TẬP IV
- THIÊN SÁU XỨ
[36] Chương II
Tương Ưng
Thọ
Phần
Một - Phẩm Có Kệ
1.
I. Thiền Ðịnh (S.iv,204)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỷ-kheo,
là ba thọ.
1)
Vị đệ tử đức Phật,
Ðịnh,
tỉnh giác, chánh niệm,
Hiểu
rõ ràng các thọ,
Và
xuất ly các thọ.
2)
Chỗ này, chúng đoạn diệt,
Con
đường đến đoạn diệt,
Tỷ-kheo
đoạn các thọ,
Không
khát ái, tịch tịnh.
2.
II. An Lạc (S.iv,204)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ðây, này các Tỷ-kheo,
là ba thọ.
1)
Lạc thọ hay khổ thọ,
Cùng
bất khổ bất lạc,
Nội
thọ và ngoại thọ,
Phàm
có cảm thọ gì.
2)
Biết được: "Ðây là khổ",
Hư
ngụy và biến hoại,
Thấy
xúc, xúc biến diệt,
Ở
đây, sống ly tham.
3.
III. Ðoạn Tận (S.iv,205)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
4)
Này các Tỷ-kheo, tham tùy miên đối với lạc thọ cần phải
đoạn tận. Sân tùy miên đối với khổ thọ cần phải đoạn
tận. Vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ cần
phải đoạn tận.
5)
Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận tham tùy miên đối
với lạc thọ, đoạn tận sân tùy miên đối với khổ thọ,
đoạn tận vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc
thọ; thời này các Tỷ-kheo, sự từ bỏ tham tùy miên của
Tỷ-kheo được gọi là chánh kiến, ái được đoạn tận,
kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối
với ngã mạn (sammà mànabhisamayà), vị ấy đoạn tận khổ
đau.
1)
Nếu cảm giác lạc thọ,
Không
tuệ tri cảm thọ,
Ðây
gọi tham tùy miên,
Không
thấy rõ xuất ly.
2)
Nếu cảm giác khổ thọ,
Không
tuệ tri cảm thọ,
Ðây
gọi sân tùy miên,
Không
thấy rõ xuất ly.
3)
Với bất khổ bất lạc,
Bậc
Ðại trí thuyết giảng,
Nếu
hoan hỷ thọ ấy,
Không
thoát được khổ đau.
4)
Vị Tỷ-kheo nhiệt tình,
Tỉnh
giác, không cuồng trí,
Ðối
với tất cả thọ,
Bậc
Hiền trí liễu tri.
5)
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện
tại không lậu hoặc,
Thân
hoại, bậc Pháp trú
Ðại
trí vượt ước lường.
4.
IV. Vực Thẳm (Pàtàla) (S.iv,206)
1-2)
...
3)
-- Kẻ vô văn phàm phu nói như sau: "Ở giữa biển lớn, có
vực thẳm". Nhưng ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm
phu đối với việc không có, không xẩy ra, lại nói: "Ở giữa
biển lớn, có vực thẳm".
4)
Này các Tỷ-kheo, đồng nghĩa với các khổ thọ về thân là
vực thẳm này.
5)
Kẻ vô văn phàm phu, khi cảm giác khổ thọ về thân, thời
sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu không đứng
lên trên vực thẳm, không đạt tới chỗ chân đứng.
6)
Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo, khi cảm giác
khổ thọ về thân, không sầu muộn, không than vãn, không khóc
lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là bậc Ða văn Thánh đệ tử đã đứng lên trên
vực thẳm, đã đạt tới chỗ chân đứng.
1)
Ai không chịu đựng nổi,
Các
khổ thọ khởi lên,
Thân
đau, hại mạng sống,
Cảm
xúc khiến run rẩy.
Ai
than vãn, khóc lóc,
Suy
nhược, thiếu kiên cường,
Không
đứng trên vực sâu,
Không
đạt chỗ chân đứng.
2)
Ai có thể chịu đựng,
Các
khổ thọ khởi lên,
Thân
đau, hại mạng sống,
Cảm
xúc không run rẩy,
Vị
ấy vượt vực sâu,
Ðạt
tới chỗ chân đứng.
5.
V. Cần Phải Quán Kiến (S.iv,207)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba cảm thọ này. Thế nào là ba? Lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Lạc thọ, này các
Tỷ-kheo, cần phải thấy là khổ. Khổ thọ cần phải thấy
là mũi tên. Bất khổ bất lạc thọ cần phải thấy là vô
thường.
4)
Khi nào, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo thấy được lạc thọ là
khổ, thấy được khổ thọ là mũi tên, thấy được bất
khổ bất lạc thọ là vô thường; thời này các Tỷ-kheo,
đây gọi là Tỷ-kheo có chánh kiến, ái được đoạn tận,
kiết sử được hủy hoại. Với minh kiến chơn chánh đối
với ngã mạn, vị ấy đoạn tận khổ đau.
1)
Ai thấy lạc là khổ,
Thấy
khổ là mũi tên,
Với
bất khổ bất lạc,
Thấy
thọ là vô thường,
Tỷ-kheo
ấy chánh kiến,
Liễu
tri các cảm thọ.
2)
Vị ấy liễu tri thọ,
Hiện
tại không lậu hoặc,
Mạng
chung, bậc Pháp trú,
Ðại
trí vượt ước lường.
6.
VI. Với Mũi Tên (S.iv,207)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu, cảm thọ cảm giác
lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ cảm giác
bất khổ bất lạc thọ.
4)
Này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử cũng cảm thọ
cảm giác lạc thọ, cảm thọ cảm giác khổ thọ, cảm thọ
cảm giác bất khổ bất lạc thọ.
5)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là đặc thù, thế nào
là thù thắng, thế nào là sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh
đệ tử và kẻ vô văn phàm phu?
6)
-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
7)
-- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ,
sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh.
Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm
thọ về tâm.
8)
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn với
mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả
hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc,
đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm
thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm. Cảm xúc bởi
khổ thọ ấy, người ấy cảm thấy sân hận (patigha). Do cảm
thấy sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối
với khổ thọ được tồn chỉ tùy miên (anuseti). Cảm xúc
bởi khổ thọ, người ấy hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì rằng,
này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không tìm thấy một sự
xuất ly khổ thọ nào khác, ngoài dục lạc. Do hoan hỷ dục
lạc ấy, tham tùy miên đối với lạc thọ tồn tại. Người
ấy không như thật rõ biết sự tập khởi, sự đoạn diệt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ
ấy. Do người ấy không như thật rõ biết sự tập khởi,
sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của
các cảm thọ ấy, nên vô minh tùy miên đối với bất khổ
bất lạc thọ tồn tại. Nếu người ấy cảm thọ cảm giác
lạc thọ, người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói
buộc (sannutto). Nếu người ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ,
người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc.
Nếu người ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ,
người ấy cảm thọ cảm giác như người bị trói buộc.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là kẻ vô văn phàm phu bị trói
buộc bởi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng
người ấy bị trói buộc bởi đau khổ.
9)
Và này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc
khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không
có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh.
Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm
thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
10)
Ví như, này các Tỷ-kheo, có người bị người ta bắn một
mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ
hai. Như vậy, này các Tỷ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ
của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn
Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn,
không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến
bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ
về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm
thấy sân hận đối với khổ thọ ấy. Do không cảm thấy
sân hận đối với khổ thọ ấy, sân tùy miên đối với
khổ thọ không có tồn tại. Cảm xúc bởi khổ thọ, vị
ấy không hoan hỷ dục lạc. Vì sao? Vì bậc Ða văn Thánh đệ
tử có tuệ tri một sự xuất ly khác đối với khổ thọ,
ngoài dục lạc. Vì vị ấy không hoan hỷ dục lạc, tham tùy
miên đối với dục lạc không có tồn tại. Vị ấy như thật
tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của những cảm thọ ấy. Vì rằng, vị
ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị
ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm thọ ấy.
Vì rằng, vị ấy như thật tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn
diệt, vị ngọt,sự nguy hiểm và sự xuất ly của các cảm
thọ ấy, đối với bất khổ bất lạc thọ, vô minh tùy miên
không có tồn tại. Nếu vị ấy cảm thọ lạc thọ, vị ấy
cảm thọ lạc thọ như người không bị trói buộc. Nếu vị
ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác
như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm
giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác
như người không bị trói buộc. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là Tỷ-kheo không bị trói buộc bởi sanh, già, chết, sầu,
bi, khổ, ưu, ão. Ta nói rằng vị ấy không bị trói buộc
bởi đau khổ.
11)
Này các Tỷ-kheo, đây là sự đặc thù, đây là thù thắng,
đây là sự sai biệt giữa bậc Ða văn Thánh đệ tử và kẻ
vô văn phàm phu.
1)
Bậc Trí tuệ Ða văn,
Lạc
khổ không chi phối,
Giữa
kẻ trí, phàm phu,
Thiện
sai biệt rất lớn.
2)
Bậc Ða văn, Tầm pháp,
Thấy
đời này, đời sau,
Ái
pháp không phá tâm,
Không
ái, không sân hận.
3)
Tùy thuận hay đối nghịch,
Tiêu
tán, diệt, không còn,
Vị
ấy biết con đường,
Ðường
không cấu, không sầu,
Chánh
trí, đoạn tái sanh,
Ðến
được bờ giác ngộ.
7.
VII. Tật Bệnh (S.iv,210)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường
của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
2)
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy,
đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên
chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời
đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho
các Ông.
3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt
tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời.
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm. Sống quán
thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên
các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham
ưu ở đời. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo chánh niệm.
4)
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác?
Ở
đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều
tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi
co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát,
thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh
giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi,
đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo tỉnh giác.
5)
Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác
khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các
Ông.
6)
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi
lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi
ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên
gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường,
hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này
là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm
sao thường trú được". Vị ấy trú, quán vô thường đối
với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị
ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy
trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị
ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị
ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối
với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối
với thân và lạc thọ được đoạn diệt.
7)
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi
lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khổ thọ này khởi lên nơi
ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên
gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường,
hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này
là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm
sao thường trú được". Vị ấy trú, quán vô thường đối
với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy
trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú,
quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú,
quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú,
quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân
và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân
và khổ thọ được đoạn diệt.
8)
Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất
lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất
lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy
có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính
thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh.
Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi,
do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên
làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường
đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán
tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn
diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường;
do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham;
do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ
bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy,
nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc
thọ được đoạn diệt.
9)
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri:
"Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp
trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy".
Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ... Nếu vị ấy cảm thọ
bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô
thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy".
Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy".
10)
Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác
thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm
thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ
ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ
cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm
giác thọ ấy như người không bị trói buộc.
11)
Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng
của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ
cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm
thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị
ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến
sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau
khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác
không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".
12)
Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc,
một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc
khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn
đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi Tỷ-kheo
cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của
thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng
tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm
thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh
mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng
tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri
rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ
không có gì đáng hoan hỷ, sẽ đi đến lắng dịu".
8.
VIII. Tật Bệnh (2) (S.iv,213)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, tại rừng Ðại Lâm, tại
giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
2)
Rồi Thế Tôn vào buổi chiều...
3-5)
-- Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo chánh niệm?...
(như kinh trước cho đến hết số 5) Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
cần phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây
là lời giáo giới của Ta cho các Ông...
6)
Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi
lên. Vị ấy rõ biết như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi
ta. Lạc thọ ấy khởi lên có duyên, không phải không duyên.
Do duyên gì? Do duyên xúc này. Nhưng xúc này là vô thường,
hữu vi, do duyên sanh. Do duyên xúc khởi lên, và duyên này là
vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm
sao có thể thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường
đối với xúc và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị
ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy
trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị
ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị
ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối
với xúc và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối
với xúc và lạc thọ bị đoạn diệt.
7-11)
(Giống như kinh trước, từ số 7 đến số 11, chỉ khác ở
đây là duyên xúc, chớ không phải thân này như kinh trước)
"... Ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỷ, sẽ
đi đến lắng dịu".
12)
Ví như, này các Tỷ-kheo, do duyên dầu... sẽ đi đến lắng
dịu. (như kinh trước).
9.
IX. Vô Thường (S.iv,214)
1-2)
...
3)
-- Có ba thọ này, này các Tỷ-kheo, vô thường, hữu vi, do
duyên sanh, chịu sự đoạn tận, chịu sự tiêu vong, chịu
sự ly tham, chịu sự đoạn diệt.
4)
Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
5)
Ba thọ này, này các Tỷ-kheo, là vô thường, hữu vi, do duyên
sanh, chịu sự đoạn tận, chịu sự tiêu vong, chịu sự ly
tham, chịu sự đoạn diệt.
10.
X. Căn Bản Của Xúc (S.iv,215)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc làm
căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên.
4)
Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
5)
Do xúc được cảm thọ là lạc, này các Tỷ-kheo, lạc thọ
sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy được cảm thọ là lạc,
lạc thọ ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm
thọ là lạc, lạc thọ ấy đoạn diệt, được tịnh chỉ.
6)
Do xúc được cảm thọ là khổ, này các Tỷ-kheo, khổ thọ
sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy được cảm thọ là khổ,
khổ thọ ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm
thọ là khổ, khổ thọ ấy đoạn diệt, được tịnh chỉ.
7)
Do xúc được cảm thọ là bất khổ bất lạc, này các Tỷ-kheo,
bất khổ bất lạc thọ sanh. Do sự đoạn diệt của xúc ấy
được cảm thọ là bất khổ bất lạc, bất khổ bất lạc
ấy khởi lên do duyên xúc tương ứng được cảm thọ là
bất khổ bất lạc, bất khổ bất lạc thọ ấy đoạn diệt,
được tịnh chỉ.
8)
Ví như, này các Tỷ-kheo, hai khúc gỗ cọ xát nhau, đem đến
gần nhau, nên sức nóng sanh ra, lửa được hiện hữu. Khi
hai khúc gỗ ấy bị phân ly tuyệt duyên, thời sức nóng khởi
lên do duyên ấy được đoạn diệt, được tịnh chỉ.
9)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ba thọ này do xúc sanh, lấy xúc
làm căn bản, lấy xúc làm nhân duyên, lấy xúc làm trợ duyên,
do duyên xúc tương ứng, các thọ tương ứng, tương ứng,
khởi lên. Do sự đoạn diệt của xúc tương ứng, tương ứng
các thọ tương ứng, tương ứng được đoạn diệt.
Phần
Hai - Phẩm Sống Một Mình
11.
I. Sống Một Mình (S.iv,216)
1)
...
2)
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh,
tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ:
lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này
được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm
cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ". Do
liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên:
"Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ"?
4)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Này
Tỷ-kheo, Ta nói rằng
có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỷ-kheo, Ta lại
nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau
khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành
mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ,
cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn
tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến
hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái
gì được cảm thọ, cái ấy (nằm) trong đau khổ".
5)
Nhưng này Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt các hành
là tuần tự: khi chứng được Thiền thứ nhứt, lời nói
được đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được
đoạn diệt; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được đoạn diệt;
khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được đoạn
diệt; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được đoạn
diệt; khi chứng Thức vô biên xứ, không vô biên xứ tưởng
được đoạn diệt; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên
xứ tưởng được đoạn diệt; khi chứng Phi tưởng phi phi
tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng được đoạn diệt; khi
chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được đoạn
diệt. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham
được đoạn diệt, sân được đoạn diệt, si được đoạn
diệt.
6)
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tịnh chỉ các hành
là tuần tự; khi chứng Thiền thứ nhứt, lời nói được
tịnh chỉ; khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh
chỉ... khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ
được tịnh chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được
tịnh chỉ.
7)
Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an này, khi chứng Thiền thứ
nhứt, lời nói được khinh an; khi chứng Thiền thứ hai, tầm
tứ được khinh an; khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh
an; khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được
khinh an; khi chứng Không vô biên xứ, sắc tưởng được khinh
an; khi chứng Vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng được
khinh an; khi chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu
xứ tưởng được khinh an; khi chứng Diệt thọ tưởng định,
tưởng và thọ được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn
tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an,
si được khinh an.
12.
II. Hư Không (1)(S.iv,218)
1-2)
...
3)
-- Ví như ở trên hư không có nhiều loại gió thổi. Có gió
từ phương Ðông thổi. Có gió từ phương Tây thổi. Có gió
từ phương Bắc thổi. Có gió từ phương Nam thổi. Có gió
có bụi thổi. Có gió không bụi thổi. Có gió lạnh thổi.
Có gió nóng thổi. Có gió lượng nhỏ thổi, có gió lượng
lớn thổi. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong cái thân này,
có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên.
Khổ thọ khởi lên. Bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
1)
Giống như giữa hư không,
Gió
nhiều loại thổi lên,
Từ
phương Ðông, phương Tây,
Từ
phương Bắc, phương Nam.
2)
Gió có bụi, không bụi,
Có
gió lạnh, gió nóng,
Có
gió lớn, gió nhỏ,
Gió
nhiều loại, thổi lên.
3)
Cũng vậy, trong thân này,
Khởi
lên nhiều cảm thọ,
Lạc
thọ và khổ thọ,
Bất
khổ bất lạc thọ.
4)
Khi Tỷ-kheo nhiệt tâm,
Tỉnh
giác, không sanh y,
Do
vậy, bậc Hiền giả,
Liễu
tri tất cả thọ.
5)
Vị ấy liễu tri thọ,
Ngay
hiện tại, vô lậu,
Thân
hoại, bậc Pháp trú,
Ðại
trí, vượt ước lường.
13.
III. Hư Không (2) (S.iv,219)
(Như
kinh trên chỉ khác là không có bài kệ)
14.
IV. Khách Xá (S.iv,219)
1-2)
...
3)
-- Ví như, này các Tỷ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương
Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người
đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương
Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-l?đến ở,
những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa)
đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người
Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, trong
cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc
thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ
khởi lên.
4)
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có
những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những
bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên.
Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.
Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.
Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật
chất khởi lên.
15.
V. Thuộc Sở Hữu (1) (S,iv,219)
1)
...
2)
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến...
3)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập
khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ?
Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất
ly của thọ?
4)
-- Có ba thọ này, này Ananda, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ
bất lạc thọ. Này Ananda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập
khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn
diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành là con đường đưa
đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định.
Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ nào, đấy là vị ngọt của
thọ. Sự vô thường, khổ, biến hoại của thọ là sự nguy
hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục và tham (chandaràga) đối
với thọ, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của
thọ.
5)
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng đoạn diệt (nirodho) các hành
là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được
đoạn diệt. Khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được đoạn
diệt... Khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ
được đoạn diệt. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các
lậu hoặc, tham được đoạn diệt, sân được đoạn diệt,
si được đoạn diệt.
6)
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng tịnh chỉ (vùpasamo) các hành
là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được
tịnh chỉ. Khi chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được tịnh
chỉ... Khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ
được tịnh chỉ. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được
tịnh chỉ.
7)
Này Ananda, Ta tuyên bố rằng khinh an (passadhi) các hành là tuần
tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được khinh an. Khi
chứng Thiền thứ hai, tầm tứ được khinh an... Khi chứng
Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ được khinh an. Ðối
với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh
an, sân được khinh an, si được khinh an.
16.
VI. Thuộc Sở Hữu (2) (Santakam) (S.iv,221)
1)
...
2)
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn...
3)
Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
--
Này Ananda, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập khởi?
Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa
đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế
nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của
thọ?
4)
-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy
Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ nương tựa.
Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn nói cho ý nghĩa của
lời nói này! Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
--
Vậy này Ananda, hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
--
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn.
5-8)
Thế Tôn nói như sau:
--
Này Ananda, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất
lạc thọ. Này Ananda, đây gọi là các thọ. Do xúc tập khởi
nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt...
(như kinh trên từ số 4 đến số 7). Ðối với Tỷ-kheo đã
đoạn tận các lậu hoặc, tham được khinh an, sân được
khinh an, si được khinh an.
17.
VII. Tám Lần (1) (Atthaka) (S.iv,221)
1)
...
2)
Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3.
Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập
khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ?
Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất
ly của thọ?
4)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất
khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là các thọ.
Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên
thọ đoạn diệt. Con đường Thánh đạo Tám ngành này là
con đường đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến...
chánh định. Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đấy là
vị ngọt của thọ. Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến
hoại của thọ là sự nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục
dục tham, sự đoạn tận dục tham đối với thọ là sự xuất
ly của thọ.
5)
Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự đoạn diệt của thọ
là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, lời nói được
đoạn diệt... Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được đoạn tận, sân được đoạn tận, si được
đoạn tận.
6)
Rồi, này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng tịnh chỉ các hành
là tuần tự. Khi chứng Thiền thứ nhất, các lời nói được
tịnh chỉ... Ðối với Tỷ-kheo đoạn tận các lậu hoặc,
tham được tịnh chỉ, sân được tịnh chỉ, si được tịnh
chỉ.
7)
Này các Tỷ-kheo, có sáu khinh an. Khi chứng Thiền thứ nhất,
lời nói được khinh an. Khi chứng Thiền thứ hai, tầm và
tứ được khinh an. Khi chứng Thiền thứ ba, hỷ được khinh
an. Khi chứng Thiền thứ tư, hơi thở vô, hơi thở ra được
khinh an. Khi chứng Diệt thọ tưởng định, tưởng và thọ
được khinh an. Ðối với Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, tham được khinh an, sân được khinh an, si được khinh
an.
18.
VIII. Tám Lần (2) (S.iv,222)
1)
...
2)
Rồi một số đông các Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3)
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy đang ngồi một bên:
--
Này các Tỷ-kheo, thế nào là các thọ? Thế nào là thọ tập
khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường
đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ?
Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất
ly của thọ?
4)
-- Bạch Thế Tôn, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản...
5-8)
... (giống như số 4-7 của kinh số 15) ...
19.
IX. Năm Vật Dụng (S.iv,223)
1)
...
2)
Rồi người thợ mộc Pancakanga đi đến Tôn giả Udàyi; sau
khi đến, đảnh lễ Tôn giả Udàyi rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả
Udàyi:
--
Thưa Tôn giả Udàyi, Thế Tôn dạy có bao nhiêu thọ?
--
Có ba thọ, này Pancakanga, được Thế Tôn nói đến: lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này, này Pancakanga,
được Thế Tôn nói đến.
4)
Ðược nghe nói vậy, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả
Udàyi:
--
Thưa Tôn giả Udàyi, Thế Tôn không dạy ba thọ. Thế Tôn dạy
chỉ có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn về bất khổ
bất lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc
thọ.
5)
Lần thứ hai, Tôn giả Udàyi nói với thợ mộc Pancakanga:
--
Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có
ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ
này được Thế Tôn nói đến.
Lần
thứ hai, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udàyi:
--
Thưa Tôn giả Udàyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn
dạy có hai thọ: lạc thọ và khổ thọ. Còn bất khổ bất
lạc thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
6)
Lần thứ ba, Tôn giả Udàyi nói với thợ mộc Pancakanga:
--
Này Pancakanga, Thế Tôn không dạy hai thọ. Thế Tôn dạy có
ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ
này được Thế Tôn nói đến.
Lần
thứ ba, thợ mộc Pancakanga thưa với Tôn giả Udàyi:
--
Thưa Tôn giả Udàyi, Thế Tôn không dạy có ba thọ. Thế Tôn
dạy có hai thọ: lạc thọ, khổ thọ. Còn bất khổ bất lạc
thọ này, Thế Tôn dạy thuộc vào tế nhị lạc thọ.
Như
vậy, Tôn giả Udàyi không có thể thuyết phục được thợ
mộc Pancakanga, và thợ mộc Pancakanga không thể thuyết phục
được Tôn giả Udàyi.
7)
Tôn giả Ananda nghe được câu chuyện này giữa Tôn giả Udàyi
và thợ mộc Pancakanga.
8)
Rồi Tôn giả Ananda đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền ngồi
xuống một bên. Ngồi một bên, Tôn giả Ananda thuật lại
với Thế Tôn tất cả câu chuyện xảy ra giữa Tôn giả Udàyi
và thợ mộc Pancakanga.
9)
-- Dầu thật có pháp môn (pariyàyam), này Ananda, nhưng thợ
mộc Pancakanga không tín thọ Tỷ-kheo Udàyi. Và dầu thật có
pháp môn, này Ananda, nhưng Tỷ-kheo Udàyi không tín thọ thợ
mộc Pancakanga. Có hai thọ, này Ananda, theo pháp môn giải thích
của Ta. Cũng có ba thọ theo pháp giải thích của Ta. Cũng có
năm thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có sáu thọ
theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 16 thọ theo pháp môn
giải thích của Ta. Cũng có 108 thọ theo pháp môn giải thích
của Ta. Như vậy, này Ananda, là pháp được Ta tuyên bố tùy
theo pháp môn.
10)
Này Ananda, dầu cho như vậy là pháp được Ta tuyên bố tùy
theo pháp môn, này Ananda, những ai không chịu chấp nhận, không
chịu tán đồng, không chịu tùy hỷ lời khéo nói, khéo thuyết
với nhau; đối với những người ấy sẽ xảy đến như sau:
Họ sẽ sống đấu tranh nhau, hủy báng nhau, tranh luận nhau
với những khí giới miệng lưỡi. Như vậy là pháp được
Ta tuyên bố tùy theo pháp môn. Này Ananda, dầu cho như vậy
là pháp được Ta tuyên bố tùy theo pháp môn, những ai chịu
chấp nhận, chịu tán đồng, chịu tùy hỷ lời khéo nói,
khéo thuyết với nhau; đối với những người ấy, sẽ xảy
đến như sau: Họ sẽ sống hòa hợp, hoan hỷ với nhau, không
có tranh luận nhau, như nước với sữa, sống nhìn nhau với
cặp mắt từ ái.
11)
Và này Ananda, có năm dục công đức này. Thế nào là năm?
Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả
ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có những xúc
do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên
hệ đến dục, hấp dẫn. Này Ananda, có năm dục công đức
này. Do duyên năm dục công đức này, này Ananda, khởi lên
lạc hỷ gì, đây gọi là dục lạc.
12)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Có lạc khác với
lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn. Ở
đây, này Ananda, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện pháp, chứng
đạt và trú Thiền thứ nhất. Lạc này là lạc khác với
lạc kia, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tốt đẹp hơn.
13)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn. Và này Ananda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn
vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
tịnh chỉ các tầm và tứ, chứng và trú Thiền thứ hai, một
trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội
tỉnh nhứt tâm. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda,
còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
14)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn. Và này Ananda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn
vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
ly hỷ, trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc thọ
mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, chứng và trú
Thiền thứ ba. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda,
còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
15)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn. Và này Ananda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn
vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
xả lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước,
chứng và trú Thiền thứ tư, không khổ không lạc, xả niệm
thanh tịnh. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda,
còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
16)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn. Và này Ananda, thế nào là lạc khác với lạc ấy còn
vi diệu hơn, còn tế nhị hơn? Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo
vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, chấm dứt các
đối ngại tưởng, không tác ý sai biệt tưởng, biết rằng:
"Hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Lạc
này là lạc khác với lạc kia, này Ananda, còn vi diệu hơn,
còn tế nhị hơn.
17)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn... Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo vượt qua Không vô biên
xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Thức là vô biên", chứng
và trú Thức vô biên xứ. Lạc này là lạc khác với lạc
kia, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
18)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn... Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo vượt qua Thức vô biên
xứ một cách hoàn toàn, biết rằng: "Không có sở hữu gì",
chứng và trú Vô sở hữu xứ. Lạc này là lạc khác với
lạc kia, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
19)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn... Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo vượt qua Vô sở hữu xứ
một cách hoàn toàn, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng
xứ. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda, còn vi
diệu hơn, còn tế nhị hơn.
20)
Này Ananda, có thể có những người nói như sau: "Ðây là lạc
và hỷ tối thượng mà chúng sanh cảm thọ được". Nhưng
Ta không chấp nhận quan điểm này. Vì sao? Vì rằng có lạc
khác với lạc ấy, này Ananda, còn vi diệu hơn, còn tế nhị
hơn... Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo vượt qua Phi tưởng phi
phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ
tưởng định. Lạc này là lạc khác với lạc kia, này Ananda,
còn vi diệu hơn, còn tế nhị hơn.
21)
Sự kiện này xảy ra, này Ananda. Có các du sĩ ngoại đạo
có thể hỏi như sau: "Sa-môn Gotama nói đến Diệt thọ tưởng
định, và tuyên bố là Diệt thọ tưởng định ấy thuộc
về lạc. Ý nghĩa này là gì và như thế nào?". Ðược nói
vậy, này Ananda, các du sĩ ngoại đạo cần được trả lời
như sau: "Này chư Hiền, Thế Tôn không tuyên bố thuộc về
lạc, dựa vào lạc thọ. Nhưng chỗ nào, này chư Hiền, lạc
được cảm thọ, chỗ ấy, Thế Tôn tuyên bố cảm thọ thuộc
vào lạc thọ".
20.
X. Bởi Vị Tỷ Kheo (S.iv,228)
1-2)
...
3)
-- Có hai thọ, này các Tỷ-kheo, theo pháp môn giải thích của
Ta. Cũng có ba thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có
năm thọ theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có sáu thọ
theo pháp môn giải thích của Ta. Cũng có 16 thọ theo pháp môn
giải thích của Ta. Cũng có 36 thọ theo pháp môn giải thích
của Ta. Cũng có 108 thọ theo pháp môn giải thích của Ta.
4-15)
... (giống như đoạn sau của kinh trước, từ số 10 cho đến
số 21, chỉ khác trong kinh trước, Thế Tôn nói với Tôn giả
Ananda, trong kinh này Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo).
Phần
Ba - Phẩm Một Trăm Lẻ Tám Pháp Môn
21.
I. Sìvaka (S.iv,230)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá) tại Trúc Lâm,
chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Rồi du sĩ Moliya Sìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói
lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói
lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống
một bên.
3)
Ngồi một bên, du sĩ Moliya Sìvaka thưa với Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả Gotama, có một số Sa-môn, Bà-la-môn thuyết như
sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm giác gì, lạc
thọ, khổ thọ, hay bất khổ bất lạc thọ; tất cả thọ
ấy đều do nhân đã làm trong quá khứ". Ở đây, Tôn giả
Gotama nói như thế nào?
4)
-- Này Sìvaka, ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh
từ mật (semhà). Này Siivaka, hoặc là Ông phải tự mình (sàma)
biết rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh
từ mật". Hay là, này Siivaka, thế giới chấp nhận là đúng
sự thật rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên phát
sanh từ mật". Ở đây, này Siivaka, những vị Sa-môn, Bà-la-môn
nào thuyết như sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm
giác gì, lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; tất
cả thọ đều do nhân đã làm trong quá khứ"; nếu do họ tự
mình biết, họ thật sự đi quá xa; nếu được thế giới
chấp nhận là đúng sự thật, họ cũng đi quá xa. Do vậy,
Ta tuyên bố rằng các Sa-môn, Bà-la-môn ấy thuộc về tà.
5)
Này Siivaka, ở đây, một số cảm thọ khởi lên, phát sanh
từ đàm (niêm dịch) ...
6)
Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ gió...
7)
Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các... nước
trong thân thể (sannipitikàni).
8)
Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các thời
tiết...
9)
Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ sự gặp gỡ các nghịch
vận...
10)
Này Siivaka... khởi lên, phát sanh từ các công kích thình lình
từ bên ngoài vào...
11)
Do quả dị thục của nghiệp, này Siivaka, ở đây, một số
cảm thọ được khởi lên. Này Siivaka, hoặc là Ông phải
tự mình biết rằng: "Ở đây, một số cảm thọ khởi lên
vì kết quả dị thục của nghiệp". Hay là, này Siivaka, thế
giới chấp nhận là đúng sự thật rằng: "Ở đây, một số
cảm thọ khởi lên vì kết quả dị thục của nghiệp". Ở
đây, này Siivaka, những vị Sa-môn, Bà-la-môn nào thuyết như
sau, thấy như sau: "Con người cảm thọ cảm giác gì, lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ; tất cả thọ đều
do nhân đã làm trong quá khứ"; nếu do họ tự mình biết,
họ thật sự đi quá xa; nếu được thế giới chấp nhận
là đúng sự thật, họ cũng đi quá xa. Do vậy, Ta tuyên bố
rằng các Sa-môn, Bà-la-môn ấy thuộc về tà.
12)
Khi được nói vậy, du sĩ Moliya Siivaka bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn... từ nay cho đến mạng
chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Mật,
niêm dịch và gió,
Sự
gặp gỡ các loại nước,
Sự
thay đổi thời tiết,
Sự
gặp gỡ các nghịch vận,
Sự
công kích thình lình,
Nghiệp
quả là thứ tám.
22.
II. Một Trăm Lẻ Tám (S.iv,231)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông pháp môn về pháp
theo 108 pháp môn. Hãy lắng nghe.
3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp môn về pháp theo 108
pháp môn? Có hai thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có
ba thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có năm thọ, theo
pháp môn thuyết giảng của Ta. Có sáu thọ, theo pháp môn thuyết
giảng của Ta. Có 18 thọ, theo pháp môn thuyết giảng của
Ta. Có 36 thọ, theo pháp môn thuyết giảng của Ta. Có 108 thọ,
theo pháp môn thuyết giảng của Ta.
4)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hai thọ? Thọ về thân và
thọ về tâm. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hai thọ.
5)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là ba thọ? Lạc thọ, khổ thọ,
bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là ba
thọ.
6)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là năm thọ? Lạc căn, khổ căn,
hỷ căn, ưu căn, xả căn. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là năm
thọ.
7)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thọ? Thọ do nhãn xúc
sanh, thọ do nhĩ xúc sanh, thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt
xúc sanh, thọ do thân xúc sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo,
đây gọi là sáu thọ.
8)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là 18 thọ? Có sáu tư duy thân
cận (upavicàrà) với hỷ; có sáu tư duy thân cận với ưu;
có sáu tư duy thân cận với xả. Này các Tỷ-kheo, đây là
18 thọ.
9)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là 36 thọ? Sáu hỷ liên hệ
đến gia đình, sáu hỷ liên hệ đến ly dục; sáu ưu liên
hệ đến gia đình, sáu ưu liên hệ đến ly dục; sáu xả
liên hệ đến gia đình, sáu xả liên hệ đến ly dục. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là 36 thọ.
10)
Thế nào là 108 thọ? 36 thọ về quá khứ, 36 thọ về tương
lai, 36 thọ về hiện tại. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là 108
thọ. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là pháp môn về pháp theo
108 pháp môn.
23.
III. Vị Tỷ Kheo (S.iv,232)
1)
...
2)
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
3)
Ngồi một bên, Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, thế nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi?
Thế nào là con đường đưa đến thọ tập khởi? Thế nào
là thọ đoạn diệt? Thế nào là con đường đưa đến thọ
đoạn diệt? Thế nào là vị ngọt của thọ? Thế nào là
sự nguy hiểm của thọ? Thế nào là sự xuất ly của thọ?
4)
-- Này Tỷ-kheo, có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ
bất lạc thọ. Này Tỷ-kheo, đây gọi là ba thọ. Do xúc tập
khởi nên thọ tập khởi. Khát ái là con đường đưa đến
thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con
đường Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến
thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. Do
duyên thọ khởi lên lạc hỷ nào, đó là vị ngọt của thọ.
Tánh vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của thọ là sự
nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục và tham, sự đoạn
tận dục và tham là sự xuất ly của thọ.
24.
IV. Trí Về Quá Khứ (S.iv,233)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng Chánh
đẳng Chánh giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Thế
nào là thọ? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là con đường
đưa đến thọ tập khởi? Thế nào là thọ đoạn diệt? Thế
nào là con đường đưa đến thọ đoạn diệt? Thế nào là
vị ngọt của thọ? Thế nào là sự nguy hiểm của thọ? Thế
nào là sự xuất ly của thọ?"
3)
Và này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Có ba thọ này: lạc
thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Do xúc tập khởi
nên thọ tập khởi. Ái là con đường đưa đến thọ tập
khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Con đường
Thánh đạo Tám ngành này là con đường đưa đến thọ đoạn
diệt, tức là chánh tri kiến... chánh định. Sự nhiếp phục
dục và tham, sự đoạn tận dục và tham là sự xuất ly của
thọ".
4)
Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ, đối với các pháp từ
trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi
lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
5)
Này các Tỷ-kheo, đây là các thọ tập khởi, đối với các
pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí
khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
6)
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ tập khởi,
đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn
khởi lên, trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang
khởi lên.
7)
Này các Tỷ-kheo, đây là thọ đoạn diệt, đối với các
pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí
khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
8)
Này các Tỷ-kheo, đây là con đường đưa đến thọ đoạn
diệt, đối với các pháp từ trước Ta chưa từng được
nghe...
9)
Này các Tỷ-kheo, đây là vị ngọt của thọ, đối với các
pháp từ trước Ta chưa từng được nghe...
10)
Này các Tỷ-kheo, đây là sự nguy hiểm của thọ...
11)
Này các Tỷ-kheo, đây là sự xuất ly của thọ, đối với
các pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn khởi lên,
trí khởi lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
25.
V. Bởi Vị Tỷ Kheo (S.iv,234)
1)
Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn...
...
(Kinh này giống như kinh số 23) ...
26.
VI. Sa Môn, Bà La Môn (1) (S.iv,234)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
3)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không như thật
tuệ tri sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy
hiểm và sự xuất ly của ba thọ này...
4)
... như thật tuệ tri... với thắng trí, tự mình chứng ngộ,
chứng đạt và an trú.
27.
VII. Sa Môn, Bà La Môn (2) (S.iv,235)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ. Thế nào là ba? Lạc thọ, khổ
thọ, bất khổ bất lạc thọ.
...
(giống như kinh số 26) ...
28.
VIII. Sa Môn, Bà La Môn (3) (S.iv,235)
1-2)
...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có những Sa-môn hay Bà-la-môn nào không
tuệ tri thọ, không tuệ tri thọ tập khởi, không tuệ tri
con đường đưa đến thọ tập khởi, không tuệ tri thọ đoạn
diệt, không tuệ tri con đường đưa đến thọ đoạn diệt...
4)
... như thật tuệ tri... tự mình với thắng trí chứng ngộ,
chứng đạt và an trú...
29.
IX. Thanh Tịnh, Không Liên Hệ Ðến Vật Chất (S.iv,235)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba thọ này. Thế nào là ba? Lạc thọ,
khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Này các Tỷ-kheo, đây
là ba thọ.
3)
Này các Tỷ-kheo, có hỷ liên hệ đến vật chất, có hỷ
không liên hệ đến vật chất, có hỷ không liên hệ đến
vật chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật
chất kia; có lạc liên hệ đến vật chất, có lạc không
liên hệ đến vật chất, có lạc không liên hệ đến vật
chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật chất
kia; có xả liên hệ đến vật chất, có xả không liên hệ
đến vật chất, có xả không liên hệ đến vật chất còn
hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất kia; có giải
thoát liên hệ đến vật chất, có giải thoát không liên hệ
đến vật chất, có giải thoát không liên hệ đến vật chất
còn hơn cả loại giải thoát không liên hệ đến vật chất
kia.
4)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ liên hệ đến vật chất?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm?
Có các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý,
khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có xúc do thân nhận
thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến
dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là năm dục công đức
này. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức này, hỷ
khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ liên hệ đến
vật chất.
5)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật
chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất thiện
pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ
lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Làm tịnh chỉ tầm và
tứ, chứng đạt và trú Thiền thứ hai, một trạng thái hỷ
lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhất tâm.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ không liên hệ đến vật
chất.
6)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hỷ không liên hệ đến vật
chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất
kia? Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc, khi quán sát tâm
giải thoát khỏi tham, khi quán sát tâm giải thoát khỏi sân,
khi quán sát tâm giải thoát khỏi si, hỷ được khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là hỷ không liên hệ đến vật
chất còn hơn cả loại hỷ không liên hệ đến vật chất
kia.
7)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc liên hệ đến vật chất?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức. Thế nào là năm?
Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả
ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có những xúc
do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên
hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây là năm dục
công đức. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục công đức này,
khởi lên lạc hỷ gì, này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc
liên hệ đến vật chất.
8)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến
vật chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ly dục, ly bất
thiện pháp, chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái
hỷ lạc do ly dục sanh, có tầm, có tứ. Tịnh chỉ các tầm
và tứ, vị ấy chứng và trú Thiền thứ hai, một trạng thái
hỷ lạc do định sanh, không tầm, không tứ, nội tĩnh, nhứt
tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm tỉnh giác, thân cảm lạc
thọ mà các bậc Thánh gọi là xả niệm lạc trú, vị ấy
chứng đạt và trú Thiền thứ ba. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là lạc không liên hệ đến vật chất.
9)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là lạc không liên hệ đến
vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ đến vật
chất kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu
hoặc, khi quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quan sát tâm giải
thoát khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si, lạc và
hỷ khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là lạc không liên
hệ đến vật chất còn hơn cả loại lạc không liên hệ
đến vật chất kia.
10)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả liên hệ đến vật chất?
Này các Tỷ-kheo, có năm dục công đức này. Thế nào là năm?
Có những sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả
ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn... Có những xúc
do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên
hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, do duyên năm dục
công đức này, xả khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là
xả liên hệ đến vật chất.
11)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật
chất? Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn lạc, đoạn
khổ, chấm dứt hỷ ưu đã cảm thọ từ trước, chứng đạt
và an trú Thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm
thanh tịnh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả không liên hệ
đến vật chất.
12)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là xả không liên hệ đến vật
chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất
kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đã đoạn tận các lậu hoặc,
quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quán sát tâm giải thoát
khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si, xả khởi lên.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là xả không liên hệ đến vật
chất còn hơn cả loại xả không liên hệ đến vật chất
kia.
13-14)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là giải thoát liên hệ đến
vật chất? Sự giải thoát liên hệ đến sắc là liên hệ
đến vật chất... Sự giải thoát liên hệ đến vô sắc là
không liên hệ đến vật chất.
16)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sự giải thoát không liên
hệ đến vật chất còn hơn cả sự giải thoát không liên
hệ đến vật chất kia? Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đoạn tận
các lậu hoặc, quán sát tâm giải thoát khỏi tham, quán sát
tâm giải thoát khỏi sân, quán sát tâm giải thoát khỏi si,
giải thoát khởi lên. Này các Tỷ-kheo, đây là sự giải thoát
không liên hệ đến vật chất còn hơn cả sự giải thoát
không liên hệ đến vật chất kia.
