TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[06] Chương VI
Tương Ưng
Phạm Thiên
I.
Phẩm Thứ Nhất
I.
Thỉnh Cầu (S.i. 136)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới gốc
cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
2)
Rồi Thế Tôn, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau
đây được khởi lên:
3)
"Pháp này do Ta chứng được, thật là sâu kín, khó thấy,
khó chứng, tịch tịnh, cao thượng, siêu lý luận, vi diệu,
chỉ người có trí mới cảm nhận! Còn quần chúng này ưa
ái dục, khoái ái dục, ham thích ái dục, thật khó thấy định
lý này, tức là y duyên tánh duyên khởi pháp. Thật khó thấy
định lý này, tức là tất cả hành là tịch tịnh, tất cả
sanh y được từ bỏ, ái tận, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Nếu nay Ta thuyết pháp mà các người khác không hiểu Ta, như
vậy thật mệt mỏi cho Ta, như vậy thật bực phiền cho Ta."
4)
Rồi những bài kệ vi diệu này, từ trước chưa từng được
nghe, được Thế Tôn nói lên:
Pháp
Ta chứng khó khăn,
Sao
nay Ta nói lên?
Tham,
sân chi phối ai,
Khó
chứng ngộ pháp này.
Pháp
này đi ngược dòng,
Vi
diệu và thâm sâu,
Khó
thấy, rất vi tế.
Những
ai ưa ái dục,
Bị
vô minh bao phủ,
Rất
khó thấy pháp này.
5) Thế
Tôn với suy tư như vậy, tâm hướng về thụ động, không
muốn thuyết pháp.
6)
Rồi Phạm thiên Sahampati biết được tâm tư Thế Tôn nhờ
tâm tư của mình, liền suy nghĩ: "Thật sự thế giới bị
tiêu diệt, thật sự thế giới bị diệt vong, nếu tâm Như
Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác hướng về thụ động,
không muốn thuyết pháp".
7)
Rồi Phạm thiên Sahampati, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang
co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi thẳng; cũng vậy, vị
ấy biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt
Thế Tôn.
8)
Rồi Phạm thiên Sahampati đắp thượng y trên một bên vai,
quỳ đầu gối bên phải trên mặt đất, chắp tay hướng
về Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, hãy thuyết pháp! Bạch Thiện Thệ, hãy thuyết
pháp! Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần sẽ bị nguy
hại, nếu không được nghe Chánh pháp. (Nếu được nghe) những
vị này có thể thâm hiểu Chánh pháp.
9)
Phạm thiên Sahampati nói lên như vậy. Nói xong như vậy, vị
ấy lại nói thêm như sau:
Tại
xứ Magadha,
Thuở
trước có hiện ra,
Tà
pháp không thanh tịnh,
Do
uế tâm suy diễn.
Mở
cửa bất tử này,
Ðể
họ được nghe pháp,
Do
bậc Thánh vô uế,
Ðã
chơn chánh giác ngộ.
Như
đứng trên tảng đá,
Tại
đỉnh một núi cao,
Ðưa
mắt nhìn xung quanh,
Quần
chúng (dưới chân mình).
Cũng
vậy, Ngài Thiện Thệ,
Leo
lên lầu Chánh pháp,
Biến
nhãn, không sầu muộn,
Nhìn
xuống đám quần sanh
Bị
ưu tư sầu khổ,
Bị
sanh già áp bức.
Anh
hùng, hãy đứng lên,
Bậc
Chiến thắng chiến trường,
Vị
Trưởng đoàn lữ khách,
Ðấng
Thoát ly nợ nần,
Thế
Tôn hãy thuyết pháp,
Bộ
hành khắp thế gian,
Có
người nhờ được nghe,
Sẽ
thâm hiểu diệu nghĩa.
10) Rồi
Thế Tôn biết được lời thỉnh cầu của Phạm thiên, vì
lòng thương xót đối với chúng sanh, nhìn đời với Phật
nhãn.
11)
Thế Tôn trong khi nhìn đời với Phật nhãn, thấy có hạng
chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm bụi đời; có
hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận, tánh nghịch;
có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự nguy hiểm phải
tái sanh thế giới khác và sự nguy hiểm của những hành động
lỗi lầm.
12)
Ví như trong hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng, có một số
hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn
lên dưới nước, không vượt lên khỏi mặt nước, được
nuôi dưỡng dưới nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng
hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, sống
vươn lên tới mặt nước. Có một số hoa sen xanh, sen hồng
hay sen trắng sanh ra dưới nước, lớn lên dưới nước, vươn
lên khỏi mặt nước, không bị nước làm đẫm ướt. Cũng
vậy, Thế Tôn trong khi với Phật nhãn nhìn quanh thế giới,
thấy có hạng chúng sanh ít nhiễm bụi đời, nhiều nhiễm
bụi đời; có hạng lợi căn, độn căn; có hạng tánh thuận,
tánh nghịch; có hạng dễ dạy, khó dạy; một số thấy sự
nguy hiểm phải tái sanh thế giới khác, và sự nguy hiểm của
các hành động lỗi lầm.
13)
Thấy vậy, Ngài trả lời cho Phạm thiên Sahampati với những
bài kệ:
Hãy
rộng mở cho họ,
Cửa
trường sanh bất tử,
Hỡi
những ai có tai,
Hãy
giải thoát tà tín,
Ý
thức sự nguy hại,
Ta
sẽ có thuyết giảng
Pháp
tốt đẹp vi diệu,
Giữa
nhân loại, chúng sanh,
Ôi
Phạm thiên Sahampati!
14) Rồi
Phạm thiên Sahampati biết được: "Ta đã tạo ra cơ hội cho
Thế Tôn thuyết pháp", nên đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu
hướng về Ngài và biến mất tại chỗ ấy.
II.
Cung Kính.
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở tại Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới
gốc cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài mới thành đạo.
2)
Và Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây
được khởi lên: "Thật là khó khăn, sống không có cung kính,
không có vâng lời. Vậy Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống
y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn".
3)
Rồi Thế Tôn, suy nghĩ: "Với mục đích làm cho đầy đủ
giới uẩn chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng
và sống y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta
không thấy một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và
Phạm thiên, giữa các Sa-môn, giữa quần chúng loài Trời hay
loài Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác,với
giới uẩn cụ túc, tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung kính,
tôn trọng và sống y chỉ".
4)
"Với mục đích làm cho đầy đủ định uẩn chưa được
đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống y chỉ vào
một Sa-môn hay Bà-la-môn khác..."
5)
"Với mục đích làm cho đầy đủ tuệ uẩn chưa được đầy
đủ..."
6)
" Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát uẩn chưa được
đầy đủ..."
7)
"Với mục đích làm cho đầy đủ giải thoát tri kiến uẩn
chưa được đầy đủ, Ta hãy cung kính, tôn trọng và sống
y chỉ vào một Sa-môn hay Bà-la-môn khác. Nhưng Ta không thấy
một chỗ nào trong thế giới chư Thiên, Ác ma và Phạm thiên,
giữa quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, giữa loài Trời hay loài
Người, không có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác, với
giải thoát tri kiến uẩn tốt đẹp hơn Ta mà Ta có thể cung
kính, tôn trọng và sống y chỉ".
8)
"Với pháp này, Ta đã chánh đẳng giác, Ta hãy cung kính, tôn
trọng và sống y chỉ pháp này".
9)
Rồi Phạm thiên Sahampati với tâm tư của mình biết được
tâm tư của Thế Tôn, như một nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang
co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, vị ấy
biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trước mặt Thế
Tôn.
10)
Rồi Phạm thiên Sahamapati đắp thượng y vào một bên vai,
chấp tay hướng đến Thế Tôn và bạch Thế Tôn:
11)
-- Như vậy là phải, bạch Thế Tôn! Như vậy là phải, bạch
Thiện Thệ! Bạch Thế Tôn, trong thời quá khứ, các vị A-la-hán,
Chánh Ðẳng Chánh Giác, chư Thế Tôn ấy cung kính, tôn trọng
và sống y chỉ vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, trong thời
vị lai, các vị ấy sẽ thành A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác,
chư Thế Tôn ấy sẽ cung kính, tôn trọng và sẽ sống y chỉ
vào (Chánh) pháp. Bạch Thế Tôn, mong rằng trong thời hiện
tại, Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác cũng cung
kính, tôn trọng và sống y chỉ vào (Chánh) pháp.
12)
Phạm thiên Sahampati nói như vậy, sau khi nói như vậy, lại
nói thêm như sau:
Chư
Phật thời quá khứ,
Chư
Phật thời vị lai,
Và
đức Phật hiện tại,
Ðoạn
sầu muộn nhiều người.
Tất
cả các vị ấy,
Ðã,
đang và sẽ sống,
Cung
kính và tôn trọng,
Pháp
chơn chánh vi diệu,
Pháp
nhĩ là như vậy,
Ðối
với chư Phật-đà.
Do
vậy, muốn lợi ích,
Ước
vọng làm Ðại nhân,
Hãy
cung kính, tôn trọng
Pháp
chơn chánh vi diệu,
Hãy
ghi nhớ giáo pháp,
Chư
Phật Chánh Ðẳng Giác.
III.
Phạm Thiên.
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại tịnh xá ông Anàthapindika.
2)
Lúc bấy giờ con một nữ Bà-la-môn, tên là Brahmadeva đã xuất
gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình với Thế Tôn.
3)
Rồi Tôn giả Brahmadeva sống một mình, viễn ly, không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần, không bao lâu chứng được mục
đích mà các thiện nam tử chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia
đình sống không gia đình, chính là vô thượng cứu cánh Phạm
hạnh. Vị ấy ngay hiện tại với thắng trí tự mình chứng
đắc, chứng đạt và an trú. Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận,
Phạm hạnh đã thành, việc nên làm đã làm, không còn trở
lui trạng thái này nữa". Và Tôn giả Brahmadeva trở thành một
vị A-la-hán.
4)
Rồi Tôn giả Brahmadeva vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi
vào Sàvatthi để khất thực. Trong khi bộ hành thứ lớp khất
thực ở Sàvatthi, Tôn giả Brahmadeva đi đến nhà người mẹ
của mình.
5)
Lúc bấy giờ, nữ Bà-la-môn, mẹ Tôn giả Brahmadeva, thường
làm lễ cúng dường Phạm thiên.
6)
Rồi Phạm thiên Sahampati suy nghĩ: "Nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả
Brahmadeva này, thường làm lễ cúng dường Phạm thiên. Vậy
ta hãy đến bà ấy và làm cho bà chấn động".
7)
Rồi Phạm thiên Sahampati, như một người lực sĩ duỗi cánh
tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy,
Phạm thiên biến mất ở Phạm thiên giới và hiện ra trong
nhà mẹ Tôn giả Brahmadeva.
8)
Rồi Phạm thiên Sahampati đứng giữa hư không, nói lên bài
kệ này với nữ Bà-la-môn mẹ Tôn giả Brahmadeva:
Ôi!
Nữ Bà-la-môn,
Phạm
thiên giới rất xa,
Chính
Bà thường cúng dường,
Cho
chính Phạm thiên ấy,
Món
cúng dường như vậy,
Không
món ăn Phạm thiên.
Người
bập bẹ làm gì,
Chưa
biết Phạm thiên đạo.
Này
nữ Bà-la-môn,
Brahmadeva
này
Là
con trai của bà,
Ngài
đoạn mọi sanh y,
Chứng
pháp siêu Thiên giới,
Khất
sĩ, không sở hữu,
Không
nuôi dưỡng một ai.
Vị
ấy nay đã đến,
Nhà
Bà để khất thực,
Xứng
đáng được cúng dường,
Thâm
hiểu các Thánh điển,
Các
căn khéo tu tập,
Nhơn,
Thiên xứng cúng dường.
Vất
ngoài mọi tà ác,
Thoát
ly mọi nhiễm ô.
Ngài
đi, tìm độ thực,
Lắng
dịu mọi ưu phiền,
Về
sau ngài không có,
Về
trước, ngài cũng không.
Vắng
lặng, không mù quáng,
Não
phiền, không đắm say.
Ngài
bỏ rơi gậy gộc,
Ðối
kẻ yếu, người mạnh.
Mong
ngài được thọ hưởng,
Món
thượng, vị Bà dâng,
Không
bị ác quân phá,
Tâm
tư thuần lắng dịu.
Như
voi thuần, ngài đi,
Thoát
ly mọi ái dục.
Vị
Tỷ-kheo trì giới,
Tâm
tư khéo giải thoát,
Hãy
mời ngài thọ hưởng
Thượng
vị Bà cúng dường.
Bà
hãy dâng cúng dường.
Lên
ngài, Bà tin tưởng,
Với
lòng tin bất động,
Xứng
đáng Bà cúng dường.
Hãy
làm điều phước đức,
Dành
an lạc đời sau.
Này
nữ Bà-la-môn,
Nay
Bà đã thấy Ngài.
Bậc
Thánh nhân ẩn sĩ,
Bậc
vượt khỏi bộc lưu.
9)
Bà
hãy dâng cúng dường
Lên
ngài, Bà tin tưởng,
Với
lòng tin bất động,
Xứng
đáng Bà cúng dường.
Bà
đã làm công đức,
Dành
an lạc đời sau,
Này
Nữ Bà-la-môn,
Nay
bà đã thấy ngài,
Bậc
Thánh nhân ẩn sĩ,
Bậc
vượt khỏi bộc lưu.
IV.
Phạm Thiên Baka (S.i.142)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2)
Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka khởi lên ác tà kiến như sau:
"Ðây là thường. Ðây là thường hằng. Ðây là thường trú.
Ðây là viên mãn. Ðây là bất động. Ðây là không sanh, không
già, không chết, không diệt, không khởi. Và ở ngoài đây
ra, không có một sự giải thoát nào khác".
3)
Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư
của Phạm thiên Baka. Như người lực sĩ duỗi cánh tay đang
co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến
mất ở Jetavana (Thắng Lâm) và hiện ra ở Phạm thiên giới
ấy.
4)
Phạm Thiên Baka thấy Thế Tôn từ xa đi đến, thấy vậy liền
bạch Thế Tôn:
--
Hãy đến đây, Tôn giả ! Ðón chào mừng Tôn giả! Thưa Tôn
giả, đã từ lâu Tôn giả tạo ra cơ hội này, tức là đến
đây. Thưa Tôn giả, đây là thường. Ðây là thường hằng.
Ðây là thường trú. Ðây là viên mãn. Ðây là bất động.
Ðây là không có sanh, không có già, không có chết, không có
diệt, không có khởi. Ngoài đây ra, không có một pháp giải
thoát nào khác hơn.
5)
Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Phạm thiên Baka:
--
Ông thật là vô minh, này Phạm thiên Baka! Ông thật là vô
minh, này Phạm thiên Baka! Ở đây, cái vô thường lại nói
là thường. Cái không thường hằng lại nói là thường hằng.
Cái không thường trú lại nói là thường trú. Cái không viên
mãn lại nói là viên mãn. Cái không bất động lại nói là
bất động. Và ở đây có sanh, có già, có chết, có diệt,
có khởi, lại nói ở đây không sanh, không già, không chết,
không diệt, không khởi. Và có pháp giải thoát khác nữa lại
nói là không có pháp giải thoát nào khác.
6)
(Baka):
Này
Ngài Gotama,
Bảy
hai công đức nghiệp,
Chúng
ta ngự thế giới,
Chinh
phục sanh và già,
Ðây
đời sống cuối cùng,
Thâm
hiểu Thánh Vệ-đà,
Ðạt
được Phạm thiên vị,
Nhiều
người lễ bái ta.
7) (Thế
Tôn):
Ngắn
thay đời sống này,
Thọ
mạng đâu có dài,
Chỉ
có Ông, Baka,
Nghĩ
rằng thọ mạng dài,
Ta
biết thọ mạng Ông,
Này
Brahma như vậy,
Khoảng
trăm ngàn năm dư,
(Nirabbudànam).
8) (Baka):
Nếu
Ngài là Thế Tôn,
Thấy
được sự bất tận,
Ngài
vượt qua, chinh phục,
Sanh
già và sầu muộn,
Giới
hạnh thuở xưa ấy,
Nào
ích gì cho con,
Hãy
nói lên cho con,
Ðể
con biết rõ ràng.
9) (Thế
Tôn):
Có
khá đông nhiều người,
Khát
nước và nhiệt não,
Quá
khứ Ông cho uống,
Và
cứu độ nhiều người.
Chính
giới ấy, hạnh ấy
Của
Ông trong thời xưa,
Như
kẻ ngủ được thức
Ta
có nhớ như vậy.
Tại
bờ sông Sơn Dương,
Khi
quần chúng bị bắt,
Ông
giải thoát cho họ,
Ông
dắt trốn kẻ tù.
Chính
giới ấy, hạnh ấy,
Của
Ông trong thời xưa,
Như
kẻ ngủ được thức,
Ta
có nhớ như vậy.
Khi
giữa dòng sông Hằng,
Có
thuyền bị công hãm,
Bởi
loại rắn bạo ngược
Muốn
nuốt sống loài Người,
Với
sức mạnh thần lực,
Ông
chinh phục, giải cứu,
Chính
giới ấy, hạnh ấy,
Của
ông trong thời xưa,
Như
kẻ ngủ được thức,
Ta
có nhớ như vậy.
Ta
với tên Kappa,
Một
thời đệ tử Ông,
Ta
được Ông xác nhận,
Bậc
thông minh trí tuệ,
Chính
giới ấy, hạnh ấy,
Của
Ông trong thời xưa,
Như
kẻ ngủ được thức,
Ta
có nhớ như vậy.
10) (Baka):
Chắc
chắn Ngài được biết,
Thọ
sanh con như vậy,
Ngài
cũng biết người khác,
Vì
Ngài, bậc Giác Ngộ.
Như
vậy oai đức Ngài,
Chói
sáng là như vậy,
Hào
quang Ngài sáng chói,
An
trú Phạm thiên giới.
V.
Tà Kiến Khác (S.i.144)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, một Phạm thiên khác có khởi lên một ác tà
kiến như sau: "Không một Sa-môn hay Bà-la-môn nào có thể đến
ở đây".
3)
Rồi Thế Tôn, với tâm tư của mình, biết được tâm tư
của Phạm thiên ấy. Như người lực sĩ...,... hiện ra trong
Phạm thiên giới ấy.
4)
Rồi Thế Tôn ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm
thiên ấy, toàn thân phun lửa.
5)
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna khởi lên ý nghĩ: "Nay Thế Tôn
đang trú ở đâu?".
6)
Mahà Moggallàna, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, thấy
Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa hư không, trên đầu Phạm
thiên ấy, toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ
duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra;
cũng vậy, ngài biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên
giới ấy.
7)
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna ngồi kiết-già giữa hư không
về phía đông, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới
Thế Tôn, toàn thân phun lửa.
8)
Rồi Tôn giả Mahà Kasspa (Ðại Ca-diếp) khởi lên ý nghĩ:
"Nay Thế Tôn đang trú ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh
siêu nhân, Mahà Kassapa thấy Thế Tôn đang ngồi kiết-già giữa
hư không...,... thấy vậy như nhà lực sĩ...,... cũng vậy,
biến mất ở Jetavana, hiện ra ở Phạm thiên giới ấy. Rồi
Tôn giả Mahà Kassapa ngồi kiết-già giữa hư không về phía
Nam, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế Tôn, toàn
thân phun lửa.
9)
Rồi Mahà Kappina (Ðại Kiếp-tân-na) khởi lên ý nghĩ: "Nay
Thế Tôn đang trú ở đâu?"
10)
Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Mahà Kappina thấy Thế
Tôn...,... toàn thân phun lửa. Thấy vậy, như nhà lực sĩ...,...
cũng vậy biến mất ở Jetavana và hiện ra ở Phạm thiên giới
ấy. Rồi Tôn giả Mahà Kappina ngồi kiết-già giữa hư không
về phía Tây, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế
Tôn, toàn thân phun lửa.
11)
Rồi Tôn giả Anuruddha (A-na-luật-đà) khởi lên ý nghĩ: "Thế
Tôn hiện nay đang trú ở đâu?". Với thiên nhãn thanh tịnh,
siêu nhân, Tôn giả Anuruddha thấy...,... hiện ra ở Phạm thiên
giới ấy. Rồi Tôn giả Anuraddha ngồi kiết-già giữa hư không
về phía Bắc, trên đầu vị Phạm thiên ấy, phía dưới Thế
Tôn, toàn thân phun lửa.
12)
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên
ấy:
Này
Hiền giả, hôm nay,
Người
còn giữ tà kiến
Như
tà kiến của Ông,
Ðã
gìn giữ thời xưa.
Ông
có thấy hào quang
Siêu
việt Phạm thiên giới?
13) (Phạm
thiên ấy):
Này
Thân hữu, nay tôi
Không
còn giữ tà kiến,
Như
tà kiến của tôi,
Ðã
gìn giữ thời xưa.
Tôi
có thấy hào quang,
Siêu
việt Phạm thiên giới,
Làm
sao tôi chấp nhận:
"Tôi
là thường, là hằng"?
14) Rồi
Thế Tôn sau khi làm cho Phạm thiên ấy dao động, như một
nhà lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại, hay co lại cánh tay
đang duỗi ra; cũng vậy, Ngài biến mất tại Phạm thiên giới
ấy và hiện ra ở Jetavana.
15)
Rồi Phạm thiên ấy gọi một Phạm thiên chúng:
--
Này Tôn giả, hãy đi đến Tôn giả Mahà Moggallàna; sau khi
đến, thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna: "Thưa Tôn giả Moggallàna,
bậc Thế Tôn ấy có những vị đệ tử nào khác, cũng có
thần lực, cũng có uy đức như các Tôn giả Moggallàna, Kassapa,
Kappina và Anuruddha?"
16)
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Phạm
thiên chúng ấy vâng đáp Phạm thiên ấy và đi đến Tôn giả
Mahà Moggallàna.
17)
Sau khi đến, vị ấy thưa với Tôn giả Mahà Moggallàna:
--
Thưa Tôn giả Moggallàna, bậc Thế Tôn ấy có những đệ tử
nào khác, cũng có thần lực, cũng có uy đức như các Tôn
giả Moggallàna, Kassapa, Kappina, Anuruddha?
18)
Rồi Tôn giả Mahà Moggallàna nói lên bài kệ với Phạm thiên
chúng ấy:
Chứng
ba minh thần lực,
Khéo
đọc hiểu tâm người,
Bậc
lậu tận La-hán,
Ðệ
tử Phật rất nhiều.
19) Rồi
Phạm thiên chúng ấy hoan hỷ, tín thọ lời Tôn giả Mahà
Moggallàna nói, đi đến Ðại Phạm thiên; sau khi đến, nói
với vị Phạm thiên ấy:
--
Thưa Tôn giả, Tôn giả Mahà Moggallàna nói như sau:
"Chứng
ba minh thần lực,
Khéo
đọc hiểu tâm người,
Bậc
lậu tận La-hán,
Ðệ
tử Phật rất nhiều."
20) Phạm
thiên chúng ấy nói như vậy. Vị Phạm thiên kia hoan hỷ, tín
thọ lời nói của Phạm thiên chúng ấy.
VI.
Phóng Dật (S.i.146)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang Thiền tịnh độc cư vào buổi
trưa.
3)
Rồi hai Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Suddhavàsa đi đến
Thế Tôn. Sau khi đến, họ đứng mỗi người dựa vào một
cột cửa.
4)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà nói với Bích-chi Phạm thiên
Suddhavàsa:
--
Này Tôn giả, nay không phải thời để hầu thăm Thế Tôn,
Thế Tôn đang Thiền tịnh vào buổi trưa. Và có một Phạm
thiên giới phồn vinh và thịnh vượng, tại đấy có Phạm
thiên an trú, sống phóng dật. Này Tôn giả, hãy đi đến Phạm
thiên giới ấy; sau khi đến hãy làm cho Phạm thiên ấy dao
động.
5)
-- Thưa vâng, Thân hữu.
Bích-chi
Phạm thiên Suddhavàsa vâng đáp Bích-chi Phạm thiên Subrahmà.
6)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa,
như một lực sĩ...,... cũng vậy, các vị này biến mất trước
mặt Thế Tôn và hiện ra ở Phạm thiên giới ấy.
7)
Phạm thiên này thấy các Phạm thiên kia từ xa đi đến, thấy
vậy, liền nói với các vị Phạm thiên kia:
--
Này chư Tôn giả, chư Tôn giả từ đâu đến?
8)
-- Này Tôn giả, chúng tôi đến, sau khi được diện kiến
Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Này Tôn giả, Tôn
giả nên đi đến hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác.
9)
Khi được nói vậy, Phạm thiên này không để ý đến lời
nói ấy, tự mình biến hình thành một ngàn thân, rồi nói
với Bích-chi Phạm thiên Subrahmà:
--
Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta
như vậy không?
10)
-- Này Tôn giả, ta có thấy thần lực, uy đức của Tôn giả
như vậy.
11)
-- Này Tôn giả, thần lực và uy đức của ta như vậy, thời
ta còn phải đi hầu thăm một Sa-môn hay Bà-la-môn nào khác
để làm gì?
12)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà tự thân biến hình thành
hai ngàn thân rồi nói với Phạm thiên kia:
--
Này Tôn giả, Tôn giả có thấy thần lực, uy đức của ta
như vậy không?
13)
-- Này Tôn giả, tôi có thấy thần lực, uy đức của Tôn
giả như vậy.
14)
-- Này Tôn giả, Thế Tôn có đại thần lực và đại uy đức
thắng hơn Ông và ta nữa. Này Tôn giả, Tôn giả hãy đi đến
hầu thăm Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.
15)
Rồi Phạm thiên kia nói lên bài kệ với Bích-chi Phạm thiên
Subrahmà:
Ba
hàng kim sí điểu,
Và
bốn hàng thiên nga,
Năm
hàng trăm hổ cái
Rực
rỡ và sáng chói,
Cung
điện này chiếu diệu,
Bừng
sáng cả Bắc phương.
16) (Bích-chi
Phạm thiên Subrahmà):
Dầu
cho cung điện Ông,
Rực
rỡ và chói sáng,
Chiếu
diệu cả vòm trời,
Bừng
sáng cả Bắc phương.
Bậc
Thiện Thệ sáng suốt,
Thấy
nguy hiểm trong sắc,
Luôn
luôn phải biến hoại,
Nên
không ái lạc sắc.
17) --
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa;
sau khi làm vị Phạm thiên ấy dao động, liền biến mất tại
chỗ ấy.
18)
Và Phạm thiên ấy, sau một thời gian đi đến hầu thăm Thế
Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.
VII.
Kokàlika (S.i,148)
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ Thế Tôn Thiền tịnh độc cư vào buổi trưa.
3)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa
đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đứng mỗi người dựa vào
một cái trụ cửa.
4)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Kokàlika nói lên
bài kệ trước mặt Thế Tôn:
Ai
là người có trí,
Biết
nhận xét phân tích,
Lại
muốn đem ước lượng,
Bậc
siêu vượt ước lượng?
Ta
nghĩ kẻ phàm phu,
Bị
hạn chế bao vây,
Làm
sao ước lượng được,
Bậc
siêu vượt ước lượng?
VIII.
Tissaka (S.i,148)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thiền tịnh độc cư vào buổi
trưa.
3)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà và Bích-chi Phạm thiên Suddhavàsa
đi đến Thế Tôn; sau khi đến, mỗi người đứng dựa vào
một cột trụ cửa.
4)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Subrahmà vì Tỷ-kheo Katamodaka Tissaka
nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ai
là người có trí,
Biết
nhận xét phân tích,
Lại
muốn đem ước lượng,
Bậc
siêu vượt ước lượng?
Ta
nghĩ người vô trí,
Bị
hạn chế bao vây,
Làm
sao ước lượng được,
Bậc
siêu vượt ước lượng?
IX.
Tudubrahmà (S.i, 149)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ Tỷ-kheo Kokàlika bị bệnh, đau đớn, bị trọng
bệnh.
3)
Rồi Bích-chi Phạm thiên Tudu khi đêm đã gần mãn, với dung
sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Tỷ-kheo
Kokàlika.
4)
Sau khi đến, vị ấy đứng trên hư không, và nói với Tỷ-kheo
Kokàlika:
--
Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và Moggallàna.
Sàriputta và Moggallàna thật là hòa nhã.
5)
-- Ông là ai, này Hiền giả?
6)
-- Ta là Bích-chi Phạm thiên Tudu.
7)
-- Này Hiền giả, phải chăng Ông đã được Thế Tôn nói
là đã chứng quả Bất lai. Vậy Ông đến ở đời này làm
gì? Ông có thấy lỗi lầm của Ông như thế nào?
Phàm
con người đã sanh,
Sanh
với búa trong miệng,
Kẻ
ngu khi nói bậy,
Tự
chặt đứt lấy thân.
Ai
khen kẻ làm bậy,
Ai
chê người làm hay,
Tự
nhen nhúm bất hạnh,
Do
chính miệng của mình;
Chính
do bất hạnh ấy,
Nên
không được an lạc,
Nhỏ
thay bất hạnh này,
Trong
canh bạc (rủi may),
Bị
tan hoang tài sản,
Trong
giờ phút đỏ đen!
Lớn
hơn, sự bất hạnh,
Hơn
mọi bất hạnh khác,
Do
tự mình gây nên,
Cho
tự ngã của mình!
Ai
đối xử ác ý,
Với
chư Phật, Thiện Thệ,
Phải
trải qua thời gian,
Trăm
ngàn, nhiều hơn nữa,
Ba
mươi sáu và năm,
Trải
thời gian thật dài.
Ai
với lời và ý,
Phỉ
báng bậc Hiền Thánh,
Dùng
ác tâm chống đối,
Sẽ
sa đọa địa ngục.
X.
Kokàlika (S.i,119)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Rồi Tỷ-kheo Kokàlika đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ
bị ác dục chi phối.
4)
Khi được nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokàlika:
--
Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói
như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và
Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
5)
Lần thứ hai, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, dầu Thế Tôn đáng tin tưởng, rất đáng tin
cậy; nhưng Sàriputta và Moggallàna là hạng ác dục. Họ bị
ác dục chi phối.
6)
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo Kokalika:
--
Này Kokàlika, chớ có nói như vậy. Này Kokàlika, chớ có nói
như vậy. Này Kokàlika, hãy đặt tin tưởng vào Sàriputta và
Moggallàna. Sàriputta và Moggallàna thật là hòa ái.
7)
Lần thứ ba, Tỷ-kheo Kokàlika bạch Thế Tôn:
--
... Họ bị ác dục chi phối.
8)
Lần thứ ba, Thế Tôn bảo Tỷ-kheo Kokàlika:
--
... Sariputta và Moggallàna thật là hòa ái.
9)
Rồi Tỷ-kheo Kokàlika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
Thế Tôn, thân bên phải hướng về Ngài, rồi ra đi.
10)
Tỷ-kheo Kokàlika ra đi không được bao lâu, toàn thân mọc
lên những mụt nhọt lớn bằng hột cải. Từ hột cải, chúng
lớn lên bằng hột đậu xanh (mugga). Từ hột đậu xanh, chúng
lớn lên bằng hột đậu lớn (kalàya). Từ hột đậu lớn,
chúng lớn lên bằng rolatthi (hột cây jujube, cây táo). Từ
hột rolatthi, chúng lớn lên bằng hột kolama. Từ hột kolama,
chúng lớn lên bằng hột amala (a-ma-la quả). Từ quả amala,
chúng lớn lên bằng quả beluva chưa chín. Từ quả beluva chưa
chín, chúng lớn lên bằng quả billa. Từ hình lớn bằng quả
billa, chúng nứt vỡ ra, chảy máu và mủ.
11)
Rồi Tỷ-kheo Kokàlika do bệnh này bị mệnh chung. Bị mệnh
chung, Tỷ-kheo Kokàlika sanh trong địa ngục Sen hồng, với tâm
hận thù đối với Tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
12)
Rồi Phạm thiên Sahampati, sau khi đêm đã gần mãn, với dung
sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana, đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
13)
Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Bạch Thế
Tôn, sau khi mệnh chung Tỷ-kheo Kokàlika phải sanh vào địa
ngục Sen hồng với tâm hận thù đối với Tôn giả Sàriputta
và Moggallàna.
14)
Phạm thiên Sahampati nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ
Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi biến mất tại
chỗ ấy.
15)
Rồi Thế Tôn, sau khi đêm ấy đã qua, liền bảo các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, hồi hôm, Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã
gần mãn, với dung sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Jetavana
đi đến Ta; sau khi đến, đảnh lễ Ta rồi đứng một bên.
Ðứng một bên, này các Tỷ kheo, Phạm thiên Sahampati bạch
với Ta: " Bạch Thế Tôn, Tỳ-kheo Kokàlika đã mệnh chung. Và
bạch Thế Tôn, Tỷ-kheo Kokàlika sau khi mệnh chung đã sanh vào
địa ngục Sen hồng với tâm thù hận đối với Tôn giả
Sàriputta và Moggattàna". Này các Tỷ-kheo, Phạm thiên Sahampati
nói như vậy. Sau khi nói xong, đảnh lễ Ta, thân phía hữu
hướng về Ta, rồi biến mất tại chỗ.
16)
Ðược nghe nói vậy, một Tỷ-kheo bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, bao nhiêu lâu là tuổi thọ trong địa ngục
Sen hồng?
17)
-- Thật dài, này Tỷ-kheo, là tuổi thọ trong địa ngục Sen
hồng. Không dễ gì tính được là bao nhiêu năm, bao nhiêu
trăm năm, bao nhiêu ngàn năm, bao nhiêu trăm ngàn năm.
18)
-- Bạch Thế Tôn, có thể tính được chăng bằng một ví
dụ?
19)
Thế Tôn đáp:
--
Có thể được, này Tỷ-kheo. Này Tỷ-kheo, ví như có một
bao hột đậu mè, nặng hai mươi khàrika, theo đo lường ở
nước Kosala. Ví dụ sau một trăm năm, một người lấy ra
một lần một hột mè. Này Tỷ-kheo, còn mau hơn là bao hột
mè, nặng hai mươi khàrika ấy, theo đo lường của nước Kosala,
đi đến tiêu hao, đi đến hao mòn do phương tiện ấy, so sánh
(với tuổi thọ) ở địa ngục Abhuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi
tuổi thọ ở địa ngục Abhuda bằng một tuổi thọ ở địa
ngục Nirabbuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục
Nirabbuda bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ababa. Này-Tỷ
kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ababa bằng một tuổi
thọ ở địa ngục Atata. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ
ở địa ngục Atata bằng một tuổi thọ ở địa ngục Ahaha.
Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Ahaha bằng
một tuổi thọ ở địa ngục Kumuda. Này Tỷ-kheo, hai mươi
tuổi thọ ở địa ngục Kumuda bằng một tuổi thọ ở địa
ngục Sogandhika. Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục
Sogandhika bằng một tuổi thọ ở địa ngục Uppala (Hoa sen
xanh). Này Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Uppala
bằng một tuổi thọ ở địa ngục Pundarika (Sen trắng). Này
Tỷ-kheo, hai mươi tuổi thọ ở địa ngục Sen trắng bằng
một tuổi thọ ở địa ngục Sen hồng. Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo
Kokàlika sanh tại địa ngục Sen hồng với tâm hận thù đối
với tôn giả Sàriputta và Moggallàna.
20)
Thế Tôn nói như vậy. Sau khi nói như vậy, bậc Thiện Thệ
lại nói thêm:
Phàm
con người đã sanh,
Sanh
với búa trong miệng,
Kẻ
ngu khi nói bậy,
Tự
chặt đứt lấy thân.
Ai
khen kẻ làm bậy,
Ai
chê người làm hay,
Tự
nhen nhúm bất hạnh,
Do
nơi miệng của mình,
Chính
do bất hạnh ấy,
Nên
không được an lạc.
Nhỏ
thay bất hạnh này,
Trong
canh bạc rủi may,
Bị
tan hoang tài sản,
Trong
giờ phút đỏ đen.
Lớn
hơn sự bất hạnh,
Hơn
mọi bất hạnh khác,
Do
tự mình gây nên,
Cho
tự ngã của mình.
Ai
đối xử ác ý,
Với
chư Phật, Thiện Thệ,
Phải
trải qua thời gian,
Trăm
ngàn nhiều hơn nữa,
Ba
mươi sáu và năm,
Trải
thời gian thật dài.
Ai
với lời và ý,
Phỉ
báng bậc Hiền Thánh,
Dùng
ác tâm chống đối,
Sẽ
sa đọa địa ngục.
II.
Phẩm Thứ Hai
I.
Sanamkumàra - Thường Ðồng tử (S.i,153)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), trên bờ sông Sappini.
2)
Rồi Phạm thiên Sanamkumàra, khi đêm đã gần mãn, với dung
sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng bờ sông Sappini, đi đến
Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi đứng một
bên.
3)
Ðứng một bên, Phạm thiên Sanamkumàra nói lên bài kệ này
trước mặt Thế Tôn:
Sát-đế-lỵ
tối thắng,
Giữa
người tin giai cấp.
Vị
đầy đủ trí, đức,
Tối
thắng giữa Nhơn, Thiên.
4) Phạm
thiên Sanamkumàra nói như vậy, và bậc Ðạo Sư chấp nhận.
5)
Rồi Phạm thiên Sanamkumàra biết được: "Thế Tôn đã chấp
nhận ta", đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài
và biến mất tại chỗ.
II.
Devadatta (S.i,153)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, trên núi Linh Thứu, khi Devadatta
bỏ đi không bao lâu.
2)
Rồi Phạm thiên Sahampati, khi đêm đã gần mãn, với dung sắc
thù thắng, chói sáng toàn vùng núi Linh Thứu, đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và đứng một bên.
3)
Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn về Devadatta:
Cây
chuối bị trái giết,
Cũng
vậy cây tre, lau.
Danh
vọng giết kẻ ác,
Như
thai giết con la.
III.
Andhakavinda (S.i,154)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Magadha, tại Andhakavinda.
2)
Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi ở ngoài trời, trong bóng đêm,
trong khi trời mưa từng hột một.
3)
Rồi Phạm thiên Sahampati, trong khi đêm đã gần mãn, với dung
sắc thù thắng, chói sáng toàn vùng Andhakavinda, đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi đứng một bên.
4)
Ðứng một bên, Phạm thiên Sahampati nói lên bài kệ này trước
mặt Thế Tôn:
Hãy
ở chỗ núi non,
Xa
vắng các xóm làng,
Hãy
sống đời giải thoát,
Từ
bỏ các kiết sử !
Nếu
tại đấy không đạt
Ðiều
Ông ưa, Ông thích,
Hãy
sống giữa chúng Tăng,
Hộ
trì, giữ chánh niệm,
Và
bộ hành khất thực,
Nhà
này đến nhà khác,
Các
căn được hộ trì,
Thận
trọng, giữ chánh niệm.
Hãy
ở chỗ núi non,
Xa
vắng các xóm làng,
Thoát
ly mọi sợ hãi,
Vô
úy, sống giải thoát.
Những
chỗ có rắn độc,
Có
đêm chớp, sấm vang,
Trong
đêm đen tối mịt,
Vị
Tỷ-kheo lặng ngồi,
Không
run, không hoảng sợ,
Lông
tóc không dựng ngược,
Chính
mắt con thấy vậy,
Không
phải chỉ nghe đồn.
Chính
trong một Phạm hạnh,
Ngàn
người thoát tử thần.
Hơn
năm trăm hữu học,
Mười,
mười lần một trăm,
Tất
cả chúng Dự lưu,
Khỏi
sanh loại bàng sanh.
Còn
các vị còn lại,
Theo
con đều hưởng phước,
Con
đếm không kể xiết,
Sợ
rơi vào vọng ngữ.
IV.
Arunavàti (S.i,155)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi...,...
2)
Ở đấy, Thế Tôn gọi các vị Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo.
3)
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
4)
Thế Tôn nói như sau:
5)
-- Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có vị vua tên là Arunavà. Này
các Tỷ-kheo, kinh đô vua Arunavà này tên là Arunavati. Này các
Tỷ-kheo, gần kinh đô Arunavati, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Chánh Giác an trú.
6)
Này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác có hai vị đệ tử xuất chúng, thượng túc, tên là Abhibhu
và Sambhava.
7)
Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác gọi Tỷ-kheo Abhibhu:
" --
Này Bà-la-môn, chúng ta hãy đi đến một Phạm thiên giới
cho đến thời dùng bữa ăn".
8)
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác.
9)
Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Chánh Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, như nhà lực sĩ duỗi cánh tay
đang co lại, hay co lại cánh tay đang duỗi ra, cũng vậy (hai
vị) biến mất ở kinh đô Arunavati và hiện ra ở Phạm thiên
giới ấy.
10)
Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán Chánh Ðẳng
Chánh Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:
" --
Này Bà-la-môn, hãy nói bài pháp cho Phạm thiên này, cho Phạm
phụ thiên và cho Phạm chúng thiên".
11)
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn."
Tỷ-kheo
Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác, tuyên thuyết bài pháp cho Phạm thiên ấy, cho Phạm phụ
thiên và cho Phạm chúng thiên, khích lệ, làm họ phấn khởi,
làm họ hoan hỷ.
12)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và
Phạm chúng thiên cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối
và nói rằng: "Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một
đệ tử lại thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?".
13)
Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác bảo Tỷ-kheo Abhibhu:
"--
Này Bà-la-môn, Phạm thiên, Phạm thụ thiên, và Phạm chúng
thiên ấy cảm thấy xúc phạm, bực bội, tức tối, nói rằng:
'Thật là hy hữu, thật là vi diệu, làm sao một đệ tử lại
thuyết pháp trước mặt bậc Ðạo Sư?' Vậy này Bà-la-môn,
hãy làm cho Phạm thiên, Phạm phụ thiên và Phạm chúng thiên
càng dao động bội phần hơn nữa".
14)
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, hiện thân thuyết pháp, tàng thân
thuyết pháp, hiện nửa thân dưới không hiện nửa thân trên
thuyết pháp, hiện nửa thân trên không hiện nửa thân giữa
thuyết pháp.
15)
Ở đây, này các Tỷ-kheo, Phạm thiên, Phạm phụ thiên và
Phạm chúng thiên, tâm khởi lên hy hữu, kỳ diệu nói rằng:
"Thật là hy hữu, thật là kỳ diệu, đại thần lực và đại
uy lực của vị Sa-môn".
16)
Rồi Tỷ-kheo Abhibhu bạch Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác:
"--
Bạch Thế Tôn, con xác nhận với lời nói này giữa chúng
Tỷ-kheo Tăng: "Ðứng ở Phạm thiên giới, con có thể khiến
cho ngàn thế giới nghe được tiếng của con."
17)
"-- Này Bà-la-môn, nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn,
nay là thời cho sự việc ấy. Này Bà-la-môn, Ông hãy đứng
ở Phạm thiên giới và làm cho ngàn thế giới nghe được
tiếng nói của ông".
18)
"-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn".
Này
các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Abhibhu vâng đáp Thế Tôn Sikhì, bậc
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, đứng ở Phạm thiên giới và nói
lên bài kệ này:
"Hãy
đứng dậy, lên đường,
Hãy
dấn thân Phật giáo,
Hãy
đánh bại Ma quân,
Như
voi phá chòi lá.
Ai
trong pháp luật này,
An
trú không phóng dật,
Ðoạn
tận vòng sống chết,
Sẽ
chấm dứt khổ đau".
19) Này
các Tỷ-kheo, rồi Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác và Tỷ-kheo Abhibhu, sau khi làm cho Phạm thiên, Phạm phụ
thiên và Phạm chúng thiên dao động, như người lực sĩ...,...
biến mất ở Phạm thiên giới ấy và hiện ra ở Arunavati.
20)
Rồi này các Tỷ-kheo, Thế Tôn Sikhì, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác gọi các vị Tỷ-kheo:
"--
Này các Tỷ kheo, các Ông có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu
đứng tại Phạm thiên giới, nói lên không?".
21)
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con có nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu
đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên."
22)
"-- Này các Tỷ-kheo, như thế nào các ông nghe bài kệ do Tỷ-kheo
Abhibhu đứng lên tại Phạm thiên giới đã nói lên?"
23)
"-- Bạch Thế Tôn, chúng con nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu đứng
tại Phạm thiên giới đã nói lên như sau:
Hãy
đứng dậy, lên đường,
Hãy
dấn thân Phật giáo.
Hãy
đánh bại Ma quân,
Như
voi phá chòi lá.
Ai
trong pháp luật này,
Ai
trú không phóng dật,
Ðoạn
tận vòng sống chết,
Sẽ
chấm dứt khổ đau.
24) Như
vậy, bạch Thế Tôn, chúng con đã nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu
đứng tại Phạm thiên giới đã nói lên."
25)
"-- Lành thay, lành thay, này các Tỷ-kheo. Lành thay, này các
Tỷ-kheo! Các Ông đã được nghe bài kệ do Tỷ-kheo Abhibhu
đứng tại Phạm thiên giới, đã nói lên".
26)
Thế Tôn đã nói như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ, tín thọ
lời Thế Tôn dạy.
V.
Parinibhàna - Bát-Niết-Bàn (S.i,157)
1)
Một thời Thế Tôn ở Kusinàrà, tại Upavattana, trong rừng
cây ta-la, giữa dân chúng Mallà, giữa hai cây ta-la song thọ
trong khi Ngài nhập Niết-bàn.
2)
Rồi Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên các Ông, hãy tinh tấn, chớ phóng
dật. Các pháp hữu vi là vô thường. Ðây là những lời cuối
cùng của Như Lai.
3)
Rồi Thế Tôn vào định sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền
thứ hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền
thứ ba, Ngài vào Thiền thứ thư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào
Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ, Ngài vào Thức vô
biên xứ. Ra Thức vô biên xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ. Ra
Vô sở hữu xứ, Ngài vào Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
4)
Ra Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài vào Vô sở hữu xứ.
Ra Vô sở hữu xứ, Ngài vào Thức vô biên xứ. Ra Thức vô
biên xứ, Ngài vào Không vô biên xứ. Ra Không vô biên xứ,
Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Ngài vào Thiền
thứ ba. Ra Thiền thứ ba, Ngài vào Thiền thứ hai. Ra Thiền
thứ hai, Ngài vào sơ Thiền. Ra sơ Thiền, Ngài vào Thiền thứ
hai. Ra Thiền thứ hai, Ngài vào Thiền thứ ba. Ra Thiền thứ
ba, Ngài vào Thiền thứ tư. Ra Thiền thứ tư, Thế Tôn liền
nhập diệt.
5)
Khi Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Phạm thiên
Brahmà nói lên bài kệ:
Mọi
sinh vật ở đời,
Tử
bỏ thân năm uẩn,
Bậc
Ðạo Sư cũng vậy,
Ðấng
Tuyệt Luân trên đời,
Như
Lai, đấng Hùng Lực,
Bậc
Giác Ngộ nhập diệt.
6) Khi
Thế Tôn diệt độ, nhân sự diệt độ này, Thiên chủ Sakha
nói lên bài kệ:
Các
hành là vô thường,