|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TƯƠNG
ƯNG BỘ
Samyutta Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2537 - 1993
TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[05] Chương V
Tương Ưng
Tỷ Kheo Ni
I.
Alavikhà (S.i.128)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2)
Tỷ-kheo-ni Alavikà, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào
Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở Sàvatthi xong, sau buổi
ăn, trên con đường khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến
rừng Andha để tìm sự yên tĩnh viễn ly.
3)
Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Alavikà run sợ, hoảng sợ, lông
tóc dựng ngược, muốn nàng từ bỏ yên tĩnh viễn ly, nên
đi đến Tỷ-kheo-ni Alavikà và nói lên bài kệ:
Ðời
không có xuất ly,
Sống
viễn ly làm gì?
Hãy
trọn hưởng dục lạc,
Chớ
hối hận về sau.
4) Tỷ-kheo-ni
Alavikà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không
phải người?"
5)
Tỷ-kheo-ni Alavikà suy nghĩ: "Chính Ác ma muốn làm ta run sợ,
hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn làm ta từ bỏ yên
tĩnh viễn ly nên đã nói lên bài kệ đó".
6)
Tỷ-kheo-ni Alavikà biết được: "Ðấy là Ác ma", liền nói
lên bài kệ:
Ở
đời có xuất ly,
Nhờ
trí tuệ, ta chứng.
Này
Bà con phóng dật,
Biết
sao được pháp ấy?
Ái
dục như kiếm thương,
Ðài
chém đầu các uẩn.
Ðiều
Ông gọi dục lạc,
Ta
gọi là bất lạc.
7) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Alavikà đã biết ta", nên buồn
khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
II.
Somà (S.i.129)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Rồi
Tỷ-kheo-ni Somà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi
để khất thực.
2)
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường khất
thực trở về, Tỷ-kheo-ni đi đến rừng Andha để nghỉ ban
ngày. Sau khi đi sâu vào rừng, nàng ngồi dưới một gốc cây
để nghỉ ban ngày.
3)
Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Somà run sợ, hoảng sợ, lông tóc
dựng ngược, muốn nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến
Tỷ-kheo-ni Somà; sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni
Somà:
Ðịa
vị khó chứng đạt,
Chỉ
Thánh nhân chứng đạt,
Trí
nữ nhân hai ngón,
Sao
hy vọng chứng đạt?
4) Tỷ-kheo-ni
Somà suy nghĩ: "Ai đã nói bài kệ này? Người hay không phải
người?"
5)
Tỷ-kheo-ni Somà suy nghĩ: "Ðây là Ác ma muốn làm cho ta run
sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn ta từ bỏ Thiền
định, nên đã nói lên bài kệ đó".
6)
Tỷ-kheo-ni Somà biết được : "Ðây là Ác ma", liền nói lên
bài kệ với Ác ma:
Nữ
tánh chướng ngại gì,
Khi
tâm khéo Thiền định,
Khi
trí tuệ triển khai,
Chánh
quán pháp vi diệu?
Ai
tự mình tìm hỏi :
"Ta,
nữ nhân, nam nhân,
Hay
ta là ai khác?"
Xứng
nói chuyện Ác ma,
Ác
ma thật cân xứng.
7) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Somà đã biết ta", nên buồn khổ,
thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
III.
Gotamì (S.i.129)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Kisà Gotamì, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát đi vào Sàvatthi
để khất thực.
2)
Khất thực ở Sàvatthi xong, sau bữa ăn, trên con đường đi
khất thực trở về, Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đi đến rừng
Andha để nghỉ ban ngày; sau khi đi sâu vào rừng Andha, đến
ngồi dưới một gốc cây để nghỉ ban ngày.
3)
Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì run sợ, hoảng sợ,
lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định,
liền đi đến Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì; sau khi đi đến, liền
nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì:
Sao
nàng như mất con,
Một
mình, mặt ứa lệ.
Hay
một mình vào rừng,
Ðể
tìm đàn ông nào?
4) Tỷ-kheo-ni
Kisà Gotamì suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay
không phải người?"
5)
Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì suy nghĩ: "Ðây là Ác ma muốn làm ta
run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ
bỏ Thiền định nên đã nói lên bài kệ đó".
6)
Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì biết được: "Ðây là Ác ma", liền
nói lên bài kệ với Ác ma:
Con
hại, đã qua rồi,
Ðàn
ông đã chấm dứt,
Ta
không sầu, không khóc,
Ta
sợ gì các Ông?
Khắp
nơi hỷ, ái đoạn,
Khối
mê ám nát tan,
Chiến
thắng quân thần chết,
Vô
lậu, ta an trú.
7) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Kisà Gotamì đã biết ta" nên buồn
khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
IV.
Vijayà
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Vijayà vào buổi sáng đắp y... và ngồi xuống dưới một
gốc cây để nghỉ ban ngày.
2)
Ác Ma muốn làm cho Tỳ-kheo-ni Vijayà sợ hãi ... muốn khiến
nàng từ bỏ Thiền định, liền đi đến Tỳ-kheo-ni Vijayà;
sau khi đến, nói lên bài kệ với Tỳ-kheo-ni Vijayà:
Nàng
vừa trẻ, vừa đẹp,
Ta
vừa trẻ, vừa xuân,
Với
cung đàn năm điệu,
Nàng
cùng ta vui hưởng.
3) Tỷ-kheo-ni
Vijayà suy nghĩ : " Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay không
phải người?"
4)
Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : " Ðây là Ác ma... nói lên bài kệ
đó."
5)
Tỷ-kheo-ni Vijayà suy nghĩ : "Ðây là Ác ma", liền nói lên bài
kệ với Ác ma:
Sắc,
tiếng, vị, hương, xúc,
Làm
cho ý đam mê,
Ta
nhường lại Ác ma,
Ta
đâu có cần chúng.
Với
thân bất tịnh này,
Dễ
hư hoại mong manh,
Ta
bực phiền, tủi hổ,
Dục
ái được đoạn tận.
Họ
sanh hưởng sắc giới,
Chúng
vọng vô sắc giới,
Thiền
chứng an tịnh ấy,
Mọi
nơi, mê ám diệt.
6) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Aijayà đã biết ta", buồn khổ,
thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
V.
Uppalavannà (S.i.131)
1)
Nhân duyên Sàvatthi.
Rồi
Tỷ-kheo-ni Uppalavannà vào buổi sáng đắp y... và đứng dưới
gốc cây tala có trổ hoa.
2)
Ác ma muốn làm cho Tỷ-kheo-ni Uppalavannà run sợ, hoảng sợ,
lông tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định,
liền đi đến Tỷ-kheo-ni Uppalavannà.
3)
Sau khi đến, Ác ma nói lên bài kệ này với Tỷ-kheo-ni Uppalavannà:
Này
nàng Tỷ-kheo-ni,
Dưới
gốc cây tala,
Ðang
nở nụ trăm hoa,
Nàng
đến đứng một mình,
Nhan
sắc Nàng tuyệt đẹp,
Không
ai dám sánh bằng!
Tại
đây Nàng đã đến,
Trong
tư thế như vậy,
Nàng
ngu dại kia ơi,
Không
sợ cám dỗ sao?
4) Tỷ-kheo-ni
Uppalavannà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người hay
là không phải người?"
5)
Tỷ-kheo-ni Uppalavannà suy nghĩ: "Ðây là Ác ma... đã nói lên
bài kệ đó."
6)
Tỷ-kheo-ni Uppalavannà biết được : "Ðây là Ác ma", liền
trả lời với bài kệ:
Trăm
ngàn người cám dỗ,
Có
đến đây như Ông,
Mảy
lông ta không động,
Ta
không gì sợ hãi.
Ác
ma, ta không sợ,
Ta
đứng đây một mình,
Ta
có thể biến mất,
Hay
vào bụng các Ông.
Ta
đứng giữa hàng mi,
Ông
không thấy ta được.
Với
tâm khéo khiếp phục,
Thần
túc khéo tu trì,
Ta
thoát mọi trói buộc,
Ta
đâu có sợ Ông?
Này
Hiền giả Ác ma!
7) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Uppalavannà đã biết ta", buồn
khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
VI.
Càlà (S.i.132)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Càlà vào buổi sáng đắp y... ngồi dưới một gốc cây để
nghỉ ban ngày.
2)
Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Càlà; sau khi đến, nói với Tỷ-kheo-ni
Càlà:
--
Này Tỷ-kheo-ni, Nàng không vui thích gì?
--
Này Hiền giả, ta không vui thích sanh.
--
Sao Nàng không vui thích sanh?
--
Khi đã sanh, phải thọ hưởng các dục.
--
Này Tỷ-kheo-ni, ai dạy cho nàng: "Chớ có vui thích sanh"?
3)
(Càlà):
Sanh
ra rồi phải chết,
Ðã
sanh thấy khổ đau,
Kiết
sử trói gia hại,
Do
vậy không thích sanh.
Ðức
Phật thuyết giảng pháp,
Khiến
vượt khỏi tái sanh,
Ðoạn
trừ mọi khổ não,
Giúp
ta trú chân thật.
Chúng
sanh hướng sắc giới,
Họ
vọng vô sắc giới,
Nếu
không biết đoạn diệt,
Họ
đi đến tái sanh.
4) Ác
ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Càlà đã biết ta", buồn khổ,
thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
VII.
Upacàlà
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)
Rồi Tỷ-kheo-ni Upacàlà, vào buổi
sáng, đắp y... và ngồi
xuống một gốc cây để nghỉ ban ngày... nói với Tỷ-kheo-ni
Upacàlà:
--
Này Tỷ-kheo-ni, Nàng muốn tái sanh tại chỗ nào?.
3)
-- Ta không muốn tái sanh tại một chỗ nào cả, này Hiền
giả.
4)
Chư
Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma,
Ðâu-suất thiên,
Chư
vị Hóa lạc thiên,
Tha
hóa Tự tại thiên,
Nàng
hãy hướng tâm này,
Ðến
cảnh giới chư Thiên,
Rồi
Nàng được tái sanh,
Hưởng
an lạc cảnh ấy.
5)
Chư
Thiên Ba mươi ba,
Dạ-ma,
Ðâu-suất thiên,
Chư
vị Hóa Lạc thiên,
Tha
hóa, Tự tại thiên,
Vì
ái dục trói buộc,
Lại
bị ma chinh phục.
Toàn
thế giới cháy đỏ,
Toàn
thế giới hỏa thiêu,
Toàn
thế giới bùng cháy,
Toàn
thế giới rung động.
Không
rung, không dao động,
Không
hệ lụy, phàm phu,
Chỗ
nào ma không đến,
Chỗ
ấy ta vui thích.
6) Rồi
Ác ma biết được... biến mất tại chỗ ấy.
VIII.
Sisupacàlà
1)
Tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Sisupacàlà vào buổi sáng đắp y... rồi ngồi xuống một gốc
cây để nghỉ ban ngày.
2)
Rồi Ác ma đi đến Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà; sau khi đến, nói
với Tỷ-kheo-ni Sisupacàlà:
--
Này Tỷ-kheo-ni, Nàng thích thú tà giáo của ai không?
3)
-- Này Hiền giả, ta không thích thú tà giáo của ai cả.
4)
Vì
ai Nàng trọc đầu,
Hiện
tướng nữ Sa-môn?
Nàng
không thích tà giáo,
Vậy
nàng tu cho ai,
Này
kẻ Ngu muội kia?
5) (Sisupacàlà):
Những
kẻ tin tà kiến,
Thuộc
ngoại đạo tà giáo.
Ta
không thích pháp họ,
Ta
không giỏi pháp họ!
Có
dòng họ Thích-ca.
Ðản
sanh Phật vô tỷ,
Ngài
chinh phục tất cả,
Ngài
đại phá chúng ma,
Tại
mọi chỗ, mọi nơi,
Không
ai chiến thắng Ngài.
Ngài
giải thoát hoàn toàn,
Không
bị gì triền phược.
Bậc
Pháp nhãn thấy khắp;
Tất
cả nghiệp đoạn diệt,
Giải
thoát, diệt sanh y.
Thế
Tôn, Ðạo Sư ta,
Ta
thích giáo pháp Ngài.
6) Rồi
Ác ma biết được... liền biến mất tại chỗ ấy.
IX.
Selà (S.i.134)
1)
Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Selà vào buổi sáng đắp y... ngồi dưới một gốc cây để
nghỉ ban ngày.
2)
Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Selà run sợ... nói lên bài
kệ với Tỷ-kheo-ni Selà:
Bởi
vì bong bóng này,
Ðược
tạo tác làm ra,
Ai
là người sáng tạo,
Bong
bóng như huyễn này?
Từ
đâu bong bóng sanh?
Ði
đâu bong bóng diệt?
3) Rồi
Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người
hay không phải người?"
4)
Rồi Tỷ-kheo-ni Selà suy nghĩ: " Ðây là Ác ma, muốn làm ta
run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta từ
bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ ấy".
5)
Rồi Tỷ-kheo-ni Selà được biết: "Ðây là Ác ma", nên trả
lời Ác ma với bài kệ:
Bong
bóng như huyễn này,
Không
phải tự ngã làm,
Sự
vật bạc phước này,
Không
phải người khác làm.
Do
nhân duyên quy tụ,
Sự
vật được hình thành,
Do
nhân duyên tán ly,
Sự
vật bị tiêu diệt.
Hột
giống gieo vào ruộng,
Ðược
nẩy mầm, sinh lộc,
Khi
nhiễm thấm cả hai,
Vị
đất và khí ướt.
Cũng
vậy uẩn và giới,
Cùng
với sáu xứ này,
Do
nhân duyên quy tụ,
Chúng
sẽ được hình thành,
Do
nhân duyên tán ly,
Chúng
bị hoại, tiêu diệt.
6) Rồi
Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Selà đã biết ta", nên buồn
khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
X.
Vajirà
1)
Ở tại Sàvatthi.
Tỷ-kheo-ni
Vajirà vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi vào Sàvatthi để
khất thực. Khất thực xong, sau bữa ăn, trên con đường khất
thực trở về, Tỷ-kheo-ni Vajirà đi đến rừng Andha để nghỉ
ban ngày, đi sâu vào rừng Andha và ngồi dưới một gốc cây
để nghỉ ban ngày.
2)
Rồi Ác ma muốn làm Tỷ-kheo-ni Vajirà run sợ, hoảng sợ, lông
tóc dựng ngược, muốn khiến nàng từ bỏ Thiền định, liền
đi đến, nói lên bài kệ với Tỷ-kheo-ni Vajirà:
3)
Do
ai, hữu tình này,
Ðược
sanh, được tạo tác?
Người
tạo hữu tình này,
Hiện
nay ở tại đâu?
Từ
đâu hữu tình sanh?
Ði
đâu hữu tình diệt?
4) Rồi
Tỷ-kheo-ni Vajirà suy nghĩ: "Ai đã nói lên bài kệ này? Người
hay không phải người?"
5)
Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà lại suy nghĩ: "Chính là Ác ma muốn làm
ta run sợ, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, muốn khiến ta
từ bỏ Thiền định, nên đã nói lên bài kệ này".
6)
Rồi Tỷ-kheo-ni Vajirà biết được: "Ðây là Ác ma", liền
trả lời Ác ma với bài kệ:
Sao
Ông lại nói hoài,
Ðến
hai chữ chúng sanh?
Phải
chăng, này Ác ma,
Ông
rơi vào tà kiến?
Ðây
quy tụ các hành,
Chúng
sanh được hình thành,
Như
bộ phận quy tụ,
Tên
xe được nói lên.
Cũng
vậy, uẩn quy tụ,
Thông
tục gọi chúng sanh.
Chỉ
có khổ được sanh,
Khổ
tồn tại, khổ diệt,
Ngoài
khổ, không gì sanh,
Ngoài
khổ không gì diệt.
7) Rồi
Ác ma biết được: "Tỷ-kheo-ni Vajirà đã biết ta", nên buồn
khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.

|