TẬP IV
- THIÊN SÁU XỨ
[41] Chương VII
Tương Ưng
Tâm
I.
Kiết Sử (S.iv,281)
1)
Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikasanda,
tại rừng Ambàtaka.
2)
Lúc bấy giờ, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi
ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn,
và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được khởi lên:
--
Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp
này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác
ngôn từ?
3)
Ở đây, một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:
--
Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; các pháp
này là khác nghĩa, khác ngôn từ.
Một
số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:
--
Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những
pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ.
4)
Lúc bấy giờ, cư sĩ Citta đi đến Migapathaka để làm một
số công việc phải làm.
5)
Cư sĩ Citta được nghe có một số đông Tỷ-kheo trưởng lão,
sau buổi ăn đi khất thực trở về, ngồi tụ họp tại ngôi
nhà tròn, và giữa những vị này, câu chuyện sau đây được
khởi lên: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết
sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ, hay đồng nghĩa,
chỉ khác ngôn từ?" Một số Tỷ-kheo trưởng lão trả lời:
"Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết sử; những
pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ". Một số Tỷ-kheo trưởng
lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp bị kiết
sử; những pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ".
6)
Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão ấy; sau
khi đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống
một bên.
7)
Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
--
Bạch chư Thượng tọa, (chúng con) được nghe có một số
đông Tỷ-kheo trưởng lão, sau buổi ăn đi khất thực trở
về, ngồi tụ họp tại ngôi nhà tròn, và giữa các vị này,
khởi lên câu chuyện sau đây: "Này chư Hiền, kiết sử hay
các pháp bị kiết sử; các pháp này là khác nghĩa, khác ngôn
từ, hay đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ". Một số Tỷ-kheo
trưởng lão trả lời: "Này chư Hiền, kiết sử hay các pháp
bị kiết sử; những pháp này đồng nghĩa, chỉ khác ngôn
từ".
--
Có vậy, này Cư sĩ.
8)
-- Bạch chư Thượng tọa, kiết sử hay các pháp bị kiết
sử; các pháp này là khác nghĩa và cũng khác ngôn từ. Bạch
chư Thượng tọa, con sẽ nói lên một ví dụ cho quý vị.
Ở đây, một số người có trí, nhờ ví dụ hiểu được
ý nghĩa lời nói.
9)
Bạch chư Thượng tọa, ví như một con bò đực đen và con
bò đực trắng được dính lại với nhau bởi một sợi dây
hay một cái ách. Nếu có người nói: "Con bò đực đen là
kiết sử cho con bò đực trắng, và con bò đực trắng là
kiết sử cho con bò đực đen". Nói như vậy có phải là nói
một cách chơn chánh không?
--
Thưa không, này Cư sĩ. Này Cư sĩ, con bò đực đen không phải
là kiết sử của con bò đực trắng. Và con bò đực trắng
cũng không phải là kiết sử của con bò đực đen. Do vì chúng
bị dính bởi một sợi dây hay bởi một cái ách, ở đây
chính cái ấy là kiết sử.
10)
-- Cũng vậy, bạch chư Thượng tọa, con mắt không phải là
trói buộc của các sắc; các sắc không phải là trói buộc
của con mắt. Và ở đây, do duyên cả hai khởi lên dục tham
gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc. Cái tai không
phải là trói buộc của các tiếng... Mũi không phải là trói
buộc của các hương... Lưỡi không phải là trói buộc của
các vị... Thân không phải là trói buộc của các xúc... Ý
không phải là trói buộc của các pháp. Các pháp cũng không
phải là trói buộc của ý. Và ở đây, do duyên cả hai khởi
lên dục tham gì, dục tham ấy ở đây chính là trói buộc.
11)
-- Lợi ích thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi ích thay cho
Ông, này Cư sĩ! Vì rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục (kamati)
lời dạy thâm sâu của đức Phật.
II.
Isidattà (1) (S.iv,283)
1)
Một thời, nhiều Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda,
tại rừng Ambàtaka.
2)
Rồi cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến,
đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
--
Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày
mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các
Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
4)
Rồi cư sĩ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã
nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo
trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị rồi ra đi.
5)
Các vị Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi đêm ấy đã mãn, vào
buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của cư sĩ
Citta; sau khi đến, ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn.
6)
Cư sĩ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến,
đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
7)
Ngồi một bên, cư sĩ Citta thưa với Tôn giả Thera:
--
Thưa Tôn giả Thera, "Giới sai biệt, giới sai biệt" (dhàtunànattam)
được nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như
thế nào, Thế Tôn nói đến giới sai biệt?
Khi
được nghe nói vậy, Tôn giả Thera giữ im lặng.
8)
Lần thứ hai, cư sĩ Citta thưa với Tôn giả Thera:
--
Thưa Tôn giả Thera, "Giới sai biệt, giới sai biệt" được
nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như thế nào,
Thế Tôn nói đến giới sai biệt?
Lần
thứ hai, Tôn giả Thera giữ im lặng.
9)
Lần thứ ba, gia chủ Citta thưa với Tôn giả Thera:
--
Thưa Tôn giả Thera, "Giới sai biệt, giới sai biệt" được
nói đến như vậy. Bạch Thượng tọa, cho đến như thế nào,
Thế Tôn nói đến giới sai biệt?
Lần
thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.
10)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong
chúng Tỷ-kheo ấy.
11)
Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:
--
Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của cư sĩ
Citta.
--
Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
12)
-- Này Gia chủ, có phải Ông hỏi: "'Giới sai biệt, giới sai
biệt', bạch Thượng tọa Thera, được nói đến như vậy.
Cho đến như thế nào, bạch Thượng tọa, Thế Tôn nói đến
về giới sai biệt" chăng?
--
Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
--
Này Gia chủ, Thế Tôn nói về giới sai biệt tánh như sau:
"Nhãn giới, sắc giới, nhãn thức giới... Ý giới, pháp giới,
ý thức giới". Cho đến như vậy, này Cư sĩ, Thế Tôn nói
về giới sai biệt tánh.
13)
Gia chủ Citta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Isidattà
nói, tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo
trưởng lão với các món ăn thượng vị loại cứng và loại
mềm.
14)
Các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát,
từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
15)
Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:
--
Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được
Ông trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời. Này
Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương tự
khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.
III.
Isidattà (2) (S.iv,285)
1)
Một thời, một số đông Tỷ-kheo trưởng lão trú ở Macchikàsanda,
tại rừng Ambàtaka.
2)
Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi
đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống
một bên.
3)
Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng
lão:
--
Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị Trưởng lão ngày
mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các
Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
4)
Rồi gia chủ Citta, sau khi biết các Tỷ-kheo trưởng lão đã
nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ các Tỷ-kheo
trưởng lão, thân phía hữu hướng về các vị ấy rồi ra
đi.
5)
Các Tỷ-kheo trưởng lão ấy, sau khi đêm ấy đã mãn, vào
buổi sáng, đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ của gia chủ
Citta; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
6)
Rồi gia chủ Citta đi đến Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi đến,
đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống một bên.
7)
Ngồi một bên, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
--
Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên
ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là không
thường còn? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô
biên? Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân
thể là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai
không tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không
tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không
không tồn tại sau khi chết?". Lại có thêm 62 tà kiến này
được nói lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các
tà kiến này do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không
có mặt, chúng không có mặt?
Khi
được nói vậy, Tôn giả Thera im lặng.
8)
Lần thứ hai, gia chủ Citta...
9)
Lần thứ ba, gia chủ Citta bạch Tôn giả Thera:
--
Bạch Thượng tọa Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên
ở đời: "Thế giới là thường còn, hay thế giới là vô
thường? Thế giới là hữu biên, hay thế giới là vô biên?
Sinh mạng và thân thể là một, hay sinh mạng và thân thể
là khác? Như Lai có tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không
tồn tại sau khi chết? Như Lai có tồn tại và không tồn tại
sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại và không không tồn
tại sau khi chết?" Lại có thêm 62 tà kiến này được nói
lên trong kinh Phạm Võng. Bạch Thượng tọa, các tà kiến này
do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt,
chúng không có mặt?
Lần
thứ ba, Tôn giả Thera giữ im lặng.
10)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Isidattà là Tỷ-kheo mới tu nhất trong
chúng Tỷ-kheo ấy.
11)
Rồi Tôn giả Isidattà thưa với Tôn giả Thera:
--
Bạch Thượng tọa, con xin trả lời câu hỏi ấy của gia chủ
Citta.
--
Này Isidattà, hãy trả lời câu hỏi ấy của gia chủ Citta.
12)
-- Này Gia chủ, có phải Ông hỏi như sau: "Bạch Thượng tọa
Thera, có một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: 'Thế
giới là thường còn...' Bạch Thượng tọa, các tà kiến này
do cái gì có mặt, chúng có mặt? Do cái gì không có mặt,
chúng không có mặt" chăng?
--
Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
--
Này Gia chủ, một số (tà) kiến này khởi lên ở đời: "Thế
giới là thường còn, hay thế giới là vô thường? Thế giới
là hữu biên, hay thế giới là vô biên? Sinh mạng và thân
thể là một, hay sinh mạng và thân thể là khác? Như Lai có
tồn tại sau khi chết, hay Như Lai không tồn tại sau khi chết?
Như Lai có tồn tại và không tồn tại sau khi chết, hay Như
Lai không tồn tại và không không tồn tại sau khi chết?" Lại
có thêm 62 tà kiến này được nói lên trong kinh Phạm Võng.
Này Gia chủ, do thân kiến có mặt, nên các tà kiến này có
mặt. Do thân kiến không có mặt, nên chúng không có mặt?
13)
-- Bạch Thượng tọa, như thế nào là thân kiến có mặt?
--
Ở đây, này Gia chủ, kẻ vô văn phàm phu không được thấy
các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không
tu tập pháp các bậc Thánh, không được thấy các bậc Chân
nhân, không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập
pháp các bậc Chân nhân. Họ quán sắc như là tự ngã, hay
tự ngã như là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã
ở trong sắc... quán thọ như là tự ngã... tưởng... các hành...
quán thức như là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay
thức ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong thức. Như vậy,
này Gia chủ, là thân kiến có mặt.
14)
-- Và như thế nào, bạch Thượng tọa, là thân kiến không
có mặt?
--
Ở đây, này Gia chủ, vị Ða văn Thánh đệ tử được thấy
các bậc Thánh, thuần phục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp
các bậc Thánh, được thấy các bậc Chân nhân, thuần thục
pháp các bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân. Vị
ấy không quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có
sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không
quán thọ... tưởng... hành... không quán thức như tự ngã,
hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự ngã, hay
tự ngã ở trong thức. Như vậy, này Gia chủ, là thân kiến
không có mặt.
15)
-- Bạch Thượng tọa, Tôn đức (Ayyo) Isidattà từ đâu đến?
--
Này Gia chủ, tôi từ Avanti đến.
--
Bạch Thượng tọa, tại Avanti, có một thiện nam tử tên Isidattà,
một người bạn xa cách của chúng tôi, đã xuất gia tu hành?
--
Thưa phải, này Gia chủ.
--
Bạch Thượng tọa, hiện nay Tôn giả ấy ở đâu?
Khi
được nói vậy, Tôn giả Isidattà im lặng.
--
Bạch Thượng tọa, có phải Tôn đức ấy là Isidattà chăng?
--
Thưa phải, này Gia chủ.
--
Vậy bạch Thượng tọa, Tôn đức Isidattà hãy thỏa thích
ở tại Macchikàsanda. Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ hết
sức cố gắng để cúng dường Tôn đức Isidattà với các
vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm
trị bệnh.
--
Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ.
16)
Rồi Gia chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời nói của Tôn giả
Isidattà, tự tay làm thỏa mãn, tự tay cúng dường các Tỷ-kheo
trưởng lão với các món ăn thượng hạng loại cứng và loại
mềm.
17)
Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão, sau khi ăn xong, rời tay khỏi
bát, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
18)
Rồi Tôn giả Thera nói với Tôn giả Isidattà:
--
Lành thay, này Hiền giả Isidattà, câu hỏi này đã được
Hiền giả trả lời. Câu hỏi này không được ta trả lời.
Này Hiền giả Isidattà, trong dịp khác, nếu câu hỏi tương
tự khởi lên, Hiền giả hãy trả lời như vậy.
IV.
Mahaka (S.iv,288)
1)
Một thời, một số đông các Tỷ-kheo trưởng lão trú tại
Macchikàsanda, tại rừng Ambàtaka.
2)
Rồi gia chủ Citta đi đến các Tỷ-kheo trưởng lão; sau khi
đến, đảnh lễ các Tỷ-kheo trưởng lão rồi ngồi xuống
một bên.
3)
Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa với các Tỷ-kheo trưởng
lão:
--
Bạch chư Thượng tọa, mong rằng chư vị trưởng lão ngày
mai nhận lời mời dùng bữa ăn của con.
Các
Tỷ-kheo trưởng lão im lặng nhận lời.
4-5)
(Như đoạn 4,5 của kinh trước).
6)
Rồi gia chủ Citta tự tay làm cho thỏa mãn, tự tay cúng dường
các Tỷ-kheo trưởng lão với các món ăn thượng vị loại
cứng và loại mềm.
7)
Các Tỷ-kheo trưởng lão sau khi ăn xong, rời tay khỏi bát,
từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Rồi gia chủ Citta, sau
khi nói: "Hãy thâu lượm lại các đồ ăn dư tàn", liền đi
theo sau lưng các Tỷ-kheo trưởng lão.
8)
Lúc bấy giời, trời nóng rất là gay gắt (kutthitam). Và các
Tỷ-kheo trưởng lão ấy đi với thân như bị chảy thành nước,
vì các vị ấy đã ăn bữa ăn đầy đủ.
9)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahaka là vị mới tu nhất giữa chúng
Tỷ-kheo ấy. Rồi Tôn giả Mahaka thưa với Tôn giả Thera:
--
Lành thay, bạch Thượng tọa Thera, nếu có luồng gió mát thổi,
có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
--
Lành thay, này Hiền giả Mahaka, nếu có luồng gió mát thổi,
có cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
10)
Rồi Tôn giả Mahaka thực hành thần thông khiến cho gió mát
thổi, cơn giông nổi lên, có mưa từng hột xuống.
11)
Rồi cư sĩ Citta suy nghĩ như sau: "Tỷ-kheo mới tu nhất trong
chúng Tỷ-kheo này lại có được thần thông lực như vậy".
12)
Rồi Tôn giả Mahaka sau khi đến ngôi vườn (tịnh xá) liền
nói với Tôn giả Thera:
--
Bạch Thượng tọa Thera, như vậy là vừa rồi.
--
Như vậy là vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Làm như vậy là
vừa rồi, này Hiền giả Mahaka. Cúng dường như vậy là vừa
rồi, này Hiền giả Mahaka.
13)
Rồi các Tỷ-kheo trưởng lão đi đến ngôi tịnh xá, còn Tôn
giả Mahaka đi đến tịnh xá của mình.
14)
Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Mahaka; sau khi đến, đảnh
lễ Tôn giả Mahaka rồi ngồi xuống một bên.
15)
Ngồi một bên, gia chủ Citta nói Tôn giả Mahaka:
--
Lành thay, bạch Thượng tọa, nếu Tôn đức Mahaka thị hiện
cho con thấy thượng nhân pháp thần thông.
--
Vậy này Gia chủ, hãy trải thượng y trong hành lang và rải
một bó cỏ.
--
Thưa vâng, bạch Thượng tọa.
Gia
chủ Citta vâng đáp Tôn giả Mahaka, cho trải thượng y trong
hành lang, và rải một bó cỏ.
16)
Rồi Tôn giả Mahaka vào trong tịnh xá, gài then cửa lại, thực
hành thần thông lực khiến cho ngọn lửa phun ra từ lỗ ống
khóa và giữa các khe cửa, đốt cháy cỏ nhưng không đốt
cháy thượng y.
17)
Gia chủ Citta đập thượng y, hoảng hốt, lông tóc dựng ngược,
đứng một bên.
18)
Rồi Tôn giả Mahaka, từ tịnh xá đi ra và nói với gia chủ
Citta:
--
Thôi, như vậy là vừa rồi, này Gia chủ.
--
Thôi, như vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Làm như
vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Cúng dường như
vậy là vừa rồi, thưa Thượng tọa Mahaka. Bạch Thượng tọa,
mong Tôn đức Mahaka hãy sống thoải mái ở tại Macchikàsanda.
Khả ái là rừng Ambàtaka! Con sẽ cố gắng cúng dường cho
Tôn giả Mahaka các vật dụng như y, đồ ăn khất thực, sàng
tọa, dược phẩm trị bệnh.
--
Thật là lời nói chí thiện, này Gia chủ!
19)
Rồi Tôn giả Mahaka dọn dẹp sàng tọa, cầm y bát, đi ra khỏi
Macchikàasanda, và như vậy từ biệt Macchikàsanda không còn
trở lui lại nữa.
V.
Kàmabhù (1)(S.iv,291)
1)
Một thời Tôn giả Kàmabhù trú ở Macchikàsanda, tại rừng
Ambàtaka.
2)
Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhù; sau khi đến,
đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù rồi ngồi xuống một bên.
3)
Tôn giả Kàmabhù nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:
--
Này Gia chủ, lời này được nói đến:
Bộ
phận được tinh thuần,
Mái
trần che mầu trắng,
Chỉ
có một bánh xe,
Cỗ
xe liên tục chạy.
Hãy
xem vị đang đến,
Không
vi phạm lỗi lầm,
Chặt
đứt được dòng nước,
Không
còn bị trói buộc.
Này Gia
chủ, lời nói vắn tắt này, ý nghĩa phải được hiểu như
thế nào một cách rộng rãi?
--
Bạch Thượng tọa, có phải lời nói này được Thế Tôn
nói đến?
--
Ðúng vậy, này Gia chủ.
--
Vậy hãy chờ một lát, bạch Thượng tọa, con sẽ nghĩ đến
ý nghĩa.
4)
Rồi cư sĩ Citta, sau khi im lặng một lát, thưa với Tôn giả
Kàmabhù:
--
"Bộ phận được tinh thuần", bạch Thượng tọa, là đồng
nghĩa với các giới luật. "Mái trần che màu trắng", bạch
Thượng tọa, là đồng nghĩa với giải thoát. "Một bánh xe",
bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với niệm. "Liên tục chạy",
bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với đi tới đi lui. "Cỗ
xe", bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa với cái thân do bốn
đại tạo thành này, do cha mẹ sanh ra, do cơm cháo nuôi dưỡng,
vô thường, bị biến hoại, bị tiêu mòn, bị tiêu hủy, bị
hủy diệt. Tham, bạch Thượng tọa, là một lỗi lầm. Sân
là một lỗi lầm. Si là một lỗi lầm. Ðối với Tỷ-kheo
đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng được đoạn tận, chặt
đứt từ gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, không có thể
tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Tỷ-kheo
đã đoạn tận các lậu hoặc được gọi là không vi phạm
lỗi lầm. "Vị đang đến", bạch Thượng tọa, là đồng nghĩa
với vị A-la-hán. "Dòng nước", bạch Thượng tọa, là đồng
nghĩa với khát ái. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các
lậu hoặc, khát ái ấy được đoạn tận, cắt đứt tận
gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, không có thể tái sanh,
không có thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Tỷ-kheo đã
đoạn tận các lậu hoặc được gọi là chặt đứt được
dòng nước.
Tham,
bạch Thượng tọa, là trói buộc. Sân là trói buộc. Si là
trói buộc. Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc, chúng được
đoạn tận, chặt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây
ta-la, không thể tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai.
Do vậy, Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc được gọi là
không bị trói buộc.
5)
Như vậy, bạch Thượng tọa, lời nói này được Thế Tôn
nói đến:
Bộ
phận được tinh thuần,
Mái
trần che mầu trắng,
Chỉ
có một bánh xe,
Cỗ
xe liên tục chạy.
Hãy
xem vị đang đến,
Không
vi phạm lỗi lầm,
Chặt
đứt được dòng nước,
Không
còn bị trói buộc.
Bạch
Thượng tọa, lời nói vắn tắt này, ý nghĩa cần phải được
hiểu rộng là như vậy.
6)
--Lợi đắc thay cho Ông, này Gia chủ! Khéo lợi đắc thay cho
Ông, này Gia chủ!
Vì
rằng tuệ nhãn của Ông tiếp tục lời dạy thâm sâu của
đức Phật.
VI.
Kàmabhù (2) (S.iv,193)
1)
Một thời Tôn giả Kàmabhù trú tại Macchikàsanda, tại rừng
Ambàtaka.
2)
Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Kàmabhà; sau khi đến,
đảnh lễ Tôn giả Kàmabhù, rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi một bên, gia chủ Citta thưa Tôn giả Kàmabhù:
--
Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu hành tất cả?
--
Này Gia chủ có ba hành: thân hành, khẩu hành và ý hành.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia
chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói, rồi
hỏi thêm Tôn giả Kàmabhù một câu nữa:
--
Bạch Thượng tọa, thế nào là thân hành? Thế nào là khẩu
hành? Thế nào là ý hành?
--
Hơi thở vô, hơi thở ra, này Gia chủ, là thân hành. Tầm và
tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ là ý hành.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia
chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói... hỏi
thêm câu hỏi nữa:
5)
-- Vì sao, bạch Thượng tọa, thở vô thở ra là thân hành?
Vì sao tầm và tứ là khẩu hành? Vì sao tưởng và thọ là
ý hành?
--
Thở vô thở ra, này Giả chủ, thuộc về thân. Các pháp này
liên hệ đến thân; do vậy, thở vô thở ra là thân hành.
Trước phải tầm cầu, tư sát, này Gia chủ, sau mới phát
lời nói; do vậy, tầm và tứ là khẩu hành. Tưởng và thọ
thuộc về ý. Những pháp này liên hệ đến tâm; do vậy, tưởng
và thọ là ý hành.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa.
...
hỏi thêm câu hỏi nữa:
6)
-- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là chứng Diệt thọ tưởng
định?
--
Này Gia chủ, Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định
không có nghĩ rằng: "Tôi sẽ chứng đạt Diệt thọ tưởng
định", hay: "Tôi đang chứng đạt Diệt thọ tưởng định",
hay: "Tôi đã chứng đạt Diệt thọ tưởng định". Do tâm
vị ấy trước đã được tu tập như vậy, nên đưa đến
thành tựu như thật như vậy.
--
Lành thay...
...
hỏi thêm câu nữa:
7)
-- Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng
tọa, những pháp nào được đoạn diệt trước, thân hành,
hay khẩu hành, hay ý hành?
--
Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ,
khẩu hành được diệt trước, thứ đến thân hành, rồi
đến ý hành.
--
Lành thay...
...
hỏi thêm câu hỏi nữa:
8)
-- Bạch Thượng tọa, người đã chết, đã mệnh chung, và
Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những
người này có những sai khác gì?
--
Ðối với người đã chết, đã mệnh chung, này Gia chủ, thân
hành người ấy được đoạn diệt, được khinh an; khẩu
hành được đoạn diệt, được khinh an; ý hành được đoạn
diệt, được khinh an, thọ mạng được đoạn tận; sức nóng
được tịnh chỉ; các căn bị hủy hoại. Còn Tỷ-kheo đã
chứng đạt Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, thân hành
được đoạn diệt, khinh an; khẩu hành được đoạn diệt,
khinh an; ý hành được đoạn diệt, khinh an; thọ mạng không
bị đoạn tận; sức nóng không bị tịnh chỉ; các căn được
trong sáng. Này Gia chủ, người đã chết, đã mệnh chung và
Tỷ-kheo chứng đạt Diệt thọ tưởng định, giữa những
người này có những sai khác như vậy.
--
Lành thay...
...
hỏi thêm câu hỏi nữa.
9)
-- Như thế nào, bạch Thượng tọa, là ra khỏi Diệt thọ
tưởng định?
--
Này Gia chủ, Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định không
có suy nghĩ: "Tôi sẽ ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay:
"Tôi đang ra khỏi Diệt thọ tưởng định", hay: "Tôi đã ra
khỏi Diệt thọ tưởng định". Do tâm vị ấy trước đã
được tu tập như vậy, nên đưa đến thành tựu như thật
như vậy.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa...
...
hỏi thêm câu hỏi nữa:
10)
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng
tọa, pháp nào khởi lên trước, thân hành, khẩu hành, hay
ý hành?
--
Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, ý hành
khởi lên trước, rồi đến thân hành, rồi đến khẩu hành.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa...
...hỏi
thêm câu hỏi nữa:
11)
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng
tọa, cảm giác được bao nhiêu xúc?
--
Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định cảm thọ được
ba xúc: không xúc, vô tướng xúc, vô nguyện xúc.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia
chủ Citta hoan hỷ, tín thọ... và hỏi thêm câu hỏi nữa:
12)
-- Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, bạch Thượng
tọa, tâm thiên về đâu, hướng về đâu, nghiêng về đâu?
--
Tỷ-kheo ra khỏi Diệt thọ tưởng định, này Gia chủ, tâm
vị ấy thiên về viễn ly, hướng về viễn ly, nghiêng về
viễn ly.
--
Lành thay, bạch Thượng tọa.
Gia
chủ Citta hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Kàmabhù nói rồi
hỏi thêm câu hỏi nữa:
13)
-- Bạch Thượng tọa, có bao nhiêu pháp giúp đỡ nhiều cho
sự chứng đắc Diệt thọ tưởng định?
--
Thật sự, này Gia chủ, điều Gia chủ cần phải hỏi trước,
Gia chủ lại hỏi sau. Tuy vậy, ta sẽ trả lời cho Gia chủ.
Này Gia chủ, có hai pháp giúp đỡ rất nhiều cho Diệt thọ
tưởng định được chứng đắc. Ðó là Chỉ và Quán.
VII.
Godatta (S.iv,295)
1)
Một thời Tôn giả Godatta trú ở Macchikàsanda, tại Ambàtavana.
2)
Rồi gia chủ Citta đi đến Tôn giả Godatta; sau khi đến, đảnh
lễ Tôn giả Godatta rồi ngồi xuống một bên.
3)
Tôn giả Godatta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:
--
Này Gia chủ, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải
thoát, không tâm giải thoát, vô tướng tâm giải thoát, những
pháp này là khác ngôn từ, hay đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ?
--
Bạch Thượng tọa, có pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp
này khác nghĩa, khác ngôn từ. Bạch Thượng tọa, cũng có
pháp môn, theo pháp môn ấy, các pháp này đồng nghĩa, chỉ
khác ngôn từ.
4)
-- Nhưng, này Gia chủ, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các
pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ?
5)
-- Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo an trú, biến mãn một
phương với tâm câu hữu với từ; cũng vậy, phương thứ
hai; cũng vậy, phương thứ ba; cũng vậy, phương thứ tư. Như
vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy
phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến
mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không
hận, không sân. Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu với
hỷ... an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với
xả; cũng vậy, phương thứ hai; cũng vậy, phương thứ ba;
cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới,
trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô
biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với
xả, quảng đại vô biên, không hận, không sân. Bạch Thượng
tọa, đây gọi là vô lượng tâm giải thoát.
6)
Và bạch Thượng tọa, như thế nào là vô sở hữu tâm giải
thoát? Ở đây, Tỷ-kheo vượt lên Thức vô biên xứ một cách
hoàn toàn, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô
sở hữu xứ. Bạch Thượng tọa, đây gọi là vô sở hữu
tâm giải thoát.
7)
Và bạch Thượng tọa, thế nào là không tâm giải thoát? Ở
đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo đi đến rừng, hay đi đến
gốc cây, hay đi đến căn nhà trống và suy tư: "Cái này là
trống không tự ngã hay ngã sở hữu". Bạch Thượng tọa,
đây gọi là không tâm giải thoát.
8)
Và bạch Thượng tọa, thế nào là vô tướng tâm giải thoát?
Ở đây, bạch Thượng tọa, Tỷ-kheo không tác ý tất cả
tướng, chứng và trú Vô tướng tâm định. Bạch Thượng
tọa, đây gọi là vô tướng tâm giải thoát.
9)
Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, theo pháp môn ấy, các
pháp này là khác nghĩa, khác ngôn từ.
10)
Và bạch Thượng tọa, pháp môn nào, theo pháp môn ấy, các
pháp này là đồng nghĩa, chỉ khác ngôn từ?
11)
Tham dục (ràga) làm sự đo lường, sân làm sự đo lường,
si làm sự đo lường. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các
lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt tận gốc rễ, bị
làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái sanh, không thể
sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa, đối các vô
lượng tâm giải thoát, bất động tâm giải thoát được
xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải thoát này trống
không, không có tham; trống không, không có sân; trống không,
không có si.
12)
Tham dục, bạch Thượng tọa, là một chướng ngại, sân là
một chướng ngại, si là một chướng ngại. Ðối với Tỷ-kheo
đã đoạn tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt
tận gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể
tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng
tọa, đối với các vô sở hữu tâm giải thoát, bất động
tâm giải thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động
tâm giải thoát này được trống không, không có tham; trống
không, không có sân; trống không, không có si.
13)
Tham dục, bạch Thượng tọa, tác thành tướng, sân tác thành
tướng, si tác thành tướng. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, chúng bị đoạn tận, bị cắt đứt tận
gốc rễ, bị làm như thân cây ta-la, làm cho không thể tái
sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Bạch Thượng tọa,
đối với các vô tướng tâm giải thoát, bất động tâm giải
thoát được xem là tối thượng. Nhưng bất động tâm giải
thoát này trống không, không có tham; trống không, không có
sân; trống không, không có si.
14)
Ðây là pháp môn, bạch Thượng tọa, do pháp môn ấy, các
pháp này là đồng nghĩa chỉ khác ngôn từ.
VIII.
Nigantha (Ni-kiền-tử) (S.iv,297)
1-2)
Lúc bấy giờ, Nigantha Nàtaputta đã đi đến Macchikàsanda với
một đại chúng Nigantha.
3)
Gia chủ Citta được nghe Nigantha Nàtaputta đã đi đến Macchikàsanda
với một đại chúng Nigantha.
4)
Rồi gia chủ Citta cùng với một số đông gia chủ khác đi
đến Niganttha Nàtaputta; sau khi đến, nói lên những lời hỏi
thăm xã giao, sau khi nói lên những lời hỏi thăm xã giao thân
hữu liền ngồi xuống một bên.
5)
Nigantha Nàtaputta nói với gia chủ Citta đang ngồi một bên:
--
Có phải, này Gia chủ, Ông tin tưởng vào lời dạy này của
Sa-môn Gotama: "Có một định không tầm, không tứ, có sự
đoạn diệt các tầm và tứ"?
--
Thưa Tôn giả, ở đây tôi không có đặt lòng tin vào Thế
Tôn trong vấn đề: "Có một Thiền định không tầm, không
tứ, có sự đoạn diệt các tầm và tứ".
6)
Ðược nghe nói vậy, Nigantha Nàtaputta nhìn quanh hội chúng
của mình và nói:
--
Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật chất trực là gia chủ Citta
này! Thật không hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật không
hư vọng là gia chủ Citta này! Ai nghĩ rằng tầm và tứ có
thể đoạn diệt được tức là nghĩ rằng có thể trói được
gió trong cái lưới. Ai nghĩ rằng tầm và tứ có thể đoạn
diệt được tức là nghĩ rằng có thể dùng nắm tay của
mình để chận đứng dòng nước sông Hằng.
7)
-- Tôn giả nghĩ thế nào, thưa Tôn giả, cái gì thù thắng
hơn, trí hay là lòng tin?
--
Này Gia chủ, trí thù thắng hơn lòng tin.
8)
-- Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, ly dục, ly bất thiện pháp,
tôi chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc
do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả,
tôi làm tịnh chỉ các tầm và tứ... chứng và trú Thiền
thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi đoạn tận hỷ...
chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả,
tôi có thể đoạn tận lạc... chứng và trú Thiền thứ tư.
Biết như vậy, thưa Tôn giả, thấy như vậy, tôi sẽ đi đến
lòng tin đối với bất cứ vị Sa-môn hay vị Bà-la-môn nào
rằng: "Có Thiền định không tầm, không tứ, có sự đoạn
diệt các tầm và tứ".
9)
Khi nghe nói vậy, Nigantha Nàtaputta nhìn quanh hội chúng của
mình và nói:
--
Chư Tôn giả có thấy chăng? Thật không chất trực là gia
chủ Citta này! Thật hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật hư
vọng là gia chủ Citta này!
--
Thưa Tôn giả, tôi hiểu lời nói của Tôn giả rằng: "Chư
Tôn giả có thấy chăng? Thật chất trực là gia chủ Citta
này! Thật không hư ngụy là gia chủ Citta này! Thật không
hư vọng là gia chủ Citta này!". Và này, thưa Tôn giả, tôi
hiểu lời nói của Tôn giả rằng: "Chư Tôn giả có thấy
chăng? Thật không chất trực là gia chủ Citta này! Thật hư
ngụy là gia chủ Citta này! Thật hư vọng là gia chủ Citta
này!"
10)
Thưa Tôn giả, nếu lời nói đầu tiên của Tôn giả là chơn
chánh, thời lời nói sau của Tôn giả là hư ngụy. Thưa Tôn
giả, nếu lời nói sau của Tôn giả là chơn chánh, thời lời
nói đầu của Tôn giả là hư ngụy. Thưa Tôn giả, có mười
câu hỏi hợp lý này, nếu Tôn giả hiểu ý nghĩa của chúng,
thời Tôn giả đấm trả (patihareyyàsi) tôi một đấm cùng
với chúng Nigantha. Một câu hỏi, một câu giải thích, một
câu trả lời. Hai câu hỏi, hai câu giải thích, hai câu trả
lời. Ba câu hỏi, ba câu giải thích, ba câu trả lời. Bốn
câu hỏi, bốn câu giải thích, bốn câu trả lời. Năm câu
hỏi, năm câu giải thích, năm câu trả lời. Sáu câu hỏi,
sáu câu giải thích, sáu câu trả lời. Bảy câu hỏi, bảy
câu giải thích, bảy câu trả lời. Tám câu hỏi, tám câu
giải thích, tám câu trả lời. Chín câu hỏi, chín câu giải
thích, chín câu trả lời. Mười câu hỏi, mười câu giải
thích, mười câu trả lời.
11)
Rồi gia chủ Citta không hỏi Nigantha Nàtaputta mười câu hỏi
hợp lý này, từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi.
IX.
Acela (Lõa thể) (S.iv,300)
1).
..
2)
Lúc bấy giờ lõa thể Kassapa đã đi đến Macchikàsanda, một
bạn cũ của gia chủ Citta khi còn là gia chủ.
3)
Gia chủ Citta nghe lõa thể Kassapa, một bạn cũ của mình khi
còn là gia chủ, đã đến Macchikàsanda.
Rồi
gia chủ Citta đi đến lõa thể Kassapa; sau khi đến, nói lên
với lõa thể Kassapa những lời chào đón hỏi thăm, sau khi
nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi
xuống một bên.
4)
Ngồi một bên, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
--
Tôn giả Kassapa, Tôn giả xuất gia đã bao lâu?
--
Này Gia chủ, ta đã xuất gia khoảng ba mươi năm.
5)
-- Thưa Tôn giả, trong ba mươi năm ấy, Tôn giả có chứng
được pháp thượng nhơn nào, tri kiến thù thắng nào xứng
đáng bậc Thánh và được lạc trú?
--
Này Gia chủ, trong suốt ba mươi năm ấy, ta không chứng được
và không được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một
tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, ngoại trừ sự
lõa thể, sự trọc đầu, sự phủi bụi và đất cát (pàvàlanipphotana).
6)
Khi nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với lõa thể Kassapa:
--
Thật là bất tư nghì, thật là hy hữu, chánh pháp được
thuyết trong suốt ba mươi năm ấy, không chứng được, không
được lạc trú một pháp thượng nhân nào, một tri kiến
thù thắng xứng đáng bậc Thánh!
7)
-- Này Gia chủ, đã bao lâu Ông làm người cư sĩ?
--
Thưa Tôn giả, tôi thành người cư sĩ đã được ba mươi
năm.
8)
-- Trong suốt ba mươi năm ấy, này Gia chủ, Ông có chứng được
và được lạc trú pháp thượng nhân nào, tri kiến thù thắng
xứng đáng bậc Thánh?
--
Sao lại không vậy được, thưa Tôn giả! Nếu tôi muốn, thưa
Tôn giả, tôi ly dục, ly pháp bất thiện, chứng và trú Thiền
thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm,
có tứ. Nếu tôi muốn, thưa Tôn giả, tôi chỉ tịnh tầm
và tứ... chứng và trú Thiền thứ hai. Nếu tôi muốn, thưa
Tôn giả, ly hỷ... tôi chứng và trú Thiền thứ ba. Nếu tôi
muốn, thưa Tôn giả, đoạn tận lạc... tôi chứng và trú
Thiền thứ tư. Nếu tôi mệnh chung sớm hơn Thế Tôn, thưa
Tôn giả, không có gì lạ, nếu Thế Tôn sẽ nói về tôi như
sau: "Không có một kiết sử nào, do bị trói buộc bởi kiết
sử ấy, Citta trở lui tại thế giới này nữa".
9)
Khi nghe nói vậy, lõa thể Kassapa nói với gia chủ Citta:
--
Thật là vi diệu, thưa Tôn giả! Thật là hy hữu, thưa Tôn
giả, Chánh pháp được khéo thuyết. Một gia chủ mặc áo
trắng lại có thể chứng đạt được, lại có thể lạc
trú pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc
Thánh! Thưa Gia chủ, hãy cho tôi được xuất gia trong Pháp
và Luật này. Hãy cho tôi thọ đại giới.
10)
Rồi gia chủ Citta đưa lõa thể Kassapa đến một số Tỷ-kheo
trưởng lão; sau khi đến, thưa với các Tỷ-kheo trưởng lão:
--
Bạch chư Thượng tọa, lõa thể Kassapa này là một người
bạn của chúng con khi chúng con còn là gia chủ. Chư Thượng
tọa hãy cho người này xuất gia, cho thọ đại giới. Con sẽ
cố gắng cúng dường các vật liệu như y, đồ ăn khất thực,
sàng tọa, dược phẩm trị bệnh.
11)
Lõa thể Kassapa được xuất gia trong Pháp và Luật này, được
thọ đại giới. Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn
giả Kassapa sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần. Không bao lâu vị ấy đạt được mục đích
mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình hướng đến: đó là Vô thượng cứu
cánh Phạm hạnh, tự mình chứng tri với thượng trí, chứng
đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui
trạng thái này nữa".
12)
Và Tôn giả Kassapa trở thành một vị A-la-hán nữa.
X.
Thăm Người Bệnh (S.iv,302)
1-2)
Lúc bấy giờ, gia chủ Citta bị bệnh, khổ đau, bị trọng
bệnh.
3)
Rồi số đông chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư
Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các cây
trong rừng tụ hội lại và nói với gia chủ Citta:
--
Này Gia chủ hãy nguyện: "Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển
luân Thánh vương!"
Khi
được nghe nói vậy, gia chủ Citta nói với chư Thiên ở hoa
viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng
các dược thảo, các cây trong rừng:
--
Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng, cái
ấy cần phải bỏ đi và vượt qua.
4)
Khi được nghe nói vậy, các bạn bè thân hữu, các bà con
huyết thống nói với gia chủ Ciita:
--
Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói lung
tung.
--
Tôi nói với các vị những gì khiến các vị nói với tôi:
"Này Thiện gia nam tử, hãy an trú chánh niệm, chớ có nói
lung tung"?
--
Này Thiện nam tử, vì Ông nói như sau: "Cái ấy là vô thường,
cái ấy là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi
và vượt qua".
--
Vì rằng, chư Thiên các hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên
ở cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong
rừng đã nói với tôi như sau: "Này Gia chủ, hãy nguyện: 'Trong
tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển luân Thánh vương'". Cho nên
tôi mới trả lời với họ: 'Cái ấy là vô thường, cái ấy
là không thường hằng, cái ấy cần phải bỏ đi và vượt
qua'".
5)
-- Này Thiện gia nam tử, các chư Thiên ở hoa viên... các cây
trong rừng đã quán thấy ý nghĩa gì mà nói với Ông: "Này
Gia chủ hãy nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành vua Chuyển
luân Thánh vương""?
--
Các chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng, chư Thiên ở
cây, chư Thiên trú ở rừng các dược thảo, các cây trong
rừng ấy đã suy nghĩ như sau: "Gia chủ Citta này giữ giới,
tánh thiện, nếu phát nguyện: 'Trong tương lai, ta sẽ thành
vị Chuyển luân Thánh vương!" Tâm nguyện thanh tịnh, đúng
pháp, sẽ làm cho thành công người trì giới, sẽ đem đến
quả đúng pháp". Chư Thiên ở hoa viên, chư Thiên ở rừng,
chư Thiên ở cây, chư Thiên ở rừng các dược thảo, các
cây trong rừng ấy, do quán thấy ý nghĩa như vậy nên đã
nói như sau: "Này Gia chủ, hãy phát nguyện: 'Trong tương lai
ta làm vị Chuyển luân Thánh vương"". Do vậy, tôi nói với
họ: "Cái ấy là vô thường, cái ấy là không thường hằng,
cái ấy cần phải bỏ đi và vượt qua".
--
Này Thiện gia nam tử, hãy giáo giới cho chúng tôi.
--
Vậy các Ông cần phải học như sau: "Chúng tôi sẽ đầy đủ
lòng tin bất động đối với đức Phật: 'Vị ấy là Thế
Tôn, bậc ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhơn Sư, Phật, Thế Tôn". Chúng tôi sẽ có đủ lòng tin bất
động đối với Pháp: 'Ðây là Pháp do Thế Tôn khéo thuyết,
thiết thực hiện tại, có kết quả tức thời, đến để
mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí
tự mình giác hiểu'. Chúng tôi sẽ có đầy đủ lòng tin bất
động đối với chúng Tăng: 'Thiện hạnh là chúng đệ tử
của Thế Tôn. Trực hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn.
Như lý hạnh là chúng đệ tử của Thế Tôn. Thanh tịnh hạnh
là chúng đệ tử của Thế Tôn. Tức là bốn đôi tám chúng.
Chúng đệ tử của Thế Tôn là đáng được tôn kính, đáng
được cung kính, đáng được kính lễ, đáng được chấp
tay, là phước điền vô thượng ở đời'. Tất cả những
gì có thể đem cho trong gia tộc, tất cả phải đem cúng dường,
phân phát cho những vị trì giới và có thiện tánh".
Như
vậy, các Ông cần phải học tập.
7)
Khi gia chủ Citta khiến cho các bạn bè thân hữu, các bà con
huyết thống có tịnh tín đối với đức Phật, đối với
chúng Tăng và khuyên họ bố thí, vị ấy liền mệnh chung.
