chúng hàng vạn dặm, không để cho chúng có thể tương tác
lẫn nhau. Khi đo một trị số spin của A thì B lập tức có
một trị số, để tổng số của chúng bằng không. Trong thuyết
lượng tử vì nguyên lý bất định, người ta cho rằng hành
động đo lường đã xác định một trị số tại A và làm
"nhòe" đi các trị số khác cũng tại A. Câu hỏi của Einstein
là tại sao B "biết" được trị số tại A để phản ứng
tức khắc, mà điều này sẽ vi phạm qui luật vật lý là
không có tín hiệu này đi nhanh hơn vận tốc ánh sáng.
Nghịch
lý EPR này được tranh cãi suốt nhiều thập niên. Nhà duy
thực[2] Einstein cho rằng A và B phải có những tính chất thực
sự, khách quan, riêng biệt, có thể cô lập được, chúng
đã có những tính chất đó trước khi hành động đo lường
xảy ra. Khoảng ba mươi năm sau khi nghịch lý EPR ra đời, Bell's
Theorem quả quyết quan niệm tính chất "thực sự, khách quan,
riêng biệt" là không thể tương thích với cơ học lượng
tử[3]. Năm 1981, Alain Aspect tại đại học Paris đã chứng
minh là kết quả thực nghiệm tuân thủ cơ học lượng tử
và bác bỏ các lý thuyết của tính chất "thực sự, khách
quan, riêng biệt"[4] của vật chất. Điều đó có nghĩa hai
hạt A và B có mối liên hệ liên thông, khi đã ở trong một
thể thống nhất rồi, chúng cần được quan niệm là một
hạt dù có tách rời chúng ta vạn dặm đi nữa. Hơn thế nữa,
hạt đó không có tính chất riêng biệt gì cả, mà khi ta đo
lường, các tính chất riêng biệt của chúng (thí dụ spin)
mới xuất hiện.
Khi
thuyết "thực sự, khách quan, riêng biệt" của vật thể bị
bác bỏ thì một thực tại vật lý độc lập, có tính chất
riêng biệt cũng bị đặt lại vấn đề. Dĩ nhiên ở giai
đoạn này, các kết quả vật lý đã sinh ra những phép diễn
giải (interpretation) khác nhau, mang đậm tính triết học. Người
ta ngờ rằng thế giới hiện lên trước mắt ta sở dĩ có
tính chất riêng tư là vì hành động đo lường của chính
chúng ta. Thế thì phải chăng thế giới mà chúng ta đang thấy
vì ta đo lường nó (hay nói chung vì ta nhận thức nó) mà nó
"có"? Phải chăng nó không hề tồn tại một cách độc lập.
Đó là lý do mà đặc tính thứ ba nói ở trên buộc ta phải
từ bỏ một trong hai điều bất khả xâm phạm của ngành
vật lý, một bên là có tín hiệu đi nhanh hơn ánh sáng, bên
kia là thế giới vật chất với những đặc tính riêng của
nó không hề tồn tại độc lập mà chỉ xuất hiện khi ta
nhận thức nó.
Nếu
mệnh danh thực tại trước khi ta nhận thức nó là "thực
tại lượng tử" (quantum reality) thì ít nhất ta phải thấy
là sự biến hình từ thực tại lượng tử ra thế giới mà
ta đang nhận thức bằng cảm quan là rất kỳ lạ. Hiện nay
chưa ai đề ra được một giải pháp thuyết phục được
tất cả mọi người về vấn đề này. Người ta chỉ biết
rằng, cần phải đưa hành động đo lường (tức là quan sát
viên) vào trong một tổng thể vật được quan sát-người
quan sát thì mới hiểu được sự vật. Đi xa hơn, nhiều người
thấy phải đưa ý thức hay hoạt động của ý thức như một
yếu tố chủ yếu vào tổng thể này, thí dụ Eugene Wigner,
nhà vật lý đoạt giải Nobel. Thế nhưng đi xa hơn nữa, người
ta phải thấy "ý thức" thông thường của con người là một
loại ý thức bị qui định trong tầm nhìn "cổ điển", không
tương thích với tính chất lượng tử của nền vật lý mới.
Nhà vật lý Nick Herbert viết như sau[5]: "Nguồn gốc của mọi
nghịch lý lượng tử hình như xuất phát từ thực tế là,
sự nhận thức của con người tạo ra một thế giới gồm
những thực thể chuyên biệt – do đó kinh nghiệm của chúng
ta buộc phải có tính chất cổ điển – trong lúc thế giới
lượng tử thì hoàn toàn không phải như thế". Có lẽ Nick
Herbert đã điểm đúng huyệt của vấn đề. Đó là phép nhận
thức của con người phương Tây, nhất là các nhà vật lý
duy thực, xuất phát từ hệ tư tưởng xem "vật ở ngoài nhau",
xem sự vật bị dàn trải trong không gian và được nối với
nhau bằng lực tương tác. Đó là đặc trưng của nền vật
lý cổ điển Newton. Trong lúc đó, vật lý lượng tử – dù
đang có nhiều kiến giải khác nhau – ít nhất cũng đòi hỏi
cần xem vật được quan sát và người quan sát phải được
thống nhất trong một thể chung.
Vì
vấn đề phức tạp này của bản thể học và nhận thức
luận, hiện nay người ta đứng trước một tình trạng phân
kỳ trong ngành vật lý khi tìm đến thực tại "cuối cùng"
của thế giới hiện tượng.
2.
Thuyết "sự vận động toàn thể" của David Bohm
Nhằm
tiến tới một lý thuyết giải thích được những hiện tượng
vật lý trong hai thuyết, cơ học lượng tử và thuyết tương
đối và nhất là những nghịch lý được nêu lên, David Bohm[6]
phát triển một lý thuyết được gọi là "sự vận động
toàn
thể" (holomovement). Khái niệm trung tâm của thuyết này là
"thứ bậc nội tại " (implicate order).
2.1.
Thứ bậc và thứ bậc nội tại[7]
"Thứ
bậc" (Order) là khái niệm mới do Bohm nêu lên. Đối với Bohm
mỗi thực tại, mỗi sự vận động có thứ bậc của nó.
Cùng với các phát hiện mới, ngành vật lý dần dần khám
phá thứ bậc của sự vận động, với những mức độ từ
cạn tới sâu. Sự vận động cơ giới trong lý thuyết của
Newton được Bohm gọi là có "thứ bậc không gian Descartes".
Trong thứ bậc này, mọi sự vật đều được xem là riêng
lẻ, cái này nằm ngoài cái kia và tác động lên nhau bằng
lực tương tác giữa vật thể.
Với
lý thuyết tương đối và cơ học lượng tử, dù giữa hai
bên có những khác biệt vô cùng cơ bản (như tính chất phi
liên tục, tính ngẫu nhiên, tính liên thông...của vật lý
lượng tử), Bohm thấy cả hai đều mang chung một thứ bậc
mới, đó là ta phải xem sự vật là một cái toàn thể không
thể phân chia (undivided wholeness), trong đó sự cách ly các yếu
tố của sự vận động không còn được chấp nhận. Thứ
bậc này hoàn toàn khác với thứ bậc trong nền vật lý của
Galileo và Newton. Thí dụ không gian, thời gian là một thể
thống nhất trong thuyết tương đối, người quan sát và vật
được quan sát là một thể thống nhất trong cơ học lượng
tử.
Sự
phát triển của vật lý hạ nguyên tử gần đây cũng như
những nghịch lý trong ngành vật lý đòi hỏi ta phải có một
lý thuyết lý giải được vấn đề. Nhất là nghịch lý EPR
xem ra buộc ta phải từ bỏ một trong hai quan niệm hầu như
bất khả xâm phạm của ngành vật lý như đã trình bày ở
trên. Ở đây, Bohm cho rằng phải đi sâu thêm một mức độ
nữa để thấy một thứ bậc mới của thực tại. Thứ bậc
này được Bohm mệnh danh là "thứ bậc nội tại" (implicate
order). Nội dung của thứ bậc này là "cái toàn thể nằm trong
từng cái riêng lẻ". Nói rõ hơn, thực tại là hình ảnh của
toàn vũ trụ được chứa ẩn tàng trong từng đơn vị nhỏ
nhất của bản thân nó.
2.2.
Ảnh toàn ký (Hologram)
Khái
niệm thứ bậc nội tại nói trên khó hiểu nên Bohm đề nghị
ta hãy liên tưởng đến một "ảnh toàn ký" (Hologram) để
nắm bắt được ý nghĩa của quan niệm này. Ảnh toàn ký
là hình ảnh ba chiều được hình thành bởi tia sáng laser.
Đầu tiên, một vật thể ba chiều được chiếu rọi bằng
laser và sau đó cho phản chiếu lên phim. Tấm phim lại được
rọi bằng một nguồn laser thứ hai. Hai nguồn laser sẽ giao
thoa với nhau trên phim và ảnh giao thoa sẽ được ghi lại
trên phim. Ảnh giao thoa chỉ là những nét chi chít đậm nhạt
hầu như vô nghĩa. Thế nhưng nếu ta rọi phim đó bằng một
nguồn laser khác thì sẽ hiện lên hình ảnh của vật thể
ban đầu trong dạng ba chiều.
Điều
kỳ lạ là nếu ta cắt tấm phim ra làm hai phần và chỉ rọi
một nửa thì toàn bộ hình ảnh ba chiều vẫn tái hiện. Nếu
ta cắt nhỏ tấm phim ra thành những đơn vị rất nhỏ, hình
ảnh toàn phần ba chiều vẫn hiện lên đầy đủ, dĩ nhiên
kích thước của nó bị thu nhỏ đi. Điều đó có nghĩa, mỗi
phần nhỏ nhất của tấm phim vẫn chứa đầy đủ nội dung
toàn phần của vật thể ban đầu.
Theo
Bohm thế giới hiện ra trước mắt ta chỉ là một hình ảnh
hologram của thực tại và sự vận động của thực tại được
Bohm gọi là holomovement (sự vận động toàn thể).
Ảnh
toàn ký
2.3.
Quan niệm về thực tại của David Bohm
Theo
Bohm vũ trụ, thế giới vật chất mà ta đang thấy xung quanh
mình là dạng hình được khai triển (unfolded) từ một thực
tại sâu kín hơn. Thực tại sâu kín này là một cái toàn
thể bất khả phân, không thể định nghĩa, không thể đo
lường. Trong thực tại này mọi sự đều liên kết chặt
chẽ với nhau. Thực tại này không nằm yên mà luôn luôn vận
động nên được mệnh danh là "sự vận động toàn thể"
(holomovement) và nó là nguồn gốc, là cơ sở của mọi dạng
xuất hiện của vật chất và tâm thức.
Muốn
hiểu quan niệm thực tại của Bohm ta cần từ bỏ phép giải
tích, từ bỏ cách nhìn vũ trụ hiện nay như ta đang nhìn,
xem nó gồm nhiều phần tử đang dàn ra trong không gian thời
gian, điều mà Bohm gọi là "thứ bậc dàn trải" (explicate order).
Sự thay đổi thứ bậc này trong cách cảm nhận vũ trụ là
khó khăn hơn cả sự chuyển đổi tư duy từ vật lý cơ giới
qua thuyết tương đối hay qua cơ học lượng tử. Thứ bậc
nội tại đòi ta biết cách nhìn "một trong tất cả, tất
cả trong một", một điều rất xa lạ với con người bình
thường.
Hãy
nêu lên vài ẩn dụ để tới với cách nhìn này: Xem hệ phát
sóng truyền thanh truyền hình. Nội dung phong phú của chương
trình đã được chứa "ẩn tàng" trong mỗi đơn vị của sóng,
lan tỏa trong không gian với vận tốc ánh sáng. Khi gặp máy
thu hình thì thứ bậc ẩn tàng đó đã được "bung" ra để
thành hình ảnh hay lời nói. Hoặc khi ngắm nhìn vũ trụ, ta
thấy vô số vật thể trong không gian vô tận, chúng đại
biểu cho sự vận động trong thời gian vô tận. Vô số những
quá trình đó được chứa ẩn tàng trong sự vận động của
ánh sáng thông qua một khoảng không gian tí hon của con mắt.
Và sau đó nó "bung" ra trong óc ta để ta thấy vũ trụ. Trong
cơ thể sinh vật, mỗi một tế bào nhỏ nhất cũng chứa DNA,
thông tin của toàn bộ cơ thể đó. DNA cũng là một hình ảnh
dễ hiểu của quan niệm "một trong tất cả, tất cả trong
một". Thí dụ giản đơn và có tính cơ giới nhất là một
thanh nam châm với hai cực nam bắc. Nếu ta cắt thanh nam châm
đó làm hai thì lập tức chỗ cắt sẽ sinh ra hai cực nam bắc.
Nếu tiếp tục cắt thì ta sẽ có tiếp những thanh nam châm
nhỏ hơn nữa. Do đó ta có thể nói mỗi điểm trong thanh nam
châm đã chứa "ẩn tàng" hai cực nam bắc. Có cắt thì hai
cực đó mới hiện ra, không cắt thì chúng nằm trong dạng
"nội tại".
Những
ẩn dụ trên có thể có ích để hình dung về một thứ bậc
nội tại nhưng chúng có hiểm nguy là làm ta lầm tưởng thực
tại như là "sóng truyền hình" hay một không gian với các
đơn vị vật chất riêng lẻ và tuân thủ theo những qui luật
nhất định. Ngược lại, theo Bohm, thực tại là một thể
thống nhất đang vận động, không thể phân chia, không thể
định nghĩa, không thể đo lường mà một số dạng xuất
hiện của nó hiện ra với ta như hạt, như sóng hay như những
đơn vị tách lìa nhau và có tính chất ổn định tương đối.
Những đơn vị vật chất, thí dụ electron, chỉ là một cái
tên tạm đặt cho một khía cạnh xuất hiện của thực tại
đó. Vật chất chỉ là một số dạng được "dẫn xuất"
(abstracted) từ thực tại đó. Các qui luật vật lý đều là
những lý thuyết áp dụng cho một số hiện tượng xuất phát
từ sự vận động toàn thể đó. Và toàn thể vận động
chính là sự tiếp nối liên tục giữa hai giai đoạn ẩn-hiện
(enfold-unfold) của sự vận động toàn thể, mà vũ trụ của
chúng ta chỉ là một phần rất nhỏ của nó.
Theo
Bohm, phương pháp thông thường đến nay của vật lý là xem
sự vật vốn tách biệt và được nối với nhau bằng những
lực tương tác. Nhiệm vụ của khoa học là xét các sự vật
riêng biệt và sau đó thấy cái toàn thể là tổng số các
sự vật. Ngược lại, trong quan niệm thứ bậc nội tại,
người ta phải bắt đầu với cái toàn thể bất khả phân
và nhiệm vụ của khoa học là suy ra các phần đơn lẻ của
nó bằng cách trích dẫn, xem chúng chỉ là những phần tử
tạm thời ổn định và độc lập. Những phần tử xuất
hiện có tính tạm thời đó được mô tả bằng "thứ bậc
dàn trải". Trên cơ sở này Bohm nêu lên những nhận định
như sau:
- Trong
quá trình ẩn-hiện nhanh chóng của sự vận động toàn thể
đó, có những dạng xuất hiện mà giác quan ta thấy là hạt.
Chúng nối tiếp nhau xuất hiện trong thứ bậc dàn trải, khi
thì ta thấy chúng nằm trên đường thẳng, khi thì hình cong
trong không gian và tưởng có những lực tương tác chúng với
nhau. Thực tế chúng là dạng xuất hiện kế tiếp nhau của
một "tập hợp" (ensembles) không mang tính chất không gian. Ngược
lại vì chúng "hiện" ra liên tục mà ta thấy có không gian.
Quan niệm này giải thích dễ dàng sự phi liên tục trong sự
vận động được nêu ra bởi cơ học lượng tử. Ngoài ra
vì hạt chỉ là dạng xuất hiện của sự vận động toàn
thể, nên khi những điều kiện thay đổi thì dạng xuất hiện
cũng thay đổi, lúc đó nó có dạng sóng. Nghịch lý của sóng-hạt
không còn tồn tại trong quan niệm về thực tại này nữa.
Vật chất chỉ là một số khía cạnh thứ cấp của cái toàn
thể đang vận động (subtotality of movement).
- Xuất
phát từ cơ học lượng tử, đặc biệt từ nghịch lý EPR,
ta phải tin rằng thứ bậc nội tại có nhiều chiều (multidimensional).
Thứ bậc dàn trải ba chiều của chúng ta chỉ là một hình
chiếu (projection) của thứ bậc nội tại. Trước vấn đề
của mối liên hệ "liên thông" (đặc tính thứ ba) nói ở
trên, Bohm dùng thứ bậc nội tại nhiều chiều để giải
thích và dùng ẩn dụ "hồ cá" sau đây để minh họa. Trong
một hồ cá chỉ có một con cá duy nhất. Hồ cá được thu
hình bằng hai máy quay phim từ hai hướng khác nhau. Hai máy
quay phim đó được ghi hình lên hai màn ảnh khác nhau A và
B. Như ta thấy, hình A và B không hề có mối liên hệ nhân
quả hay tương tác gì với nhau cả, chúng chỉ là hai hình
của một vật thể (con cá) duy nhất.

Tương
tự như thế, hai đơn vị vật chất có mối liên hệ liên
thông chẳng qua chỉ là hình chiếu của một đơn vị duy nhất
của một thực tại nhiều chiều hơn. Thật ra chúng chẳng
tương tác với nhau gì cả, chỉ là hai dạng khác nhau của
một thực thể. Sự tách biệt của chúng trong không gian chỉ
là một ảo tưởng (illusion) của chúng ta khi đứng trước
thứ bậc dàn trải, nơi đó thực thể nọ đã bị "dàn trải"
làm hai đơn vị. Theo Bohm số lượng kích chiều của thứ
bậc nội tại là vô tận (infinite).
- Xuất
phát từ quan niệm năng lượng là vô tận trong chân không
lượng tử, Bohm quan niệm vũ trụ là một biển năng lượng
đa chiều đang vận động trong dạng của thứ bậc nội tại.
Vũ trụ vật chất mà ta đang thấy chỉ là một dạng hình
của năng lượng bao la đó khi bị kích thích sinh ra. Dạng
hình đó có tính chất ổn định tạm thời và chiếu hiện
lên không gian ba chiều theo cách của thứ bậc dàn trải. Còn
không gian trống rỗng mà ta đang thấy là được chứa đầy
bởi một thứ "tinh chất" (plenum). Tinh chất này không có chất
liệu vật chất như quan niệm ê-te của thế kỷ thứ 19.
Quan niệm về vũ trụ hiện nay là quan niệm "big bang", cho rằng
khởi thủy là một vụ nổ từ một điểm nhỏ trong không
gian và thời gian cách đây hơn 10 tỉ năm. Trong quan niệm của
Bohm thì vụ nổ đó chỉ là một gợn sóng nhỏ (just a little
ripples) của biển năng lượng mênh mông kia. Hiện tượng "lỗ
đen" cho phép ta dự cảm có nhiều vũ trụ khác tồn tại song
hành, cũng trong dạng thứ bậc dàn trải như vũ trụ vật
chất của chúng ta.
- Bohm
cho rằng không có sự khác biệt giữa thế giới vô sinh và
sự sống. Cả hai đều lấy thứ bậc nội tại làm gốc,
lấy nơi đó những "thông tin" (information) cho sự vận hành
của quá trình của bản thân mình. Cũng như hạt giống của
một cây con là nơi chứa đựng và phát xuất thông tin để
"lèo lái" các thành phần xung quanh (đất, nước, ánh sáng
mặt trời) cấu tạo nên cây thì các đơn vị vật chất cũng
tiếp nhận "thông tin" từ thứ bậc nội tại để xuất hiện
từng chập nhanh chóng, do đó mà ta thấy chúng dường như
tồn tại liên tục. Vì vậy đối với Bohm, sự sống (life)
là được chứa ẩn tàng trong thứ bậc nội tại. Trong một
số dạng của hiện tượng thì sự sống không xuất hiện
rõ nét, trong một số khác thì rõ ràng hơn.
- Cuối
cùng, Bohm đi một bước dài và cho rằng ý thức con người
cũng lưu xuất từ thứ bậc nội tại đó. Vật chất và ý
thức có tác dụng hỗ tương lẫn nhau, ý thức sinh ra những
dấu vết trên vật chất và ngược lại. Do đó hai mặt này
bắt nguồn từ một thứ bậc chung, có kích chiều cao hơn.
Cả hai vật chất lẫn ý thức đều là dạng xuất hiện của
thực tại nhiều kích chiều đó. Bohm đề nghị một đơn
vị cơ bản vận động trong thứ bậc nội tại đó, ông gọi
là "chập" (moment). Một chập chứa tất cả những chập khác,
một chập có thể rất nhỏ hoặc rất lớn, có khả năng
"bung" ra trên thứ bậc dàn trải để thành không gian và thời
gian. Mỗi chập trong sự vận động sẽ hiện ra trong thứ
bậc dàn trải, lại trải nghiệm nó, trở nên phong phú rồi
tác động ngược lại vào trong để sinh ra một lực mà Bohm
gọi là "lực thiết yếu" (force of necessity) để sinh ra chập
sau. Ý thức và thân vật chất đều là phản ánh của thực
tại đó, chúng không có mối liên hệ nhân quả với nhau và
xảy ra đồng thời. Khi nói ý thức là ý thức cá thể nhưng
nó nằm chung trong một biển mênh mông của một thực tại
duy nhất. Mỗi ý thức cá thể đều chứa toàn bộ thực tại
đó.
Dạng
vật chất của mọi hiện tượng là phản ánh của sự vận
động toàn thể, nên nếu chỉ xét dạng vật chất thôi ta
cũng có thể đến gần với sự thực nhưng sẽ không đầy
đủ. Do đó những quan niệm khoa học đứng trên cơ sở của
thứ bậc dàn trải là không sai nhưng không trọn vẹn. Thí
dụ khi xét lịch sử của sinh vật ta có thể sử dụng thuyết
chuyển hóa (evolution) nhưng thuyết này sẽ có tính cách rất
cơ giới. Nếu lấy sự vận động toàn thể làm cơ sở, ta
sẽ xem đây là một loạt những dạng của sự sống đã triển
khai một cách đầy sáng tạo.
3.
Mối liên hệ với Kinh Lăng Nghiêm
Thuyết
"sự vận động toàn thể" với quan niệm then chốt "thứ bậc
nội tại" là một bước nhảy vọt của khoa học vật lý
trong vũ trụ quan. Xưa nay người ta thấy thế giới hiện tượng
là một thực thể khách quan, nằm ngoài con người và xem nó
là đối tượng đích thực của ngành vật lý. Cả thuyết
tương đối lẫn cơ học lượng tử, dù có xem người quan
sát (và thiết bị quan sát) cần phải được thống nhất
vào chung một thể với vật bị quan sát, nhưng nói chung nền
vậy lý vẫn giả định có một thực thể ở "bên ngoài".
Thực tế là, quan niệm "vật ở ngoài nhau" là đặc trưng
của ý thức hệ phương Tây, bắt nguồn từ thời Hy Lạp
cổ đại.
Nay,
khi thuyết của Bohm xem thế giới hiện tượng chỉ là thứ
bậc dàn trải, là sự trình hiện của một thứ bậc sâu
xa hơn – thứ bậc nội tại – khi đó, Bohm đã làm một
bước nhảy vọt về nhận thức. Đã đành hiện nay cũng có
nhiều lý thuyết vật lý khác cũng xem thực tại như một
thực thể có nhiều chiều (thí dụ lý thuyết dây) mà thực
tại của chúng ta chỉ là dạng xuất hiện ba chiều của nó,
nhưng thuyết của Bohm đi xa hơn hẳn, cho rằng thứ bậc nội
tại bao gồm vật chất, lẫn ý thức, bao gồm cả toàn bộ
sự sống của mọi sinh vật, kể cả loài người. Do đó thuyết
của Bohm được mệnh danh là phép diễn giải thuộc về bản
thể luận (ontology), trong lúc các lý thuyết kia là những phép
diễn giải thuộc về nhận thức luận (epistemology). Nhớ lại
hai thuyết tương đối và lượng tử, ở đây ta thấy có
một sự tương đồng thú vị về sự phát sinh của ba lý
thuyết. Nếu thuyết tương đối được phát sinh bởi sự
bất biến của vận tốc ánh sáng, thuyết lượng tử bởi
tính phi liên tục trong sự vận động của các hạt hạ nguyên
tử, thì thuyết "vận động toàn thể" được phát sinh bằng
tính chất liên thông của các hạt đó. Cả ba điểm xuất
phát đều là những kết quả của thực nghiệm cả. Một
điều tương đồng nữa là thuyết của Bohm dẫn đến những
giả định về bản thể luận vô cùng xa lạ với nhà vật
lý, cũng như những hệ quả của thuyết tương đối và cơ
học lượng tử cũng rất khó hiểu, kể cả đối với những
ai làm việc với hai lý thuyết này.
Mặc
dù xuất phát từ kết quả thực nghiệm, nhưng lý thuyết
của Bohm chưa được cộng đồng vật lý thừa nhận vì những
giả định thuộc về bản thể luận của ông chưa được
chứng minh là tất yếu. Ngoài ra những giả định đó vượt
khỏi phạm vi "thông thường" của ngành vật lý, vì nó bao
gồm cả vật chất lẫn tâm thức, cả lĩnh vực vô sinh và
sự sống. Dù thế, thuyết của Bohm được nhiều nhà vật
lý quan tâm vì nó trả lời nhất quán được nghịch lý EPR
về các hạt liên thông và nhất là nó mở ra nhiều khả năng
khác của vật lý hiện đại.
Từ
một hướng nhìn khác, thuyết "sự vận động toàn thể" của
Bohm không thể không làm ta liên tưởng đến triết học Phật
giáo. Quan niệm "tất cả trong một, một trong tất cả" chính
là tư tưởng Hoa Nghiêm. Chủ trương "thực tại xuất hiện
như một cảnh tượng khi bị quan sát" đã được Kinh Lăng
Nghiêm nói đến. "Sự sống, ý thức lẫn vật chất đều
lưu xuất từ một thể" chính là quan niệm Duy thức trong Phật
giáo Đại thừa.
Tinh
túy của triết học Phật giáo chính là vấn đề bản thể
luận của thế giới và con người. Vì lý thuyết của Bohm
cũng là một thế giới quan có tính bản thể luận nên nơi
đây ta thử tìm hiểu, liệu triết lý Phật giáo có thể soi
sáng gì hơn cho lý thuyết của Bohm hay không. Cũng chỉ trên
mảnh đất bản thể học mà hai ngành khoa học và Phật giáo
mới có chỗ tiếp cận với nhau.
Sau
đây ta sẽ dẫn vài nét lớn của Kinh Lăng Nghiêm[8] về bản
thể của thế giới hiện tượng. Sau đó ta sẽ vận dụng
quan niệm Lăng Nghiêm [và nói chung của Phật giáo Đại thừa]
để lý giải vài vấn đề bản thể học được vật lý
hiện đại nêu lên.
3.1.
Thế giới quan trong Kinh Lăng Nghiêm
Kinh
Lăng Nghiêm nói về một thể uyên nguyên, được tạm mệnh
danh là "Chân tâm". "Tính chất" của Chân tâm là phi hình tướng,
phi tính chất, không thể nghĩ bàn. Nhiều người cố nghĩ
về Chân tâm và tạm hình dung Chân tâm như một "biển tinh
lực uyên nguyên" hay "vầng trăng tròn đầy" hay "không gian
vô tận". Dù hình dung thế nào đi nữa, Chân tâm có hai "công
năng" như sau: lặng lẽ chiếu soi và có khả năng tự chiếu
soi mình. "Chiếu soi" có thể được hiểu như "nhận thức"
trong ngôn ngữ hiện đại. Từ "chiếu soi" làm ta cảm nhận
là biển tinh lực đó gồm vô số cực quang hay quang minh (radiation)
rực rỡ.
Xuất
phát từ một Chân tâm thuần túy "lặng lẽ chiếu soi" đó,
bỗng một "vọng tâm" nổi lên, đó là lúc Chân tâm quay qua
tự nhận thức chính mình và thấy có một thể bị nhận
thức (tướng phần) và một thể nhận thức (kiến phần).
Theo ngôn ngữ hiện đại thì với vọng tâm, xuất hiện một
lúc hai thể tính: người quan sát và vật bị quan sát. "Vọng
tâm" được Kinh Lăng Nghiêm sánh với cơn buồn ngủ. Khi ngủ
mê thì hiện ra giấc mộng, trong đó có người có ta, có cảnh
vật, có diễn biến thông không gian và thời gian. Nếu tỉnh
dậy thì tất cả cảnh vật trong mơ cũng không còn. "Nếu
vọng tâm sinh khởi thì các pháp đều sinh khởi, vọng tâm
diệt đi thì các pháp đều diệt"[9].
Đối
với Phật giáo, thế giới hiện tượng là một sự trình
hiện, là một huyễn cảnh (maya) như "hoa hiện trong hư không".
Thế giới đó trình hiện cho một quan sát viên nhất định,
mỗi quan sát viên có một thế giới. Thế nhưng như ta đã
nói ở trên, quan sát viên lẫn thế giới hiện tượng đều
là phần tử của Chân tâm (kiến phần và tướng phần) nên
đều chính là Chân tâm cả. Cả hai đều lưu xuất từ Chân
tâm, bị "vọng hóa" mà thấy có chủ thể (người quan sát)
và khách thể (vật bị quan sát).
Thêm
một bước vọng hóa, chủ thể quan sát lại làm thêm hai "lầm
lạc" nữa, đó là a) cá thể đó sinh khởi thương ghét, yêu
thích hay từ chối đối với vật được quan sát vì tưởng
rằng những sự vật tồn tại độc lập ở "bên ngoài" (chấp
pháp) và b) người đó tưởng mình là một chủ thể có thực,
có một cái Tôi tồn tại riêng biệt ở "bên trong" (chấp
ngã). Cũng như trong giấc mộng, người nằm mơ thấy ta, người
và cảnh vật đều thực có.
Xuất
phát từ hai thành kiến chấp pháp và chấp ngã, với mọi
tâm trạng diễn biến liên tục và nhất là với tâm lý yêu
ghét, người quan sát sinh ra vô số quá trình vọng hóa với
nhiều mức độ tâm lý với nhiều tính chất khác nhau, chồng
chất bao phủ lên nhau. Đạo Phật chia các quá trình tâm lý
đó thành bốn giai đoạn, bốn mức độ khác nhau mà thuật
ngữ gọi là thọ, tưởng, hành, thức. Ngoài bốn quá trình
tâm lý đó, đạo Phật còn xem "sắc" là toàn bộ hiện tượng
mà ta gọi là vật chất, kể cả thân vật chất của người
quan sát. Do đó sắc, thọ, tưởng, hành, thức được gọi
chung là "ngũ uẩn", là toàn bộ tiến trình của vọng tâm
được sinh ra và phát triển, khi Chân tâm "dại dột" tự chiếu
soi chính mình và sa vào chấp ngã, chấp pháp. Ngũ uẩn bao
phủ quanh cá thể với các dạng tâm lý và vật lý. Thế giới
đang bao trùm xung quanh chúng ta chỉ là một thế giới đang
hiện lên cho mỗi cá thể chúng ta, thế giới đó gồm vật
chất (sắc), tức là các dạng vật chất quanh ta cùng với
thân thể, cộng với các hoạt động tâm lý (thọ tưởng
hành thức) đang được duy trì và phát triển liên tục.
Sự
hình thành thế giới đó có thể được tưởng tượng như
một vận động xoáy vòng vô hình và thần tốc, còn cá thể
đứng ở giữa mà nhận thức. Những vọng tâm "kiên cố"
nhất bị "tạt" xa ra bên ngoài, biến thành thể vật chất.
Khi biến thành vật chất các vọng tâm đó bị dàn trải để
hiện thành không gian và thời gian. Chính sự vận động của
các vọng tâm kiên cố nói trên làm người quan sát thấy có
vật chất và vọng tưởng thấy có không gian và thời gian[10].
Mỗi
thế giới đó tuy là có giá trị cho mỗi cá thể nhưng chúng
hòa vào nhau, tưởng chừng như thể nhiều cá thể, toàn xã
hội, toàn loài người...có chung một thế giới. Đó là vì
"cộng nghiệp" chung của nhiều cá thể làm cho những cá thể
đó thấy chung một thế giới, như thể chỉ có một thế
giới duy nhất. Vì sự vật chỉ là sự trình hiện nên không
thể nói "có" hay "không có" một cách tuyệt đối được.
Khi nói "có" là "có" cho những cá thể nhất định, đối với
một người là "có" nhưng đối với người khác là không
cũng như người nằm mơ thấy "có sự vật" nhưng sự vật
đó không có cho người tỉnh. Do đó khái niệm cộng nghiệp
là hết sức quan trọng để giải thích thế giới hiện tượng
"chung" của chúng ta.
Điều
nói trên còn dẫn đến một triết lý sâu xa hơn nữa, đó
là "pháp vô ngã", "nhân vô ngã". Pháp vô ngã cho rằng không
có sự vật nào tồn tại với tự tính riêng của nó cả,
tất cả đều chỉ là sự biến hiện làm ta thấy "có" khi
đủ điều kiện (nhân duyên sinh) để cho sự vật trình hiện
trước mắt ta. Nhân vô ngã cho rằng con người mà ta tưởng
là có một cái Tôi đứng đằng sau chỉ là sự vận hành
vô chủ của ngũ uẩn. Các tình trạng của ngũ uẩn diễn
ra, cái này tiếp nối cái kia, nhưng không ai làm chủ chúng
cả. Triết lý nhân vô ngã và pháp vô ngã cho thấy mặc dù
thế giới hiện tượng và thế giới tâm lý vận hành liên
tục nhưng đó là sự vận động nội tại của nó, không
ai làm chủ cho chúng cả. Sự vận động đó chủ yếu xuất
phát từ "hành" (Samskara), đó là động cơ tâm lý tạo tác
hành động và qua đó tạo tác thế giới. Toàn bộ những
động cơ tâm lý đó được gọi là "nghiệp" hay "nghiệp lực".
Nghiệp lực (của cá thể và của toàn thể) là tác nhân làm
thế giới vật chất được duy trì, nó làm cho vũ trụ được
sinh ra và phát triển[11].
Như
đã nói, sắc thọ tưởng hành thức đều lưu xuất từ Chân
tâm. Chân tâm có đặc tính "chiếu soi" và "tự chiếu soi"
nên cả năm yếu tố của ngũ uẩn đều có khả năng nhận
thức và tự nhận thức. Yếu tố vật chất (sắc) cũng có
khả năng nhận thức và tự nhận thức. Đọc nhiều kinh Đại
thừa, ta có thể cảm nhận Chân tâm là một nguồn tinh lực
vô tận và dạng xuất hiện của nó trong thế giới vật chất
là "quang minh". Quang minh trong thế giới vật chất (sắc) chính
là ánh sáng, là các dạng sóng điện từ khác như nhiệt,
quang tuyến...Quang minh trong thế giới tâm lý (thọ tưởng
hành thức) là những loại sóng mà ngày nay ta chưa xác định
được chính xác.
Ngũ
uẩn không phải là năm yếu tố riêng lẻ lẫn nhau mà vì
chúng có chung nguồn gốc Chân tâm nên chúng dung thông và chứa
đựng lẫn nhau trong tinh thần "một trong tất cả, tất cả
trong một". Một hệ quả của quan niệm này là mọi hoạt
động trong tâm lý (thọ tưởng hành thức) đều có dấu vết
trong vật lý (sắc) và ngược lại mọi điều chỉnh trong
vật lý đều có tác dụng trong tâm lý. Sắc chính là Không,
Không chính là sắc (Tâm Kinh). Do đó "trên đầu một
cọng cỏ chứa tam thiên thế giới" (tư tưởng Hoa nghiêm).
Như
vậy, đối với Phật giáo, với "ngũ uẩn", khái niệm "vật
chất" – tức là thế giới hiện tượng lẫn thân vật chất
của con người – chỉ nằm trong trong từ "sắc". Một cách
phân loại khác cho thấy thế giới vật chất được xem do
"tứ đại" (đất nước gió lửa) hình thành, tương tự như
quan niệm của các triết gia cổ đại của Hy Lạp. Dù thuộc
về cách phân loại nào, vật chất được hình thành và duy
trì là dựa trên vọng tưởng của tâm. Một đặc tính quan
trọng khác là: Vật chất không có tự tính riêng biệt (pháp
vô ngã), chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan đối với người
quan sát. Mỗi người quan sát sống trong một thế giới riêng
của họ, thế giới tưởng là chung cho tất cả chẳng qua
là do cộng nghiệp xây dựng thành.
Trên
những cơ sở này, ta thử xem Phật giáo có thể nói gì về
những luận đề bản thể học của thế giới vật chất.
3.2.
Vài kiến giải của đạo Phật về vật chất
- Thế
giới vật chất là dạng xuất hiện của tâm, là sự trình
hiện của tâm trước mắt người quan sát mà người quan sát
cũng là tâm nốt. Điều này lý giải một câu hỏi quan trọng
của vật lý là, nếu thực tại bên ngoài là độc lập với
ý thức thì tại sao con người có thể nắm bắt được thực
tại và tại sao thực tại lại tuân thủ những công thức
toán học của con người. Trả lời câu hỏi này, Kepler từng
cho rằng khả năng "thiêng liêng" đó là nhờ Thượng đế.
Đối với Phật giáo cả ý thức lẫn vật chất đều lưu
xuất từ tâm, chúng dung thông và chứa đựng lẫn nhau, chúng
dựa lên nhau nhau mà có. Vì có người quan sát nên có vật
được quan sát. Vật được quan sát không thể tồn tại được
nếu không có người quan sát.
- Cả
vật chất lẫn ý thức là những dạng xuất hiện của tâm,
chúng chỉ là những dạng hình thứ cấp lưu xuất từ tâm.
Do đó quan niệm về "thứ bậc nội tại", về một thực tại
ẩn tàng chứa cả vật chất, ý thức, đời sống và có nhiều
chiều như Bohm quan niệm là rất gần với tư tưởng triết
học Phật giáo. Trong lý thuyết của Bohm, vật chất là những
cấu trúc xuất hiện có tính chất tạm thời, tương đối,
chúng là hình ảnh được "trích" ra từ một vận động toàn
thể cũng rất phù hợp với quan niệm của Phật giáo. Sự
vận động toàn thể của Bohm có thể được xem gần giống
như sự lưu chuyển của A-lại-da thức, trong đó vật chất
chỉ được xem là những vọng tưởng được "lóng lại thành
cõi xứ".
- Phật
giáo quan niệm "Sắc chính là Không", thế giới vật chất
chính là Chân tâm. Do đó mỗi nơi mỗi chỗ trong thế giới
vật chất đều chứa năng lượng vô tận của Không. Quan
niệm về "chân không lượng tử" hiện nay cho rằng, mỗi đơn
vị tí hon trong chân không lượng tử chứa năng lượng vô
tận, cũng đi gần với quan niệm về Sắc-Không của Phật
giáo. Hơn thế nữa Phật giáo cho rằng mỗi nơi mỗi chỗ
trong Sắc cũng chứa toàn bộ thế giới vật chất trong quan
niệm "một trong tất cả, tất cả trong một". Do đó quan niệm
của Bohm về hình ảnh toàn ký (hologram) cũng rất tương tự
với hình ảnh "tam thiên thế giới" được minh hoạ trong Kinh
Hoa Nghiêm. Trong ẩn dụ này thế giới xuất hiện như một
ảo ảnh ba chiều khi mắt tiếp xúc với ánh sáng cho ta thấy
Bohm cũng quan niệm thế giới vật lý xuất hiện như một
ảo giác, đó là điều mà đạo Phật đã nhấn mạnh với
từ maya.
- Vì
vật chất chỉ là dạng xuất hiện của tâm, không có tự
tính riêng, chỉ tùy nhân duyên mà trình hiện nên Phật giáo
không thấy có mâu thuẫn giữa hai dạng sóng-hạt của vật
chất. Cả sóng lẫn hạt đều xuất hiện khi đầy đủ nhân
duyên hội tụ cho chúng xuất hiện. Trong vật lý hạ nguyên
tử, "nhân duyên" chính là cách dò tìm của người quan sát
và cách xếp đặt thiết bị đo lường. Điều này thì cơ
học lượng tử đã thừa nhận, đó là "tính chất của thiên
nhiên là câu trả lời của thiên nhiên đối với cách hỏi
của ta đặt ra" (Heisenberg). Sự nghịch lý sóng-hạt chỉ có
khi ta cho rằng vật chất phải có một tự tính riêng, điều
mà đạo Phật bác bỏ.
- Nghịch
lý EPR của những hạt liên thông cũng không tồn tại với
thế giới quan của Phật giáo vì rằng mọi hạt vật chất
đều lưu xuất từ tâm. Giữa các dạng vật chất đó cũng
như giữa vật chất và ý thức đều có sự dung thông vì
tất cả đều là tâm. Do đó những hạt liên thông có mối
quan hệ trên một cấp bực khác, sâu hơn cấp bực của vật
chất. Vì vậy mà chúng có trao đổi với nhau, "biết đến"
lẫn nhau vì mỗi mức độ của sắc cũng đều chứa ý thức
cả. Trong lĩnh vực của vật chất, vì có thời gian và không
gian xuất hiện nên mọi vận hành của tâm bị giới hạn
trong những mức độ đo được. Do đó vận tốc ánh sáng,
hằng số Planck etc...là những số rất lớn/rất nhỏ nhưng
có giới hạn. Còn trong lĩnh vực tâm lý của thọ tưởng
hành thức, mọi tín hiệu đều có vận tốc vô tận, tức
là có tính chất liên thông. Nói chung thì mọi yếu tố trong
ngũ uẩn đều "liên thông" (non-local) với nhau mà thuật ngữ
Phật giáo gọi là "dung thông".
- Quan
niệm phải đưa quan sát viên vào quá trình chung với vật
được quan sát của thuyết tương đối và cơ học lượng
tử là hoàn toàn tương thích với thái độ của Phật giáo
mặc dù Phật giáo xuất phát từ một cái nhìn khác. Theo Phật
giáo không có quan sát viên thì cũng không có vật được quan
sát, vật đó chỉ có khi có ai quan sát nó. Nếu không có ai
quan sát nó thì cũng không có nó. Đối với Phật giáo, không
có vật nào tồn tại độc lập cả mà đều chúng chỉ tồn
tại trên cơ sở tương quan với vật khác. Trung quán tông
là trường phái nhấn mạnh nhiều nhất quan niệm này.
- Sự
duy trì một thế giới vật chất là nhờ nghiệp (biệt và
công nghiệp). Nghiệp do tâm với tính chất quang minh tạo thành.
Do đó vật chất có dạng sóng, điều mà ngày nay người ta
thừa nhận. Quang minh của tâm có sức vận động vô tận,
ta không thể quan niệm về một độ dài sóng. Nhưng khi quang
minh lấy dạng vật chất thì có không gian thời gian sinh ra,
lúc đó ta nói về một độ dài sóng, về tần số. Tần số
vi tế nhất của quang minh vật chất đã dẫn đến những
đơn vị nhỏ nhiệm nhất mà vật lý thể hiện bằng hằng
số Planck. Tương tự thế, ánh sáng trắng trong thế giới
vật chất của ta tuy là một dạng của tâm nhưng trong thế
giới ba chiều thì có vận tốc giới hạn.
- Vì
nghiệp lực là tác nhân duy trì thế giới nên nó luôn luôn
đẩy thêm năng lực vào thế giới vật chất, do đó có sự
vận động trong tuần hoàn mà Kinh Lăng Nghiêm gọi là "sáng-tối
lần lượt tỏ bày". Đây là điều mà Bohm gọi là ẩn-hiện
(enfolding-unfolding). Trong dạng vật chất mọi thứ thuộc tâm
đều phải xuất hiện một cách hữu hạn (finite) nên từ
đó phát sinh khái niệm lượng tử và mối liên hệ bất định
của Heisenberg.
- Theo
Phật giáo, vật chất được hình thành và duy trì bởi lực
tạo tác của cộng nghiệp và biệt nghiệp của nhiều cá
thể. Các nghiệp lực đó xuất phát từ sự vận hành của
ngũ uẩn mà ngũ uẩn là vô ngã, là vận hành vô chủ. Do đó
mọi dạng vật chất đều thành hình một cách ngẫu nhiên[12],
không do chủ ý của ai. Trên cơ sở đó ta có thể lý giải
tính chất "thống kê" trong cơ học lượng tử một cách dễ
dàng.
Nhìn
chung, nếu đứng trên quan niệm của Phật giáo, cho mọi "pháp
hữu vi" (trong đó có vật chất) là "mộng, huyễn, bào, ảnh,
như sương sa, điển chớp" (Kinh Kim Cương), cho mọi dạng vật
chất chỉ tạm thời, không có tự tính, không tồn tại thực
sự mà chỉ tồn tại trên cơ sở tương quan với người quan
sát, ta có thể lý giải dễ dàng mọi điểm cơ bản của
thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Tuy nhiên vì lý
thuyết Phật giáo nêu lên những đề tài thuộc về bản thể
luận, ta chỉ tìm thấy trong đó những ý niệm có tính chất
định tính hơn định lượng. Sự xác định những khái niệm
định lượng như các hằng số, các đẳng thức và bất đẳng
thức trong thế giới vật chất phải là nhiệm vụ của các
nhà vật lý.
Trong
các phép diễn giải về cơ học lượng tử và các lý thuyết
với tham vọng giải thích một cách nhất quán được thế
giới hiện tượng thì thuyết "thứ bậc nội tại" của Bohm
là tiến gần nhất với triết học Phật giáo. Thế nhưng
Bohm và các cộng sự của ông chưa đến với chìa khóa quan
trọng nhất của đạo Phật là "pháp vô ngã, nhân vô ngã".
Khái niệm "chập" (moment) của Bohm có thể xem là "pháp" của
Phật giáo nhưng "chập" của Bohm chỉ mới được định nghĩa
như "biến cố" trong thứ bậc nội tại. Nếu người ta đưa
quan niệm vô ngã vào trong thuyết thứ bậc nội tại, nhà
vật lý sẽ thấy sự triển khai lý thuyết này dễ dàng và
phong phú hơn nữa.
Thế
nhưng, khi chấp nhận thuyết của Bohm và xa hơn nữa, chủ
trương "pháp vô ngã", tức là xem thế giới hiện tượng chỉ
là một sự trình hiện tạm thời, nhà vật lý sẽ công khai
từ bỏ quan niệm của một thực tại độc lập nằm ở "bên
ngoài" mà đó là một điều hầu như bất khả xâm phạm của
vật lý. Do đó, trở lại với phần đầu của bài này, ta
có thể nói, nếu phải lựa chọn, có lẽ nhà vật lý sẽ
chịu từ bỏ thuyết tương đối cho rằng không có tín hiệu
nào đi nhanh hơn ánh sáng, nhưng không thể từ bỏ một thực
tại vật lý độc lập. Tuy nhiên, sự phát triển của khoa
học vật lý hiển nhiên sẽ còn kéo dài vô tận, bao lâu loài
người còn hiện diện trên hành tinh này. Do đó ta chưa thể
nói được, cuối cùng nền vật lý sẽ đi về đâu, phải
chăng tất cả sẽ đồng qui về một mối, trong đó mọi ngành
sinh vật, vật lý, tâm lý, thiên văn...đều có chung một cơ
sở như Bohm tiên đoán.
Cuối
cùng, hẳn có độc giả tò mò muốn biết một con người
như David Bohm như thế nào, khi ông tin rằng có một thứ bậc
nội tại, nó là nguồn lưu xuất của mọi dạng đời sống,
vật chất và ý thức. Theo Basil J.Hiley, cộng tác viên thân
cận với ông trong nhiều công trình khoa học, David Bohm tiến
khá gần với Thiền trong đời sống hàng ngày. Khi một phóng
viên khi hỏi liệu "Bohm đã cảm nhận những "trải nghiệm
huyền bí" hay không, Hiley trả lời như sau: "...Bohm xem nó (trải
nghiệm huyền bí) là sự tĩnh lặng của tâm để thứ bậc
nội tại của tâm cho phép lưu xuất ra ngoài những thứ bậc
dàn trải mới mẻ hay cung cấp những gì có tính chất sáng
tạo...Ông hay làm những điều đó trong tâm ông...Ông cảm
nhận rằng tư tưởng có khả năng nhận thức trực tiếp
được thứ bậc nội tại"[13].
Phải
chăng "sự tĩnh lặng của tâm" đó đã giúp cho David Bohm có
những phát minh độc đáo mà ta vừa trình bày?
Nguyễn
Tường Bách
23.06.2005
Chú
Thích
[1]
A.Einstein, N.Rosen and B.Podolsky, Phys. Rev., vol 47, 1935, p.777
[2]
Realism, chủ trương tin rằng có một thực tại độc lập
ở
bên ngoài. Hầu như tất cả các nhà vật lý đều duy thực.
[3]
John Bell, "On the Einstein Podolsky Rosen Paradox", Physics 1 (1964)
[4]
A. Aspect, P.Grangier and R.Roger "Experimental Test of Realistic Local
Theories via Bell's Theorem", Physical Review Letters 47 (1981)
[5]
Nick Herbert, Quantum Reality
[6]
David Bohm (1917-1992), nhà vật lý lý thuyết nổi tiếng, giáo
sư tại Đại học London
[7]
Xem David Bohm, Wholeness and the implicate Order, Routledge & Kegan
Paul, 1980
[8]
Đại cương Kinh Lăng Nghiêm, Thích Thiện Hoa biên soạn
[9]
Trích Mã Minh, Đại thừa khởi tín luận, Bản dịch Thích
Thiện Hoa
[10]
Trích lời Văn-thù trả lời Phật trong Kinh Lăng Nghiêm: "Mê
vọng hữu hư không/Y không lập thế giới/Tưởng trừng thành
quốc độ/Trí giác nãi chúng sinh. Dịch: Từ mê muội vọng
động mà có hư không/Dựa trên hư không mà thành thế giới/Vọng
tưởng lóng lại thành cõi xứ/Cái hiểu biết phân biệt làm
chúng sinh".
[11]
"A-nan, như người đau mắt, vì nghiệp riêng của họ, nên
“vọng thấy” cái đèn có vầng đỏ hiện ra…Như dân chúng
trong một nước, do ác nghiệp chung tạo của họ nên đồng
thấy có những điềm không lành hiện ra. Lên một từng nữa
là toàn cả chúng sinh trong mười phương thế giới ngày nay
đây, đều do “vô minh vọng động từ vô thỉ” nên đồng
vọng thấy có thế giới chúng sinh hiện ra vậy". Lời Phật
trong Kinh Lăng Nghiêm.
[12]
Xem Kinh Duy Ma Cật, đoạn Ưu-bà-li trả lời Phật, kể về
Duy Ma Cật: "...Tất cả các pháp đều xuất hiện một cách
ngẫu nhiên (nirapeksa), như một áng mây, như một tia chớp,
chúng chẳng dừng chân dù trong một khoảnh khắc...", bản
dịch Chân Nguyên.
[13]
Xem "On Quantum mechanics and the implicate Order", an Interview with Dr.Basil
J.Hiley, University of London
http://www.goertzel.org/dynapsyc/1997/interview.html