TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[07] Chương VII
Tương Ưng
Bà La Môn
I.
Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất
I.
Dhananjàni (S.i,160)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại
chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn Dhananjàni, vợ một người Bà-la-môn
thuộc dòng họ Bhàradvàja, có lòng tín thành đối với Phật,
Pháp và Tăng.
3)
Rồi nữ Bà-la-môn Dhananjàni, trong khi bưng cơm cho Bà-la-môn
thuộc dòng họ Bhàradvàja, hứng khởi thốt lên ba lần lời
cảm hứng: "Ðảnh lễ Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Chánh Giác ấy!"
4)
Ðược nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja nói
với nữ Bà-la-môn Dhananjàni:
--
Như vậy, trong mọi thời, mọi dịp, kẻ hạ tiện này nói
lời tán thán vị Sa-môn trọc đầu ấy. Này kẻ Hạ tiện
kia, ta sẽ luận phá bậc Ðạo Sư của Ngươi.
5)
-- Thưa Bà-la-môn, tôi không thấy trong thế giới chư Thiên,
Ma giới hay Phạm thiên giới, trong chúng Sa-môn hay Bà-la-môn,
giữa chư Thiên hay loài Người, không một ai có thể luận
phá Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác. Vậy này
Bà-la-môn, Ông hãy đi. Sau khi đi, Ông sẽ biết.
6)
Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja phẫn nộ, không hoan
hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn
những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
7)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja
nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Sát
vật gì, được lạc?
Sát
vật gì, không sầu?
Có
một pháp loại gì,
Ngài
tán đồng sát hại,
Tôn
giả Gotama?
8) (Thế
Tôn):
Sát
phẫn nộ, được lạc
Sát
phẫn nộ, không sầu,
Phẫn
nộ với độc căn,
Với
vị ngọt tối thượng,
Pháp
ấy, bậc Hiền Thánh,
Tán
đồng sự sát hại.
Sát
pháp ấy, không sầu,
Này
Bà-la-môn kia.
9) Ðược
nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế
Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Tôn giả Gotama, như người dựng đứng lại những gì
bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ
đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng
tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh
pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình
bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp
và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất
gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!
10)
Và Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja được xuất gia trước
mặt Thế Tôn, được thọ đại giới.
11)
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja sống một
mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần, không
bao lâu chứng được mục đích mà các thiện nam tử chơn
chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình: Ðó
là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại, tự
mình với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị
ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên làm
đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
12)
Và Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
II.
Phỉ Báng (S.i,161)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc
Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng
họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình,
sống không gia đình.
3)
Ông phẫn nộ, không hoan hỷ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và
nhiếc mắng Thế Tôn.
4)
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:
--
Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết
thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?
5)
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con
huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.
6)
-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Ông có sửa soạn cho họ
các món ăn loại cứng, loại mềm và các loại đồ nếm không?
7)
-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ
các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.
8)
-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các
món ăn ấy về ai?
9)
-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các
món ăn ấy về lại chúng tôi.
10)
-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là
người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không
nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn;
chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này
Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc
ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi
bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn
lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người
ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn
chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không
cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự
việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại
Ông!
11)
Nhà vua và vương cung, vương thần nghĩ rằng: "Sa-môn Gotama
là vị A-la-hán". Tuy vậy Tôn giả Gotama nay đã phẫn nộ.
12)
(Thế Tôn):
Với
vị không phẫn nộ,
Phẫn
nộ từ đâu đến?
Sống
chế ngự, chánh mạng,
Giải
thoát, nhờ chánh trí.
Vị
ấy sống như vậy,
Ðời
sống được tịch tịnh.
Những
ai bị phỉ báng,
Trở
lại phỉ báng người,
Kẻ
ấy làm ác mình,
Lại
làm ác cho người.
Những
ai bị phỉ báng,
Không
phỉ báng chống lại,
Người
ấy đủ thắng trận,
Thắng
cho mình, cho người.
Vị
ấy tìm lợi ích,
Cho
cả mình và người.
Và
kẻ đã phỉ báng,
Tự
hiểu, lắng nguôi dần.
Bậc
Y sư cả hai,
Chữa
mình, chữa cho người,
Quần
chúng nghĩ là ngu,
Vì
không hiểu Chánh pháp.
13) Khi
được nghe nói vậy, Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja bạch Thế
Tôn:
--
Thật là vi diệu thay, Tôn giả Gotama!...,... Con xin quy y Thế
Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama
cho con được xuất gia tu học với Tôn giả Gotama, được
thọ đại giới.
14)
Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả
Gotama, được thọ đại giới.
15)
Ðược thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Akkosaka Bhàrahvàja
sống một mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần không bao lâu đạt được mục đích mà các thiện nam
tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình
hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay
trong hiện tại với thắng trí, tự mình giác ngộ, chứng
đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh
đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở lại trạng
thái này nữa".
16)
Và Tôn giả Akkosaka Bhàradvàkja trở thành một vị A-la-hán
nữa.
III.
Asurindaka (S.i,163)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm),
tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
2)
Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nghe như sau: " Bà-la-môn thuộc
dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia
đình, sống không gia đình".
3)
Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn, sau khi
đến, có những lời không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và
nhiếc mắng Thế Tôn.
4)
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn giữ im lặng.
5)
Rồi Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, Ông đã bị chinh phục. Này Sa-môn, Ông đã bị
chinh phục!
6)
(Thế Tôn):
Kẻ
ngu nghĩ mình thắng,
Khi
nói lời ác ngữ,
Ai
biết chịu kham nhẫn,
Kẻ
ấy thật thắng trận.
Những
ai bị phỉ báng,
Trở
lại phỉ báng người,
Kẻ
ấy làm ác mình,
Lại
làm ác cho người.
Những
ai bị phỉ báng,
Không
phỉ báng đối lại,
Người
ấy đã thắng trận,
Thắng
cho mình cho người.
Vị
ấy tìm lợi ích,
Cho
cả mình và người,
Và
kẻ đã phỉ báng,
Tự
hiểu, lắng nguội dần.
Bậc
y sư cả hai,
Chữa
mình, chữa cho người,
Quần
chúng nghĩ là ngu,
Vì
không hiểu Chánh pháp.
7) Ðược
nghe nói vậy, Bà-la-môn Asurindaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở lại
đời sống này nữa."
8)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
IV.
Bilangika (S.i,164)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja được nghe: "Bà-la-môn thuộc
dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Sa-môn Gotama, từ bỏ
gia đình, sống không gia đình".
3)
Phẫn nộ, không hoan hỷ, vị ấy đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, giữ yên lặng, đứng một bên.
4)
Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư
của Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja, liền nói lên bài kệ cho
Bà-la-môn Bilangika Bhàradvàja:
Ai
hại người hiền thiện,
Thanh
tịnh, không cấu nhiễm,
Ác
hạnh được chín mùi,
Phản
lại hại người ngu,
Chẳng
khác gì ngược gió,
Lại
tung vãi bụi trần.
5) Ðược
nghe nói vậy, Bà-la-môn Bilangika Bhàradvaja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama!... Nay con quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng.
Mong cho con được xuất gia với Tôn giả Gotama...,..., Ðó là
vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay trong hiện tại với
thắng trí tự mình chứng ngộ, chứng đạt và an trú. Vị
ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, việc nên
làm đã làm, không còn trở lại trạng thái này nữa".
6)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
V.
Bất Hại - Ahimsaka (S.i,164)
1)
Nhân duyên tại Sàvatthi.
2)
Rồi Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm;
sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền
ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế
Tôn:
--
Con là Ahimsaka, thưa Tôn giả Gotama! Con là Ahimsaka, thưa Tôn
giả Gotama!.
4)
(Thế Tôn):
Danh
phải tương xứng người,
Người
phải là bất hại!
Ai
với thân, miệng, ý,
Không
làm hại một ai,
Ai
không hại người khác,
Người
ấy thật bất hại.
5) Khi
được nghe vậy, Bà-la-môn Ahimsaka Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama...,"... không còn trở lui
đời sống này nữa."
6)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
VI.
Bện Tóc (S.i,165)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Rồi Bà-la-môn Jatabhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói
lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống
một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jatabhàradvàja nói lên bài
kệ với Thế Tôn:
Nội
triền và ngoại triền,
Chúng
sanh bị triền phược,
Con
hỏi Gotama,
Ai
thoát triền phược này?
4) (Thế
Tôn)
Người
có trí, trú giới,
Tu
tập tâm và tuệ,
Nhiệt
tâm và thận trọng,
Tỷ-kheo
ấy thoát triền.
Với
ai đã từ bỏ,
Tham
sân và vô minh,
Bậc
ứng cúng lậu tận,
Vị
ấy thoát triền phược.
Chỗ
nào danh và sắc
Ðược
đoạn tận vô dư,
Ðoạn
chướng ngại sắc tưởng,
Chỗ
ấy triền phược đoạn.
5) Khi
được nghe nói vậy, Bà-la-môn Jatabhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!...
6)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
VII.
Suddhika (S.i,165)
1)
Tại Sàvatthi, Jetavana.
2)
Rồi Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, nói lên những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống
một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja nói lên
bài lệ này trước mặt Thế Tôn:
Không
Bà-la-môn nào,
Dầu
giữ giới, khổ hạnh,
Có
thể được thanh tịnh,
Dầu
ở thế giới nào.
Chỉ
vị Minh Hạnh Túc,
Mới
có thể thanh tịnh.
Không
một quần chúng nào.
Ngoài
vị hành như vậy.
4) (Thế
Tôn):
Dầu
lẩm bẩm nhiều chú,
Nhưng
không vì thọ sanh,
Ðược
gọi Bà-la-môn,
Nội
ô nhiễm bất tịnh,
Y
cứ trên lừa đảo,
Bà-la-môn,
Phệ-xá,
Thủ-đà,
Chiên-đà-la,
Kẻ
đổ phẩn, đổ rác,
Tinh
cần và tinh tấn,
Thường
dõng mãnh tấn tu,
Ðạt
được tịnh tối thắng,
Bà-la-môn
nên biết!
5) Khi
được nghe vậy, Bà-la-môn Suddhika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!...
6)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
VIII.
Aggika: Thờ lửa (S.i,166)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, một món ăn gồm gạo và sữa đông được
sửa soạn cho Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja để vị này sắp
đặt: "Tôi sẽ tế lửa, tôi sẽ làm lễ cúng dường lửa".
3)
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Ràjagaha
để khất thực. Trong khi đi khất thực thứ lớp ở Ràjagaha,
Thế Tôn đi đến trú xứ của Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja;
sau khi đến, Thế Tôn đứng một bên.
4)
Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đi khất thực đến,
thấy vậy liền nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Vị
đầy đủ ba minh,
Thiện
sanh và nghe nhiều,
Minh
hạnh được trọn vẹn,
Hãy
thọ món ăn này!
5) (Thế
Tôn):
Dầu
lẩm bẩm nhiều chú,
Nhưng
không vì thọ sanh,
Ðược
gọi Bà-la-môn.
Nội
ô nhiễm bất tịnh,
Y
cứ trên lừa đảo,
Thấy
thiên giới ác thú,
Ðoạn
diệt được tái sanh,
Thắng
trí, bậc Mâu-ni,
Ðầy
đủ ba minh này,
Ba
minh, Bà-la-môn,
Minh
hạnh được đầy đủ,
Hãy
thọ món ăn này.
6) - Mong
Tôn giả thọ lãnh món ăn này. Tôn giả Gotama thật là bậc
Bà-la-môn.
7)
(Thế Tôn):
Ta
không có hưởng thọ,
Vì
tụng hát kệ chú,
Thường
pháp không phải vậy,
Ðối
vị có tri kiến.
Chư
Phật đã loại bỏ,
Tụng
hát các kệ chú,
Chân
thật niệm Chánh pháp,
Sở
hành là như vậy.
Bậc
Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng
dường phải khác biệt,
Ðoạn
tận các lậu hoặc,
Dao
động được lắng dịu.
Với
những bậc như vậy,
Ăn
uống phải cúng dường,
Thật
chính là phước điền,
Cho
những ai cầu phước.
8) Ðược
nghe như vậy, Bà-la-môn Aggika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!...
9)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
IX.
Sundarika (S.i,167)
1)
Một thời Thế Tôn ở giữa dân tộc Kosala, trên bờ sông
Sundarika.
2)
Lúc bấy giờ Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja tế lửa trên bờ
sông Sundarika, làm lễ cúng dường lửa.
3)
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja sau khi tế lửa, làm lễ
cúng dường lửa xong, từ chỗ ngồi đứng dậy, nhìn xung
quanh tất cả bốn phương và nghĩ: "Ai có thể hưởng họ
món ăn cúng tế còn lại này?"
4)
Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang ngồi dưới
gốc cây, đầu được bao trùm, thấy vậy, tay trái cầm món
ăn cúng tế còn lại, tay phải cầm bình nước đi đến Thế
Tôn.
5)
Và Thế Tôn nghe tiếng chân của Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja
liền tháo đồ trùm ở đầu.
6)
Và Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nghĩ: "Ðầu vị này trọc,
vị này là người trọc đầu", nghĩ vậy, muốn trở lui.
7)
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja lại suy nghĩ: "Trọc đầu
ở đây, một số Bà-la-môn cũng như vậy. Vậy ta hãy đến
và hỏi vấn đề thọ sanh".
8)
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đi đến Thế Tôn; sau khi
đến, nói với Thế Tôn:
--
Thọ sanh Tôn giả là gì?
9)
(Thế Tôn):
Chớ
hỏi về thọ sanh,
Hãy
hỏi về sở hành.
Tùy
theo mọi thứ củi,
Ngọn
lửa được sanh khởi.
Dầu
thuộc nhà hạ tiện,
Bậc
ẩn sĩ tinh cần,
Ðược
xem như thượng sanh,
Biết
tàm quý, trừ ác.
Ðiều
thuận bởi chân lý,
Thuần
thục trong hành trì,
Thông
đạt các Thánh kinh,
Phạm
hạnh được viên thành.
Tế
vật đã đem lại,
Hãy
cầu khẩn vị ấy,
Lễ
tế làm đúng thời,
Vị
ấy xứng cúng dường.
10) Sundarika:
Vật
cúng này của con,
Thật
sự khéo cúng dường,
Nay
con đã thấy được,
Bậc
sáng suốt như Ngài.
Con
không thấy một ai
Có
thể sánh được Ngài,
Không
có người nào khác
Thọ
hưởng vật cúng này.
Tôn
giả Gotama,
Hãy
thọ hưởng vật cúng.
Ngài
thật là Bà-la-môn,
Là
bậc đáng tôn trọng.
11) (Thế
Tôn):
Ta
không có hưởng thọ,
Vì
tụng hát kệ chú,
Thường
pháp không phải vậy,
Ðối
vị có tri kiến.
Chư
Phật đã loại bỏ
Tụng
hát các kệ chú,
Chân
thật niệm Chánh pháp,
Sở
hành là như vậy.
Bậc
Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng
dường phải khác biệt.
Ðoạn
tận các lậu hoặc,
Trạo
hối được lắng dịu,
Với
những bậc như vậy,
Cơm
nước phải cúng dường,
Thật
chính là phước điền,
Cho
những ai cầu phước.
12) --
Vậy thưa Tôn giaủ Gotama, con phải cho ai vật cúng còn lại
này?
13)
-- Này Bà-la-môn, trong toàn thế giới chư Thiên, Ma giới, Phạm
thiên giới, trong chúng Sa-môn và Bà-la-môn, trong thế giới
chư Thiên và loài Người, Ta không thấy một ai ăn vật cúng
còn lại này có thể tiêu hóa được, ngoại trừ Như Lai hay
đệ tử Như Lai. Này Bà-la-môn, vậy này Bà-la-môn, hãy quăng
vật cúng còn lại này tại chỗ không có cỏ xanh, hay nhận
chìm xuống nước, nơi không có loài hữu tình.
14)
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja nhận chìm vật cúng còn
lại ấy vào trong nước, nơi không có loài hữu tình.
15)
Vật cúng ấy khi được quăng vào trong nước liền xì lên,
sôi lên, phun hơi và phun khói lên. Ví như lưỡi cày đốt
nóng cả ngày, khi bỏ vào trong nước, bèn xì lên, sôi lên,
phun hơi và phun khói lên. Cũng vậy, vật cúng còn lại ấy
khi được quăng vào trong nước bèn xì lên, sôi lên, phun hơi
và phun khói lên.
16)
Rồi Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja hoảng hốt, lông tóc dựng
ngược, đi đến Thế Tôn; sau khi đến liền đứng một bên.
17)
Thế Tôn nói lên bài kệ cho Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja đang
đứng một bên:
Này
Bà-la-môn kia,
Chớ
có nghĩ gì tịnh.
Sự
sắp đặt củi lửa,
Như
vậy chỉ bề ngoài.
Bậc
thiện nhân dạy rằng,
Người
ấy không thanh tịnh,
Với
những ai chỉ muốn
Thanh
tịnh mặt bên ngoài.
Này
Bà-la-môn kia,
Ta
từ bỏ củi lửa,
Ta
chỉ nhen nhúm lên
Ngọn
lửa từ nội tâm,
Ngọn
lửa thường hằng cháy,
Thường
nồng cháy nhiệt tình.
Ta
là bậc La-hán,
Ta
sống đời Phạm hạnh.
Này
Bà-la-môn kia,
Người
mang ách kiêu mạn,
Phẫn
nộ là khói hương,
Vọng
ngôn là tro tàn,
Lưỡi
là chiếc muỗng tế,
Tâm
là chỗ tế tự,
Tự
ngã là ngọn lửa.
Còn
người khéo điều phục,
Chánh
pháp là ao hồ,
Giới
là bến nước tắm,
Không
cấu uế, trong sạch,
Ðược
thiện nhơn tán thán,
Là
chỗ bậc có trí,
Thường
tắm, trừ uế tạp.
Khi
tay chân trong sạch,
Họ
qua bờ bên kia.
Chánh
pháp là chân lý,
Tự
chế là Phạm hạnh,
Chính
con đường trung đạo,
Giúp
đạt tối thắng vị,
Ðảnh
lễ bậc trực tâm,
Ta
gọi tùy pháp hành.
18) Khi
được nói vậy, Bà-la-môn Sundarika Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama!...
19)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
X.
Bahudhiti (S.i,170)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Kosala, tại một
khu rừng.
2)
Lúc bấy giờ, một Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bị
mất mười bốn con bò.
3)
Rồi Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja trong khi đi tìm những
con bò đực ấy, đi đến khu rừng kia; sau khi đến, thấy
Thế Tôn ngồi kiết-già trong khu rừng ấy, lưng giữ thẳng
và để chánh niệm trước mặt.
4)
Thấy vậy, Bà-la-môn đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên
bài kệ này với Thế Tôn:
Với
vị Sa-môn này,
Không
có mười bốn bò,
Nên
không thấy sáu mươi (ajjasatthi),
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này,
Không
có ruộng mè hư,
Một
hai lá cây mè,
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này,
Không
kho trống, không chuột,
Chạy
chơi và múa nhảy,
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này,
Không
tấm nệm bảy tháng,
Tràn
đầy những chí rận,
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này
Không
bảy gái quả phụ
Hoặc
một con, hai con,
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này,
Không
vợ đen, mặt rỗ.
Lấy
chân thúc đá dậy,
Do
vậy được an lạc.
Với
vị Sa-môn này,
Không
kẻ nợ buổi sáng,
Mắng
nhiếc: "Hãy trả đi"
Do
vậy được an lạc.
5) (Thế
Tôn):
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
có mười bốn bò,
Nên
không thấy sáu mươi,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
có ruộng mè hư,
Một
hai lá cây mè,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
kho trống, không chuột,
Chạy
chơi và múa chảy,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
tấm nệm bảy tháng,
Tràn
đầy những chí rận,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
bảy gái quả phụ,
Hoặc
một con, hai con,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
vợ đen, mặt rỗ,
Lấy
chân thúc đá dậy,
Do
vậy Ta an lạc.
Bà-la-môn,
với Ta,
Không
kẻ nợ buổi sáng,
Mắng
nhiếc: "Hãy trả đi",
Do
vậy Ta an lạc.
6) Ðược
nghe nói vậy, Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja bạch Thế
Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì
bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ
đường cho kẻ lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thế thấy sắc.
Cũng
vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương
tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama,
quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong cho con được xuất gia
với Tôn giả Gotama, cho con được thọ đại giới.
7)
Rồi Bà-la-môn Bhàradvàja được xuất gia với Tôn giả Gotama,
được thọ đại giới.
8)
Thọ đại giới không bao lâu, Tôn giả Bhàradvàja ở một
mình, viễn ly, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Và không
bao lâu, vị này chứng được mục đích tối cao mà các thiện
nam tử đã xuất gia, từ bỏ gia đình sống không gia đình
hướng đến: Ðó là vô thượng cứu cánh Phạm hạnh, ngay
trong hiện tại tự mình với thượng trí, chứng ngộ, chứng
đạt và an trú. Vị ấy biết: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã
thành, những gì nên làm đã làm, không có trở lại trạng
thái này nữa".
9)
Và Tôn giả Bhàradvàja trở thành một vị A-la-hán nữa.
III.
Phẩm Cư Sĩ
I.
Cày Ruộng (S.i,172)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Magadha, trên núi Nam Sơn,
tại làng Bà-la-môn tên Ekanàlà.
2)
Lúc bấy giờ là thời gian gieo mạ, và Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja
sắp đặt sẵn sàng khoảng năm trăm lưỡi cày.
3)
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến nông
trường của Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja.
4)
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja đang phân phát đồ
ăn.
5)
Thế Tôn đi đến chỗ phân phát đồ ăn, rồi đứng một
bên.
6)
Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja thấy Thế Tôn đang đứng một bên
để khất thực, thấy vậy, bèn nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, tôi cày và tôi gieo mạ; sau khi cày và gieo mạ,
tôi ăn. Này Sa-môn, Ông có cày và gieo mạ không; sau khi cày
và gieo mạ, Ông ăn?
7)
-- Này Bà-la-môn, Ta cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và
gieo mạ, Ta ăn.
8)
-- Nhưng chúng tôi không thấy cái ách, cái cày, cái lưỡi
cày, cái gậy đâm, hay các con bò đực của Tôn giả Gotama.
Tuy vậy Tôn giả Gotama lại nói như sau: "Này Bà-la-môn, Ta
cũng có cày và gieo mạ, sau khi cày và gieo mạ, Ta ăn".
9)
Rồi Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ông
nói là nông phu,
Ta
không thấy Ông cày,
Người
nông phu được hỏi,
Hãy
lên tiếng trả lời,
Sao
chúng tôi biết được,
Ông
thật sự có cày?
10) (Thế
Tôn):
Lòng
tin là hạt giống,
Khổ
hạnh là mưa móc,
Trí
tuệ đối với Ta,
Là
cày và ách mang,
Tàm
quý là cán cày,
Ý
căn là dây cột,
Chánh
niệm đối với Ta,
Là
lưỡi cày, gậy đâm.
Thân
hành được hộ trì,
Khẩu
hành được hộ trì
Ðối
với các món ăn,
Bụng
Ta dùng vừa phải,
Ta
nhổ lên (tà vạy),
Với
chơn lý sự thật,
Hoan
hỷ trong Niết-bàn
Là
giải thoát của Ta.
Tinh
tấn đối với Ta,
Là
khả năng mang ách,
Ðưa
Ta tiến dần đến,
An
ổn khỏi ách nạn,
Ði
đến, không trở lui,
Chỗ
Ta đi, không sầu.
Như
vậy, cày ruộng này,
Ðưa
đến quả bất tử,
Sau
khi cày cày này,
Mọi
đau khổ được thoát.
11) --
Hãy ăn Tôn giả Gotama, Tôn giả Gotama thật là người nông
phu. Tôn giả Gotama cày, sự cày đưa đến quả bất tử.
12)
(Thế Tôn):
Ta
không có hưởng thọ,
Vì
tụng hát kệ chú,
Thường
pháp không phải vậy,
Ðối
vị có tri kiến.
Chư
Phật đã loại bỏ,
Tụng
hát các kệ chú,
Chơn
thật đối với Pháp,
Sở
hành là như vậy.
Bậc
Ðại Sĩ vẹn toàn,
Cúng
dường phải khác biệt,
Ðoạn
tận các lậu hoặc,
Trạo
hối được lắng dịu,
Với
những bậc như vậy,
Cơm
nước phải cúng dường.
Thật
chính là phước điền,
Cho
những ai cầu phước.
Ðược
nghe nói vậy, Bà-la-môn Kasi Bhàradvàja bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì
bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ
đường cho kẻ bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng
tối cho người có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh
pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình
bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Tôn giả Gotama, quy y Pháp
và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ
tử, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
II.
Udaya (S.i,173)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng, cầm y bát đi đến trú xứ của
Bà-la-môn Udaya.
3)
Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát của Thế Tôn.
4)
Lần thứ hai Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi
đến trú xứ của Bà-la-môn Udaya...
5)
Lần thứ ba, Bà-la-môn Udaya lấy cơm đổ đầy bình bát Thế
Tôn và nói với Thế Tôn:
- Tham
lam là Sa-môn Gotama, đến đi đến lại nhiều lần!
(Thế
Tôn):
Nhiều
lần và nhiều lần,
Chúng
gieo vãi hạt giống.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Trời
mưa đi, mưa lại.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Người
nông phu cày ruộng.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Lúa
gạo đến quốc độ.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Hành
khất lại xin ăn.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Thí
chủ lại bố thí.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Thí
chủ sau khi cho.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Ðược
đi đến thiên giới.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Người
làm sữa vắt sữa,
Nhiều
lần và nhiều lần,
Bò
con tìm bò mẹ.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Mệt
sức và lao khổ.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Kẻ
ngu nhập bào thai.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Lại
sanh rồi lại chết.
Nhiều
lần và nhiều lần,
Họ
mang đến nghĩa địa.
Họ
được đường giải thoát,
Không
đưa đến tái sanh.
Bậc
đại trí, đại tuệ,
Không
sanh đi, sanh lại.
7) Khi
được nói vậy, Bà-la-môn Udaya bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama... Mong Tôn giả Gotama nhận
con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn
đời quy ngưỡng!
III.
Devahita (S.i,173)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn bị bịnh về phong khí và Tôn giả
Upavàna là thị giả Thế Tôn.
3)
Rồi Thế Tôn gọi Tôn giả Upavàna:
--
Này Upavàna, Ông có biết làm sao cho Ta nước nóng?
4)
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Upavàna vâng đáp Thế Tôn, đắp y, cầm y bát, đi đến
trú xứ của Bà-la-môn Devahita; sau khi đến, đứng im lặng
một bên.
5)
Bà-la-môn Devahita thấy Tôn giả Upavàna đứng im lặng một
bên, bèn nói lên bài kệ với Tôn giả Upavàna:
Tôn
giả đứng im lặng,
Trọc
đầu, choàng đại y,
Ông
muốn gì, cầu gì?
Ông
đến để xin gì?
6) Tôn
giả:
Bậc
La-hán, Thiện Thệ,
Hiện
bị bịnh phong khí,
Nếu
đây có nước nóng,
Hãy
dâng bậc Ðại Thánh!
Xứng
đáng được cúng dường,
Ngài
đã được cúng dường.
Xứng
đáng được tôn kính,
Ngài
đã được tôn kính,
Xứng
đáng được cung kính,
Ngài
đã được cung kính,
Vì
Ngài, tôi muốn được
Nước
nóng để đem về.
7) Rồi
Bà-la-môn Devahita bảo một người lấy đòn gánh gánh nước
nóng và một bình đường mật, dâng cho Tôn giả Upavàna.
8)
Rồi Tôn giả Upavàna đi đến Thế Tôn, dùng nước nóng tắm
cho Thế Tôn, dùng đường mật pha với nước nóng dâng lên
Thế Tôn dùng.
9)
Và bệnh phong khí của Thế Tôn được nhẹ bớt.
10)
Rồi Bà-la-môn Devahita đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói
với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên
những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống
một bên.
11)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Devahita nói lên bài kệ với
Thế Tôn:
Chỗ
nào người thí chủ,
Xứng
đáng nên bố thí?
Chỗ
nào sự bố thí,
Ðưa
đến quả báo lớn?
Cúng
dường phải thế nào?
Cung
kính phải thế nào?
12) (Thế
Tôn):
Ai
biết được đời trước,
Thấy
Thiên giới, ác thú,
Ðoạn
diệt được tái sanh,
Thắng
trí, bậc Mâu-ni.
Nên
bố thí vị ấy,
Bố
thí được quả lớn.
Cúng
dường phải như vậy,
Cung
kính phải như vậy.
13) Khi
được nghe nói vậy, Bà-la-môn Devahita bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận
con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con xin
trọn đời quy ngưỡng!
IV.
Mahàsàla: Ðại phú giả hay y choàng thô.
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Rồi một Bà-la-môn đại phú, dáng bộ tiều tụy, đắp y
thô xấu, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế
Tôn những lời chào đón hỏi thăm; sau nói lên những lời
chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
3)
Thế Tôn nói với vị Bà-la-môn đại phú đang ngồi xuống
một bên:
--
Này Bà-la-môn, sao dáng bộ ông tiều tụy? Sao ông đắp y thô
xấu?
4)
-- Thưa Tôn giả Gotama, ở đây bốn đứa con trai của con,
chúng âm mưu với vợ của chúng, trục xuất con ra khỏi nhà.
5)
-- Vậy này Bà-la-môn, hãy đọc thuộc bài kệ này, và khi
nào quần chúng hội họp trong thính đường và cả các người
con cùng ngồi họp, hãy đọc lên bài kệ:
Khi
chúng sanh, tôi mừng
Tôi
muốn chúng sinh thành.
Cùng
vợ, chúng âm mưu,
(Chống
tôi và đuổi tôi),
Chẳng
khác gì con chó,
Xua
đuổi bầy heo lợn,
Ác
độc và lỗ mãng,
Chúng
gọi tôi: "Cha thân".
Chúng
thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội
lốt là con tôi,
Và
chúng trục xuất tôi,
Khi
tôi đến tuổi già,
Như
ngựa già suy nhược,
Bị
tẩn xuất chuồng ăn.
Nay
cha già bọn trẻ,
Phải
ăn xin nhà người,
Thà
cho tôi cái gậy,
Hơn
lũ con bất hiếu.
Với
gậy, chận bò dữ,
Chận
được loại chó dữ,
Chỗ
tối dò an toàn,
Chỗ
sâu, tìm chân đứng,
Với
sức mạnh chiếc gậy,
Vấp
ngã đứng dậy được.
6) Bà-la-môn
đại phú ấy học thuộc lòng bài kệ này từ Thế Tôn. Khi
quần chúng tụ hội tại thính đường và giữa các người
con đang ngồi họp, vị ấy đọc lên bài kệ:
Khi
chúng sanh, tôi mừng,
Tôi
muốn chúng sinh thành.
Cùng
vợ, chúng âm mưu,
(Chống
tôi và đuổi tôi),
Chẳng
khác gì con chó,
Xua
đuổi bầy heo lợn.
Ác
độc và lỗ mãng,
Chúng
gọi tôi: "Cha thân".
Chúng
thật quỷ Dạ-xoa,
Ðội
lốt là con tôi,
Và
chúng trục xuất tôi,
Khi
tôi đến tuổi già,
Như
ngựa già, suy nhược,
Bị
tẩn xuất chuồng ăn.
Nay
cha già bọn trẻ,
Phải
ăn xin nhà người.
Thà
cho tôi cái gậy,
Hơn
lũ con bất hiếu.
Với
gậy, chận bò dữ,
Chận
được loài chó dữ.
Chỗ
tối, dò an toàn,
Chỗ
sâu, tìm chân đứng,
Với
sức mạnh chiếc gậy,
Vấp
ngã, đứng dậy được.
8) Rồi
những người con Bà-la-môn đại phú ấy, dắt người cha về
nhà, tắm rửa và mỗi người đắp cho cha một bộ áo.
9)
Rồi Bà-la-môn đại phú ấy cầm một bộ áo đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón
hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân
hữu, liền ngồi xuống một bên.
10)
Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
--
Thưa Tôn giả Gotama, chúng con Bà-la-môn, có dâng cúng sở phí
cho bậc Ðạo Sư. Mong Tôn giả Gotama chấp nhận sở phí cho
bậc Ðạo Sư của con.
11)
Và Thế Tôn vì lòng từ chấp nhận.
12)
Rồi Bà-la-môn đại phú ấy bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay Tôn giả Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận
con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn
đời quy ngưỡng!
V.
Mànatthada (S.i,177)
1)
Nhân duyên tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, Bà-la-môn tên Mànatthada trú ở Sàvatthi. Vị
này không cung kính mẹ, không cung kính cha, không cung kính Ðạo
sư, không cung kính anh trưởng.
3)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp, có đại chúng đoanh
vây.
4)
Rồi Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ như sau: "Sa-môn Gotama nay đang
thuyết pháp có đại chúng đoanh vây. Vậy ta hãy đi đến
Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama nói chuyện với ta, ta cũng sẽ
nói chuyện với Sa-môn Gotama. Nếu Sa-môn Gotama không nói chuyện
với ta, ta cũng sẽ không nói chuyện với Sa-môn Gotama".
5)
Rồi Bà-la-môn Mànatthada đi đến Thế Tôn; sau khi đến, liền
đứng một bên và im lặng.
6)
Và Thế Tôn không nói chuyện với Bà-la-môn ấy.
7)
Bà-la-môn Mànatthada suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này không biết gì
hết", bèn muốn trở về.
8)
Rồi Thế Tôn với tâm tư của mình biết được tâm tư của
Bà-la-môn Mànatthada, liền nói lên bài kệ với Bà-la-môn Mànatthada:
Hỡi
này Bà-la-môn,
Kiêu
mạn không có tốt,
Ở
đây không có ai,
Bà-la-môn
nên biết.
Ông
đến, mục đích gì,
Hãy
nói lên cho biết?
9) Bà-la-môn
Mànatthada suy nghĩ: "Sa-môn Gotama biết tâm tư của ta", cúi
đầu đảnh lễ chaân Thế Tôn, lấy miệng hôn chân Thế Tôn,
lấy tay thoa vuốt và nói lên tên của mình:
--
Tôn giả Gotama, con là Mànatthada. Tôn giả Gotama, con là Mànatthada.
10)
Rồi đại chúng ấy tâm khởi lên kinh dị vi diệu: "Thật
là vi diệu, thưa Ngài! Thật là hy hữu, thưa Ngài! Bà-la-môn
Mànatthada không bao giờ cung kính mẹ, không bao giờ cung kính
cha, không bao giờ cung kính Ðạo sư, không bao giờ cung kính
anh trưởng, nay lại hạ mình tột cùng như vậy trước Sa-môn
Gotama."
11)
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Mànatthada:
--
Thôi vừa rồi Bà-la-môn. Hãy đứng dậy và ngồi lại trên
ghế của Ông. Lòng tín thành của Ông đối với Ta từ đâu
đến?
12)
Rồi Bà-la-môn Mànatthada sau khi ngồi trên ghế của mình, nói
lên bài kệ với Thế Tôn:
Ðối
ai không nên kiêu?
Ðối
ai nên kính trọng?
Ðối
ai nên tôn kính?
Cúng
dường ai, tốt lành?
13) (Thế
Tôn):
Với
mẹ và với cha,
Với
anh nhiều tuổi hơn,
Với
thầy là thứ tư,
Không
nên sanh kiêu mạn,
Nên
kính trọng vị ấy,
Nên
tôn kính vị ấy,
Cúng
dường họ, tốt lành.
Các
bậc A-la-hán,
Thanh
lương, lậu hoặc đoạn,
Việc
nên làm đã làm,
Hãy
nhiếp phục kiêu mạn,
Bậc
Vô thượng tôn ấy,
Ông
thật nên đảnh lễ.
14) Khi
được nghe nói vậy, Bà-la-môn Mànatthada bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả
Gotama!... Mong Tôn giả Gotama nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ
nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
VI.
Paccaniika (S.i,179)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ Bà-la-môn tên là Paccan