|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[09] Chương IX
Tương Ưng
Rừng
I.
Viễn Ly (S.i,197)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một khu
rừng.
2)
Lúc bấy giờ Tỷ-kheo ấy, trong lúc đi nghỉ ban ngày, khởi
lên những tư tưởng ác, bất thiện, liên hệ đến gia đình.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo
ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo
ấy.
4)
Sau khi đến, vị Thiện ấy nói lên những bài kệ với vị
Tỷ-kheo này:
Ông
ước muốn viễn ly,
Ðã
sống trong rừng núi,
Nay
tâm Ông vọng động,
Dong
duổi theo ngoại giới.
Ông
đối mặt với Ông,
Hãy
chế ngự lòng dục,
Nhờ
vậy, Ông hạnh phúc,
Thoát
ly được tham ái.
Hãy
từ bỏ bất mãn,
Sống
an trú chánh niệm,
Ông
thành người hiền thiện,
Ðược
chúng tôi tán thán.
Trừ
bụi trần địa ngục,
Thật
rất khó vượt qua,
Ông
chớ vận chuyển theo,
Các
bụi trần dục vọng,
Như
chim, thân dính bụi,
Rung
thân khiến bụi rơi.
Cũng
vậy vị Tỷ-kheo,
Tinh
cần, trú chánh niệm,
Vùng
vẫy khiến rơi rớt,
Những
bụi đời dính thân.
5) Tỷ-kheo
ấy được vị Thiên cảnh giác, tâm hết sức xúc động.
II.
Săn Sóc, Hầu Hạ (S.i,197)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy đang ngủ ngày.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo
ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo
ấy.
4)
Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo ấy:
Tỷ-kheo,
hãy thức dậy,
Sao
Ông hãy còn nằm?
Ông
được lợi ích gì,
Trong
giấc ngủ của ông?
Kẻ
bịnh, kẻ trúng tên,
Bị
đánh sao ngủ được?
Vì
lòng tin, xuất gia,
Bỏ
nhà, sống không nhà,
Tín
ấy cần phát triển,
Chớ
để ngủ chinh phục.
5) (Vị
Tỷ-kheo):
Các
dục là vô thường,
Chỉ
kẻ ngu say đắm,
Ðã
giải thoát triền phược,
Không
còn bị ái trước.
Hạnh
xuất gia như vậy,
Sao
để dục nhiệt não?
Ðã
nhiếp phục dục ái,
Vượt
thoát (lưới) vô minh,
Với
chánh trí thanh tịnh,
Hạnh
xuất gia như vậy,
Sao
để dục nhiệt não?
Với
minh phá vô minh,
Ðoạn
diệt các lậu hoặc,
Không
sầu, không ưu não,
Hạnh
xuất gia như vậy,
Sao
để dục nhiệt não?
Tinh
tấn và nhiệt tâm,
Thường
dõng mãnh cầu tiến,
Hướng
vọng đến Niết-bàn,
Hạnh
xuất gia như vậy,
Sao
để dục nhiệt não?
III.
Kassapagotta: Thợ Săn: (S.i,198)
1)
Một thời, Tôn giả Kassapagotta trú giữa dân chúng Kosala, tại
một khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Kassapagotta, trong khi nghỉ ban ngày,
khuyên dạy một người thợ săn.
3)
Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo ấy,
muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
4)
Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả
Kassapagotta:
Trên
sườn núi cheo leo,
Người
thợ săn đang trèo,
Là
hạng người thiếu trí,
Không
sáng suốt, ngu si,
Tỷ-kheo
có khuyên dạy,
Thật
uổng phí thời gian.
Ta
nghĩ làm như vậy,
Tự
tỏ thiếu trí tuệ.
Có
nghe cũng không hiểu,
Có
nhìn cũng không thấy,
Dầu
cho có thuyết pháp,
Kẻ
ngu không thấy đích.
Tôn
giả Kassapa,
Nếu
Ông có cầm tay
Cho
đến mười bó đuốc,
Người
ấy không thấy được,
Các
sắc pháp đối diện,
Vì
người ấy không mắt.
5) Tôn
giả Kassapagotta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
IV.
Ða Số hay Du Hành (S.i,199)
1)
Một thời, nhiều Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala tại một
khu rừng.
2)
Các Tỷ-kheo ấy an cư mùa mưa xong, sau ba tháng, bắt đầu
đi du hành.
3)
Một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, không thấy các Tỷ-kheo
ấy, liền than van, ưu buồn, ngay lúc ấy nói lên bài kệ này:
Hôm
nay tâm của ta,
Cảm
thấy không vui vẻ,
Khi
thấy nhiều chỗ ngồi,
Trống
không, không có người.
Những
bậc Ða văn ấy,
Thuyết
pháp thật mỹ diệu.
Ðệ
tử Gotama,
Hiện
nay đang ở đâu?
4) Khi
nghe nói vậy, một vị Thiên khác nói lên những bài kệ cho
vị Thiên ấy:
Họ
đi Magadha,
Họ
đi Kosala,
Và
một số vị ấy,
Ði
đến đất Vajjà.
Như
nai thoát bẫy sập,
Chạy
nhảy khắp bốn phương.
Tỷ-kheo
không nhà cửa,
Sống
giải thoát như vậy.
V.
Ananda (S.i,199)
1)
Một thời, Tôn giả Ananda trú giữa dân chúng Kosala, tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda sống quá bận rộn bởi nhiều
liên hệ với cư sĩ.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy thương xót Tôn giả
Ananda, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn
giả Ananda. Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với
Tôn giả Ananda:
Ông
đã quyết lựa chọn,
Ðời
sống dưới gốc cây,
Tâm
Ông quyết nhập một
Với
mục đích Niết-bàn.
Cù-đàm,
hãy Thiền tư,
Và
sống, chớ phóng dật,
Ðối
với Ông, ích gì,
Tạp
thoại, vô vị ấy?
4) Tôn
giả Ananda, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
VI.
Anuruddha. (S.i,200)
1)
Một thời Tôn giả Anuruddha trú ở giữa dân chúng Kosala, tại
một khu rừng.
2)
Rồi một Thiên nữ ở chúng Tàvatimsa, tên là Jàlinii, đời
trước là vợ của Tôn giả Anuruddha, đi đến Tôn giả Anuruddha.
3)
Sau khi đến, vị ấy nói lên bài kệ với Tôn giả Anuruddha:
Hãy
hướng tâm tư Ông,
Vào
đời trước của Ông,
Giữa
Tam thập tam thiên,
Mọi
ái dục thành tựu,
Và
Ông được chói sáng,
Giữa
Thiên nữ đoanh vây.
4) (Anuruddha):
Bất
hạnh thay Thiên nữ,
Họ
kiên trú thân kiến,
Cũng
bất hạnh, họ sanh,
Bị
Thiên nữ chinh phục.
5) (Jàlinii):
Họ
chưa biết hạnh phúc,
Chưa
thấy Dandana,
Trú
xứ các Thiền nhơn,
Danh
xưng giới Tam thập.
6)
(Anuruddha):
Kẻ
ngu, Bà không biết,
Lời
nói bậc La-hán,
Mọi
hành là vô thường,
Phải
chịu luật sanh diệt,
Chúng
sanh rồi chúng diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc.
Hiện
nay đối với ta,
Không
còn chỗ trú xứ,
Trên
cảnh giới chư Thiên,
Ôi
này Jàlinì!
Ðường
sanh tử đứt đoạn,
Nay
tái sanh không còn.
VII.
Nàgadatta (S.i,200)
1)
Một thời Tôn giả Nàgadatta trú giữa dân chúng Kosala, tại
một khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Nàgadatta đi vào làng quá sớm và trở
về quá chiều.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tôn giả
Nàgadatta, muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tôn
giả Nàgadatta.
4)
Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tôn giả
Nàgadatta:
Này
Nàgadatta,
Hãy
vào (làng) đúng thời,
Và
khi từ làng về,
Hãy
về cho thật sớm.
Ông
sống quá liên hệ,
Với
các hàng cư sĩ,
Bị
vấn vương quá nhiều,
Những
cảm thọ khổ lạc.
Ta
sợ kẻ bạt mạng,
Nàgadatta
này,
Lại
bị trói, bị buộc,
Trong
gia đình thế sự.
Chớ
để mình rơi vào,
Cường
lực của tử thần,
Làm
sao tránh né được,
Khỏi
Ác ma chi phối!
5) Tôn
giả Nàgadatta được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
VIII.
Gia Phụ hay Say Ðắm (S.i,201)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại
một khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy sống thân mật quá đáng đối
với một gia đình.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì thương xót Tỷ-kheo
ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác vị ấy, biến hình
thành gia phụ của gia đình ấy và đi đến Tỷ-kheo ấy.
4)
Sau khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ với Tỷ-kheo ấy:
Trên
bờ sông, cửa chợ,
Tại
trạm nghỉ, lộ trình,
Dân
chúng thường tập hợp,
Tranh
luận liền khởi lên.
Giữa
ta và giữa Ông,
Có
gì là sai khác?
5) (Vị
Tỷ-kheo):
Nhiều
tiếng qua tiếng lại,
Bậc
khổ hạnh kham nhẫn,
Chớ
cảm thấy bực phiền,
Chớ
phát sinh nhiễm trước.
Ai
bị tiếng rối loạn,
Như
nai trong rừng rú,
Ðược
gọi là khinh tâm,
Khó
tu hành thành tựu.
IX.
Vajjiputta: Bạt-kỳ Tử hay Tỳ-xá-lỵ (S.i,201)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo Vajjiputtaka trú ở Vesàli tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ một cuộc lễ được tổ chức suốt đêm ở
Vesàli.
3)
Tỷ-kheo ấy được nghe tiếng nhạc khí, tiếng cồng v.v...
đánh lên, tiếng ồn ào khởi lên, liền than thở, nói lên
ngay lúc ấy những bài kệ này:
Chúng
ta sống một mình,
Trong
khu rừng cô độc,
Như
khúc gỗ lột vỏ,
Lăn
lóc trong rừng sâu,
Trong
đêm tối hân hoan,
Như
hiện tại đêm nay,
Ai
sống đời bất hạnh,
Như
chúng ta hiện sống?
4) Rồi
một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, có lòng thương xót Tỷ-kheo
ấy, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo
ấy.
Sau
khi đến, vị ấy nói lên những bài kệ:
5)
Ông
sống chỉ một mình,
Trong
khu rừng cô độc,
Như
khúc gỗ lột vỏ,
Lăn
lóc trong rừng sâu.
Rất
nhiều người thèm muốn,
Ðời
sống như ông vậy,
Như
kẻ đọa địa ngục,
Thèm
muốn sanh thiên giới.
6) Rồi
Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
X.
Tụng Học Kinh Ðiển hay Pháp (S.i,202)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo sống giữa dân chúng Kosala, tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy trước kia siêng năng tụng kinh
rất nhiều, sau một thời gian, trở thành thụ động, im lặng,
an phận.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy không được nghe pháp
từ Tỷ-kheo ấy, liền đi đến vị ấy.
4)
Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo
ấy:
Này
Tỷ-kheo, sao Ông
Sống
chung các Tỷ-kheo,
Lại
không chịu tụng đọc,
Các
kinh điển pháp cú?
Ai
nghe thuyết Chánh pháp,
Tâm
sanh được tịnh tín.
Và
ngay đời hiện tại,
Ðược
mọi người tán thán.
5) (Vị
Tỷ-kheo):
Trước
kia đối pháp cú,
Ta
tha thiết tìm hiểu,
Cho
đến khi chứng được,
Quả
vị bậc ly dục;
Từ
khi chứng ly dục,
Mọi
thấy, nghe, xúc cảm,
Nhờ
trí tuệ hiểu biết,
Ðều
được bỏ một bên.
Chính
các bậc Hiền thiện,
Giảng
dạy là như vậy.
XI.
Bất Chánh Tư Duy: (S.i,203)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala tại
một khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy, khi đang nghỉ ban ngày, khởi lên
những tư duy ác, bất thiện, như dục tư duy, sân tư duy, hại
tư duy.
3)
Rồi vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót Tỷ-kheo,
muốn lợi ích, muốn cảnh giác, liền đi đến Tỷ-kheo ấy.
4)
Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ cho Tỷ-kheo:
Ông
tác ý bất chánh,
Nên
say đắm tư duy.
Hãy
từ bỏ bất chánh,
Hãy
tư duy chơn chánh,
Nương
tựa Phật, Pháp, Tăng,
Giữ
giới, không thối chuyển,
Ông
chắc chắn chứng đạt,
Hân
hoan và hỷ lạc.
Với
hân hoan sung mãn,
Ông
chấm dứt khổ đau.
5) Rồi
Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
XII.
Giưã Trưa hay Tiếng Ðộng (S.i,203)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala, tại
một khu rừng.
2)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy đi đến Tỷ-kheo.
3)
Sau khi đến, nói lên những bài kệ này trước mặt Tỷ-kheo:
Nay
chính giờ giữa trưa,
Chim
chóc đậu im lặng,
Rừng
lớn vang tiếng động,
Khiến
ta run, hoảng sợ.
4) (Vị
Tỷ-kheo):
Nay
chính giờ giữa trưa,
Chim
chóc đậu im lặng,
Rừng
lớn vang tiếng động,
Hoan
hỷ đến với ta.
XIII.
Không Chế Ngự Căn hay Nhiều Tỷ Kheo (S.i,203)
1)
Một thời, rất nhiều Tỷ-kheo trú ở giữa dân chúng Kosala,
tại một khu rừng nọ, cống cao, ngạo mạn, ồn ào, lắm
miệng, lắm lời, thất niệm, không tỉnh giác, không định
tĩnh, tâm tán loạn, các căn không chế ngự.
2)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, vì lòng thương xót
các Tỷ-kheo, muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác, liền đi đến
các Tỷ-kheo.
3)
Sau khi đến, vị Thiên ấy nói lên những bài kệ với các
Tỷ-kheo:
Xưa
sống thật an lạc,
Chúng
đệ tử Cù-đàm,
Không
tham tìm món ăn,
Không
tham tìm chỗ trú,
Biết
đời là vô thường,
Họ
chấm dứt khổ đau.
Nay
tự làm ác hạnh,
Như
thôn trưởng trong làng,
Họ
ăn, ăn ngã gục,
Thèm
khát vật nhà người.
Con
vái chào chúng Tăng,
Ðảnh
lễ một vài vị,
Vất
vưởng, không hướng dẫn.
Họ
sống như ngạ quỉ.
Những
ai sống phóng dật,
Vì
họ, con nói lên,
Những
ai không phóng dật,
Chân
thành con đảnh lễ.
4) Các
Tỷ-kheo ấy, được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.
XIV.
Sen Hồng hay Sen Trắng (S.i,204)
1)
Một thời, một Tỷ-kheo trú giữa dân chúng Kosala, tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, Tỷ-kheo ấy ăn xong, trên con đường đi khất
thực trở về, đi xuống hồ nước và ngửi bông sen hồng.
3)
Rồi một vị Thiên trú ở khu rừng ấy, thương xót Tỷ-kheo,
muốn hạnh phúc, muốn cảnh giác liền đi đến Tỷ-kheo.
4)
Sau khi đến, vị Thiên ấy liền nói lên những bài kệ với
Tỷ-kheo:
Hoa
này từ nước sanh,
Không
cho, Ông ngửi trộm.
Như
vậy một loại trộm,
Ta
gọi Ông trộm hương,
Này
thân hữu của ta.
5) (Vị
Tỷ-kheo):
Không
lấy đi, không bẻ,
Ðứng
xa, ta ngửi hoa,
Vậy
do hình tướng gì,
Ðược
gọi là "trộm hương"?
Ai
đào rễ củ sen,
Ăn
dùng các loại sen.
Do
các hành động ấy,
Sao
không gọi trộm hương?
6) (Vị
Thiên):
Người
ty tiện độc ác,
Như
vải nhớp vú em,
Với
hạng người như vậy,
Lời
ta không liên hệ.
Nhưng
chính thật cho Ông,
Chính
lời ta tương ưng
Với
người không cấu uế,
Thường
hướng cầu thanh tịnh.
Với
kẻ ác nhìn thấy,
Nhỏ
như đầu sợi lông,
Vị
ấy xem thật lớn,
Như
đầu mây trên trời.
7) (Vị
Tỷ-kheo):
Thật
sự này Dạ-xoa,
Ông
biết ta, thương ta,
Hãy
nói lại với ta,
Khi
thấy ta như vậy.
8) (Vị
Thiên):
Ta
không tùy thuộc Ông,
Ông
cũng không làm bậy,
Này
Tỷ-kheo nên biết,
Ông
có thể sanh Thiên.
9) Vị
Tỷ-kheo ấy được vị Thiên ấy cảnh giác, tâm hết sức
xúc động.

|