Tất
cả chư Phật, vì thương xót chúng sinh, nói pháp lập đàn
Thủy sám. Chúng sinh vì nghiệp cấu nặng nề nên không một
ai tránh khỏi tội lỗi. Những kẻ phàm phu bị màn vô minh
che lấp, gần gũi bạn ác, phiền não loạn tâm, tính không
hiểu biết, nên cứ buông lòng tự thị, không tin tưởng mười
phương chư Phật, không tin tôn Pháp, cùng các bậc Thánh tăng,
bất hiếu cha mẹ, không kính nhường bà con. Tuổi trẻ phóng
túng, kiêu căng ngạo mạn đối với các vật quí báu; các
thứ ca nhạc, các sắc đẹp trai gái thường sinh tâm tham luyến,
ý khởi phiền não, lân la với người hư, tập tành theo bạn
ác, không biết chừa đổi. Hoặc giết hại các giống sinh
linh, hoặc uống rượu mê man mất hết trí tuệ, rồi thường
cùng với chúng sinh tạo nghiệp phá giới. Những tội lỗi
ở
quá khứ, cùng tội ác ở hiện tại ngày nay chí thành xin
sám hối hết thảy, còn các tội lỗi về sau không dám làm
nữa.
(Chánh
Tân Tu Đại Tạng, tập thứ 45, Chư tông bộ , Tr.967-978, số
hiệu 1910 , 3 quyển, Từ Bi Thủy Sám Pháp, không ghi tên tác
giả nhưng ai cũng biết bộ sám pháp này do ngài Ngộ Đạt
Quốc sư soạn. bttdtkvn)
DUYÊN KHỞI
“Tội
từ tâm khởi cũng từ tâm diệt
Tội
diệt tâm không cả hai đều hết.”
“Nguyện
nghiệp chướng báo chướng,
Phiền
não chướng, ba chướng tiêu trừ.
Nguyện
tân duyên, cựu duyên,
Oan
trái duyên, mọi duyên giải thoát”.
DUYÊN KHỞI
Thiết
nghĩ ngoài những kinh, luật, luận của thánh giáo đã phiên
dịch, nhiều sách vở của hiền nhân chế tác về sau đều
do nơi sự cảm ứng mà hiện ra cả. Nếu riêng từng phẩm
loại mà nói thì không dễ gì kể ra cho hết được. Ngay như
bản linh văn này mà gọi là Thủy Sám, tôi xin nói rõ đến
căn do.
Thuở
xưa về triều vua Đường Ý Tôn có một vị quốc sư hiệu
là Ngộ Đạt, tên là Tri Huyền. Lúc chưa hiển đạt, ngài
thường gặp gỡ một nhà sư ở đất Kinh Sư trong một ngôi
chùa nọ. Nhà sư ấy mắc bệnh Ca ma la (bệnh cùi) ai cũng
gớm, chỉ có ngài Tri Huyền là thường gần gũi hỏi han,
không hề nhàm chán. Nhân khi chia tay, nhà sư vì quá cảm khích
phong thái cưa ngài Tri Huyền mới dặn rằng:
- Sau
này ông có nạn chi nên qua núi Cửu Lũng tại Bành Châu đất
Tây Thục tìm tôi và nhớ trên núi ấy có hai cây tùng làm
dấu chỗ tôi trú ngụ.
Sau
đó ngài Ngộ Đạt quốc sư đến ở chùa An Quốc thì đạo
đức của ngài càng vang khắp. Vua Ý Tôn thân hành đến pháp
tịch nghe ngài giảng đạo. Nhân đó vua mới ân từ rất hậu
cho ngài cái pháp tọa bằng gỗ trầm hương và từ đó trên
đầu gối của ngài bỗng nhiên mọc mụn ghẻ tựa như mặt
người, đau nhức khôn xiết! Ngài cho mời tất cả các bậc
danh y, nhưng không ai chữa được. Nhân ngài nhớ lời dặn
trước bèn đi vào núi mà tìm.
Trên
đường đi, trời đã mờ tối, trong khoảng âm u mây bay khói
tỏa mịt mù, ngài nhìn xem bốn phía, bỗng thấy dạng hai
cây tùng ngài mới tin rằng lời ước hẹn xưa không sai. Ngài
liền đến ngay chỗ đó, quả nhiên thấy lầu vàng điện
ngọc lộng lẫy nguy nga, ánh quang minh chói rọi khắp nơi.
Trước cửa nhà sư đang đứng chờ đón ngài một cách thân
mật.
Nhân
ở lại đêm, ngài Ngộ Đạt mới tỏ hết tâm đau khổ của
mình. Nhà sư ấy nói:
- Không
hề gì đâu, dưới núi này có một cái suối, sáng ngày rửa
mụn ghẻ ấy khỏi ngay.
Mờ
sáng hôm sau một chú tiểu đồng dẫn ngài ra ngoài suối.
Ngài vừa bụm nước lên rửa thì bụm ghẻ kêu lên:
- Đừng
rửa vội. Ông học nhiều biết rộng đã khảo cứu các sách
cổ kim mà có từng đọc đến chuyện Viên Áng, Tiều Thố
chép trong bộ Tây Hán chưa?
- Tôi
có đọc.
- Ông
đã đọc rồi lẽ nào lại không biết chuyện Viên Áng giết
Tiều Thố vậy. Thố bị chém ở chợ phía đông oan ức biết
dường nào. Đời đời tôi tìm cách báo thù ông, song đã
mười kiếp ông làm bực cao tăng, giới luật tinh nghiêm, nên
tôi chưa tiện bề báo oán được. Nay vì ông được nhà vua
quá yêu chuộng nên khởi tâm danh lợi làm tổn giới đức,
tôi mới báo thù được ông. Nay nhờ ngài Ca Nặc Ca tôn giả
lấy nước pháp Tam muội rửa oán cho tôi rồi, từ đây trở
đi tôi không còn báo oán ông nữa.
Ngài
Ngộ Đạt nghe qua hoảng sợ liền vội vàng bụm nước dội
rửa mụn ghẻ làm nhức nhối tận xương tủy, chết giấc
hồi lâu mới tỉnh. Khi tỉnh lại thì không thấy mụn ghẻ
ấy nữa. Nhân đó ngài mới biết thánh hiền ẩn tích kẻ
phàm tình không thể lường được. Ngài muốn trở lên lạy
tạ vị sư, nhưng ngó ngoảnh lại thì ngôi bảo điện kia
đã biến mất tự bao giờ. Vì thế ngài bèn lập một cái
thảo am ngay chỗ ấy và sau trở thành một ngôi chùa. Đến
năm Chí Đạo triều nhà Tống mới sắc hiệu là “Chí Đức
Thiền Tự”. Có một vị cao tăng làm bài ký sự ghi chép
việc này rõ ràng.
Khi
đó Ngài Ngộ Đạt nghĩ đến nỗi oan trái đã bao đời nếu
không gặp thánh nhân thì do đâu khỏi được. Vì cảm niệm
cái ơn tế độ lạ lùng ấy, ngài mới thuật ra pháp sám
này để mai chiều lễ tụng, sau truyền bá khắp thiên hạ.
Ba
quyển sám đây tức là bài văn của ngài làm ra lúc đó vậy.
Nghĩa
chính của bài văn này là lấy nước Tam muội rửa sạch nghiệp
oan khiên nên mới đặt tên là Thủy Sám. Lại ngài Ngộ Đạt
cũng vì cảm điềm dị ứng của đức Ca Nặc Ca nên dùng
tên ấy mà đặt tên cho bộ Sám văn này để đáp cái thâm
ân kia.
Nay
tôi kể rõ sự thật và nêu công của tiên đức để cho những
người lật bộ sám văn này, hoặc lễ, hoặc tụng, đều
biết được sự tích của tiền hiền vì lẽ nhân quả tuy
nhiều kiếp cũng không sai chạy.
(Bài
này tôi cố tìm tên tác giả mà không thấy)
Phần Nghi
Lễ Khai Kinh
(Mọi
người đều chỉnh tề đứng trước Tam bảo mật niệm rằng)
Tịnh
Pháp Giới Chân Ngôn:
Án
lam sa ha (3 lần)
(Chủ
sám đọc)
Hết
thảy cung kính:
Dốc
lòng kính lễ mười phương pháp giới Thường trụ Tam bảo.
(3 lần)
(Mọi
người quì nguyện hương)
Nguyện
đem lòng thành kính,
Gởi
theo đám mây hương
Phảng
phất khắp mười phương
Cúng
dường ngôi Tam bảo.
Thề
trọn đời giữ đạo
Theo
tự tánh làm lành
Cùng
pháp giới chúng sanh
Cầu
Phật từ gia hộ
Tâm
Bồ đề kiên cố
Xa
bể khổ nguồn mê
Chóng
quay về bờ giác.
Cúng
dường đoạn:
Dốc
lòng kính lễ mười phương pháp giới Thường trụ Tam bảo.
(1 lần)
(Mọi
người đều đứng dậy chắp tay tán Phật)
Đấng
Pháp vương vô thượng
Ba
cõi chẳng ai bằng
Thầy
dạy khắp trời người
Cha
lành chung bốn loài
Quy
y trọn một niệm
Dứt
sạch nghiệp ba kỳ
Xưng
dương cùng tán thán
Ức
kiếp không cùng tận.
Án
phạ nhựt ra vật. (3 lần)
Chí
tâm đảnh lễ, Tận hư không, biến pháp giới, quá hiện vị
lai, Chư Phật, Tôn Pháp, Hiền Thánh Tăng, thường trú Tam bảo
(1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Sa Bà Giáo Chủ, Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
(1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Tây Phương Cực Lạc Thế Giới, Đại Từ
Đại Bi A Di Đà Phật. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Đương Lai Giáo Chủ Di Lặc Tôn Phật. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Đại Hạnh Phổ Hiền Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Đại Bi Quan Thế Âm Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Đại Lực Đại Thế Chí Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Thanh Tịnh Đại Hải Chúng Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Ca Nhã Ca Bồ tát. (1 lạy).
Chí
tâm đảnh lễ, Ngộ Đạt Quốc Sư Bồ tát. (1 lạy).
Con
nay xin vì bốn ơn ba cõi, pháp giới chúng sanh, nguyện xin ba
chướng tiêu trừ chí thành Sám hối... (1 lạy).
(Cùng
quỳ để Sám hối)
Chúng
con xin chí thành sám hối:
Xưa
kia gây nên bao ác nghiệp.
Đều
vì ba nghiệp tham, sân, si.
Bởi
thân, miệng, ý phát sinh ra.
Hết
thảy con nay xin sám hối.
Sám
hối đoạn:
Dốc
lòng kính lễ Tam bảo thường ở khắp mười phương. (1 lễ)
(đồng
quỳ chủ sám thỉnh)
Kính
nghe: Lòng Từ mẫn hằng vì muôn vật, tâm Bi nguyện khéo độ
quần sinh.
Hai
chữ Từ Bi làm tiêu hết muôn nghìn tội lỗi. Một lời niệm
Phật cũng diệt trừ trăm vạn oan khiên.
Nguyên
nhân làm ra văn Thủy Sám này, là do Viên Áng, Tiều Thố hai
người, vì kết thành mối oan khiên, nên nghiệp quả kia khó
tránh.
Dưới
bóng song tùng ngài Ca Nhã hiện Phạm thể đoan nghiêm, trong
ao Tam muội ngài Ngộ Đạt thoát oan sang (mụn hình mặt người
mọc nơi đầu gối), khổ nạn. Nhân từ tâm hướng về thiện
niệm, vì thế nên đất hiện suối thơm. Văn Thủy Sám này
mở đầu, là nguyên do từ đó.
Sở
dĩ, một giọt nước thấm nhuần lại là phương thuốc hay
thoát khổ, một lời kêu sám hối thực là đạo tối yếu
trừ khiên; khả dĩ đền đáp được bốn ân sâu; khả dĩ
tiêu tan nhiều đời tội nặng, khả dĩ cứu vớt cực khổ
nơi ba đường; khả dĩ gỡ mối oan khiên trong nhiều kiếp.
Công đức sám ma ấy, khen ngợi mãi không cùng.
Hôm
nay đàn tràng nghiêm tịnh, tiệc pháp kính bày. Quy mệnh mười
phương Điều Ngự, kính lễ Phổ Hiền nguyện vương, vận
tưởng hương hoa, một lòng dâng cúng.
Muốn
cho căn lành trong sạch, trước nên nghiệp chướng, tiêu trừ.
Cúi mong đức đại Từ Bi trông xuống rủ lòng soi xét.
Nam
mô Cầu Sám Hối Bồ tát Ma Ha Tát. (3 lượt)
(Chủ
sám và mọi người ngồi, cùng tụng theo nhịp mõ)
Nam
mô Đại bi hội thượng Phật Bồ tát (3 lần).
Thiên
Thủ Thiên Nhãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni.
Nam
mô hát ra đát na đá ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết
đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa
bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát
na đát tả. Nam mô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô
cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê
rị ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng.
Tát bà tát đá na ma bà dà. Ma phạt đặt đậu. Đát điệt
tha. Án. A bà lô hê, lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha
Bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra, ma hê ma hê rị
đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt
xà da đế, ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni.
Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ. Phạt ma ra. Mục đế
lệ. Y hê y hê, thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lị, phạt
sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra, hô lô hô lô
hê rị. Sa ra sa ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề
dạ Bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ.
Na ra cẩn trì. Địa lị sắc ni na. Ba dạ ma na, sa bà ha. Tất
đà dạ, sa bà ha. Ma ha tất đà dạ, sa bà ha. Tất đà du nghệ.
Thất bàn ra dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì, sa bà ha. Ma ra na ra,
sa bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, sa bà ha. Sa bà ma ha a tất
đà dạ, sa bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, sa bà ha. Ba đà
ma yết tất đà dạ, sa bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra da, sa
bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, sa bà ha. Nam mô hát ra đát
na đá ra dạ da. Nam mô a lị da, Bà lô cát đế, Thước bàn
ra dạ, sa bà ha. Án tất điện đô, Mạn đa ra, Bạt đà da,
sa bà ha.
NAM
MÔ LY CẤU ĐỊA BỒ TÁT MA HA TÁT (3 lượt) o o o
(quỳ
đọc bài thỉnh Phật cầu gia hộ)
Kính
nghe: Mỗi đức Phật ra đời mở tám vạn bốn nghìn cửa
Pháp. Một mặt trăng cõi thiên phá tối tăm quần sinh nơi
đại địa. Mở rộng đạo mầu Nhất thừa, sám diệt tội
khiên hết thảy.
Kính
xin bảy Phật Thế Tôn, mười phương Từ Phụ, hiện tướng
hào quang sáng suốt, giám soi ý khẩn chân thành.
Phụng
vì cầu sám cho tên là... Vận sức TỪ BI ĐẠO TRÀNG THỦY
SÁM. Đây là quyển thượng, duyên khởi vào đàn, hành nhân
chúng con, quỳ gối chấp tay, kính lễ mười phương Tam bảo,
quy y hết thảy Thánh Tăng, dãi tỏ cầu thương, mở bày sám
hối.
Trộm
nghĩ: Chúng con tên là... Nhất Tính trái ngang chìm đắm hướng
về trong bốn thú, Nhất Chân mờ mịt loanh quanh ở mãi trong
sáu đường. Nghiệp Thân, Miệng, Ý buông lung, vì Tham, Sân,
Si phóng túng. Làm càn làm bậy tạo ra nghiệp chướng vô biên,
theo ác theo tà gây lấy lỗi lầm nhiều thứ.
Nay
nhờ đức Như Lai mở bày cửa Pháp phương tiện, khiến cho
lũ chúng con phát khởi tâm thành sám hối. Mong nhờ Thánh chúng,
mở đọc sám văn, rửa sạch tội cấu nghìn đời, trừ hết
oan khiên nhiều kiếp. Con nguyện được như vậy, xin Phật
rủ lòng thương; Ngửa mong đức Đại Từ Bi, vì con mà ngầm
giúp.
(Đại
chúng ngồi tụng)
Lư
hương vừa đốt,
Cõi
Pháp thơm lây
Chư
Phật bốn biển đều xa hay
Thấu
tâm thành này
Chư
Phật hiện thân ngay.
Nam
mô Hương Vân Cái Bồ tát Ma ha tát. (3 lần)
Chân
Ngôn Tịnh Tam Nghiệp:
Án
sa phạ, bà phạ thuật đà sa phạ, đạt mạ sa phạ bà phạ
thuật độ hám. (3 lần)
(Trì
chú này thì thân miệng lòng đều trong sạch)
Chân
Ngôn Phổ Cúng Dường:
Án
nga nga nẳng, tam bà phạ phiệt nhựt ra hồng. (3 lần)
(Trì
chú này thì hoa hương cùng tiếng tụng niệm sẽ khắp cúng
dường cả mười phương)
(Lời
Phát Nguyện)
Kính
lễ đức Thế Tôn,
Qui
mạng mười phương Phật
Con
nay phát nguyện lớn
Tụng
trì hành sám văn
Trên
đền bốn trọng ơn (1)
Dưới
cứu khổ muôn loài
Nếu
có ai thấy nghe
Ðều
phát tâm Bồ đề
Tu
tập các công đức
Thực
hành hạnh lợi tha
Khi
hết báo thân này
Đều
vãng sanh Cực Lạc.
Kệ
Khai Kinh
Chính
pháp sâu xa rất nhiệm mầu!
Trăm
nghìn ức kiếp cũng khó gặp
Con
nay thấy nghe xin thọ trì,
Nguyện
hiểu nghĩa chơn của Như Lai.
Nam
mô Bổn sư Thích ca mâu ni Phật (3 lần).
Khải
vận "đạo tràng sám pháp", một lòng qui mệnh chư Phật trong
ba đời.
Nam
Mô Quá Khứ Tì Bà Thi Phật. (2) (1 lạy).
Nam
Mô Thi Khí Phật. (3) (1 lạy).
Nam
Mô Tì Xá Phù Phật. (4) (1 lạy).
Nam
Mô Câu Lưu Tôn Phật. (5) (1 lạy).
Nam
Mô Câu Na Hàm Mâu Ni Phật. (6) (1 lạy).
Nam
Mô Ca Diếp Phật. (7) (1 lạy).
Nam
Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Nam
Mô Đương Lai Di Lặc Tôn Phật.
Tạng
Kinh Bắc Truyền II - Kinh Tập
Tác
giả: Thích Huyền Dung
http://daitangkinhvietnam.org/content/view/626/249/
06-07-2007
10:34:15