TẬP IV
- THIÊN SÁU XỨ
[35] Chương I
Tương Ưng
Sáu Xứ
V.
Phẩm Từ Bỏ
94.
I. Thâu Nhiếp (S.iv,70)
1)
...
2)
-- Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục,
không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại
đau khổ. Thế nào là sáu?
3-5)
Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng
hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ...
Tai... Mũi...
6-7)
... Lưỡi... Thân...
8)
Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng
hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
9)
Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không
phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.
10)
Có sáu xúc này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng
hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế
nào là sáu?
11-13)
Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng
hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc... Tai...
Mũi...
14-15)
... Lưỡi... Thân...
16)
Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ,
khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
17)
Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng
hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.
18)
Thế Tôn nói như vậy. Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại
nói thêm:
1)
Hỡi các vị Tỷ-kheo,
Chính
sáu xúc xứ này,
Chỗ
nào không thâu nhiếp,
Chỗ
ấy có đau khổ.
Những
ai học biết được,
Chế
ngự, phòng hộ chúng,
Với
lòng tin làm bạn,
Sống
thoát ly dục vọng.
2)
Thấy sắc pháp khả ái,
Thấy
sắc không khả ái,
Hãy
nhiếp phục đường tham,
Ðối
các sắc khả ái,
Chớ
khiến ý nhiễm ô:
"Ðối
sắc, ta không thích".
3)
Sau khi nghe các tiếng,
Khả
ái, không khả ái,
Chớ
để tâm say mê,
Với
các tiếng khả ái.
Hãy
nhiếp phục lòng sân,
Với
tiếng không khả ái,
Chớ
khiến ý nhiễm ô:
"Ðối
tiếng, ta không thích".
4)
Sau khi ngửi các hương,
Thơm
dịu, thật khả ái,
Sau
khi ngửi các hương,
Bất
tịnh, thật đáng ghét;
Hãy
nhiếp phục lòng sân,
Ðối
các hương đáng ghét,
Còn
đối hương khả ái,
Chớ
để dục chi phối.
5)
Nếm xong vị ngon ngọt,
Và
nếm vị không ngon,
Chớ
có sanh tham luyến,
Khi
hưởng nếm vị ngon,
Chớ
nói lời chống đối,
Khi
nếm vị không ngon.
6)
Khi cảm thọ lạc xúc,
Chớ
đắm say tham luyến,
Khi
cảm thọ khổ xúc,
Chớ
bị xúc động mạnh.
Ðối
với cả hai xúc,
Lạc,
khổ đều niệm xả,
Không
thích, không chống đối,
Bất
cứ loại xúc nào.
7)
Ðối với các người khác,
Mê
theo hý luận tưởng,
Họ
mê theo hý luận,
Họ
hành theo hư tưởng;
Hãy
đoạn trừ tất cả,
Gia
sự do ý tạo,
Hãy
nhiếp các hành động,
Hướng
đến hạnh viễn ly.
8)
Như vậy đối sáu xứ,
Khi
ý khéo tu tập,
Nếu
có cảm xúc gì,
Tâm
không bị dao động.
Tỷ-kheo
hãy nhiếp phục,
Cả
hai tham sân ấy,
Hãy
đến bờ bên kia,
Vượt
buộc ràng sanh tử.
92.
II. Thâu Nhiếp (S.iv,72)
1)
...
2)
Rồi Tôn giả Màlukyaputta đi đến Thế Tôn...
3)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Màlukyaputta bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn thuyết pháp vắn tắt
cho con. Sau khi nghe pháp của Thế Tôn, con sẽ sống một mình,
an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Ở đây, này Màlukyaputta, nay Ta nói gì với các Tỷ-kheo
trẻ tuổi, khi Ông là một Tỷ-kheo già yếu, niên cao, đại
lão, đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc
đời, lại yêu cầu Ta giáo giới một cách vắn tắt?
5)
-- Bạch Thế Tôn, dầu cho con già yếu, niên cao, đại lão,
đã đến tuổi trưởng thượng, đã đến cuối cuộc đời,
mong Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Mong Thiện Thệ
hãy thuyết pháp vắn tắt cho con! Chắc chắn con sẽ hiểu
ý nghĩa lời Thế Tôn giảng. Chắc chắn con sẽ trở thành
người thừa tự pháp của Thế Tôn.
6)
-- Ông nghĩ thế nào, này Màlukyaputta? Các sắc do mắt nhận
thức, Ông không thấy, trước đây Ông không thấy, nay Ông
không thấy, và Ông không muốn thấy; ở đây đối với chúng,
Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
7)
-- Các tiếng do tai nhận thức, Ông không nghe, trước đây
Ông không nghe, nay Ông không nghe, và Ông không muốn nghe; ở
đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái hay
không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
8)
-- Các hương do mũi nhận thức, Ông không ngửi, trước đây
Ông không ngửi, nay Ông không ngửi, và Ông không muốn ngửi;
ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái
không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
9)
-- Các vị do lưỡi nhận thức, Ông không nếm, trước đây
Ông không nếm, nay Ông không nếm, và Ông không muốn nếm;
ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái
không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
10)
-- Các xúc do thân nhận thức, Ông không cảm thọ, trước
đây Ông không cảm thọ, nay Ông không cảm thọ, và Ông không
muốn cảm thọ; ở đây đối với chúng, Ông có lòng dục,
tham hay khát ái không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
11)
-- Các pháp do ý thức nhận thức, Ông không nhận thức, trước
đây Ông không nhận thức, và Ông không muốn nhận thức;ở
đây đối với chúng, Ông có lòng dục, tham hay khát ái không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
12)
-- Và ở đây, này Màlukyaputta, đối với các pháp được
thấy, được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông
sẽ chỉ thấy được với những vật thấy được, sẽ chỉ
nghe được với những vật nghe được, sẽ chỉ cảm nhận
được đối với những vật cảm nhận được, sẽ chỉ nhận
biết được đối với những vật có thể nhận biết được.
13)
Vì rằng, này Màlukyaputta, đối với các pháp được thấy,
được nghe, được cảm nhận, được biết đến, Ông sẽ
chỉ thấy được với những vật thấy được, chỉ nghe được
với những vật nghe được, chỉ cảm nhận được đối với
những vật cảm nhận được, chỉ nhận biết được đối
với những vật nhận biết được. Cho nên, này Màlukyaputta,
Ông không có vì cái ấy. Do vì, này Màlukyaputta, Ông không
có vì cái ấy, nên Ông không có: "Ở nơi đây". Do vì, này
Màlukyaputta, Ông không có: "Ở nơi đây", do vậy, này Màlukyaputta,
Ông sẽ không có đời này, đời sau, và giữa hai đời ấy.
Ðây là sự chấm dứt khổ đau.
14)
-- Bạch Thế Tôn, lời giảng vắn tắt này của Thế Tôn,
con hiểu một cách rộng rãi như sau:
1)
Thấy sắc, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến sắc an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ sắc sinh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết - bàn.
2)
Nghe tiếng, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến tiếng an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ tiếng sanh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðựơc
gọi xa Niết-bàn.
3)
Ngửi hương, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến tiếng an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ tiếng sanh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết-bàn.
4)
Nếm vị, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến vị an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ vị sanh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết-bàn.
5)
Cảm xúc, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến xúc an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ xúc sanh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết-bàn.
6)
Biết pháp, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến pháp an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ pháp sanh,
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết-bàn
7)
Vị ấy không tham sắc,
Thấy
sắc, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến sắc an trú.
Theo
sắc, vị ấy thấy,
Tùy
sắc, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa.
Ðược
gọi gần Niết-bàn
8)
Vị ấy không tham tiếng,
Nghe
tiếng, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến tiếng an trú.
Theo
tiếng, vị ấy nghe,
Tùy
tiếng, thọ cảm giác.
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa,
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
9)
Vị ấy không tham hương,
Ngửi
hương, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến hương an trú.
Theo
hương, vị ấy ngửi,
Tùy
hương, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa.
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
10)
Vị ấy không tham vị,
Nếm
vị, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến vị an trú.
Theo
vị, vị ấy nếm.
Tùy
vị, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa.
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
11)
Vị ấy không tham xúc,
Cảm
xúc, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến xúc an trú,
Theo
xúc, vị ấy cảm,
Tùy
xúc, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa,
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
12)
Vị ấy không tham pháp,
Biết
pháp, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến pháp an trú.
Theo
pháp, vị ấy cảm,
Tùy
pháp, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa,
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
Bạch
Thế Tôn, lời Thế Tôn nói vắn tắt này, con hiểu một cách
rộng rãi như vậy.
15)
-- Lành thay, lành thay, này Màlukyaputta! Lành thay, này Màlukyaputta,
lời nói vắn tắt của Ta, Ông đã hiểu ý nghĩa một cách
rộng rãi:
1)
Thấy sắc, niệm mê say,
Tác
ý đến ái tướng,
Tâm
tham đắm cảm thọ,
Tham
luyến sắc an trú.
Vị
ấy, thọ tăng trưởng,
Nhiều
loại, từ sắc sanh.
Tham
dục và hại tâm,
Não
hại tâm vị ấy,
Như
vậy, khổ tích lũy,
Ðược
gọi xa Niết-bàn.
2)
- 11) ...
12)
Vị ấy không tham pháp,
Biết
pháp, không ái luyến,
Tâm
không dính cảm thọ,
Không
luyến pháp an trú.
Theo
pháp, vị ấy cảm,
Tùy
pháp, thọ cảm giác,
Tiêu
mòn, không tích lũy,
Như
vậy, chánh niệm hành,
Như
vậy, khổ không chứa,
Ðược
gọi gần Niết-bàn.
Lời
nói vắn tắt này của Ta, này Màlukyaputta, Ông cần phải hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
16)
Rồi Tôn giả Màlukyaputta, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế
Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
phía hữu hướng về Ngài, rồi ra đi.
17)
Rồi Tôn giả Màlukyaputta sống một mình, an tịnh, không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, chứng được mục
đích mà các thiện gia nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh
Phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa".
18)
Và Tôn giả Màlukyaputta trở thành một vị A-la-hán nữa.
96.
III. Thối Ðọa (Parihànam) (S.iv,76)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp thối
đọa, pháp bất thối đọa và sáu thắng xứ.
3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp thối đọa?
4-6)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các
ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết
sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng (adhivàseti),
không từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến
chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp".
Ðây Thế Tôn gọi là pháp thối đọa,... tai nghe tiếng...
mũi ngửi hương...
7-8)
... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
9)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các
ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết
sử được khởi lên. Nếu Tỷ-kheo đón nhận chúng, không
từ bỏ, không đoạn trừ, không tiêu diệt, không khiến chúng
không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần
phải hiểu rằng: "Ta làm thối thất các thiện pháp". Ðây
Thế Tôn gọi là pháp thối đọa.
10)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp thối đọa.
11)
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là pháp bất thối đọa.
12-24)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc, các
ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết
sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không
có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến
chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất các thiện
pháp". Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa.... tai nghe
tiếng... mũi ngửi hương...
15-16)
... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc...
17)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, sau khi ý nhận thức pháp, các ác,
bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến kiết
sử được khởi lên. Này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo không
có đón nhận chúng, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, khiến
chúng không thể sanh khởi, thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất các thiện
pháp". Ðây Thế Tôn gọi là pháp bất thối đọa.
18)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp bất thối đọa.
19)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sáu thắng xứ?
20-24)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi mắt thấy sắc,
các ác, bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ đến
kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần
phải hiểu rằng: "Xứ này đã được nhiếp phục". Và Thế
Tôn gọi đây là thắng xứ... tai...mũi... lưỡi... thân...
25)
Lại nữa, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo sau khi ý nhận thức
pháp, các ác bất thiện pháp; các ức niệm tư duy liên hệ
đến kiết sử không khởi lên. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
cần phải hiểu rằng: "Xứ này đã được nhiếp phục". Và
Thế Tôn gọi đây là thắng xứ.
96.
IV. Sống Phóng Dật (Pamàdavihàri) (S.iv,78)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ thuyết cho các Ông về trú phóng
dật và trú không phóng dật. Hãy lắng nghe.
3)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là trú phóng dật?
4-6)
Ai sống không nhiếp hộ nhãn căn, này các Tỷ-kheo, thời tâm
người ấy bị nhiễm ô (vyàsincati) đối với các sắc do
mắt nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời không
có hân hoan. Do không có hân hoan nên không có hỷ. Do không
có hỷ nên không có khinh an. Do không khinh an nên khổ an trú.
Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do tâm
không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp không
hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng dật...
nhĩ căn... tỷ căn...
7-8)
... thiệt căn... thân căn...
9)
Ai sống không nhiếp hộ ý căn, tâm bị nhiễm ô đối với
các pháp do ý nhận biết. Với người tâm bị nhiễm ô thời
không có hân hoan. Do không hân hoan nên không có hỷ. Do không
có hỷ nên không có khinh an. Do không có khinh an nên khổ an
trú. Với người đau khổ, tâm không có thể định tĩnh. Do
tâm không định tĩnh, các pháp không hiển lộ. Do các pháp
không hiển lộ, người ấy được gọi là người an trú phóng
dật.
10)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là an trú phóng dật.
11)
Và như thế nào, này các Tỷ-kheo, là an trú không phóng dật?
12-14)
Ai sống nhiếp hộ nhãn căn, tâm không bị nhiễm ô đối với
các sắc do mắt nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm
ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ
sanh nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ.
Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh,
các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người
ấy được gọi là người trú không phóng dật... nhĩ căn...
tỷ căn...
15-16)
... thiệt căn... thân căn...
17)
Ai sống nhiếp hộ ý căn, tâm không bị nhiễm ô đối với
các pháp do ý nhận biết. Với người tâm không bị nhiễm
ô thời hân hoan sanh. Do có hân hoan nên hỷ sanh. Do có hỷ
tâm nên thân được khinh an. Do thân khinh an nên cảm lạc thọ.
Với người an lạc, tâm được định tĩnh. Do tâm định tĩnh,
các pháp được hiển lộ. Do các pháp được hiển lộ, người
ấy được gọi là người trú không phóng dật.
18)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là trú không phóng dật.
98.
V. Nhiếp Hộ (Samvara) (S.iv,79)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về nhiếp hộ
và không nhiếp hộ. Hãy lắng nghe.
3)
Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ?
4-6)
Và này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả
lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp
dẫn. Nếu một Tỷ-kheo hoan hỷ sắc ấy, tán dương và an
trú với tâm tham luyến; thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
cần phải hiểu rằng: "Ta đã làm thối thất các thiện pháp".
Thế Tôn gọi đây là pháp thối đọa... Có những tiếng do
tai nhận thức... Có những hương do mũi nhận thức...
7-8)
Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân
cảm giác...
9)
Có những pháp do ý nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý,
khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Nếu một Tỷ-kheo
hoan hỷ pháp ấy, tán dương và an trú với tâm tham luyến;
thời này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng:
"Ta đã làm thối thất các thiện pháp". Và Thế Tôn gọi đây
là thối thất.
10)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là không nhiếp hộ.
11)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là nhiếp hộ?
12-14)
Này các Tỷ-kheo, có những sắc do mắt nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn.
Nếu một Tỷ-kheo không hoan hỷ sắc ấy, không tán dương
và an trú với tâm không tham luyến; thời này các Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ấy cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất
các thiện pháp". Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất...
Có những tiếng do tai nhận thức... Có những hương do mũi
nhận thức...
15-16)
Có những vị do lưỡi nhận thức... Có những xúc do thân
cảm giác...
17)
Và này các Tỷ-kheo, có những pháp do ý nhận thức khả lạc,
khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ Ðến dục, hấp dẫn. Nếu
một Tỷ-kheo không hoan hỷ pháp ấy, không tán dương và an
trú với tâm không tham luyến; này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ấy
cần phải hiểu rằng: "Ta không làm thối thất các thiện
pháp". Và Thế Tôn gọi đây là không thối thất.
18)
Như vậy, này các Tỷ-kheo, là có nhiếp hộ.
99.
VI. Thiền Ðịnh (S.iv,80)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo,
một Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
3)
Và hiểu rõ như thật cái gì?
4-8)--
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ
các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô
thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên
nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất
lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai...
mũi... lưỡi... thân...
9)
Như thật hiểu rõ ý là vô thường, như thật hiểu rõ các
pháp là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô thường,
như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên ý xúc,
khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc;
như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường.
10)
Này các Tỷ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo được Thiền định, hiểu rõ như thật.
100.
VII. Thiền Tịnh (Patisallàna) (S.iv,80)
1)
...
2)
-- Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các
Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.
3)
Và hiểu rõ gì như thật?
4-9)
Như thật hiểu rõ mắt là vô thường, như thật hiểu rõ
các sắc là vô thường, như thật hiểu rõ nhãn thức là vô
thường, như thật hiểu rõ nhãn xúc là vô thường. Phàm duyên
nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất
lạc; như thật hiểu rõ cảm thọ ấy là vô thường... tai...
lưỡi... thân... ý...
10)
Này các Tỷ-kheo, hãy hành trì hạnh Thiền tịnh. Này các Tỷ-kheo,
vị Tỷ-kheo Thiền tịnh, hiểu rõ như thật.
101.
VIII. Không Phải Của Các Ông (S.iv,81)
1)
...
2)
-- Cái gì không phải của các Ông, này các Tỷ-kheo, hãy từ
bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc an lạc cho các
Ông.
3)
Và này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các Ông?
4-6)
Mắt, này các Tỷ-kheo, không phải của các Ông. Hãy từ bỏ
nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông.
Các sắc không phải của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ
chúng, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn thức
không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ
đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Nhãn xúc không phải
của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh
phúc, an lạc cho các Ông Phàm duyên nhãn xúc khởi lên cảm
thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy
không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ
đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông... Tai... Mũi...
7-8)
... Lưỡi... Thân...
9)
Ý không phải của các Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ
đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Các pháp không phải
của các Ông. Hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng, sẽ đưa lại
hạnh phúc, an lạc cho các Ông. Ý thức không phải của các
Ông. Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc,
an lạc cho các Ông. Ý xúc không phải của các Ông. Hãy từ
bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc cho các
Ông. Phàm duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay
bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông.
Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa lại hạnh phúc, an lạc
cho các Ông.
10)
Ví như, này các Tỷ-kheo, trong rừng Thắng Lâm này có người
mang đi, hay mang đốt, hay làm theo những gì người ấy muốn,
tất cả cỏ, củi, nhánh cây hay lá, thời các Ông có nghĩ
như sau: "Người ấy mang chúng tôi đi, hay đốt chúng tôi,
hay làm gì chúng tôi theo ý người ấy muốn"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
--
Vì sao? Vì chúng không phải tự ngã hay không thuộc về tự
ngã.
11-16)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, mắt không phải của các Ông.
Hãy từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc
cho các Ông. Các sắc không phải của các Ông... Nhãn thức
không phải của các Ông... Nhãn xúc không phải của các Ông...
Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất
khổ bất lạc; cảm thọ ấy không phải của các Ông. Hãy
từ bỏ nó. Từ bỏ nó, sẽ đưa đến hạnh phúc, an lạc
cho các Ông.
102.
IX. Không Phải Của Các Ông (S.iv,82)
(Như
kinh trên từ 2 đến 9, không có ví dụ).
103.
X. Uddaka (S.iv,83)
1)
...
2)
-- Uddaka Ràmaputta, này các Tỷ-kheo, có nói như sau:
"Ta
là bậc minh trí,
Ta
chiến thắng tất cả,
Ta
đào lên khổ căn,
Trước
kia chưa từng đào".
Này các
Tỷ-kheo, Uddaka Ràmaputta không phải bậc minh trí, lại tự
nói: "Ta là bậc minh trí"; không chiến thắng tất cả, lại
nói: "Ta chiến thắng tất cả" không đào lên khổ căn, lại
nói: "Ðã đào lên khổ căn".
3)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân
chánh, có thể nói như sau:
Ta
là bậc minh trí,
Ta
chiến thắng tất cả,
Ta
đào lên khổ căn,
Trước
kia, chưa từng đào.
4) Và
này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo minh trí (vedagù)? Này
các Tỷ-kheo, khi nào một Tỷ-kheo đối với sáu xúc xứ như
thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt,
sự nguy hiểm và sự xuất ly; như vậy, này các Tỷ-kheo, là
Tỷ-kheo minh trí.
5)
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là Tỷ-kheo chiến thắng
tất cả? Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đối với sáu xúc
xứ, sau khi như thật biết rõ sự tập khởi, sự đoạn diệt,
vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly, được giải thoát
không có chấp thủ; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo
chiến thắng tất cả.
6)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo đã đào lên khổ
căn trước kia chưa được đào? Mụt nhọt, này các Tỷ-kheo,
là một danh từ chỉ cho cái thân do bốn đại tạo thành này,
sanh ra từ cha mẹ, do cơm cháo nuôi dưỡng, tự tánh là vô
thường, biến hoại, mai một, hủy hoại, hủy diệt. Gốc
rễ của mụt nhọt, này các Tỷ-kheo, là đồng nghĩa với
khát ái. Này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo đoạn tận khát
ái, chặt đứt đến gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm
cho không thể tái sanh, không có thể sanh khởi trong tương
lai; như vậy, này các Tỷ-kheo, là Tỷ-kheo đã đào lên khổ
căn từ trước chưa được đào lên.
7)
Này các Tỷ-kheo, chính là Uddaka Ràmaputta đã nói lên lời
nói như sau:
Ta
là bậc minh trí,
Ta
chiến thắng tất cả,
Ta
đào lên khổ căn,
Trước
kia chưa từng đào.
Này các
Tỷ-kheo, Uddaka không phải là bậc minh trí, lại tự nói: "Ta
là bậc minh trí"; không chiến thắng tất cả, lại nói: "Ta
chiến thắng tất cả"; không đào lên khổ căn, lại nói:
"Ðã đào lên khổ căn".
8)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo nói một cách chân
chánh, có thể nói như sau:
Ta
là bậc minh trí,
Ta
chiến thắng tất cả,
Ta
đào lên khổ căn,
Trước
kia chưa từng đào.
Trang
04
