Từ
Bi Tam muội Thủy Sám
PHÁP
TỪ BI THỦY SÁM
(QUYỂN
THƯỢNG)
Tất
cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn
Thủy sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một
ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bị màn vô minh
che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không
hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười
phương chư Phật, không tin tôn Pháp, cùng các bậc Thánh tăng,
bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng
túng, kiêu căng ngạo mạn đối với các vật quí báu; các
thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến,
ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn
ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh
linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường
cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội lỗi
ở quá khứ, cùng tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành
xin sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám
làm nữa.
Bởi
thế hôm nay chúng con dốc lòng thành kính qui y hết thảy các
đức Phật, các vị Đại Bồ tát, Bích Chi, La Hán, Phạm Vương
Đế Thích, Thiên Long Bát Bộ và tất cả Thánh chúng trong
mười phương hư không thế giới cầu xin dủ lòng chứng giám.
LỄ
PHẬT VÀ BỒ TÁT
Nam
mô Tỳ Lô Giá Na Phật.
Nam
mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam
mô A Di Đà Phật.
Nam
mô Di Lặc Phật.
Nam
mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam
mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam
mô Ca Sa Tràng Phật.
Nam
mô Sư Tử Hống Phật.
Nam
mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Nam
mô Phổ Hiền Bồ tát.
Nam
mô Đại Thế Chí Bồ tát.
Nam
mô Địa Tạng Vương Bồ tát.
Nam
mô Đại Trang Nghiêm Bồ tát.
Nam
mô Quan Tự Tại Bồ tát.
Đảnh
lễ các đức Phật rồi, thứ lại sám hối. Nhưng, muốn lễ
sám trước phải kính lễ Tam bảo, vì Tam bảo là bạn lành,
là ruộng phúc của tất cả chúng sinh. Nếu qui hướng Tam
bảo thì diệt được vô lượng tội, thêm được vô lượng
phúc, khiến người làm đạo thoát khổ sinh tử, được vui
giải thoát. Vì vậy cho nên chúng con tên là...
Qui
y hết thảy chư Phật trong mười phương hư không thế giới.
(1 lạy)
Qui
y hết thảy tôn Pháp trong mười phương hư không thế giới.
(1 lạy)
Qui
y hết thảy Thánh Tăng trong mười phương hư không thế giới.
(1 lạy)
Sở
dĩ ngày nay chúng con sám hối, chính vì từ vô thỉ nhẫn lại,
còn ở địa vị phàm phu bất cứ sang hèn, tội lỗi không
lường: hoặc do ba nghiệp gây nên tội lỗi, hoặc vì nội
tâm vọng tưởng, hoặc vì ngoại cảnh mê hoặc sinh lòng nhiễm
trước.
Như
thế cho đến mười điều ác nghiệp, tám vạn bốn ngàn trần
lao. Những tội lỗi ấy tuy nhiều vô lượng, nhưng không ngoài
ba điều: phiền não, nghiệp chướng, quả báo. Ba ác pháp
này, là pháp chướng ngại thánh đạo, ngăn trở quả báo
tốt đẹp nhân thiên. Thế nên kinh gọi là ba chướng, vì
vậy chư Phật, Bồ tát dạy làm những pháp phương tiện sám
hối trừ diệt. Ba chướng ấy diệt thì sáu căn (10), mười
ác (11), cho đến tám vạn bốn ngàn trần lao (12) thảy đều
thanh tịnh.
Hôm
nay chúng con là... đem hết lòng thành, vận tâm thù thắng,
sám hối ba chướng. Muốn diệt ba chướng phải dùng những
tâm niệm này: Trước phải phát bảy tâm thù thắng làm phương
tiện, sau mới trừ diệt:
Một
là tâm tủi hổ; hai là tâm e sợ; ba là tâm chán xa; bốn là
tâm Bồ đề; năm là tâm oán thân bình đẳng; sáu là tâm
nghĩ báo ân Phật; bảy là tâm quán xét tội tính vốn không.
Thứ
nhất tâm tủi hổ, là tự nghĩ ta với đức Thích Ca đồng
là phàm phu, mà đức Thế Tôn đã thành đạo đến nay trải
qua số kiếp nhiều như cát bụi, chúng ta thì lại còn cùng
nhau say đắm lục trần (13) trôi lăn trong vòng sinh tử, chưa
biết bao giờ ra khỏi. Như thế thật là đáng thẹn đáng
hổ nhất trong thiên hạ.
Thứ
hai tâm e sợ, đã là phàm phu thì thân, khẩu, ý nghiệp thường
thuận ưng với tội lỗi. Bởi nhân duyên ấy nên sau khi chết
phải đọa vào địa ngục, ngã quỉ, súc sinh chịu khổ vô
cùng. Như thế thật là đáng kinh đáng sợ.
Thứ
ba tâm chán xa, là chúng ta thường cùng nhau quán sát trong đường
sinh tử, chỉ là vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh,
hư giả như bọt nước nổi, tan, xoay vần qua lại như bánh
xe lăn; còn thêm sinh, già, bệnh, chết, tám khổ, nung nấu
không dừng. Chúng ta xem xét ngay trong thân thể, từ đầu đến
chân có 36 thứ: tóc, lông, răng, móng, ghèn, nước mắt, mũi,
nước miếng, gàu, mồ hôi, đại tiện, tiểu tiện, da dầy,
da mỏng, máu, thịt, gân, mạch, xương, tủy, mỡ chài, mỡ
nước, óc, màng, lá lách, thận, tim, phổi, gan, mật, ruột,
dạ dầy, đàm đỏ, đàm trắng, sinh tạng, thục tạng, thường
bài tiết ra chín lỗ. Nên trong kinh nói: thân này là chỗ chứa,
các khổ não đầy dẫy bất tịnh, nên kẻ trí giả chẳng
hề yêu dấu. Trong vòng sinh tử đã có những cái xấu xa như
thế, thực là đáng lo, đáng chán!
Thứ
tư phát tâm Bồ đề. Kinh nói: “Nên ham muốn thân Phật,
vì thân Phật tức là pháp thân, pháp thân ấy do vô lượng
công đức trí tuệ sinh ra, do tu sáu pháp Ba la mật (14) sinh
ra, do từ, bi, hỉ, xả sinh ra, do tu ba mươi bảy pháp trợ
Bồ đề (15) sinh ra. Do những công đức trí tuệ ấy sinh ra
thân Như Lai. Muốn được thân ấy thì phải phát tâm Bồ
đề, cầu được Nhất thiết chủng trí, Thường, Lạc, Ngã,
Tịnh, chứng quả Tát bà nhã (16), thanh tịnh Phật độ, thành
tựu chúng sinh, chẳng tiếc thân mệnh tài sản”.
Thứ
năm tâm oán thân bình đẳng, là đối với tất cả chúng
sanh, mở lòng từ bi không phân “nhân ngã”. Vì nếu còn
thấy kẻ “oán” khác với người “thân”, tức còn có
sự phân biệt. Bởi có phân biệt mới có chấp trước, bởi
có chấp trước mới sinh phiền não, bởi sinh phiền não mới
tạo nghiệp dữ, bởi tạo nghiệp dữ mới chịu quả báo.
Thứ
sáu tâm nghĩ báo ân Phật. Đức Như Lai từ vô lượng kiếp
đã vì chúng ta mà bỏ cả đầu, mắt, tủy, não, tay chân,
xương thịt, quốc thành, vợ con, voi ngựa, thất bảo, tu hành
khổ hạnh. Ơn ấy đức ấy thật khó báo đền. Vì vậy kinh
nói: “Giả sử đầu đội vai mang, trải qua số kiếp như
hằng hà sa, cũng khó đền đáp ơn Phật. Chúng ta muốn đền
đáp công ơn của đức Như Lai, trong đời này phải dũng mãnh,
tinh tiến gắng chịu khổ nhọc, không tiếc thân mệnh gây
dựng Tam bảo, hoằng dương giáo pháp Đại thừa, hóa độ
chúng sinh, đồng vào ngôi Chính giác”.
Thứ
bảy tâm quán xét tội tính không thật, là tội không tự
tính, do nhân duyên sinh, do điên đảo thành, đã do nhân duyên
sinh thì cũng do nhân duyên diệt. Nhân duyên sinh tội tức là
gần gũi bạn ác, gây nghiệp vô cùng. Nhân duyên diệt tội
tức là ngày nay tịnh tâm sám hối. Thế nên kinh dạy: “Tội
tính không phải ở trong, không phải ở ngoài, không ở chặng
giữa. Nên biết tội tính vốn không”.
Khởi
bảy thứ tâm như trên ấy rồi, lại duyên tưởng đến mười
phương chư Phật, cùng các hiền thánh, cung kính chấp tay phơi
bày tâm can tỏ lòng cầu khẩn hổ thẹn sám hối. Sám hối
như thế, tội nào không diệt, phúc nào không sinh. Nếu không
hết lòng sám hối, cứ lần lữa biếng nhác, tình tự buông
lung thì chỉ khổ nhọc cho mình, chứ không ích lợi gì cả.
Vả lại mạng người vô thường như quay bó đuốc. Khi hơi
thở ra không trở lại thì thân này đồng như tro đất, khổ
báo trong ba đường chính mình phải chịu, không thể nhờ
tiền tài, của báu để lo cầu thoát khỏi, ở mãi trong cảnh
mịt mù không có kỳ hạn ân xá, riêng mình chịu khổ, không
ai thay thế.
Đừng
cho rằng trong đời này ta không gây tội, mà không ân cần
cầu sám hối, vì trong kinh nói: “Kẻ phàm phu mỗi khi động
chân cất bước là đã có tội”. Lại trong những đời quá
khứ đã gây nên nhiều điều ác nghiệp, không thể kể xiết,
nó thường theo dõi như bóng theo hình. Nếu không sám hối
thì tội ác càng ngày càng sâu. Nên biết rằng hễ che giấu
tội lỗi mình, thì Phật còn không dung cho, tỏ bày để sám
hối thì ngài Tịnh Danh kính chuộng. Bởi thế nên biết chúng
sinh bị chìm đắm mãi trong bể khổ cũng do thói hay che giấu
tội lỗi. Vì vậy ngày nay chúng con xin phát lộ sám hối,
không dám che giấu.
Ba
chướng: một là phiền não, hai là nghiệp chướng, ba là quả
báo. Ba thứ chướng này làm nhân cho nhau, như do phiền não
mới sinh ác nghiệp, do ác nghiệp phải chịu khổ báo. Vì
thế ngày nay chúng con xin hết lòng sám hối.
Thứ
nhất sám hối các nghiệp chướng phiền não, vì những phiền
não ấy đều do ý gây ra. Và khi ý nghiệp phát khởi, thì
thân nghiệp, khẩu nghiệp theo đó phát động. Ý nghiệp có
tham lam, có giận dữ, có ngu muội. Bởi ngu muội mới sinh
tà kiến mà gây lắm việc ác. Vì vậy kinh nói: “Ba nghiệp
tham, sân, si làm cho chúng sanh đọa lạc trong ba đường: địa
ngục, ngạ quỉ, súc sinh, chịu khổ vô cùng. Nếu được
làm người cũng phải chịu những ác báo phiền não: nghèo
nàn, túng thiếu, côi cút, lại thêm tính nết hung hăng, càn
bướng, ngu độn, không biết phải quấy”.
Ý
nghiệp đã gây nhiều ác quả như thế, nên ngày nay chúng
con dốc lòng đem hết thân mệnh nương về chư Phật, cầu
xin sám hối.
Những
phiền não ấy, chư Phật, Bồ tát, các bậc thánh nhân, đã
thấu tỏ chân lý, đủ mọi điều quở tránh. Gọi phiền
não này là oán gia, vì phiền não làm dứt hết tuệ căn, tuệ
mệnh của chúng sinh; cũng gọi phiền não này là giặc cướp,
vì cướp mất các pháp lành của chúng sinh: cũng gọi phiền
não này là cái thác chảy mạnh, vì lôi cuốn chúng sinh vào
bể khổ sinh tử; cũng gọi phiền não này là xiềng xích,
vì ràng buộc chúng sinh trong ngục sinh tử không khi nào ra
khỏi, cứ phải quanh quẩn mãi trong sáu nẻo bốn loài, gây
nghiệp ác vô cùng, chịu quả khổ không ngớt. Thế mới biết
những họa hoạn ấy đều do phiền não mà ra. Cho nên ngày
nay vận tâm tăng thượng cầu xin sám hối.
Từ
vô thỉ đến nay, chúng con hoặc chịu quả báo trong sáu đường,
hễ có tâm thức, thường ôm mối ngu hoặc đầy dẫy tâm
can, hoặc nhân mầm tam độc (17) tạo nên tất cả tội, hoặc
nhân tam lậu (18) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân tam khổ
(19) tạo nên tất cả tội, hoặc duyên tam đảo (20) tạo nên
tất cả tội, hoặc tham tam hữu (21) tạo nên tất cả tội.
Những tội như thế vô lượng vô biên não loạn tất cả
bốn loài chúng sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn đều
xin sám hối.
Lại
nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân bốn trụ
(22) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn lưu (23) tạo nên
tất cả tội, hoặc nhân bốn thủ (24) tạo nên tất cả tội,
hoặc nhân bốn chấp (25) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân
bốn duyên (26) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn đại
(27) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn món phược (28)
tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bốn tham (29) tạo nên tất
cả tội, hoặc nhân bốn sinh (30) tạo nên tất cả tội.
Những
tội như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng
sinh trong sáu đường. Ngày nay hổ thẹn đều xin sám hối.
Lại
nữa, chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân năm món trụ
(31) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân năm món cái (32) tạo
nên tất cả tội, hoặc nhân năm món xan (33) tạo nên tất
cả tội, hoặc nhân năm món kiến (34) tạo nên tất cả tội,
hoặc nhân năm tâm (35) tạo nên tất cả tội. Những phiền
não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh
trong sáu đường, ngày nay tỏ bày cầu xin sám hối.
Lại
nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân sáu căn (36)
tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu thức (37) tạo nên tất
cả tội, hoặc nhân sáu tưởng (38) tạo nên tất cả tội,
hoặc nhân sáu thụ (39) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân
sáu hành (40) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu ái (41)
tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu nghi (42) tạo nên tất
cả tội. Những phiền não như thế vô lượng vô biên, não
loạn tất cả chúng sinh trong sáu đường, ngày nay hổ thẹn
tỏ bày, cầu xin sám hối.
Lại
nữa chúng con từ vô thỉ lại đây, hoặc nhân bảy món lậu
(43) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân bảy món sử (44) tạo
nên tất cả tội, hoặc nhân tám món đảo (45) tạo nên tất
cả tội, hoặc nhân tám món cấu (46) tạo nên tất cả tội,
hoặc nhân tám khổ (47) tạo nên tất cả tội. Những phiền
não như thế vô lượng vô biên, não loạn tất cả chúng sinh
trong sáu đường ngày nay tỏ bày cầu xin sám hối.
Lại
nữa chúng con từ vô thỉ nhẫn lại, hoặc nhân chín não (48)
tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín kết (49) tạo nên tất
cả tội, hoặc nhân chín duyên (50) tạo nên tất cả tội,
hoặc nhân mười phiền não (51) tạo nên tất cả tội, hoặc
nhân mười triền (52) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười
một biến sử (53) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười
hai nhập (54) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười sáu
tri kiến (55) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân mười tám
giới (56) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân hai mươi lăm ngã
(57) tạo nên tất cả tội, hoặc nhân sáu mươi hai kiến (58)
tạo nên tất cả tội, hoặc nhân chín mươi tám sử (59),
một trăm tám phiền não (60) của kiến hoặc, tư hoặc, đêm
ngày bập bùng mở cửa hữu lậu (61) gây nên tất cả tội,
não loạn thánh hiền và bốn loài chúng sinh, đầy dẫy ba
cõi (62) tràn khắp sáu đường (63), không còn chỗ trốn lánh.
Ngày nay hết lòng cầu khẩn, hướng về mười phương chư
Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, hổ thẹn giãi bày đều xin sám
hối.
Nguyện
nhờ công đức sám hối tất cả phiền não ba độc, chúng
con nguyện đời đời kiếp kiếp được ba thứ trí tuệ (64),
ba món sáng tỏ, diệt được ba khổ (65) đầy đủ ba nguyện
(66). Lại nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền
não vì bốn món thức..., chúng con... đời đời kiếp kiếp
được mở rộng bốn tâm bình đẳng (67), lập bốn tín nghiệp
(68) diệt bốn đường ác (69), được bốn vô úy (70). Nguyện
nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não vì năm món
cái... chúng con... đời đời kiếp kiếp, qua khỏi được
năm đường (71), dựng được năm căn (72), năm thứ tịnh
nhỡn (73) thành tựu năm phần pháp thân (74).
Lại
nguyện nhờ công đức đã sám hối tất cả phiền não của
sáu thụ... chúng con... đời đời kiếp kiếp được đầy
đủ sáu món thần thông (75), sáu phép lục độ (76). Không
bị sáu trần mê hoặc, thường làm được sáu diệu hạnh
(77). Lại nguyện nhờ công đức sám hối tất cả phiền não
vì bảy lậu, tám cấu, chín kết, mười triền... chúng con...
đời đời kiếp kiếp được ngồi trên hoa thất tịnh (78),
được tắm nước bát giải (79), đủ trí cửu đoạn (80),
thành tựu hạnh thập địa (81).
Lại
nguyện, nhờ công đức sám hối tất cả phiền não từ mười
một biến sử, mười hai nhập, mười tám giới... chúng con...
đời đời kiếp kiếp, được hiểu mười một món không
(82), tâm thường nương những món không ấy, tự tại chuyển
nói mười hai hành pháp luân (83), đầy đủ mười tám món
bất cộng pháp (84) vô lượng công đức đều viên mãn.
Phát
nguyện xong, chí tâm kính lễ chư Phật:
Nam
Mô Tì Lô Giá Na Phật.
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam
Mô A Di Đà Phật.
Nam
Mô Di Lặc Phật.
Nam
Mô Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật.
Nam
Mô Long Tự Tại Vương Phật.
Nam
Mô Bảo Thắng Phật.
Nam
Mô Giác Hoa Định Tự Tại Vương Phật.
Nam
Mô Ca Sa Tràng Phật.
Nam
Mô Sư Tử Hống Phật.
Nam
Mô Văn Thù Sư Lợi Bồ tát.
Nam
Mô Phổ Hiền Bồ tát.
Nam
Mô Đại Thế Chí Bồ tát.
Nam
Mô Địa Tạng Vương Bồ tát.
Nam
Mô Đại Trang Nghiêm Bồ tát.
Nam
Mô Quán Tự Tại Bồ tát.
Đảnh
lễ chư Phật rồi, kế lại sám hối.
Phép
sám hối chính là sửa đổi sự lỗi lầm đã qua, diệt ác
làm lành. Người đời ai không lỗi, như bậc hữu học lỡ
mất chính niệm còn bị phiền não nổi lên, bực La hán có
lúc
kết tập phát khởi cũng còn phạm phải những nghiệp thân,
khẩu, ý, huống kẻ phàm phu sao khỏi tội lỗi. Những người
có trí biết trước liền ăn năn đổi lỗi, còn kẻ ngu si
giấu giếm, nên tội thêm tràn đầy, chất chứa lâu ngày
không biết khi nào tỏ ngộ. Nếu biết hổ thẹn giãi bày
sám hối, không những diệt được tội lỗi, còn thêm vô
lượng công đức, gây dựng quả vị Niết Bàn vi diệu của
Như Lai. Muốn thật hành phép sám hối, trước hết, thân phải
nghiêm trang tề chỉnh, chiêm ngưỡng tôn tượng, tâm phải
khởi ý cung kính, theo phép quán tưởng, hết lòng cầu khẩn
để tâm suy nghĩ hai điều: thứ nhất phải nghĩ thân mệnh
khó giữ thường còn, một khi tan nát không biết bao giờ được
lại. Nếu không gặp chư Phật cùng các bậc hiền thánh, lại
gặp phải bạn ác, tạo thêm nhiều tội nghiệp, sẽ bị đọa
lạc chốn hiểm hang sâu. Thứ hai phải tự nghĩ ngày nay, ta
tuy gặp chính pháp Như Lai, lại không biết vì Phật pháp nối
dõi giống Thánh, tẩy sạch ba nghiệp thân, khẩu, ý, để
cư xử theo thiện pháp, lại riêng làm việc ác, cố ý che
đậy, nói người khác không biết, kẻ kia không thấy, giấu
kín trong lòng ngang nhiên không hổ thẹn. Như thế thật là
một điều hết sức ngu hoặc trong thiên hạ.
Mười
phương chư Phật, chư đại Bồ tát cùng các vị thiên thần,
lúc nào lại không dùng thiên nhỡn thanh tịnh mà soi thấy
hết những tội ác của chúng ta gây tạo.
Vả
lại các thần linh ở chốn u minh ghi chép tội phúc không sai
một mảy may nào. Nói đến những người đã làm nên tội
lỗi, sau khi chết rồi bị ngục tốt đầu trâu thâu bắt
thần hồn đem nạp trước mặt Diêm Vương để tra xét điều
phải trái. Bấy giờ tất cả kẻ oán cừu đang làm chứng
nói: “ngươi trước kia mổ ta, giết ta, nấu, hầm, rang, nướng
ta... ” hoặc nói: “trước kia ngươi cướp bóc lấy hết
tiền bạc ta, ly gián quyến thuộc ta, ngày nay ta mới có dịp
ở trước ngươi làm chứng cớ rõ ràng, đâu còn giấu giếm
chỉ đành cam chịu những tội lỗi trước”.
Trong
kinh nói rõ: ở địa ngục không bao giờ xử oan. Người nào
ngày thường gây những tội gì, tuy đã quên mất, nhưng đến
khi chết rồi tất cả hình tướng ấy do các nghiệp ác độc
tạo nên từ trước đều hiện ra, nói: “xưa kia ngươi ở
bên ta tạo những những tội ác như thế, nay làm sao giấu
giếm được?”. Lúc đó tội nhân không còn chỗ nào che đậy.
Ngay lúc đó Diêm Vương nghiến răng quở trách rồi cho vào
địa ngục, trải vô lượng kiếp chẳng hòng thoát khỏi.
Việc đó chẳng phải xa lạ mà cũng không quan hệ gì với
người, chính tự mình tạo tự mình phải chịu, dù chí thân
như cha con, một khi quả báo đối đầu, cũng không thay thế
cho nhau được.
Vậy
nay chúng ta cùng được làm thân người khỏe mạnh không bệnh
tật, nên gắng sức tu hành tranh đua cùng thọ mệnh, khi đại
nạn xảy đến, hối hận không kịp. Bởi thế, chúng con dốc
lòng, cầu xin sám hối.
Từ
vô thỉ đến nay, chúng con bị vô minh che khuất tâm trí, do
phiền não tạo các nghiệp ác trong ba đời. Hoặc say đắm
dục lạc sinh ra “phiền não ham muốn”, hoặc giận dữ bực
tức sinh ra “phiền não hãm hại”, hoặc tâm trí tối tăm
sinh ra “phiền não không hiểu rõ”, hoặc ngã mạn tự cao
sinh ra “phiền não ngạo nghễ”, hoặc nghi ngờ chánh đạo
sinh ra “phiền não do dự”, hoặc bác không nhân không quả
sinh ra “phiền não tà kiến”, hoặc không biết thân cảnh
do nhân duyên giả hợp, sinh ra “phiền não chấp ngã”, hoặc
mê lầm trong ba đời sinh ra “phiền não chấp thường chấp
đoạn”, hoặc gần gũi tà pháp sinh ra “phiền não kiến
thủ”, hoặc theo lầm tà sư sinh ra “phiền não giới thủ”,
cho đến do tất cả bốn món chấp thành ra “phiền não chấp
trước sai lầm... ”. Ngày nay chí thành, đều xin sám hối.
Lại
từ vô thỉ đến nay bởi có tính bo bo lận tiếc, sinh ra “phiền
não keo bẩn” bởi không thâu nhiếp sáu căn, sinh ra “phiền
não buông lung”, bởi để tâm làm những việc xấu xa ác
độc sinh ra “phiền não bất nhẫn”, bởi
biếng
nhác trễ nải sinh ra “phiền não không siêng năng”, bởi
hay ngờ vực lo nghĩ bông lông, sinh ra ”phiền não giác quán”,
bởi xúc cảnh mê hoặc, sinh ra “phiền não không hiểu biết”,
bởi theo tám thói xấu (85) ở đời, sinh ra “phiền não nhân
ngã”, bởi dối trá, khen trước mặt, chê sau lưng sinh ra
“phiền não tâm không ngay thẳng”, bởi thô cứng khó dạy
sinh ra “phiền não không điều hòa”, bởi dễ giận khó
vui, sinh ra “phiền não uất hận”, bởi hay ghen ghét đâm
thọc sinh ra “phiền não hung dữ”; bởi hung bạo độc hại,
sinh ra “phiền não thâm độc”, bởi trái với thánh đạo
sinh ra “phiền não chấp tướng”, bởi không biết pháp tứ
đế, khổ, tập, diệt, đạo, sinh ra “phiền não điên đảo”,
bởi cứ theo chiều sinh tử, không diệt được mười hai nhân
duyên (86) sinh ra “phiền não luân chuyển”, cho đến do vô
minh trụ địa, từ vô thỉ khởi ra hằng sa phiền não, khởi
tứ trụ địa, gây thành khổ quả trong ba cõi. Khổ quả phiền
não vô lượng vô biên, não loạn hiền thánh, bốn loài chúng
sinh trong sáu nẻo. Ngày nay giải bày trước mười phương
chư Phật, tôn Pháp, Thánh chúng, đều xin sám hối.
Nguyện
nhờ công đức đã sám hối những phiền não tham, sân, si
do ý nghiệp khởi ra, đời đời kiếp kiếp bẻ tràng kiêu
mạn, khô nước ái dục, tắt lửa sân hận, phá tối ngu si,
nhổ gốc nghi hoặc, xé lưới tà kiến, biết rõ ba cõi như
ngục tù, tứ đại như rắn độc, ngũ ấm như kẻ thù, lục
nhập rỗng không, dối trá thân thiện, siêng tu tám món thánh
đạo, dứt nguồn vô minh, nhắm thẳng Niết Bàn không hề
dừng nghỉ, luôn luôn để tâm làm theo ba mươi bảy phẩm
trợ đạo, cùng mười phép Ba la mật (87)
thường
được hiện tiền.
Sám
hối phát nguyện rồi, hết lòng tin tưởng kính lễ thường
trụ Tam bảo.
(HẾT
QUYỂN THƯỢNG)