TẬP II
- THIÊN NHÂN DUYÊN
[12] Chương I
Tương Ưng
Nhân Duyên
VII.
Ðại Phẩm Thứ Bảy
I.
Hạng Người Ít Nghe (Tạp 12.7 Vô Văn, Ðại 2, 81c)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán,
viễn ly, giải thoát thân do bốn đại tạo thành này.
3)
Vì cớ sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy được cái thân
do bốn đại tạo thành này được tăng, được giảm, được
thủ, được xả.
Do
vậy, ở đây kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn
ly, giải thoát.
4)
Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây,
kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không
đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
5)
Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: "Cái này là của
tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi".
Do
vậy, ở đây, kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể
nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ để
có thể giải thoát.
6)
Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi
đến với thân do bốn đại tạo thành này xem như là tự
ngã, hơn là đối với tâm.
7)
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được
thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững
ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững
mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi
năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm,
đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn
cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo,
cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
8)
Này các Tỷ-kheo, ví như một con khỉ trong khi đi lại trong
rừng núi, nắm lấy một nhành cây, bỏ nhành cây ấy xuống,
nó nắm giữ một nhành khác. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, cái
gọi là tâm, là ý, là thức này cả đêm và ngày, khởi lên
là khác, diệt đi là khác.
9)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn
chánh tư duy định lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái
kia có mặt. Do cái này sanh, cái kia sanh. Do cái này không có
mặt, cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt".
Ví như do duyên vô minh, các hành sanh khởi. Do duyên hành, thức
sanh khởi... Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.
10)
Do đoạn diệt, ly tham vô minh một cách hoàn toàn nên hành
diệt. Do hành diệt nên thức diệt... (như trên)... Như vậy
là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
11)
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, nhàm
chán đối với sắc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối
với tưởng, nhàm chán đối với các hành, nhàm chán đối
với thức. Do nhàm chán nên viễn ly; do viễn ly nên giải thoát.
Trong sự giải thoát, trí khởi lên biết được: "Ta giải
thoát", vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành,
những gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này
nữa".
II.
Hạng Người Ít Nghe (Tạp 12,8 Vô Văn, Ðại 2, 82a) (S.ii,95)
1)
... Trú ở Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu có thể nhàm chán,
có thể viễn ly, có thể giải thoát đối với cái thân do
bốn đại tạo thành này.
3)
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, vì họ thấy thân do bốn đại tạo
thành này được tăng, được giảm, được thủ, được xả.
Do vậy, ở đây, kể vô văn phàm phu có thể nhàm chán, viễn
ly, giải thoát.
4)
Và này các Tỷ-kheo, cái gọi là tâm, là ý, là thức, ở đây,
kẻ vô văn phàm phu không đủ để có thể nhàm chán, không
đủ để có thể viễn ly, không đủ để có thể giải thoát.
5)
Vì sao? Ðã lâu ngày, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu
đắm trước, xem là của tôi, chấp thủ: "Cái này là của
tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi". Do vậy,
ở đây, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không đủ để
có thể nhàm chán, không đủ để có thể viễn ly, không đủ
để có thể giải thoát.
6)
Này các Tỷ-kheo, thật tốt hơn cho kẻ vô văn phàm phu đi
đến với thân do bốn đại tạo thành này, xem như là tự
ngã, hơn là đối với tâm.
7)
Vì sao? này các Tỷ-kheo, thân do bốn đại tạo thành này được
thấy đứng vững một năm, đứng vững hai năm, đứng vững
ba năm, đứng vững bốn năm, đứng vững năm năm, đứng vững
mười năm, đứng vững hai mươi năm, đứng vững ba mươi
năm, đứng vững bốn mươi năm, đứng vững năm mươi năm,
đứng vững một trăm năm, đứng vững nhiều hơn nữa. Còn
cái gọi là tâm này, là ý này, là thức này, này các Tỷ-kheo,
cả đêm và ngày, khởi lên là khác, diệt đi là khác.
8)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử khéo chơn
chánh tư duy lý duyên khởi: "Do cái này có mặt, cái kia có
mặt. Do cái này sanh cái kia sanh. Do cái này không có mặt,
cái kia không có mặt. Do cái này diệt, cái kia diệt".
9)
Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc thọ,
nên lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác lạc
thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên xúc
đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy được
chấm dứt.
10)
Này các Tỷ-kheo do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ,
nên khổ thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ
thọ ấy diệt, nên khổ thọ được khởi lên do duyên xúc
đưa đến khổ thọ ấy diệt, khổ thọ ấy chấm dứt.
11)
Này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ
bất lạc thọ, nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do xúc
đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên
bất khổ bất lạc thọ được khởi lên do duyên xúc đưa
đến cảm giác bất khổ bất lạc ấy diệt, bất khổ bất
lạc thọ ấy chấm dứt.
12)
Ví như, này các Tỷ-kheo, do hai khúc cây cọ xát hòa hợp nên
sức nóng được sanh, lửa được khởi lên. Do hai khúc cây
ấy xa lìa tách biệt, nên sức nóng ấy đoạn diệt, sức
nóng ấy chấm dứt.
13)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, do duyên xúc đưa đến cảm giác
lạc thọ nên lạc thọ sanh khởi. Do xúc đưa đến cảm giác
lạc thọ ấy diệt, nên lạc thọ được khởi lên do duyên
xúc đưa đến cảm giác lạc thọ ấy diệt, lạc thọ ấy
chấm dứt.
14)
Do duyên xúc đưa đến cảm giác khổ thọ...
15)
Do duyên xúc đưa đến cảm giác bất khổ bất lạc thọ,
nên bất khổ bất lạc thọ sanh khởi. Do duyên xúc đưa đến
cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, nên bất khổ
bất lạc thọ ấy được khởi lên do duyên xúc đưa đến
cảm giác bất khổ bất lạc thọ ấy diệt, bất khổ bất
lạc thọ ấy chấm dứt.
16)
Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm
chán đối với xúc, nhàm chán đối với thọ, nhàm chán đối
với tưởng, nhàm chán đối với thức. Do nhàm chán nên viễn
ly; do viễn ly nên giải thoát. Trong sự giải thoát trí khởi
lên, biết rằng: "Ta đã giải thoát", vị ấy biết rõ : "Sanh
đã tận, Phạm hạnh đã thành, những gì nên làm đã làm,
không còn trở lại trạng thái này nữa".
III.
Thịt Ðứa Con (Tạp 15.11 Tử Nhục, Ðại 2, 102b) (S.ii,97)
1)
...Ở Sàvatthi.
2)
...Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự
tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình
hay chúng sanh.
3)
Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai
là xúc; thứ ba là tư niệm; thứ tư là thức.
Này
các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại,
hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài
chúng sanh.
4)
Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế
nào?
5)
Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương
thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con
khả ái, thương mến.
6)
Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên
con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao
mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được
họ vượt qua.
7)
Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ
lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận;
còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng
ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành
thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng
hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng đều bị
chết hại".
8)
Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương
ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt
qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập
ngực (than khóc): "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở
đâu?"
9)
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có
phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ
ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?
--
Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.
10)
-- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua
vùng hoang vu?
--
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
11)
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải
nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được
hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng
được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng
dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết
sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải
sanh lại đời này.
12)
Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế
nào?
13)
Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó
đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường
cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống
ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh
vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư
không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo,
con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật
trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói
xúc thực cần phải được nhận xét.
14)
Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba
cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu
biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần
phải làm thêm nữa.
15)
Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như
thế nào?
16)
Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân
người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có
khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết,
muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến,
nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố
than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn
lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa (hố
than hừng ấy).
17)
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu
ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến
chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các
Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.
18)
Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời
ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói
rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.
19)
Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế
nào?
20)
Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm,
một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: "Thưa Ðại
vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội.
Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn". Vị vua nói
như sau về người ấy: "Các Ông hãy đi và đánh người này
với một trăm hèo vào buổi sáng". Và họ đánh người ấy
với một trăm hèo vào buổi sáng.
21)
Rồi vị vua vào buổi trưa nói: "Này các Ông, người ấy như
thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống".
Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi
và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa". Và họ
đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.
22)
Rồi vị vua vào buổi chiều nói: "Này các Ông, người ấy
như thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống".
Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi
và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều".
23)
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày
bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ
khổ ưu không?
--
Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có
cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!
24)
-- Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải
nhận xét.
25)
Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh
sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta
nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.
IV.
Có Tham (Tạp 15.12-4. Ðại 2,102c) (S.ii,101)
1)
...Trú ở Sàvatthi.
2)
-- Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn đưa đến sự tồn
tại hay sự chấp thủ tái sanh của các loài hữu tình hay
các loài chúng sanh.
3)
Thế nào là bốn? Ðoàn thực thô hoặc tế, xúc thực là thứ
hai, tư niệm là thứ ba, thức thực là thứ tư.
Này
các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại
hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài
chúng sanh.
4)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có tham, có hỷ,
có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào
thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh.
Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng.
Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái
sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương
lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có
sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có
khổ, có não.
5)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực... (như trên)...
6)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực...
7)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ,
có ái, thời có thức được an trú, tăng trưởng. Chỗ nào
có thức được an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc
sanh. Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng.
Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy hữu được tái
sanh trong tương lai. Chỗ nào hữu được tái sanh trong tương
lai, chỗ ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có
sanh, già chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có
khổ, có não.
8)
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người thợ nhuộm hay một người
thợ vẽ. Nếu có thuốc nhuộm hay sơn màu nghệ, màu xanh,
hay màu đỏ, có một tấm bảng khéo đánh bóng, một bức
tường hay tấm vải, có thể phác họa hình người đàn bà
hay người đàn ông có đầy đủ chân tay.
9)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực, có
tham, có hỷ, có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ
nào có thức an trú, tăng trưởng chỗ ấy có danh sắc sanh.
Chỗ nào có danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng.
Chỗ nào có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh
trong tương lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ
ấy có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già
chết trong tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có
não.
10)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực...
11)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với niệm thực...
12)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, có tham, có hỷ,
có ái, thời có thức an trú, tăng trưởng. Chỗ nào có thức
an trú, tăng trưởng, chỗ ấy có danh sắc sanh. Chỗ nào có
danh sắc sanh, chỗ ấy có các hành tăng trưởng. Chỗ nào
có các hành tăng trưởng, chỗ ấy có hữu tái sanh trong tương
lai. Chỗ nào có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy có sanh,
già, chết trong tương lai. Chỗ nào có sanh, già chết trong
tương lai, Ta nói chỗ ấy có sầu, có khổ, có não.
13)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không có tham,
không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng
trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ
ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh,
chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có
các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong
tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ
ấy không có sanh, già, chết trong tương lai. Chỗ nào không
có sanh, già, chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không
có sầu, không có khổ, không có não.
14)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực...
15)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực ...
16)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham,
không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú, tăng
trưởng. Chỗ nào không có thức an trú, tăng trưởng, chỗ
ấy không có danh sắc sanh. Chỗ nào không có danh sắc sanh,
chỗ ấy không có các hành tăng trưởng. Chỗ nào không có
các hành tăng trưởng, chỗ ấy không có hữu tái sanh trong
tương lai. Chỗ nào không có hữu tái sanh trong tương lai, chỗ
ấy không có sanh, già chết trong tương lai. Chỗ nào không
có sanh, già chết trong tương lai, Ta nói rằng chỗ ấy không
có sầu, không có khổ, không có não.
17)
Ví như, này các Tỷ-kheo, một ngôi nhà có mái hay một dãy
hành lang có mái, có cửa sổ phía Bắc, phía Nam, hay phía Ðông.
Khi mặt trời mọc lên, ánh sáng ngang qua cửa sổ chiếu vào,
thời chiếu vào chỗ nào?
--
Bạch Thế Tôn, chiếu vào tường phía Tây.
18)
-- Này các Tỷ-kheo, nếu không có tường phía Tây, thời chiếu
vào chỗ nào?
--
Bạch Thế Tôn, chiếu trên đất.
19)
-- Này các Tỷ-kheo, nếu không có đất, thời chiếu vào chỗ
nào?
--
Bạch Thế Tôn, chiếu trên nước.
20)
-- Này các Tỷ-kheo, nếu không có nước, thời chiếu vào chỗ
nào?
--
Bạch Thế Tôn, không có chiếu ở đâu cả.
21)
-- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, nếu đối với đoàn thực không
có tham, không có hỷ, không có ái...
22)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với xúc thực...
23)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với tư niệm thực...
24)
Này các Tỷ-kheo, nếu đối với thức thực, không có tham,
không có hỷ, không có ái, thời không có thức an trú. Chỗ
nào không có thức an trú, chỗ ấy không có danh sắc sanh.
Chỗ nào không có danh sắc sanh, chỗ ấy không có các hành
tăng trưởng. Chỗ nào không có các hành tăng trưởng, chỗ
ấy không có hữu tái sanh trong tương lai. Chỗ nào không có
hữu tái sanh trong tương lai, chỗ ấy không có sanh, già chết
trong tương lai. Chỗ nào không có sanh, già chết trong tương
lai, Ta nói rằng chỗ ấy không có sầu, không có khổ, không
có não.
V.
Thành Ấp (Tạp 12.5, Ðại 2,80b) (Tăng 384, Ðại 2) (S.ii,104)
1)
...Tại Sàvatthi.
2)
-- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, chưa
chứng Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau:
"Thật sự thế giới này bị hãm trong khổ não, bị sanh, bị
già, bị chết, bị đoạn diệt, và bị tái sanh; và từ nơi
đau khổ này, không biết xuất ly khỏi già và chết; từ nơi
đau khổ này, không biết khi nào được biết đến xuất ly
khỏi già và chết".
3)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì có
mặt, già chết hiện hữu? Do cái gì, già chết sanh khởi?"
4)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh có mặt nên già chết hiện
hữu. Do duyên sanh, nên già chết sanh khởi".
5)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì có
mặt, hữu hiện hữu? Thủ hiện hữu ? Ái hiện hữu ? thọ
Hiện hữu? Xúc hiện hữu? Sáu xứ hiện hữu? Danh sắc hiện
hữu? Do duyên cái gì, danh sắc sanh khởi?"
6)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau: "Do thức có mặt nên danh sắc hiện
hữu. Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi".
7)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì có
mặt, thức hiện hữu. Do duyên cái gì, thức sanh khởi?"
8)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau : "Do danh sắc có mặt nên thức
hiện hữu. Do duyên danh sắc nên thức sanh khởi".
9)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta suy nghĩ như sau: "Thức này trở lui,
không đi xa hơn danh sắc. Xa đến như vậy, chúng ta bị sanh,
bị già, bị chết, bị đoạn diệt, bị tái sanh, nghĩa là
do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh sắc
sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên sáu
xứ, xúc sanh khởi..". Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập
khởi.
10)
"Tập khởi, tập khởi". Này các Tỷ-kheo, đối với các pháp
từ trước chưa từng được nghe, nhãn khởi lên, trí khởi
lên, tuệ khởi lên, minh khởi lên, quang khởi lên.
11)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì không
có mặt già chết không hiện hữu? Do cái gì diệt, già chết
diệt?"
12)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau: "Do sanh không có mặt, nên già chết
không hiện hữu. Do sanh diệt, nên già chết diệt".
13)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: " Do cái gì không
có mặt, sanh không hiện hữu? Hữu không hiện hữu? Thủ không
hiện hữu? Ái không hiện hữu? Thọ không hiện hữu? Xúc
không hiện hữu? Sáu xứ không hiện hữu? Danh sắc không hiện
hữu? Do cái gì diệt, danh sắc diệt?"
14)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau: "Do thức không có mặt, danh sắc
không hiện hữu. Do thức diệt nên danh sắc diệt".
15)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Do cái gì không
có mặt, thức không hiện hữu? Do cái gì diệt, nên thức
diệt ?"
16)
Rồi này các Tỷ-kheo, sau khi Ta như lý tư duy, nhờ trí tuệ,
phát sinh minh kiến như sau: "Do danh sắc không có mặt, thức
không hiện hữu. Do danh sắc diệt nên thức diệt".
17)
Rồi này các Tỷ-kheo, Ta lại suy nghĩ như sau: "Ta đã chứng
đắc con đường này đưa đến giác ngộ, tức là do danh sắc
diệt nên thức diệt. Do thức diệt nên danh sắc diệt. Do
danh sắc diệt nên sáu xứ diệt. Do sáu xứ diệt nên xúc
diệt. ..(như trên)...Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn
diệt".
18)
"Ðoạn diệt, đoạn diệt". Này các Tỷ-kheo, đối với các
pháp từ trước Ta chưa từng được nghe, nhãn sanh, trí sanh,
tuệ sanh, minh sanh, quang sanh.
19)
Ví như, này các Tỷ-kheo, một người khi đi qua một khu rừng,
một chặng núi, thấy được một con đường cũ, một đạo
lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Người ấy đi
theo con đường ấy, trong khi đi theo con đường ấy, người
ấy thấy được một cổ thành, một cố đô do người xưa
ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ rừng cây, đầy
đủ hồ ao với thành lũy đẹp đẽ.
20)
Rồi này các Tỷ-kheo, người ấy báo cáo với vua hay vị đại
thần: "Chư tôn hãy biết, trong khi đi ngang một khu rừng, một
chặng núi, tôi thấy được một con đường cũ, một đạo
lộ cũ do những người xưa đã từng đi qua. Tôi đã đi theo
con đường ấy và thấy được một cổ thành, một cố đô
do người xưa ở, với đầy đủ vườn tược, đầy đủ
rừng cây, đầy đủ hồ ao, với thành lũy đẹp đẽ. Thưa
các Tôn giả, hãy xây dựng lại ngôi thành ấy".
21)
Rồi này các Tỷ-kheo, vị vua hay vị đại thần cho xây dựng
lại ngôi thành ấy. Và ngôi thành ấy, sau một thời gian lớn
lên và trở thành một thành phố phồn vinh, thịnh vượng,
đông đúc, tràn đầy người ở.
Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Ta đã thấy một con đường cũ, một
đạo lộ cũ do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi
qua.
22)
Và này các Tỷ-kheo, thế nào là con đường cũ, đạo lộ
cũ ấy do các vị Chánh Ðẳng Giác thuở xưa đã đi qua? Ðây
chính là con đường Thánh đạo tám ngành, tức là chánh tri
kiến... chánh định. Con đường ấy, này các Tỷ-kheo, là
con đường cũ, đạo lộ cũ do các bậc Chánh Ðẳng Giác thuở
xưa đã đi qua. Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường
ấy, Ta thấy rõ già chết; Ta thấy rõ già, chết tập khởi;
Ta thấy rõ già chết đoạn diệt; Ta thấy rõ con đường đưa
đến già chết đoạn diệt.
23-31)
Ta đã đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy; Ta thấy
rõ sanh... Ta thấy rõ hữu... Ta thấy rõ thủ... Ta thấy rõ
ái... Ta thấy rõ thọ... Ta thấy rõ xúc... Ta thấy rõ sáu
xứ... Ta thấy rõ danh sắc... Ta thấy rõ thức...
32)
Ta đi theo con đường ấy. Ði theo con đường ấy, Ta thấy
rõ các hành; Ta thấy rõ các hành tập khởi; Ta thấy rõ các
hành đoạn diệt, Ta thấy rõ con đường đưa đến các hành
đoạn diệt.
33)
Cái được Ta biết rõ, Ta đã tuyên bố cho các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo-ni,
nam cư sĩ, nữ cư sĩ được biết. Này các Tỷ-kheo, tức là
Phạm hạnh này, phồn vinh, thịnh vượng, quảng đại, chúng
đa, người nhiều và được chư Thiên, loài Người khéo léo
trình bày.
VI.
Xúc Chạm, Biết Rõ (Tạp 12.9, Xúc Pháp. Ðại 2.82a) (S.ii,107)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kuru, tại thị trấn
dân chúng Kuru tên là Kammàsadhamma.
2)
Ở đây, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: -- "Này các Tỷ-kheo". --
"Bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3)
Thế Tôn nói như sau:
--
Này các Tỷ-kheo, các Ông có nắm giữ với nội xúc hay không?
4)
Ðược nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, con có nắm giữ, với nội xúc.
5)
-- Này các Tỷ-kheo, nhưng Ông nắm giữ nội xúc như thế nào?
6)
Tỷ-kheo ấy trả lời. Với câu trả lời, Tỷ-kheo ấy không
làm tâm Thế Tôn thỏa mãn.
7)
Khi được nói vậy, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời. Bạch Thiện Thệ, nay đã
đến thời Thế Tôn nói về nội xúc. Sau khi nghe, các Tỷ-kheo
sẽ thọ trì.
8)
-- Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo suy nghiệm, Ta sẽ nói.
--
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
9)
Thế Tôn nói như sau:
--
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trong khi nắm giữ nội xúc,
nắm giữ nội xúc như sau: "Sự đau khổ đa loại, đa dạng
này khởi lên ở đời với già chết; sự đau khổ này lấy
cái gì làm nhân, hay lấy cái gì làm tập khởi, lấy cái gì
làm tác sanh, lấy cái gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, già
chết hiện hữu? Cái gì không có mặt, già chết không hiện
hữu?". Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết như sau: "Sự đau
khổ đa loại, đa dạng này khởi lên ở đời với già chết.
Sự đau khổ này lấy sanh y làm nhân, lấy sanh y làm tập khởi,
lấy sanh y làm tác sanh, lấy sanh y làm hiện hữu. Do sanh y
có mặt, già chết hiện hữu. Do sanh y không có mặt, già chết
không hiện hữu". Vị ấy biết già chết. Vị ấy biết già
chết tập khởi. Vị ấy biết già chết đoạn diệt. Vị
ấy biết con đường thích ứng đưa đến già chết đoạn
diệt. Và nhờ thực hành như vậy, vị ấy trở thành một
vị tùy pháp hành.
Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã thực hành để diệt
tận khổ đau, để đoạn diệt già chết một cách hoàn toàn.
10)
Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau:
"Sanh y này lấy gì làm nhân, lấy gì làm tập khởi, lấy gì
làm tác sanh, lấy gì làm hiện hữu? Cái gì có mặt, sanh y
hiện hữu? Cái gì không có mặt, sanh y không hiện hữu?".
Vị ấy nắm giữ nội xúc, biết được như sau: "Sanh y lấy
ái làm nhân, lấy ái làm tập khởi, lấy ái làm tác sanh,
lấy ái làm hiện hữu. Do ái có mặt, sanh y hiện hữu. Do
ái không có mặt, sanh y không hiện hữu". Vị ấy biết sanh
y, biết sanh y tập khởi, biết sanh y đoạn diệt, và biết
con đường thích ứng đưa đến sanh y đoạn diệt. Do thực
hành như vậy, vị ấy được gọi là tùy pháp hành.
Này
các Tỷ-kheo, đây gọi là Tỷ-kheo đã chơn chánh thực hành
để tận diệt đau khổ và đoạn diệt sanh y một cách hoàn
toàn.
11)
Vị ấy lại nắm giữ thêm nội xúc và nắm giữ như sau:
"Nhưng ái này, khởi lên tại chỗ nào được khởi lên, an
trú tại chỗ nào được an trú?". Vị ấy nắm giữ nội xúc,
biết được như sau: "Tất cả những gì ở đời khả ái,
hấp dẫn, khởi lên; tại chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại
chỗ ấy, ái được an trú. Và cái gì ở đời khả ái, hấp
dẫn? Con mắt ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại
chỗ ấy, ái được sanh khởi; tại chỗ ấy ái được an
trú".
12)
... Lỗ tai ở đời là khả ái, hấp dẫn...
13)
... Lỗ mũi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
14)
... Lưỡi ở đời là khả ái, hấp dẫn...
15)
... Thân ở đời là khả ái, hấp dẫn...
16)
... Ý ở đời là khả ái, hấp dẫn khởi lên; tại chỗ ấy,
ái được sanh khởi; tại chỗ ấy, ái được an trú.
17)
Này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn hay Bà-la-môn,
thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn,
thấy là lạc, thấy là vô bệnh, thấy là an ổn, thấy là
tự ngã, những người ấy làm ái tăng trưởng.
18)
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y
tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người
ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng
trưởng, những người ấy không thể giải thoát sanh, già,
chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể giải
thoát khỏi đau khổ.
19)
Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn
thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn,
thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là
an ổn, những người ấy sẽ làm ái tăng trưởng.
20)
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy sẽ làm sanh
y tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người
ấy sẽ làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng
trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh,
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không có thể
giải thoát khỏi đau khổ.
21)
Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn
thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn,
thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là
an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
22)
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y
tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người
ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng
trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh,
già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ không thể
giải thoát khỏi đau khổ.
23)
Này các Tỷ-kheo, ví như một bình bằng đồng, đựng nước
uống có sắc, có hương, có vị và nước uống ấy có pha
thuốc độc. Rồi một người đi đến, bị nóng bức bách,
bị nóng áp đảo, mệt mỏi, run rẩy, khát nước và có những
người nói với người ấy như sau: "Này Bạn, bình đồng
đựng nước uống này, có sắc, có hương, có vị, và bình
nước uống ấy có pha thuốc độc. Nếu Bạn muốn, hãy uống.
Trong khi uống, Bạn sẽ được thích thú về sắc, về hương,
về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy, Bạn có thể đi đến
chết, hay đau khổ gần như chết". Người kia có thể uống
bình nước bằng đồng ấy một cách hấp tấp không suy nghĩ,
không từ bỏ. Người kia do nhân duyên ấy, có thể đi đến
chết hay đau khổ gần như chết.
24)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ, là Sa-môn
hay Bà-la-môn, phàm vật gì khả ái hấp dẫn ở đời...
25)
... Những ai trong tương lai...
26)
Này các Tỷ-kheo, những ai trong hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn,
thấy những gì ở đời khả ái, hấp dẫn là thường còn,
thấy là lạc, thấy là tự ngã, thấy là vô bệnh, thấy là
an ổn, những người ấy làm ái tăng trưởng.
27)
Những ai làm ái tăng trưởng, những người ấy làm sanh y
tăng trưởng. Những ai làm sanh y tăng trưởng, những người
ấy làm đau khổ tăng trưởng. Những ai làm đau khổ tăng
trưởng, những người ấy không thể giải thoát khỏi sanh,
già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ không thể giải
thoát khỏi đau khổ.
28)
Và này các Tỷ-kheo, những ai trong quá khứ là Sa-môn hay Bà-la-môn
thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường,
thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng
sợ hãi, những người ấy từ bỏ ái.
Những
ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những ai từ
bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những ai từ
bỏ đau khổ, những người ấy đã được giải thoát khỏi
sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ đã
giải thoát khỏi đau khổ.
29)
Và này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai là Sa-môn hay Bà-la-môn,
thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường,
thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng
sợ hãi, những người ấy sẽ từ bỏ ái.
30)
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y... Ta
nói họ có thể giải thoát khỏi đau khổ.
31)
Còn những ai, này các Tỷ-kheo, trong hiện tại là Sa-môn hay
Bà-la-môn, thấy những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô
thường, thấy là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy
là đáng sợ hãi, họ từ bỏ ái.
32)
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những
ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những
ai từ bỏ đau khổ, những người ấy sẽ giải thoát khỏi
sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói họ sẽ giải
thoát khỏi đau khổ.
33)
Ví như, này các Tỷ-kheo, một bình nước bằng đồng có sắc,
có hương, có vị, nhưng bị pha thuốc độc. Rồi có người
đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi,
run rẩy, khát nước. Có những người nói với người ấy
: "Này Bạn, bình nước bằng đồng này có sắc, có hương,
có vị, nhưng bình nước uống ấy bị pha thuốc độc. Nếu
Bạn muốn, hãy uống. Trong khi uống, Bạn sẽ thích thú về
sắc, về hương, về vị. Sau khi uống, do nhân duyên ấy Bạn
có thể đi đến chết, hay đau khổ gần như chết".
34)
Và này các Tỷ-kheo, người ấy có thể suy nghĩ như sau: "Ở
đây, ta có thể nhiếp phục khát nước này với uống rượu,
hay nhiếp phục với ăn sữa đông (sanh tô), hay nhiếp phục
với ngậm muối, hay nhiếp phục với cháo chua. Nhưng ta không
có thể uống thứ này, nó khiến ta phải bất hạnh, đau khổ
lâu dài". Người ấy sau khi suy nghĩ, không uống và từ bỏ
thứ nước uống ấy. Do nhân duyên này, người ấy không đi
đến chết, hay sự đau khổ gần như chết.
35)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, những ai trong thời quá khứ là
Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy những gì khả ái hấp dẫn ở đời
là vô thường, thấy là đau khổ, thấy là vô ngã, thấy là
bệnh, thấy là đáng sợ hãi, họ đoạn trừ ái.
36)
Những ai đoạn trừ ái, những người ấy đoạn trừ sanh
y. Những ai đoạn trừ sanh y, những người ấy đoạn trừ
đau khổ. Những ai đoạn trừ đau khổ, những người ấy
được giải thoát khỏi sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu,
não. Ta nói họ được giải thoát khỏi đau khổ.
37-38)
Này các Tỷ-kheo, những ai trong tương lai...
39)
Những ai trong thời hiện tại là Sa-môn hay Bà-la-môn, thấy
những gì khả ái, hấp dẫn ở đời là vô thường, thấy
là khổ, thấy là vô ngã, thấy là bệnh, thấy là đáng sợ
hãi, họ từ bỏ ái.
40)
Những ai từ bỏ ái, những người ấy từ bỏ sanh y. Những
ai từ bỏ sanh y, những người ấy từ bỏ đau khổ. Những
ai từ bỏ đau khổ, những người ấy được giải thoát khỏi
sanh, già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não. Ta nói rằng họ được
giải thoát khỏi đau khổ.
VII.Bó
Lau (Tạp 12.6 Lô, Ðại 2,81a) (S.ii,112)
1)
Một thời, Tôn giả Sàriputta và Tôn giả Mahàkotthita trú ở
Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (chư Tiên đọa xứ) ở
Migàdàya (rừng nai).
2)
Rồi Tôn giả Mahàkotthita, vào buổi chiều từ chỗ Thiền
tịnh độc cư đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta; sau
khi đến, nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón
hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu, bèn ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Mahàkotthita nói với Tôn giả
Sàriputta:
--
Này Hiền giả Sàriputta, già chết do tự mình tạo ra, già
chết do người khác tạo ra, già chết do tự mình và do người
khác tạo ra, hay già chết không do tự mình tạo ra, không do
người khác tạo ra, do tự nhiên sanh?
4)
-- Này Hiền giả Kotthita, già chết không do tự mình tạo ra,
già chết không do người khác tạo ra, già chết không do tự
mình tạo ra và người khác tạo ra, già chết cũng không phải
không do tự mình tạo ra, không do người khác tạo ra, không
do tự nhiên sanh. Già chết do duyên sanh.
5)
-- Này Hiền giả Sàriputta, có phải sanh do tự mình làm ra,
sanh do người khác làm ra, sanh do tự mình làm ra và do người
khác làm ra, hay sanh không do tự mình làm ra, không do người
khác làm ra, do tự nhiên sanh?
6)
-- Này Hiền giả Kotthita, sanh không do tự mình làm ra, sanh
không do người khác làm ra, sanh không do tự mình làm ra và
người khác làm ra, sanh cũng không phải không do tự mình làm
ra, không do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Sanh
do duyên hữu.
7-18)
-- Này Hiền giả Sàriputta, hữu có phải do tự mình làm ra...
thủ có phải do tự mình làm ra... ái có phải do tự mình
làm ra... thọ có phải do tự mình làm ra... xúc có phải do
tự mình làm ra... sáu xứ có phải do tự mình làm ra...
19)
... Danh sắc có phải do tự mình làm ra, danh sắc có phải
do người khác làm ra, danh sắc có phải do tự mình làm ra
và do người khác làm ra, hay danh sắc có phải không do tự
mình làm ra, không do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
20)
-- Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không phải do tự mình làm
ra, danh sắc không phải do người khác làm ra, danh sắc không
phải do tự mình làm ra và do người khác làm ra, hay danh sắc
cũng không phải không do tự mình làm ra, không do người khác
làm ra, không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức.
21)
-- Này Hiền giả Sàriputta, có phải thức do tự mình làm ra,
thức do người khác làm ra, thức do tự mình làm ra và do người
khác làm ra, hay có phải thức không do tự mình làm ra, không
do người khác làm ra, do tự nhiên sanh?
22)
-- Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra, thức
không do người khác làm ra, thức không do tự mình làm ra và
không do người khác làm ra, hay thức cũng không phải không
do tự mình làm ra, không do người khác làm ra, không do tự
nhiên sanh. Thức do duyên danh sắc.
23)
-- Nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như
sau: "Này Hiền giả Kotthita, danh sắc không do tự mình làm
ra, danh sắc không do người khác làm ra, danh sắc không do tự
mình làm ra và không do người khác làm ra, danh sắc cũng không
phải không do tự mình làm ra, không do người khác làm ra,
không do tự nhiên sanh. Danh sắc do duyên thức".
24)
Và nay chúng tôi hiểu lời nói của Hiền giả Sàriputta như
sau: "Này Hiền giả Kotthita, thức không do tự mình làm ra,
không do người khác làm ra, không do tự mình làm ra và người
khác làm ra, cũng không phải không do tự mình làm ra, không
do người khác làm ra, không do tự nhiên sanh. Thức do duyên
danh sắc".
25)
Này Hiền giả Sàriputta, cần phải hiểu như thế nào ý nghĩa
lời nói này?
--
Vậy này Hiền giả, tôi sẽ nêu một ví dụ. Nhờ có ví dụ,
người có trí hiểu được ý nghĩa lời nói.
26)
Ví như hai bó lau dựa vào nhau mà đứng. Cũng vậy, này Hiền
giả, do duyên danh sắc, thức sanh khởi. Do duyên thức, danh
sắc sanh khởi. Do duyên danh sắc, sáu xứ sanh khởi. Do duyên
sáu xứ, xúc sanh khởi... (như trên)... Như vậy là toàn bộ
khổ uẩn này tập khởi. Này Hiền giả, nếu một bó lau được
kéo qua (một bên), bó lau kia liền rơi xuống. Nếu bó lau kia
được kéo qua (một bên), bó lau này được rơi xuống. Cũng
vậy, này Hiền giả, do danh sắc diệt nên thức diệt. Do thức
diệt nên danh sắc diệt. Do danh sắc diệt nên sáu xứ diệt.
Do sáu xứ diệt nên xúc diệt... (như trên)... như vậy là
toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt.
27)
-- Thật vi diệu thay, Hiền giả Sàriputta! Thật hy hữu thay,
Hiền giả Sàriputta! Lời nói khéo nói này của Hiền giả
Sàriputta và lời nói với ba mươi sáu sự này của Hiền giả
Sàriputta, chúng tôi xin tùy hỷ.
28)
-- Này Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo thuyết pháp để nhàm
chán, ly tham, đoạn diệt già chết, thời đủ để được
gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Này Hiền giả, nếu một
Tỷ-kheo thực hành để nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, già
chết, thời đủ để được gọi là pháp tùy pháp hành. Này
Hiền giả, nếu một Tỷ-kheo do nhàm chán, ly tham, đoạn diệt,
vô minh được giải thoát, không có chấp thủ, thời đủ
để được gọi vị Tỷ-kheo đã đạt được hiện tại Niết-bàn.
VIII.
Kosambi (Tạp 14.9, Miệt-sư-la. Ðại 2,98c) (S.ii,115)
1)
Một thời Tôn giả Musìla, Tôn giả Sàvittha, Tôn giả Nàrada,
Tôn giả Ananda trú ở Kosambi, vườn Ghosità.
I
2)
Rồi Tôn giả Sàvittha nói với Tôn giả Musìla:
--
Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng (àkàraparivitakkà),
ngoài thẩm định và chấp nhận quan điểm (ditthinijjhànakhanti),
Tôn giả Musìla tự mình có trí biết được: "Do duyên sanh,
già chết sanh khởi".
3)
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự hành tướng, ngoài thẩm định
và chấp nhận quan điểm, tôi có biết được, tôi có thấy
được: "Do duyên sanh, già chết sanh khởi".
4)
-- Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có
trí biết được: "Do duyên hữu, nên sanh sinh khởi... (như
trên)...
5)
... "Do duyên thủ nên hữu sanh khởi".
6)
... "Do duyên ái nên thủ sanh khởi".
7)
... "Do duyên thọ nên ái sanh khởi".
8)
... "Do duyên xúc nên thọ sanh khởi".
9)
... "Do duyên sáu xứ nên xúc sanh khởi".
10)
... "Do duyên danh sắc nên sáu xứ sanh khởi".
11)
... "Do duyên thức nên danh sắc sanh khởi".
12)
... "Do duyên hành nên thức sanh khởi".
13)
... "Do duyên vô minh nên hành sanh khởi".
14)
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, tôi biết được, tôi thấy
được: "Do duyên vô minh, các hành sanh khởi".
15)
-- Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài sự
thẩm định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự
mình có trí biết như sau: "Do sanh diệt, nên già chết diệt".
16)
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy
như sau: "Do sanh diệt, nên già chết diệt".
17)
-- Này Hiền giả Musàa, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có
trí biết như sau: "Do hữu diệt, nên sanh diệt".
18-24)...
"Do thủ diệt, nên hữu diệt... Do ái diệt, nên thủ diệt...
Do thọ diệt, nên ái diệt... Do xúc diệt nên thọ diệt...
Do sáu xứ diệt, nên xúc diệt... Do danh sắc diệt, nên sáu
xứ diệt... Do thức diệt, nên danh sắc diệt... Do hành diệt,
nên thức diệt... Do vô minh diệt, nên hành diệt".
25)
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy
như sau: "Do vô minh diệt, nên hành diệt"
26)
-- Này Hiền giả Musìla, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, Tôn giả Musìla tự mình có
trí biết như sau: " Do hữu diệt là Niết-bàn".
27)
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin, ngoài ưa thích, ngoài
truyền thuyết, ngoài thẩm lự, các điều kiện, ngoài thẩm
định và chấp nhận quan điểm, tôi biết như sau, tôi thấy
như sau: "Do hữu diệt là Niết-bàn".
28)
-- Như vậy, Tôn giả Musìla là bậc A-la-hán đã đoạn tận
các lậu hoặc?.
29)
Khi nghe nói vậy, Tôn giả Musìla giữ im lặng.
II
30)
Rồi Tôn giả Nàrada nói với Tôn giả Sàvittha:
--
Này Hiền giả Sàvittha, lành thay nếu tôi được hỏi câu
này. Hãy hỏi tôi câu hỏi này, và tôi sẽ trả lời cho Hiền
giả câu hỏi này.
31)
-- Tôn giả Nàrada hãy lấy câu hỏi này. Tôi sẽ hỏi Tôn
giả Nàrada câu hỏi này. Và Tôn giả Nàrada hãy trả lời
cho tôi câu hỏi này.
32-57)...
-- Này Hiền giả Sàvittha, ngoài lòng tin... tôi biết như sau,
tôi thấy như sau: "Do hữu diệt là Niết-bàn".
58)
-- Như vậy, Tôn giả Nàrada là bậc A-la-hán, đã đoạn tận
các lậu hoặc?
59)
-- Này Hiền giả, "Do hữu diệt là Niết-bàn", tôi khéo thấy
như chơn nhờ chánh trí tuệ. Nhưng tôi không phải là vị
A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
60)
Ví như trên một con đường hoang vắng có một giếng nước.
Tại đấy không có dây, không có gàu nước. Rồi có người
đi đến, bị nóng bức bách, bị nóng áp đảo, mệt mỏi,
run rẩy, khát nước. Người ấy ngó xuống giếng và biết
được: "Giếng này có nước", nhưng đứng chịu, thân thể
không chạm nước.
61)
Cũng vậy, này Hiền giả, "Hữu diệt là Niết-bàn", tôi khéo
thấy như chơn nhờ chánh trí tuệ, nhưng tôi không phải là
vị A-la-hán đã đoạn tận các lậu hoặc.
III
62)
Khi được nói vậy,Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Sàvittha:
--
Này Hiền giả Sàvittha, nói như vậy thời Hiền giả nói gì
về Tôn giả Nàrada?
63)
-- Này Hiền giả Ananda, nói như vậy, tôi không nói gì về
Tôn giả Nàrada, ngoài sự tốt lành, ngoài sự tốt đẹp.
IX.
Nước Thủy Triều Dâng (S.ii,118)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, tại Jetavana, trong vườn ông
Anàthapindika.
2)
Tại đây...
3)
-- Này các Tỷ-kheo, khi nào biển lớn dâng lên thời các sông
lớn dâng lên; khi nào các sông lớn dâng lên thời các sông
nhỏ dâng lên; khi nào các sông nhỏ dâng lên thời các hồ
lớn dâng lên; khi nào các hồ lớn dâng lên thời các hồ
nhỏ dâng lên.
4)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào vô minh dâng lên thời các
hành dâng lên; khi nào các hành dâng lên thời thức dâng lên;
khi nào thức dâng lên thời danh sắc dâng lên; khi nào danh
sắc dâng lên thời sáu xứ dâng lên; khi nào sáu xứ dâng
lên thời xúc dâng lên; khi nào xúc dâng lên thời thọ dâng
lên; khi nào thọ dâng lên thời ái dâng lên; khi nào ái dâng
lên thời thủ dâng lên; khi nào thủ dâng lên thời hữu dâng
lên; khi nào hữu dâng lên thời sanh dâng lên; khi nào sanh dâng
lên thời già chết dâng lên.
5)
Này các Tỷ-kheo, biển lớn không dâng lên thời sông lớn
không dâng lên; sông lớn không dâng lên thời sông nhỏ không
dâng lên; sông nhỏ không dâng lên thời hồ lớn không dâng
lên; hồ lớn không dâng lên thời hồ nhỏ không dâng lên.
6)
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, vô minh không dâng lên thời các
hành không dâng lên; các hành không dâng lên thời thức không
dâng lên; thức không dâng lên thời danh sắc không dâng lên;
danh sắc không dâng lên thời sáu xứ không dâng lên; sáu xứ
không dâng lên thời xúc không dâng lên; xúc không dâng lên
thời thọ không dâng lên; thọ không dâng lên thời ái không
dâng lên; ái không dâng lên thời thủ không dâng lên; thủ
không dâng lên thời hữu không dâng lên; hữu không dâng lên
thời sanh không dâng lên; sanh không dâng lên thời già chết
không dâng lên.
X.
Susìma (Tạp 14.5 Ðại 2,96b) (S.ii,119)
1)
Như vậy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại
chỗ nuôi dưỡng con sóc.
I
2)
Lúc bấy giờ Thế Tôn được cung kính, được tôn trọng,
được kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và Ngài
nhận được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực,
sàng tọa và dược phẩm trị bệnh.
3)
Chúng Tỷ-kheo cũng được cung kính, được tôn trọng, được
kính lễ, được cúng dường, được tôn sùng và cũng nhận
được các vật cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa
và dược phẩm trị bệnh.
4)
Nhưng các du sĩ ngoại đạo không được cung kính, không được
tôn trọng, không được kính lễ, không được cúng dường,
không được tôn sùng và cũng không nhận được các vật
dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng tọa và dược
phẩm trị bệnh.
II
5)
Lúc bấy giờ du sĩ Susìma trú ở Ràjagaha cùng với đại chúng
du sĩ.
6)
Rồi hội chúng du sĩ của Susìma nói với du sĩ Susìma:
--
Thưa Hiền giả Susìma, ngài hãy đi đến và sống Phạm hạnh
dưới sự chỉ dẫn của Sa-môn Gotama. Sau khi ngài học Chánh
pháp xong hãy nói lại cho chúng tôi. Sau khi chúng tôi học pháp
ấy chúng tôi sẽ nói lại với các gia chủ. Như vậy chúng
tôi sẽ được cung kính, được tôn trọng, được kính lễ,
được cúng dường, được tôn sùng và chúng tôi sẽ nhận
được các vật dụng cúng dường như y áo, ẩm thực, sàng
tọa và dược phẩm trị bệnh.
7)
-- Thưa vâng, các Hiền giả.
Du
sĩ Susìma nghe theo hội chúng của mình, liền đi đến Tôn
giả Ananda; sau khi đến nói lên những lời chào đón hỏi
thăm với Tôn giả Ananda; sau khi nói lên những lời chào đón
hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
III
8)
Ngồi xuống một bên, du sĩ Susìma nói với Tôn giả Ananda:
--
Này Hiền giả Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp
và Luật này.
9)
Rồi Tôn giả Ananda đưa du sĩ Susìma đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
10)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, du sĩ Susìma này nói như sau: "Này Hiền giả
Ananda, tôi muốn sống Phạm hạnh trong Pháp và Luật này".
11)
-- Vậy Ananda, hãy cho Susìma xuất gia.
12)
Và du sĩ Susìma được xuất gia dưới sự chỉ đạo của
Thế Tôn và được thọ đại giới.
13)
Lúc bấy giờ nhiều vị Tỷ-kheo ở trước mặt Thế Tôn đã
tuyên bố chánh trí như sau: "Chúng tôi biết rằng: 'Sanh đã
tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không
còn trở lui trạng thái này nữa.' "
IV
14)
Tôn giả Susìma được nghe: Nhiều Tỷ-kheo trước mặt Thế
Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: "Chúng tôi biết rõ rằng:
'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'"
15)
Rồi Tôn giả Susìma đi đến các Tỷ-kheo; sau khi đến nói
lên với những Tỷ-kheo ấy những lời chào đón hỏi thăm;
sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền
ngồi xuống một bên.
16)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma nói với các Tỷ-kheo
ấy:
--
Có đúng sự thật chăng, chư Tôn giả ở trước mặt Thế
Tôn đã tuyên bố chánh trí như sau: "Chúng con biết rõ rằng:
'Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã
làm, không còn trở lui trạng thái này nữa'"?
--
Thưa có vậy, này Hiền giả.
17)
-- Nhưng, chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy chắc
chứng được nhiều loại thần thông khác nhau: Một thân hiện
ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình biến
hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không;
độn thổ trồi lên ngang qua đất liền như ở trong nước;
đi trên nước không chìm như đi trên đất liền; ngồi kiết-già
đi trên hư không như con chim; với bàn tay chạm và rờ vào
mặt trăng và mặt trời, những vật có oai lực, đại oai
thần như vậy. Có thể sử dụng thân một cách tự tại cho
đến cõi Phạm thiên?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
18)
-- Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy,
chứng được thiên nhĩ thông thanh tịnh siêu nhân, có thể
nghe hai loại tiếng: chư Thiên và loài Người, xa và gần?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
19)
-- Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy,
với tâm của mình biết được tâm của các chúng sanh khác,
các loài Người khác: Tâm có tham biết là tâm có tham; tâm
không tham biết là tâm không tham; tâm có sân biết là tâm
có sân; tâm không sân biết là tâm không sân; tâm có si biết
là tâm có si; tâm không si biết là tâm không si; tâm chuyên
chú biết là tâm chuyên chú; tâm tán loạn biết là tâm tán
loạn. Ðại hành tâm biết là đại hành tâm; không phải đại
hành tâm biết không phải là đại hành tâm. Tâm chưa vô thượng
biết là tâm chưa vô thượng; tâm vô thượng biết là tâm
vô thượng. Tâm Thiền định biết là tâm Thiền định; tâm
không Thiền định biết là tâm không Thiền định. Tâm giải
thoát biết là tâm giải thoát; tâm không giải thoát biết
là tâm không giải thoát?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
20)
-- Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy,
nhớ được nhiều đời quá khứ. Như một đời, hai đời,
ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời,
ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm
đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời,
nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành
kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia ta có tên như thế
này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ
lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi
chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ
ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, tuổi thọ
đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được
sanh ra ở đây". Như vậy, chư Tôn giả nhớ đến nhiều đời
sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
21)
-- Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy,
với thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, thấy sự sống và chết
của chúng sanh. Chư Tôn giả biết rõ rằng chúng sanh, người
hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người
may mắn kẻ bất hạnh đều do hạnh nghiệp của họ. Những
chúng sanh này làm những ác hạnh về thân, làm những ác hạnh
về lời nói, những ác hạnh về ý, phỉ báng các bậc Thánh,
theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người
này sau khi thân hoại mạng chung phải sanh vào cõi dữ, ác
thú, đọa xứ, địa ngục. Còn những chúng sanh này làm những
thiện hạnh về thân, làm những thiện hạnh về lời nói,
làm những thiện hạnh về ý, không phỉ báng các bậc Thánh,
theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến. Những người
ấy sau khi thân hoại mạng chung được sanh lên các thiện
thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy, với thiên nhãn thanh
tịnh siêu nhân, các vị thấy sự sống chết của chúng sanh.
Các vị biết rõ rằng chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang,
người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh,
đều do hạnh nghiệp của họ?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
22)
-- Vậy có phải chư Tôn giả biết như vậy, thấy như vậy,
sau khi vượt khỏi Sắc giới, thân cảm xúc Vô sắc giới,
an trú vào tịch tịnh giải thoát?
--
Thưa không phải vậy, này Hiền giả.
23)
-- Hay ở đây, có phải chư Tôn giả vừa trả lời như vậy,
vừa không chứng được các pháp này?
24)
--Này Hiền giả, không có chứng được gì.
25)
-- Như thế nào?
--
Thưa Hiền giả Susìma, chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
26)
-- Tôi không biết được ý nghĩa một cách rộng rãi lời
nói vắn tắt này của chư Tôn giả. Lành thay nếu được
chư Tôn giả nói lên cho tôi, để tôi có thể hiểu ý nghĩa
một cách rộng rãi lời nói vắn tắt này của chư Tôn giả!
27)
-- Này Hiền giả Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không biết,
chúng tôi chứng được tuệ giải thoát.
V
28)
Rồi Tôn giả Susìma từ chỗ ngồi đứng dậy đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một
bên.
29)
Ngồi xuống một bên, Tôn giả Susìma trình bày lên Thế Tôn
tất cả câu chuyện với các Tỷ-kheo ấy.
30)
-- Này Susìma, trước hết là trí về pháp trú, sau là trí
về Niết-bàn.
31)
-- Bạch Thế Tôn, con không hiểu được ý nghĩa một cách
rộng rãi lời nói vắn tắt này của Thế Tôn. Bạch Thế
Tôn, lành thay nếu Thế Tôn nói lên cho con để con có thể
hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi, lời nói vắn tắt này của
Thế Tôn!
32)
-- Này Susìma, dù cho Ông có biết hay Ông không có biết, trước
hết là trí về pháp trú, sau là trí về Niết-bàn. Này Susìma,
Ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
--
Là vô thường, bạch Thế Tôn?
33)
-- Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
--
Là khổ, bạch Thế Tôn.
--
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý
chăng khi chúng ta quán vật ấy là: "Cái này là của tôi, cái
này là tôi, cái này là tự ngã của tôi"?
--
Thưa không, bạch Thế Tôn.
34)
-- Thọ là thường hay vô thường?<