TẬP II
- THIÊN NHÂN DUYÊN
[18] Chương VII
Tương Ưng
Ràhula
I.
Phẩm Thứ Nhất
I.
Mắt (S.ii,244)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Thắng
Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ràahula bạch Thế Tôn:
--
Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con để
sau khi nghe, con có thể sống một mình, viễn ly, không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần!
4)--
Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Mắt là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý
chăng nếu xem cái ấy: "Cái này là của tôi, cái này là tôi,
cái này tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
5)
-- Tai là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
6)
-- Mũi là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
7)
-- Lưỡi là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
8)
Thân là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
9)
Ý là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
--
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý
chăng, khi xem cái ấy: "Cái này là của tôi, cái này là tôi,
cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
10)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm
chán mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm
chán thân, nhàm chán ý.
11)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị
ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những gì nên
làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".
II.
Sắc (S.ii,245)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6)
Thanh.... Hương... Vị... Xúc...
7)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Pháp là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm
chán sắc... nhàm chán pháp.
9)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát...
"...không còn trở lui trạng thái này nữa".
III.
Thức (S.ii,246)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn thức là thường hay
vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
3-6)
-- Nhĩ thức... Tỷ thức...Thiệt thức... Thân thức...
7)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ý thức là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
8)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm
chán nhãn thức, nhàm chán nhĩ thức, nhàm chán tỷ thức, nhàm
chán thiệt thức, nhàm chán thân thức, nhàm chán ý thức.
9)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng
thái này nữa".
IV.
Xúc (S.ii,246)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhãn xúc là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
3-7)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Nhĩ xúc... Tỷ xúc... Thiệt
xúc... Thân xúc... Ý xúc là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm
chán nhãn xúc, nhàm chán nhĩ xúc, nhàm chán tỷ xúc, nhàm chán
thiệt xúc, nhàm chán thân xúc, nhàm chán ý xúc...
9)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng
thái này nữa".
V.
Thọ (S.ii,247)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Thọ do nhãn xúc sanh là thường
hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6)
-- Thọ do nhĩ xúc sanh... Thọ do tỷ xúc sanh... Thọ do thiệt
xúc sanh... Thọ do thân xúc sanh... Thọ do ý xúc sanh là thường
hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
7-8)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm
chán thọ do nhãn xúc sanh, nhàm chán thọ do nhĩ xúc sanh, nhàm
chán thọ do tỷ xúc sanh, nhàm chán thọ do thiệt xúc sanh,
nhàm chán thọ do thân xúc sanh, nhàm chán thọ do ý xúc sanh...
Do
nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng thái
này nữa".
VI.
Tưởng (S.ii,247)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tưởng là thường hay
vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7)
-- Thanh tưởng... Hương tưởng... Vị tưởng... Xúc tưởng...
Pháp tưởng là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8-9)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm
chán sắc tưởng, nhàm chán thanh tưởng, nhàm chán hương tưởng,
nhàm chán vị tưởng, nhàm chán xúc tưởng, nhàm chán pháp
tưởng...
Do
nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng thái
này nữa".
VII.
Tư (S.ii,247)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc tư là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7)
-- Thanh tư... Hương tư... Vị tư... Xúc tư... Pháp tư là thường
hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8-9)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều, nhàm
chán sắc tư, nhàm chán thanh tư, nhàm chán hương tư, nhàm
chán vị tư, nhàm chán xúc tư, nhàm chán pháp tư.
Do
nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng thái
này nữa".
VIII.
Ái (S.ii,248)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc ái là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-7)
-- Thanh ái... Hương ái... Vị ái... Xúc ái... Pháp ái là thường
hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8-9)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm
chán sắc ái, nhàm chán thanh ái, nhàm chán hương ái, nhàm
chán vị ái, nhàm chán xúc ái, nhàm chán pháp ái.
Do
nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng thái
này nữa".
IX.
Giới (S.ii,248)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Ðịa giới là thường hay
vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
3-7)
-- Thủy giới... Hỏa giới... Phong giới... Thức giới là thường
hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
8-9)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm
chán địa giới, nhàm chán thủy giới, nhàm chán hỏa giới,
nhàm chán phong giới, nhàm chán không giới, nhàm chán thức
giới.
Do
nhàm chán, vị ấy ly tham... "...không còn trở lui trạng thái
này nữa".
X.
Uẩn (S.ii,249)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
3-6)
-- Thọ... Tưởng... Hành... Thức là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn. ..., ...
7)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều nhàm
chán sắc, nhàm chán thọ, nhàm chán tưởng, nhàm chán hành,
nhàm chán thức.
8)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị
ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều
gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".
II.
Phẩm Thứ Hai
I.
Mắt (S.ii,249)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà
Lâm), vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi Tôn giả Ràhula, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
Thế
Tôn nói với Tôn giả Ràhula đang ngồi xuống một bên:
3)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào? Con mắt là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
4)
-- Cái gì vô thường, là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
5)
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp
lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: "Cái này là của tôi, cái
này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
6-17)
-- Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...
18)
-- Ý là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
19)
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
20)
-- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp
lý chăng khi nhìn cái ấy như sau: "Cái này là của tôi, cái
này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
21)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử có trí nhàm chán
mắt, nhàm chán tai, nhàm chán mũi, nhàm chán lưỡi, nhàm chán
thân, nhàm chán ý.
22)
Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi lên: "Ta đã giải thoát". Vị
ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành; những điều
gì nên làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa".
II.
Sắc (S.ii,250)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
-- Này Ràhula, Ông nghĩ thế nào?
(2)
Sắc:
--
Sắc là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
(6-20)
-- Thanh... Hương... Vị... Xúc... Pháp...
III.
Thức (S.ii,251)
(3-20)
-- Nhãn thức... Nhĩ thức... Tỷ thức... Thiệt thức... Thân
thức... Ý thức...
IV.
Xúc (S.ii,251)
(3-20)
-- Nhãn xúc... Nhĩ xúc... Tỷ xúc... Thiệt xúc... Thân xúc...
Ý xúc...
V.
Thọ (S.ii,251)
(3-20)
-- Thọ do nhãn xúc sanh... Thọ do nhĩ xúc sanh... Thọ do tỷ
xúc sanh... Thọ do thiệt xúc sanh... Thọ do thân xúc sanh...
Thọ do ý xúc sanh...
VI.
Tưởng (S.ii,251)
(3-20)
-- Sắc tưởng... Thanh tưởng... Hương tưởng... Vị tưởng...
Xúc tưởng... Pháp tưởng...
VII.
Tư (S.ii,251)
(3-20)
-- Sắc tư... Thanh tư... Hương tư... Vị tư... Xúc tư... Pháp
tư...
VIII.
Ái (S.ii,251)
(3-20)
-- Sắc ái... Thanh ái... Hương ái... Vị ái... Xúc ái... Pháp
ái...
IX.
Giới (S.ii,251)
(3-20)
-- Ðịa giới... Thủy giới... Hỏa giới... Phong giới... Không
giới... Thức giới...
X.
Uẩn (S.ii,252)
(3-17)
-- Sắc... Thọ... Tưởng... Hành... Thức là thường hay vô
thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn...
(21-22)
-- Thấy vậy, này Ràhula, bậc Thánh đệ tử nghe nhiều...
"...không còn trở lui trạng thái này nữa".
XI.
Tùy Miên (Tạp, Ðại 2, 50c, Tạp, Ðại 2, 118c, S.22,91 Ràhula.
Tạp, Ðại 2,55a) (S.ii,252)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
3)
-- Bạch Thế Tôn, do biết thế nào, do thấy thế nào, trong
thân có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, không
có ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn tùy miên?
4)
-- Này Ràhula, phàm sắc nào quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc
nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc
xa hay gần, vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với
chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi". Phàm thọ
nào... Phàm tưởng nào... Phàm hành nào... Phàm thức nào quá
khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay
tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần, vị ấy thấy
như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ là : "Cái
này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,cái này
không phải tự ngã của tôi".
5)
Này Ràhula, do biết như vậy, do thấy như vậy, trong thân có
thức này với tất cả tướng ở ngoài, không có ngã kiến,
không có ngã sở kiến, không có mạn tùy miên.
XII.
Viễn Ly (Tạp, Ðại 2, 50c. S.23,92 Ràhula) (Tạp, Ðại 2,b)
(Tạp, Ðại 2, 119a). (S.ii,253)
1)
... Tại Sàvatthi.
2)
Rồi Tôn giả Ràhula đi đến Thế Tôn; sau khi đi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi
xuống một bên, Tôn giả Ràhula bạch Thế Tôn:
3)
-- Bạch Thế Tôn, do biết như thế nào, thấy như thế nào,
trong thân thể có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài,
tâm đã viễn ly được ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn,
siêu việt mọi ngã mạn, tịch tịnh, giải thoát?
4)
-- Này Ràhula, phàm sắc gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc
nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc
xa hay gần; vị ấy thấy như thật tất cả các sắc với
chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không
phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".
Do
thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được
giải thoát, không có chấp thủ.
5)
Này Ràhula, phàm thọ gì... phàm tưởng gì... phàm hành gì...
phàm thức gì quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại,
hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; vị
ấy thấy như thật tất cả các thức với chánh trí tuệ
là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi,
cái này không phải tự ngã của tôi".
Do
thấy như thật với chánh trí tuệ như vậy, vị ấy được
giải thoát, không có chấp thủ.
6)
Này Ràhula, do biết như vậy, thấy như vậy, trong thân thể
có thức này và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm đã viễn
ly ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt khỏi các ngã
mạn, được tịch tịnh, giải thoát.
