THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 
.
TỪ BI THUỶ SÁM PHÁP (KINH THUỶ SÁM)
Trước thuật: Ngộ Đạt Thiền Sư - Dịch giả: Thích Huyền Dung 
Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, PL. 2541 - 1997
Tất cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn Thủy sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bị màn vô minh che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười phương chư Phật, không tin tôn Pháp, cùng các bậc Thánh tăng, bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng túng, kiêu căng ngạo mạn đối với các vật quí báu; các thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến, ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội lỗi ở quá khứ, cùng tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm nữa. 

(Chánh Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 45, Chư tông bộ , Tr.967-978, số hiệu 1910 , 3 quyển, Từ Bi Thủy Sám Pháp, không ghi tên tác giả nhưng ai cũng biết bộ sám pháp này do ngài Ngộ Đạt Quốc sư soạn. bttdtkvn)


DUYÊN KHỞI

Tội từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội diệt tâm không cả hai đều hết.”
“Nguyện nghiệp chướng báo chướng,
Phiền não chướng, ba chướng tiêu trừ.
Nguyện tân duyên, cựu duyên,
Oan trái duyên, mọi duyên giải thoát”.

DUYÊN KHỞI

Thiết nghĩ ngoài những kinh, luật, luận của thánh giáo đã phiên dịch, nhiều sách vở của hiền nhân chế tác về sau đều do nơi sự cảm ứng mà hiện ra cả. Nếu riêng từng phẩm loại mà nói thì không dễ gì kể ra cho hết được. Ngay như bản linh văn này mà gọi là Thủy Sám, tôi xin nói rõ đến căn do.

Thuở xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca ma la (bệnh cùi) ai cũng gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han, không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích phong thái cưa ngài Tri Huyền mới dặn rằng:

- Sau này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm dấu chỗ tôi trú ngụ.

Sau đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn trước bèn đi vào núi mà tìm.

Trên đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi. Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân mật.

Nhân ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của mình. Nhà sư ấy nói:

- Không hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa mụn ghẻ ấy khỏi ngay.

Mờ sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối. Ngài vừa bụm nước lên rửa thì bụm ghẻ kêu lên:

- Đừng rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố chép trong bộ Tây Hán chưa?

- Tôi có đọc.

- Ông đã đọc rồi lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức, tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả lấy nước pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở đi tôi không còn báo oán ông nữa.

Ngài Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép việc này rõ ràng.

Khi đó Ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu không gặp thánh nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.

Ba quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.

Nghĩa chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp oan khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám. Lại ngài Ngộ Đạt cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nặc Ca nên dùng tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn này để đáp cái thâm ân kia.

Nay tôi kể rõ sự thật và nêu công của tiên đức để cho những người lật bộ sám văn này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy nhiều kiếp cũng không sai chạy.

(Bài này tôi cố tìm tên tác giả mà không thấy)


Phần Nghi Lễ Khai Kinh
(Mọi người đều chỉnh tề đứng trước Tam bảo mật niệm rằng)

Tịnh Pháp Giới Chân Ngôn:

Án lam sa ha (3 lần)

(Chủ sám đọc)

Hết thảy cung kính

Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới Thường trụ Tam bảo. (3 lần)

(Mọi người quì nguyện hương)

Nguyện đem lòng thành kính,
Gởi theo đám mây hương
Phảng phất khắp mười phương
Cúng dường ngôi Tam bảo.
Thề trọn đời giữ đạo
Theo tự tánh làm lành
Cùng pháp giới chúng sanh
Cầu Phật từ gia hộ
Tâm Bồ đề kiên cố
Xa bể khổ nguồn mê
Chóng quay về bờ giác.

Cúng dường đoạn: 

Dốc lòng kính lễ mười phương pháp giới Thường trụ Tam bảo. (1 lần)

(Mọi người đều đứng dậy chắp tay tán Phật)

Đấng Pháp vương vô thượng
Ba cõi chẳng ai bằng
Thầy dạy khắp trời người
Cha lành chung bốn loài
Quy y trọn một niệm
Dứt sạch nghiệp ba kỳ
Xưng dương cùng tán thán
Ức kiếp không cùng tận.

Án phạ nhựt ra vật. (3 lần)

Chí tâm đảnh lễ, Tận hư không, biến pháp giới, quá hiện vị lai, Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Sa Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ Đại Bi A Di Đà Phật. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Đương Lai Giáo Chủ Di Lặc Tôn Phật. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Ca Nhã Ca Bồ tát. (1 lạy).

Chí tâm đảnh lễ, Ngộ Đạt Quốc Sư Bồ tát. (1 lạy).

Con nay xin vì bốn ơn ba cõi, pháp giới chúng sanh, nguyện xin ba chướng tiêu trừ chí thành Sám hối... (1 lạy).

(Cùng quỳ để Sám hối)

Chúng con xin chí thành sám hối:
Xưa kia gây nên bao ác nghiệp.
Đều vì ba nghiệp tham, sân, si.
Bởi thân, miệng, ý phát sinh ra.
Hết thảy con nay xin sám hối.

Sám hối đoạn:

Dốc lòng kính lễ Tam bảo thường ở khắp mười phương. (1 lễ)

(đồng quỳ chủ sám thỉnh)

Kính nghe: Lòng Từ mẫn hằng vì muôn vật, tâm Bi nguyện khéo độ quần sinh.

Hai chữ Từ Bi làm tiêu hết muôn nghìn tội lỗi. Một lời niệm Phật cũng diệt trừ trăm vạn oan khiên.

Nguyên nhân làm ra văn Thủy Sám này, là do Viên Áng, Tiều Thố hai người, vì kết thành mối oan khiên, nên nghiệp quả kia khó tránh.

Dưới bóng song tùng ngài Ca Nhã hiện Phạm thể đoan nghiêm, trong ao Tam muội ngài Ngộ Đạt thoát oan sang (mụn hình mặt người mọc nơi đầu gối), khổ nạn. Nhân từ tâm hướng về thiện niệm, vì thế nên đất hiện suối thơm. Văn Thủy Sám này mở đầu, là nguyên do từ đó.

Sở dĩ, một giọt nước thấm nhuần lại là phương thuốc hay thoát khổ, một lời kêu sám hối thực là đạo tối yếu trừ khiên; khả dĩ đền đáp được bốn ân sâu; khả dĩ tiêu tan nhiều đời tội nặng, khả dĩ cứu vớt cực khổ nơi ba đường; khả dĩ gỡ mối oan khiên trong nhiều kiếp. Công đức sám ma ấy, khen ngợi mãi không cùng.

Hôm nay đàn tràng nghiêm tịnh, tiệc pháp kính bày. Quy mệnh mười phương Điều Ngự, kính lễ Phổ Hiền nguyện vương, vận tưởng hương hoa, một lòng dâng cúng.

Muốn cho căn lành trong sạch, trước nên nghiệp chướng, tiêu trừ. Cúi mong đức đại Từ Bi trông xuống rủ lòng soi xét.

Nam mô Cầu Sám Hối Bồ tát Ma Ha Tát. (3 lượt)
(Chủ sám và mọi người ngồi, cùng tụng theo nhịp mõ)

Nam mô Đại bi hội thượng Phật Bồ tát (3 lần).

Thiên Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni.

Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặt đậu. Đát điệt tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha Bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lị, phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắc ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra, sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra da, sa bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế, Thước bàn ra dạ, sa bà ha. Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da, sa bà ha.

NAM MÔ LY CẤU ĐỊA BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lượt) o o o
(quỳ đọc bài thỉnh Phật cầu gia hộ)

Kính nghe: Mỗi đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa Pháp. Một mặt trăng cõi thiên phá tối tăm quần sinh nơi đại địa. Mở rộng đạo mầu Nhất thừa, sám diệt tội khiên hết thảy.

Kính xin bảy Phật Thế Tôn, mười phương Từ Phụ, hiện tướng hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chân thành.

Phụng vì cầu sám cho tên là... Vận sức TỪ BI ĐẠO TRÀNG THỦY SÁM. Đây là quyển thượng, duyên khởi vào đàn, hành nhân chúng con, quỳ gối chấp tay, kính lễ mười phương Tam bảo, quy y hết thảy Thánh Tăng, dãi tỏ cầu thương, mở bày sám hối.

Trộm nghĩ: Chúng con tên là... Nhất Tính trái ngang chìm đắm hướng về trong bốn thú, Nhất Chân mờ mịt loanh quanh ở mãi trong sáu đường. Nghiệp Thân, Miệng, Ý buông lung, vì Tham, Sân, Si phóng túng. Làm càn làm bậy tạo ra nghiệp chướng vô biên, theo ác theo tà gây lấy lỗi lầm nhiều thứ.

Nay nhờ đức Như Lai mở bày cửa Pháp phương tiện, khiến cho lũ chúng con phát khởi tâm thành sám hối. Mong nhờ Thánh chúng, mở đọc sám văn, rửa sạch tội cấu nghìn đời, trừ hết oan khiên nhiều kiếp. Con nguyện được như vậy, xin Phật rủ lòng thương; Ngửa mong đức Đại Từ Bi, vì con mà ngầm giúp.

(Đại chúng ngồi tụng)

Lư hương vừa đốt,
Cõi Pháp thơm lây
Chư Phật bốn biển đều xa hay
Thấu tâm thành này
Chư Phật hiện thân ngay.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)

Chân Ngôn Tịnh Tam Nghiệp:

Án sa phạ, bà phạ thuật đà sa phạ, đạt mạ sa phạ bà phạ thuật độ hám. (3 lần)

(Trì chú này thì thân miệng lòng đều trong sạch)

Chân Ngôn Phổ Cúng Dường:

Án nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)

(Trì chú này thì hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng dường cả mười phương)

(Lời Phát Nguyện)

Kính lễ đức Thế Tôn,
Qui mạng mười phương Phật
Con nay phát nguyện lớn
Tụng trì hành sám văn
Trên đền bốn trọng ơn (1)
Dưới cứu khổ muôn loài
Nếu có ai thấy nghe
Ðều phát tâm Bồ đề
Tu tập các công đức
Thực hành hạnh lợi tha
Khi hết báo thân này
Đều vãng sanh Cực Lạc.

Kệ Khai Kinh

Chính pháp sâu xa rất nhiệm mầu!
Trăm nghìn ức kiếp cũng khó gặp
Con nay thấy nghe xin thọ trì,
Nguyện hiểu nghĩa chơn của Như Lai.

Nam mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật (3 lần).

Khải vận "đạo tràng sám pháp", một lòng qui mệnh chư Phật trong ba đời.

Nam Mô Quá Khứ Tì Bà Thi Phật. (2) (1 lạy).
Nam Mô Thi Khí Phật. (3) (1 lạy).
Nam Mô Tì Xá Phù Phật. (4) (1 lạy).
Nam Mô Câu Lưu Tôn Phật. (5) (1 lạy).
Nam Mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. (6) (1 lạy).
Nam Mô Ca Diếp Phật. (7) (1 lạy).
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam Mô Đương Lai Di Lặc Tôn Phật.
 
 

Tạng Kinh Bắc Truyền II - Kinh Tập 
Tác giả: Thích Huyền Dung 
http://daitangkinhvietnam.org/content/view/626/249/

06-07-2007 10:34:15
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx