TẬP III
- THIÊN UẨN
[22] Chương I
Tương Ưng
Uẩn
B.
Năm Mươi Kinh Ở Giữa
I.
Phẩm Tham Luyến
I.
Tham Luyến (Tạp 2, Ðại 2,9a) (S.iii,53)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, tham luyến là không giải thoát. Do tham
luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an
trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức)
hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
4)
Hay do tham luyến thọ ... tham luyến tưởng ... tham luyến hành,
này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với hành
là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ,
đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
5)
Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài
tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự
diệt hay sanh, sự tăng trưởng, sự tăng thịnh hay sự lớn
mạnh của thức", sự việc như vậy không xảy ra.
6-10)
Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với
sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt
đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu. Này các Tỷ-kheo,
nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới... đối
với tưởng giới... đối với hành giới... Này các Tỷ-kheo,
nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức giới, do
tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y
chỉ của thức không có hiện hữu.
11)
Không có chỗ y chỉ ấy, thức không tăng thịnh, không có
hành động, được giải thoát. Do giải thoát nên được kiên
trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có
ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh
hoàn toàn. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái
này nữa".
II.
Chủng Tử (Tạp 2, Ðại 2,8c) (S.iii,54)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có năm loại chủng tử. Thế nào là năm?
Chủng tử từ rễ, chủng tử từ thân, chủng tử từ đọt,
chủng tử từ quả, và chủng tử từ chủng tử là thứ năm.
4)
Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị
hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại,
có lõi cứng, khéo gieo, nhưng không có đất, và không có nước,
thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng
trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
5)
-- Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không
bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá
hoại, có lõi cứng, khéo gieo, có đất và có nước, thời
này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng,
tăng thịnh, lớn mạnh được không?
--
Thưa được, bạch Thế Tôn.
6)
-- Này các Tỷ-kheo, ví như đất, bốn thức trú cần phải
được xem như vậy. Ví như nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham
cần phải được xem như vậy. Ví như năm loại chủng tử,
này các Tỷ-kheo, thức cùng các món ăn cần phải được xem
như vậy.
7)
Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được
an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức)
hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
8-10)
Do tham luyến thọ... Do tham luyến tưởng... Do tham luyến các
hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được tồn tại.
Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng
tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
11)
Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài
tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự
diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh hay sự lớn mạnh
của thức", sự việc như vậy không xảy ra.
12)
Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với
sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt
đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
13-16)
Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với
thọ giới... đối với tưởng giới... đối với hành giới...
đối với thức giới; do tham được đoạn tận, sở duyên
được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
17)
Không có chỗ y chỉ như vậy, thức không tăng thịnh, không
có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được
kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không
có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch
tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
III.
Lời Cảm Hứng (Tạp 2, Ðại 2,16c) (S.iii,55)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
2)
Ở đấy, Thế Tôn nói lên lời cảm hứng như sau:
Nếu
trước, Ta không có,
Thời
nay không có Ta,
Không
tạo nhân sẽ có,
Tương
lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo
quyết tâm vậy,
Hạ
phần kiết sử đoạn.
3) Ðược
nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
--
Như thế nào bạch Thế Tôn:
Nếu
trước, Ta không có,
Thời
nay không có Ta,
Không
tạo nhân sẽ có,
Tương
lai sẽ không Ta.
Tỷ-kheo
quyết tâm vậy,
Hạ
phần kiết sử đoạn?
4) --
Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không thấy rõ các
bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh, không tu
tập pháp các bậc Thánh; không thấy rõ các bậc Chân nhân,
không thuần thục pháp các bậc Chân nhân, không tu tập pháp
các bậc Chân nhân, quán sắc như là tự ngã, hay tự ngã như
là có sắc, hay sắc ở trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc,
quán thọ... quán tưởng... quán các hành... quán thức như
là tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong
tự ngã, hay tự ngã ở trong thức.
5)
Vị ấy không như thật biết rõ (pajànàti) sắc vô thường
là sắc vô thường, không như thật biết rõ thọ vô thường
là thọ vô thường, không như thật biết rõ tưởng vô thường
là tưởng vô thường, không như thật biết rõ hành vô thường
là hành vô thường, không như thật biết rõ thức vô thường
là thức vô thường.
6)
Không như thật biết rõ sắc khổ là sắc khổ, không như
thật biết rõ thọ khổ... tưởng khổ... hành khổ... không
như thật biết rõ thức khổ là thức khổ.
7)
Không như thật biết rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, không
như thật biết rõ thọ vô ngã... tưởng vô ngã... hành vô
ngã... không như thật biết rõ thức vô ngã là thức vô ngã.
8)
Không như thật biết rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, không
như thật biết rõ thọ hữu vi... tưởng hữu vi... hành hữu
vi... không như thật biết rõ thức hữu vi là thức hữu vi.
9)
Không như thật biết rõ sắc sẽ biến diệt... thọ sẽ biến
diệt... tưởng sẽ biết diệt... các hành sẽ biến diệt...
không như thật biết rõ thức sẽ biến diệt.
10)
Còn bậc Ða văn Thánh đệ tử, này các Tỷ-kheo thấy rõ các
bậc Thánh, thuần thục pháp các bậc Thánh, tu tập pháp các
bậc Thánh, thấy rõ các bậc Chân nhân, thuần thục pháp các
bậc Chân nhân, tu tập pháp các bậc Chân nhân, không quán
sắc như là tự ngã, hay tự ngã như là có sắc, hay sắc ở
trong tự ngã, hay tự ngã ở trong sắc, không quán thọ... không
quán tưởng... không quán các hành... không quán thức như là
tự ngã, hay tự ngã như là có thức, hay thức ở trong tự
ngã, hay tự ngã ở trong thức.
11)
Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô thường là vô thường,
thọ vô thường... tưởng vô thường... hành vô thường...
thức vô thường là thức vô thường.
12)
Vị ấy như thật thấy rõ sắc khổ là sắc khổ, thọ khổ...
tưởng khổ... hành khổ... như thật thấy rõ thức khổ là
thức khổ.
13)
Vị ấy như thật thấy rõ sắc vô ngã là sắc vô ngã, thọ
vô ngã... tưởng vô ngã... các hành vô ngã... thức vô ngã
là thức vô ngã.
14)
Vị ấy như thật thấy rõ sắc hữu vi là sắc hữu vi, thọ
hữu vi... tưởng hữu vi... các hành hữu vi... thức hữu vi
là thức hữu vi.
15)
Vị ấy như thật thấy rõ sắc sẽ biến diệt là sắc sẽ
biến diệt, thọ sẽ biến diệt... tưởng sẽ biến diệt...
các hành sẽ biến diệt... thức sẽ biến diệt là thức sẽ
biến diệt.
16)
Do sắc biến diệt, thọ biến diệt, tưởng biến diệt, hành
biến diệt, thức biến diệt, vị Tỷ-kheo nói lên lời cảm
hứng:
Nếu
trước, ta không có,
Thời
nay không có ta,
Không
tạo nhân sẽ có,
Tương
lai sẽ không ta.
Tỷ-kheo
quyết tâm vậy,
Hạ
phần kiết sử đoạn.
17) --
Dầu cho quyết tâm như vậy, bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo có
thể cắt đứt hạ phần kiết sử. Nhưng bạch Thế Tôn, biết
như thế nào, thấy như thế nào, các lậu hoặc được đoạn
tận lập tức?
18)
-- Ở đây, này Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu hoảng sợ tại
chỗ không có gì đáng hoảng sợ; kẻ vô văn phàm phu hoảng
sợ như sau:
Nếu
trước, ta không có,
Thời
nay không có ta,
Không
tạo nhân sẽ có.
Tương
lai sẽ không ta.
19) Và
vị Ða văn Thánh đệ tử, này Tỷ-kheo, không hoảng sợ tại
chỗ không có gì đáng hoảng sợ; vị Ða văn Thánh đệ tử
không có hoảng sợ như sau:
Nếu
trước, ta không có,
Thời
nay không có ta,
Không
tạo nhân sẽ có,
Tương
lai sẽ không ta.
20) Này
Tỷ-kheo, do tham luyến sắc, thức có chân đứng được an
trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức)
hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
21-33)
Do tham luyến thọ... do tham luyến tưởng... do tham luyến hành...
do tham luyến thức, này Tỷ-kheo, thức có chân đứng được
an trú. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức)
hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
24)
Này Tỷ-kheo, ai nói như sau: "Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng,
ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt
hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh của thức",
sự việc như vậy không xảy ra.
25)
Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc
giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt,
chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
26)
Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới...
27)
Này Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với tưởng
giới...
28)
Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với hành giới...
29)
Này Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thức
giới, do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt,
chỗ y chỉ của thức không hiện hữu.
30)
Không có chỗ y chỉ như vậy thức không tăng trưởng, không
có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được
kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không
có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch
tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng
thái này nữa".
IV.
Thủ Chuyển (Tạp 2, Ðại 2,9b) (S.iii,58)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có năm thủ uẩn này. Thế nào là năm?
Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ
uẩn, thức thủ uẩn.
4)
Này các Tỷ-kheo, khi nào Ta chưa như thật thắng tri năm thủ
uẩn này theo bốn chuyển, thì cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo,
đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không
xác chứng rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng
Chánh Giác.
5)
Nhưng này các Tỷ-kheo, khi nào Ta đã như thật thắng tri năm
thủ uẩn này theo bốn chuyển, cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo,
đối với thế giới chư Thiên, Ma, Phạm thiên, cùng với quần
chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng
rằng Ta đã chứng được vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác.
6)
Và thế nào là bốn chuyển? Ta đã thắng tri sắc, Ta đã thắng
tri sắc tập khởi, Ta đã thắng tri sắc đoạn diệt, Ta đã
thắng tri con đường đưa đến sắc đoạn diệt. Ta đã thắng
tri thọ... tưởng... hành... Ta đã thắng tri thức, Ta đã thắng
tri thức tập khởi, Ta đã thắng tri thức đoạn diệt, Ta
đã thắng tri con đường đưa đến thức đoạn diệt.
7)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và
sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đấy
được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập
khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và
con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh
đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh
ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm,
chánh định.
8)
Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào do thắng
tri sắc như vậy; do thắng tri sắc tập khởi như vậy, do
thắng tri sắc đoạn diệt như vậy, do thắng tri con đường
đưa đến sắc đoạn diệt như vậy, họ hướng về thực
hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc. Những thực hiện ấy,
họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị
ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
9)
Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri sắc là như vậy... thắng tri con đường đưa đến sắc
đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc,
họ được giải thoát, không có chấp thủ. Họ được khéo
giải thoát. Những ai được khéo giải thoát, họ được vẹn
toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể nêu rõ sự
luân chuyển của họ.
10)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có
sáu thọ thân này: thọ do nhãn xúc sanh, thọ do nhĩ xúc sanh,
thọ do tỷ xúc sanh, thọ do thiệt xúc sanh, thọ do thân xúc
sanh, thọ do ý xúc sanh. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ.
Do xúc tập khởi nên thọ tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên
thọ đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành
đưa đến thọ đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh
tư duy... chánh định.
11)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ
là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng
tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa
đến thọ đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực hiện
yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ. Những thực hiện ấy, họ
khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những vị ấy
có chân đứng trong Pháp và Luật này.
12)
Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri thọ là như vậy... thắng tri con đường đưa đến thọ
đoạn diệt là như vậy... thời không thể nêu rõ sự luân
chuyển của họ!
13-15)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo,
có sáu tưởng thân này: sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng,
vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do
xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường
Thánh đạo tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt, tức là
chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định... thời không thể
nêu rõ sự luân chuyển của họ.
16)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này:
sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư. Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là hành. Do xúc tập khởi nên các hành
tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây
là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến đoạn diệt,
tức là chánh tri kiến... chánh định.
17)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri các
hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là như vậy,
thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường
đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy, họ hướng về
thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành. Những thực
hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện,
những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
18)
Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là
như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng
tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy;
do yếm ly, ly tham, đoạn diệt các hành, họ giải thoát, không
có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được
khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn
toàn, thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
19)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này,
này các Tỷ -kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức,
thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh
sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường
Thánh đạo tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là
chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định.
20)
Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy,
thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường
đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, họ hướng về thực
hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt thức. Những thực hiện
ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo thực hiện, những
vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật này.
21)
Và này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy,
thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường
đưa đến thức đoạn diệt là như vậy; do yếm ly, ly tham,
đoạn diệt thức, họ được giải thoát, không có chấp thủ.
Họ được khéo giải thoát. Những ai khéo giải thoát, họ
được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không thể
nêu rõ sự luân chuyển của họ.
V.
Bảy Xứ (Sattatthàna) (Tạp 2, Ðại 2,10a; 498c; 875b) (Tăng
35, Ðại 2,754b) (S.iii,61)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, này các Tỷ-kheo,
quán sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong
Pháp và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một bậc tối
thượng nhân.
4)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong
bảy xứ?
5)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo biết rõ (pajànati) sắc,
biết rõ sắc tập khởi, biết rõ sắc đoạn diệt, biết
rõ con đường đưa đến sắc đoạn diệt, biết rõ vị ngọt
của sắc, biết rõ sự nguy hiểm của sắc, biết rõ sự xuất
ly của sắc.
6-8)
... biết rõ thọ... biết rõ tưởng... biết rõ các hành...
9)
... biết rõ thức, biết rõ thức tập khởi, biết rõ thức
đoạn diệt, biết rõ con đường đưa đến thức đoạn diệt,
biết rõ vị ngọt của thức, biết rõ sự nguy hiểm của
thức, biết rõ sự xuất ly của thức.
10)
Này các Tỷ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc
do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỷ-kheo, đây gọi
là sắc. Do các món ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các
món ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Ðây là con đường
Thánh đạo Tám ngành đưa đến sắc đoạn diệt, tức là
chánh tri kiến... chánh định...
11)
Duyên sắc khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của sắc.
Sự vô thường, khổ, chịu sự biến hoại của sắc, đây
là sự nguy hại của sắc. Sự nhiếp phục dục tham đối
với sắc, sự đoạn tận dục tham đối với sắc, đây là
xuất ly của sắc.
12)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc
là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng
tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa
đến sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của
sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như
vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; họ hướng
về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với sắc.
Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo
thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật
này.
13)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri sắc
là như vậy, thắng tri sắc tập khởi là như vậy, thắng
tri sắc đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của
sắc là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của sắc là như
vậy, thắng tri sự xuất ly của sắc là như vậy; do yếm
ly, ly tham, đoạn diệt sắc, họ được giải thoát, không
có chấp thủ. Họ được khéo giải thoát. Những ai được
khéo giải thoát, họ được vẹn toàn. Những ai vẹn toàn,
thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
14)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thọ? Này các Tỷ-kheo, có
sáu thọ thân này: Thọ do nhãn xúc sanh... thọ do ý xúc sanh.
Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thọ. Do xúc tập khởi nên thọ
tập khởi. Do xúc đoạn diệt nên thọ đoạn diệt. Ðây là
con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thọ đoạn diệt,
tức là chánh tri kiến... chánh định.
15)
Do duyên thọ khởi lên lạc hỷ gì, đây gọi là vị ngọt
của thọ. Cảm thọ vô thường, khổ, vô ngã, đây gọi là
nguy hiểm của thọ. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận
dục tham đối với thọ, đây gọi là xuất ly của thọ.
16)
Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri
thọ là như vậy, thắng tri thọ tập khởi là như vậy, thắng
tri thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa
đến thọ đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của
thọ là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thọ là như
vậy, thắng tri sự xuất ly của thọ là như vậy; họ hướng
về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối với thọ.
Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những ai khéo
thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp và Luật
này.
17)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thọ
là như vậy... thời không thể nêu rõ sự luân chuyển của
họ.
18-20)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là tưởng? Này các Tỷ-kheo,
có sáu tưởng thân này: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng,
vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Này các Tỷ-kheo, đây
gọi là tưởng. Do xúc tập khởi nên tưởng tập khởi. Do
xúc đoạn diệt nên tưởng đoạn diệt. Ðây là con đường
Thánh đạo Tám ngành đưa đến tưởng đoạn diệt... thời
không thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
21)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là các hành? Này các Tỷ-kheo,
có sáu tư thân: Sắc tư... pháp tư. Này các Tỷ-kheo, đây
được gọi là các hành. Do xúc tập khởi nên các hành tập
khởi. Do xúc đoạn diệt nên các hành đoạn diệt. Ðây là
con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri kiến...
chánh định.
22)
Do duyên hành khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của
hành. Các hành vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm
của hành. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham
đối với các hành, đây là xuất ly của các hành.
23-24)
Này các Tỷ-kheo, những vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng
tri các hành là như vậy, thắng tri các hành tập khởi là
như vậy, thắng tri các hành đoạn diệt là như vậy, thắng
tri con đường đưa đến các hành đoạn diệt là như vậy;
họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối
với các hành. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện.
Những ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong
Pháp và Luật này... Những ai được vẹn toàn, thời không
thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
25)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là thức? Này các Tỷ-kheo, có
sáu thức thân này: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt
thức, thân thức, ý thức. Này các Tỷ-kheo, đây gọi là thức.
Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn
diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo
Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt đối với thức, tức
là chánh tri kiến... chánh định.
26)
Do duyên thức khởi lên lạc hỷ gì, đây là vị ngọt của
thức. Thức vô thường, khổ, vô ngã, đây là nguy hiểm của
thức. Sự nhiếp phục dục tham, sự đoạn tận dục tham đối
với thức, đây là xuất ly của thức.
27)
Này các Tỷ-kheo, các vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri
thức là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy,
thắng tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường
đưa đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt
của thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức
là như vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy;
họ hướng về thực hiện yếm ly, ly tham, đoạn diệt đối
với thức. Những thực hiện ấy, họ khéo thực hiện. Những
ai khéo thực hiện, những vị ấy có chân đứng trong Pháp
và Luật này.
28)
Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào thắng tri thức
là như vậy, thắng tri thức tập khởi là như vậy, thắng
tri thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri con đường đưa
đến thức đoạn diệt là như vậy, thắng tri vị ngọt của
thức là như vậy, thắng tri sự nguy hiểm của thức là như
vậy, thắng tri sự xuất ly của thức là như vậy; do yếm
ly, ly tham, đoạn diệt thức, họ giải thoát, không chấp thủ.
Họ được khéo giải thoát. Những ai được khéo giải thoát,
họ được vẹn toàn. Những ai được vẹn toàn, thời không
thể nêu rõ sự luân chuyển của họ.
29)
Này các Tỷ-kheo, như vậy là vị Tỷ-kheo thiện xảo trong
bảy xứ.
30)
Và này các Tỷ-kheo, như thế nào là vị Tỷ-kheo quán sát
theo ba cách? Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát
theo giới, quán sát theo xứ, quán sát theo duyên khởi. Như
vậy, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo quán sát theo ba cách.
31)
Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo thiện xảo trong bảy xứ, quán
sát theo ba cách, được gọi là một vị toàn vẹn trong Pháp
và Luật này, đã thành tựu viên mãn, một vị tối thượng
nhân.
VI.
Chánh Ðẳng Giác. (S.iii,54)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
do yếm ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải
Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo,
này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm
ly, ly tham, đoạn diệt sắc, được gọi là bậc Giải Thoát,
không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
4)
Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
do yếm ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải
Thoát, không có chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo,
này các Tỷ-kheo, được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm
ly, ly tham, đoạn diệt thọ, được gọi là bậc Giải Thoát,
không có chấp thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
5-7)
Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
do yếm ly, ly tham, đoạn diệt tưởng... đoạn diệt các hành...
đoạn diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có
chấp thủ, Chánh Ðẳng Giác. Còn vị Tỷ-kheo, này các Tỷ-kheo,
được giải thoát nhờ trí tuệ, do yếm ly, ly tham, đoạn
diệt thức, được gọi là bậc Giải Thoát, không có chấp
thủ, giải thoát nhờ trí tuệ.
8)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, thế nào là sự sai biệt, thế nào
là sự đặc thù, thế nào là sự sai khác giữa bậc Như Lai,
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, và bậc Tỷ-kheo được giải thoát
nhờ trí tuệ?
9)
-- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn
làm căn bản, lấy Thế Tôn làm chỉ đạo, lấy Thế Tôn làm
chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, nếu được Thế Tôn
nói lên ý nghĩa của lời này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo
sẽ thọ trì!
--
Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói:
--
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các
vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
10)
Thế Tôn nói như sau:
--
Như Lai, này các Tỷ-kheo, là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
làm cho khởi lên con đường (trước kia) chưa khởi, là bậc
đem lại con đường (trước kia) chưa được đem lại, là
bậc tuyên thuyết con đường (trước kia) chưa được tuyên
thuyết, bậc tri đạo, bậc ngộ đạo, bậc thuần thục về
đạo. Còn nay, này các Tỷ-kheo, các vị đệ tử là những
vị sống theo đạo, tiếp tục thành tựu (đạo).
11)
Này các Tỷ-kheo, đây là sự sai biệt, sự đặc thù, sự
sai khác giữa Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác và bậc
Tỷ-kheo được giải thoát nhờ trí tuệ.
VII.
Năm Vị (Vô ngã tưởng) (Ðại 2,7c) (Luật tạng, Ðại
phẩm q.1, từ trang 3) (S.iii,66)
1)
Một thời Thế Tôn ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isìpatana
(Chư Tiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
2)
Ở đây Thế Tôn nói với đoàn năm vị Tỷ-kheo: "Này các
Tỷ-kheo". -- "Thưa vâng bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng
đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
3)
-- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu
sắc là ngã, thời sắc không thể đi đến bệnh hoạn và
có thể được các sắc như sau: "Mong rằng sắc của tôi là
như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải như thế
này!"
4)
Và này các Tỷ-kheo, vì sắc là vô ngã. Do vậy sắc đi đến
bệnh hoạn, và không thể có được các sắc: "Mong rằng sắc
của tôi như thế này! Mong rằng sắc của tôi chẳng phải
như thế này!"
5)
Thọ, này các Tỷ-kheo, là vô ngã. Này các Tỷ-kheo, nếu thọ
là ngã, thời thọ không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể
được thọ như sau: "Mong rằng thọ của tôi như thế này!
Mong rằng thọ của tôi chẳng phải như thế này!"
6)
Và này các Tỷ-kheo, vì thọ là vô ngã. Do vậy, thọ đi đến
bệnh hoạn, và không thể có được các thọ: "Mong rằng thọ
của tôi như thế này! Mong rằng thọ của tôi chẳng phải
như thế này!"
7)
Tưởng là vô ngã...
8)
Các hành là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu các hành là ngã,
thời các hành không thể đi đến bệnh hoạn và có thể được
các hành như sau: "Mong rằng các hành của tôi như thế này!
Mong rằng các hành của tôi chẳng phải như thế này!"
9)
Và này các Tỷ-kheo, vì các hành là vô ngã. Do vậy, các hành
đi đến bệnh hoạn, và không thể có được các hành: "Mong
rằng các hành của tôi như thế này! Mong rằng các hành của
tôi không phải như thế này!"
10)
Thức là vô ngã, này các Tỷ-kheo, nếu thức là ngã, thời
thức không thể đi đến bệnh hoạn, và có thể có được
thức như sau: "Mong rằng thức của tôi như thế này! Mong rằng
thức của tôi chẳng phải như thế này!"
11)
Và này các Tỷ-kheo, vì thức là vô ngã. Do vậy, thức đi
đến bệnh hoạn, và không có thể có được thức: "Mong rằng
thức của tôi như thế này! Mong rằng thức của tôi chẳng
phải như thế này!"
12)
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay
vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn!
--
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý
chăng khi quán cái ấy là: " Cái này là của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
13-15)
-- Thọ... Tưởng... Các hành...
16)
Thức là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý
chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là
tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
17)
-- Do vậy, này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì quá khứ, vị lai,
hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng,
xa hay gần; tất cả sắc cần phải như thật quán với chánh
trí tuệ như sau: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
18)
Phàm thọ gì...
19)
Phàm tưởng gì...
20)
Phàm các hành gì...
21)
Phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay
ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả thức
cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi".
22)
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử yếm
ly đối với sắc, yếm ly đối với thọ, yếm ly đối với
tưởng, yếm y đối với các hành, yếm ly đối với thức.
Do yếm ly, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong
sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát".
Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
23)
Thế Tôn thuyết như vậy. Nhóm năm vị Tỷ-kheo hoan hỷ, tín
thọ lời Thế Tôn dạy. Trong khi lời dạy này được nói
lên, tâm của nhóm năm vị Tỷ-kheo được giải thoát khỏi
các lậu hoặc, không có chấp thủ.
VIII.
Mahàli (Tạp 3,32, Phú-Lâu-Na, Ðại 2,20b)(Siii,68)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Vesàli, trong rừng Ðại Lâm, tại Trùng
Các đại giảng đường.
2)
Rồi Mahàli, người Licchavi, đi đến Thế Tôn, sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống
một bên, Mahàli, người Licchavi, bạch Thế Tôn:
3)
-- Puràna Kassapa (Phú-lan-na Ca-diếp), bạch Thế Tôn, thuyết
như sau: "Không nhân, không duyên là sự nhiễm ô của chúng
sanh. Không nhân, không duyên, chúng sanh bị nhiễm ô. Không
nhân, không duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh. Không nhân,
không duyên, chúng sanh được thanh tịnh". Ở đây, bạch Thế
Tôn, Thế Tôn thuyết như thế nào?
4)
-- Này Mahàli, có nhân, có duyên là sự nhiễm ô của chúng
sanh. Này Mahàli, có nhân, có duyên, chúng sanh bị nhiễm ô.
Này Mahàli, có nhân có duyên là sự thanh tịnh của chúng sanh.
Có nhân, có duyên, chúng sanh được thanh tịnh.
5)
-- Nhưng bạch Thế Tôn, do nhân gì, do duyên gì là sự nhiễm
ô của chúng sanh? Do có nhân gì, do có duyên gì chúng sanh bị
nhiễm ô?
6)
-- Này Mahàli, nếu sắc nhứt hướng khổ, rơi trên đau khổ,
nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng
sanh không tham đắm đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli,
sắc là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập
cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối với sắc.
Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên
bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là duyên cho sự
nhiễm ô chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy,
chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.
7)
Và này Mahàli, nếu thọ nhứt hướng khổ, rơi trên khổ,
nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời các
chúng sanh không tham đắm đối với thọ. Và vì rằng, này
Mahàli, thọ là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc,
không nhập cuộc với khổ, cho nên chúng sanh tham đắm đối
với thọ. Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền
phược nên bị nhiễm ô. Này Mahàli, đây là nhân, đây là
duyên cho sự nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy,
do có duyên như vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.
8-9)
Và này Mahàli, nếu tưởng nhứt hướng khổ... nếu các hành
nhứt hướng khổ...
10)
Và này Mahàli, nếu thức nhứt hướng khổ, rơi trên khổ,
nhập cuộc với khổ, không nhập cuộc với lạc, thời chúng
sanh không tham đắm đối với thức. Vì rằng, này Mahàli,
thức là lạc, rơi trên lạc, nhập cuộc với lạc, không nhập
cuộc với khổ, do vậy chúng sanh tham đắm đối với thức.
Do tham đắm nên bị triền phược, do bị triền phược nên
bị nhiễm ô. Này Mahali, đây là nhân, đây là duyên cho sự
nhiễm ô của chúng sanh. Do có nhân như vậy, do có duyên như
vậy, chúng sanh sẽ bị nhiễm ô.
11)
-- Bạch Thế Tôn, thế nào là nhân, thế nào là duyên cho sự
thanh tịnh của chúng sanh? Do có nhân như thế nào, có duyên
như thế nào, chúng sanh được thanh tịnh?
12)
-- Này Mahàli, nếu sắc là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc,
nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng
sanh không nhàm chán đối với sắc. Và vì rằng, này Mahàli,
sắc là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập
cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với sắc.
Do yếm ly nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli,
đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh.
Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được
thanh tịnh.
13)
Này Mahàli, nếu thọ là nhứt hướng lạc...
14)
Này Mahàli, nếu tưởng là nhứt hướng lạc...
15)
Này Mahàli, nếu các hành là nhứt hướng lạc...
16)
Này Mahàli, nếu thức là nhứt hướng lạc, rơi trên lạc,
nhập cuộc với lạc, không nhập cuộc với khổ, thời chúng
sanh không nhàm chán đối với thức. Và vì rằng, này Mahàli,
thức là khổ, rơi trên khổ, nhập cuộc với khổ, không nhập
cuộc với lạc, do vậy chúng sanh mới yếm ly đối với thức.
Do yếm ly nên ly tham, do ly tham nên giải thoát. Này Mahàli,
đây là nhân, đây là duyên cho sự thanh tịnh của chúng sanh.
Do có nhân như vậy, do có duyên như vậy, chúng sanh được
thanh tịnh.
IX.
Lửa Cháy (S.iii,58)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Sắc, này các Tỷ-kheo, đang bốc cháy; thọ đang bốc cháy;
tưởng đang bốc cháy; hành đang bốc cháy; thức đang bốc
cháy!
4)
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm
chán đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng...
đối với các hành... nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán
nên ly tham; do ly tham nên giải thoát. Trong sự giải thoát,
trí khởi lên: "Ta đã được giải thoát".
5)
Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa".
X.
Ngôn Lộ (S.iii,59)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ,
thi thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn,
nay không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các
Sa-môn, Bà-la-môn có trí quở trách. Thế nào là ba?
4)
Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã qua, đã đoạn diệt, đã
biến hoại; sắc ấy được xác nhận là "đã có", được
xưng danh là "đã có", được thi thiết là "đã có". Sắc ấy
không được xác nhận là "hiện có", không được xác nhận
là "sẽ có".
5)
Phàm thọ gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thọ
ấy được xác nhận là "đã có", được xưng danh là "đã
có", được thi thiết là "đã có". Thọ ấy không được xác
nhận là "hiện có", không được xác nhận là "sẽ có".
6)
Phàm tưởng gì đã qua...
7)
Phàm các hành gì đã qua...
8)
Phàm thức gì đã qua, đã đoạn diệt, đã biến hoại; thức
ấy được xác nhận là "đã có", được xưng danh là "đã
có", được thi thiết là "đã có". Thức ấy không được
xác nhận là "hiện có", không được xác nhận là "sẽ có".
9)
Phàm sắc gì chưa sanh, chưa hiện hữu; sắc ấy được xác
nhận là "sẽ có", được xưng danh là "sẽ có", được thi
thiết là "sẽ có". Sắc ấy không được xác nhận là "hiện
có", không được xác nhận là "đã có".
10)
Phàm thọ gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thọ ấy được xác
nhận là "sẽ có", được xưng danh là "sẽ có", được thi
thiết là "sẽ có". Thọ ấy không được xác nhận là "hiện
có", thọ ấy không được xác nhận là "đã có".
11)
Phàm tưởng gì...
12)
Phàm các hành gì...
13)
Phàm thức gì chưa sanh, chưa hiện hữu; thức ấy được xác
nhận là "sẽ có", được xưng danh là "sẽ có", được thi
thiết là "sẽ có". Thức ấy không được xác nhận là "hiện
có", thức ấy không được xác nhận là "đã có".
14)
Này các Tỷ-kheo, phàm sắc gì đã sanh, đã hiện hữu; sắc
ấy được xác nhận là "hiện có", được xưng danh là "hiện
có", được thi thiết là "hiện có". Sắc ấy không được
xác nhận là "đã có", không được xác nhận là "sẽ có".
15)
Phàm thọ gì đã sanh, đã hiện hữu; thọ ấy được xác
nhận là "hiện có", được xưng danh là "hiện có", được
thi thiết là "hiện có". Thọ ấy không được xác nhận là
"đã có", không được xác nhận là "sẽ có".
16)
Phàm tưởng gì...
17)
Phàm các hành gì...
18)
Phàm thức gì đã sanh, đã hiện hữu ; thức ấy được xác
nhận là "hiện có", được xưng danh là "hiện có", được
thi thiết là "hiện có". Thức ấy không được xác nhận là
"đã có", thức ấy không được xác nhận là "sẽ có".
19)
Này các Tỷ-kheo, có ba loại này, ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi
thiết lộ, không có lẫn lộn, trước không lẫn lộn, nay
không lẫn lộn, tương lai không lẫn lộn, không bị các Sa-môn,
Bà-la-môn có trí quở trách.
20)
Tuy vậy, dân chúng ở Ukkali, những vị thuyết pháp trong thời
an cư mùa mưa, các vị vô nhân luận giả, các vị vô tác
luận giả, các vị vô hữu luận giả, những vị ấy cũng
không có nghĩ rằng ngôn lộ, danh ngôn lộ, thi thiết lộ này
không đáng quở trách, không đáng khinh miệt. Vì sao? Vì rằng,
họ sợ quở trách, công kích, phẫn nộ, chỉ trích.
II.
Phẩm A-La-Hán
I.
Chấp Trước (Tạp 1. Ðại 2,4b) (S.iii,73)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời, Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà
Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi một Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ
Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt
cho con. Sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một
mình, tịnh cư, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Ai chấp trước, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc.
Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi
Ác ma.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu, bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi
ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?
--
Ai chấp trước sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói
buộc. Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát
khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ, người ấy bị Ma trói buộc.
Ai không chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi
Ác ma. Ai chấp trước tưởng... Ai chấp trước các hành...
Ai chấp trước thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không
chấp trước, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Bạch
Thế Tôn, lời nói vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
6)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn
tắt này của Ta. Ai chấp trước sắc, này Tỷ-kheo, người
ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người ấy được
giải thoát khỏi Ác ma. Ai chấp trước thọ... Ai chấp trước
tưởng... Ai chấp trước các hành... Ai chấp trước thức,
người ấy bị Ma trói buộc. Ai không chấp trước, người
ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo, lời nói vắn
tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
7)
Rồi Tỷ-kheo ấy, sau khi hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu
hướng về Ngài và ra đi.
8)
Rồi Tỷ-kheo ấy sống một mình, tịnh cư, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu, vì mục đích gì mà các
thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình sống không
gia đình mong cầu chính là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh;
vị ấy, ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng
ngộ, chứng đạt và an trú. Vị ấy chứng tri: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn
trở lui trạng thái này nữa". Tỷ-kheo ấy trở thành một
vị A-la-hán nữa.
II.
Suy Tưởng (S.iii,74)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
Rồi một Tỷ-kheo... bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, lành thay, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt
cho con... nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Ai suy tưởng, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc.
Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác
ma.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi
ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt:
6)
-- Ai suy tưởng sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói
buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải thoát khỏi
Ác ma. Ai suy tưởng thọ... tưởng... hành... thức, người
ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được
giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt
này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như
vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Như vậy Ông hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời nói vắn
tắt này của Ta. Này Tỷ-kheo, ai suy tưởng sắc, người ấy
bị Ma trói buộc. Ai không suy tưởng, người ấy được giải
thoát khỏi Ác ma. Ai suy tưởng thọ... tưởng... các hành...
Ai suy tưởng thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không suy
tưởng, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo,
lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Vị
Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
III.
Hoan Hỷ (S.iii,75)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3).
.. Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp tóm tắt
cho con... con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Ai hoan hỷ, này Tỷ-kheo, người ấy bị Ma trói buộc. Ai
không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Như thế nào, này Tỷ-kheo, Ông hiểu một cách rộng rãi
ý nghĩa lời Ta nói một cách vắn tắt?
6)
-- Ai hoan hỷ sắc, bạch Thế Tôn, người ấy bị Ma trói buộc.
Ai không hoan hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma.
Ai hoan hỷ thọ... tưởng... các hành... Ai hoan hỷ thức, người
ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được
giải thoát khỏi Ác ma. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn tắt
này của Thế Tôn con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Như vậy Ông đã hiểu một cách rộng rãi ý nghĩa lời Ta
nói một cách vắn tắt. Ai hoan hỷ sắc, này Tỷ-kheo, người
ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan hỷ, người ấy được
giải thoát khỏi Ác ma. Ai hoan hỷ thọ... tưởng... các hành...
Ai hoan hỷ thức, người ấy bị Ma trói buộc. Ai không hoan
hỷ, người ấy được giải thoát khỏi Ác ma. Này Tỷ-kheo,
lời nói vắn tắt này của Ta cần phải hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Vị
Tỷ-kheo ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
IV.
Vô Thường (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,76)
1-3)
Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo... bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt
cho con... con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần...
4)
-- Cái gì vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông phải đoạn
trừ lòng dục.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
6)
-- Sắc là vô thường, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn
trừ lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô thường,
ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt
này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi
như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Như vậy lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa
một cách rộng rãi. Sắc là vô thường, này Tỷ-kheo, ở đây
Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ là vô thường...
Tưởng là vô thường... Các hành là vô thường... Thức là
vô thường, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo
ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
V.
Khổ (S.iii,77)
1-3)
Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo... bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt
cho con... con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Cái gì khổ, này các Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn
trừ lòng dục.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
6)
-- Sắc là khổ, bạch Thế Tôn. Ở đây, con phải đoạn trừ
lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là khổ, ở đây,
con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói vắn
tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi. Sắc là khổ, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần
phải đoạn trừ lòng dục... Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức là khổ, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo
ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
VI.
Vô Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3b) (S.iii,77)
1-3)
Nhân duyên ở Sàvatthi. Rồi một Tỷ-kheo... bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt
cho con... con sẽ sống một mình, tịnh cư, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần.
4)
-- Cái gì vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây Ông cần phải đoạn
trừ lòng dục.
--
Bạch Thế Tôn, con đã hiểu. Bạch Thiện Thệ, con đã hiểu.
5)
-- Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
6)
-- Sắc là vô ngã, bạch Thế Tôn, ở đây, con phải đoạn
trừ lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành... Thức là vô ngã,
ở đây, con phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời
nói vắn tắt này của Thế Tôn, con đã hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi. Sắc là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông
cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức là vô ngã, này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn
trừ lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông cần phải
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo
ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
VII.
Không Ðáng Thuộc Tự Ngã (Tạp 1, Ðại 2,3c) (S.iii,79)
1-3)
Nhân duyên ở Sàvatthi... Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy
bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt
cho con....
4)
-- Cái gì không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải
đoạn trừ lòng dục.
--
Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu, bạch Thiện Thệ.
5)
-- Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông đã hiểu
ý nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
6)
-- Sắc không đáng thuộc tự ngã, bạch Thế Tôn, ở đây,
con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ... Tưởng... Các hành...
Thức không đáng thuộc tự ngã, ở đây, con cần phải từ
bỏ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời dạy vắn tắt này của
Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo!
Lời nói vắn tắt này của Ta, Ông đã hiểu một cách rộng
rãi. Sắc không đáng thuộc tự ngã, này Tỷ-kheo, ở đây,
Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ.. Tưởng... Các hành...Thức
không đáng thuộc tự ngã, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ
lòng dục. Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông
cần phải hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo
ấy trở thành một vị A-la-hán nữa.
VIII.
Chỉ Trú Cho Ô Nhiễm (Tạp 1, Ðại 2,4a) (S.iii,79)
1-2)
Nhân duyên ở Sàvatthi...
3)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt
cho con....
4)
-- Cái gì làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này Tỷ-kheo,
ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
--
Con đã hiểu, bạch Thế Tôn! Con đã hiểu bạch Thiện Thệ.
5)
-- Lời Ta nói một cách vắn tắt, này Tỷ-kheo, Ông hiểu ý
nghĩa một cách rộng rãi như thế nào?
6)
-- Sắc làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, bạch Thế Tôn,
ở đây con cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ... Tưởng...
Các hành... Thức làm chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, ở đây,
con cần phải đoạn trừ lòng dục. Bạch Thế Tôn, lời nói
vắn tắt này của Thế Tôn, con hiểu ý nghĩa một cách rộng
rãi như vậy.
7)
-- Lành thay, lành thay, này Tỷ-kheo! Lành thay, này Tỷ-kheo.
Lời Ta nói một cách vắn tắt, Ông đã hiểu ý nghĩa một
cách rộng rãi. Sắc là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm, này
Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục. Thọ...
Tưởng.. Các hành... Thức là chỗ chỉ trú cho sự ô nhiễm,
này Tỷ-kheo, ở đây, Ông cần phải đoạn trừ lòng dục.
Lời nói vắn tắt này của Ta, này Tỷ-kheo, Ông cần phải
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy.
8-9)
Rồi Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn dạy... Tỷ-kheo
ấy trở thành một vị A-la-hán nữa!
IX.
Ràdha (Tạp 6, Ðại 2,37c) (S.iii,79)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2-3)
Rồi Tôn giả Ràdha đi đến Thế Tôn sau khi đến... bạch
Thế Tôn:
--
Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối
với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng
ở ngoài, không có tư tưởng: "Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã
mạn tùy miên"?
4)
-- Này Ràdha, phàm có sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại,
thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần;
tất cả sắc cần được thấy như thật với chánh trí tuệ
là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,
cái này không phải tự ngã của tôi".
5)
Phàm có thọ...
6)
Phàm có tưởng...
7)
Phàm có các hành...
8)
Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội
hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả
thức cần được thấy như thật với chánh trí tuệ là: "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi".
9)
Này Ràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có thức
này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có tư tưởng:
"Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên".
10).
.. Tôn giả Ràdha trở thành một vị A-la-hán nữa.
X.
Suràdha (S.iii,80)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2-3).
.. Rồi Tôn giả Suràdha bạch Thế Tôn:
--
Biết như thế nào, bạch Thế Tôn, thấy như thế nào đối
với thân thể có thức này, và đối với tất cả tướng
ở ngoài, không có tư tưởng: "Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã
mạn", vượt ngoài mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải
thoát?
4)
-- Này Suràdha, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại...
xa hay gần; sau khi thấy với chánh trí tuệ như thật tất
cả các sắc là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi", (vị ấy)
được giải thoát, không có chấp thủ.
5-7)
Phàm có thọ gì... có tưởng gì... có hành gì...
8)
Phàm có thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội
hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; sau khi như
thật thấy với chánh trí tuệ tất cả các thức là: "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này
không phải tự ngã của tôi", (vị ấy) được giải thoát,
không có chấp thủ.
9)
Này Suràdha, do biết vậy, do thấy vậy, đối với thân có
thức này, và đối với tất cả tướng ở ngoài, không có
tư tưởng: "Ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn", vượt ngoài
mọi phân biệt, thuần tịnh, khéo giải thoát.