TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[04] Chương IV
Tương Ưng
Ác Ma
I.
Phẩm Thứ Nhất
I.
Khổ Hạnh Và Nghiệp (S.i,103)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Uruvelà bên bờ sông Neranjarà, dưới gốc
cây Ajapàla Nigrodha, khi Ngài vừa giác ngộ.
2)
Rồi Thế Tôn trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau
đây được khởi lên: "Thật sự Ta được giải thoát khỏi
khổ hạnh ấy. Tốt lành thay, thật sự Ta được giải thoát
khỏi khổ hạnh không liên hệ đến lợi ích ấy! Tốt lành
thay, Ta kiên trì, chánh niệm, chứng đạt Bồ-đề!"
3)
Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của
Thế Tôn, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài
kệ này với Thế Tôn:
Từ
bỏ pháp khổ hạnh,
Giúp
thanh niên trong sạch,
Không
tịnh, nghĩ mình tịnh,
Ði
ngược thanh tịnh đạo.
4) Rồi
Thế Tôn, biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói lên bài
kệ với Ác ma:
Biết
được pháp khổ hạnh,
Ðược
xem là bất tử,
Pháp
ấy không lợi ích,
Không
đem lợi ích nào,
Như
chèo và bánh lái,
Chiếc
thuyền trên đất cạn.
Giới,
định và trí tuệ,
Con
đường hướng chánh giác.
Ta
tu tập hạnh ấy,
Ðạt
được tối thắng tịnh,
Này
kẻ Tử ma kia,
Ông
bị bại trận rồi.
5) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ
ấy.
II.
Con Voi (S.i,103)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở tại Uruvelà, bên bờ sông Neranjarà, dưới
cây Nigrodha Ajapàla, khi Ngài mới giác ngộ. Lúc bấy giờ,
Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm tối, và trời
đang mưa từng hột một.
2)
Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc
dựng ngược, liền biến hình thành con voi chúa to lớn và
đi đến Thế Tôn.
3)
Và đầu con voi ví như hòn đá đen lớn (aritthako), ngà của
nó ví như bạc trắng tinh, vòi của nó ví như đầu cái cày
lớn.
4)
Thế Tôn biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói lên bài kệ
với Ác ma:
Ông
luân hồi dài dài,
Hình
thức tịnh, bất tịnh.
Thôi
vừa rồi, Ác ma,
Ông
đã bị bại trận.
5) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn biết ta, Thiện Thệ biết ta",
buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.
III.
Tịnh (S.i,104)
1)
Trú tại Uruvelà.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm
tối, và trời đang mưa từng hột một.
3)
Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc
dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn.
4)
Sau khi đến, hiện lên những hình tướng cao thấp, tịnh,
bất tịnh, không xa Thế Tôn bao nhiêu.
5)
Rồi Thế Tôn biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói lên
bài kệ với Ác ma:
Ông
luân hồi dài dài,
Hình
thức tịnh, bất tịnh.
Thôi
vừa rồi, Ác ma,
Ông
đã bị bại trận.
Những
vị thân, khẩu, ý,
Khéo
hộ trì chế ngự,
Này
kẻ Ác ma kia,
Những
vị ấy như vậy,
Không
bị Ông chi phối,
Không
phải đệ tử Ông.
6) Rồi
Ác ma biết được... liền biến mất tại chỗ.
IV.
Bẫy Sập (S.i,105)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở tại Barànasi (Ba-la-nại), Isipatana (chư Tiên
đọa xứ), vườn Lộc Uyển. Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
-- "Này các Tỷ-kheo." -- "Thưa vâng, bạch Thế Tôn ". Các vị
Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
2)
Thế Tôn nói như sau:
--
Này các Tỷ-kheo, chính nhờ chánh tác ý, chính nhờ chánh tinh
cần. Ta chứng đạt Vô thượng giải thoát. Ta chứng ngộ
Vô thượng giải thoát. Vậy này các Tỷ-kheo các Ông cũng
phải với chánh tác ý, chánh tinh cần, chứng đạt Vô thượng
giải thoát, chứng ngộ Vô thượng giải thoát.
Rồi
Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ với
Thế Tôn:
Ngài
còn bị trói buộc,
Trong
bẫy sập của ma,
Bởi
những dây dục lạc,
Cả
Thiên giới, Nhân giới.
Ngài
đang bị cột chặt,
Trong
triền phược của ma.
Này
vị Sa-môn kia,
Ngài
chưa thoát khỏi ta.
4) (Thế
Tôn):
Ta
đã được giải thoát,
Khỏi
bẫy sập của ma,
Thoát
khỏi dây dục lạc,
Cả
Thiên giới, Nhân giới.
Ta
đã được giải thoát,
Khỏi
triền phược của ma,
Này
kẻ Tử ma kia,
Ông
đã bị bại trận.
5) Rồi
Ác ma... biến mất tại chỗ.
V.
Bẫy Sập (S.i,105)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại) tại Isipatana,
vườn Lộc Uyển. Ở đấy Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "-- Này
các Tỷ-kheo." "-- Thưa vâng Thế Tôn." Các Tỷ-kheo ấy vâng
đáp Thế Tôn.
2)
Thế Tôn nói như sau:
--
Này các Tỷ-kheo, Ta đã được giải thoát khỏi tất cả bẫy
sập ở Thiên giới và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, các Ông
cũng được giải thoát khỏi tất cả bẫy sập ở Thiên giới
và Nhân giới. Này các Tỷ-kheo, hãy du hành vì hạnh phúc cho
quần chúng, vì an lạc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng
cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên
và loài Người. Chớ có đi hai người một chỗ. Này các Tỷ-kheo,
hãy thuyết pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, có nghĩa,
có văn. Hãy tuyên thuyết Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh
tịnh. Có các chúng sanh sanh ra ít nhiễm bụi đời, nếu không
được nghe pháp sẽ đi đến hoại diệt. Họ sẽ trở thành
những vị thâm hiểu Chánh pháp. Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ đi
đến Uruvelà, thị trấn Senà để thuyết pháp.
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Ngài
còn bị trói buộc,
Trong
bẫy sập của ma,
Bởi
những dây dục lạc,
Cả
Thiên giới, Nhân giới.
Ngài
đang bị cột chặt,
Trong
triền phược của ma,
Này
vị Sa-môn kia,
Ngài
chưa thoát khỏi ta.
4) (Thế
Tôn)
Ta
đã được giải thoát,
Khỏi
bẫy sập của ma,
Thoát
khỏi dây dục lạc,
Cả
Thiên giới, Nhân giới.
Ta
đã được giải thoát,
Khỏi
triền phược của ma,
Này
kẻ Tử ma kia,
Ông
đã bị bại trận.
VI.
Con Rắn (S.i,106)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ Thế Tôn đang ngồi ngoài trời, trong bóng đêm
tối, và trời đang mưa từng hột một.
3)
Rồi Ác ma muốn khiến Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc
dựng ngược, bèn biến thành con đại xà vương và đi đến
Thế Tôn.
4)
Thân của nó to lớn ví như một chiếc thuyền đẽo ra từ
một thân cây. Cái mang của nó ví như cái khay đan của người
nấu rượu. Mắt của nó ví như cái đĩa bằng đồng của
nước Kosala; lưỡi của nó le ra từ miệng ví như mũi tên
chớp sáng lòe khi trời mưa gió sấm sét; tiếng hơi thở vô,
hơi thở ra của nó ví như bệ thổi của người thợ rèn.
5)
Rồi Thế Tôn biết: "Ðây là Ác ma", liền nói lên bài kệ
này với Ác ma:
Quý
thay bậc Mâu-ni,
Sống
trong nhà không tịch,
Biết
chế ngự tự ngã,
Tại
đấy vị ấy trú.
Sống
từ bỏ tất cả,
Với
hạnh tu tương xứng,
Nhiều
loại thú bộ hành,
Nhiều
sự vật khủng khiếp,
Nhiều
ruồi muỗi độc xà,
Không
mảy may rung động
Sợi
lông bậc Mâu-ni
Sống
trong nhà không tịch.
Dầu
trời nứt, đất động,
Dầu
muôn loài khủng bố,
Dầu
bị giáo, đao, tên,
Quẳng
ném vào ngực Ngài,
Chư
Phật không tạo nên,
Những
căn cứ sanh y.
6) Rồi
Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", liền biến mất tại chỗ.
VII.
Thụy Miên (S.i,107)
1)
Một thời Thế Tôn ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Rồi Thế Tôn sau khi đã đi kinh hành ngoài trời một phần
lớn của đêm. Khi đêm đã gần mãn, Ngài rửa chân, bước
vào tịnh xá, và nằm xuống phía hông bên phải theo thế nằm
của con sư tử, hai chân gác lên nhau, chánh niệm tỉnh giác
và nghĩ đến lúc thức dậy.
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Sao
Ngài còn nằm ngủ,
Sao
Ngài vẫn nằm ngủ,
Sao
Ngài ngủ như vậy,
Như
kẻ chết nằm co?
Nghĩ
rằng nhà trống không,
Nên
Ngài ngủ như vậy,
Sao
Ngài ngủ như vậy,
Khi
mặt trời đã mọc?
4) (Thế
Tôn):
Khi
không còn tham ái,
Với
lưới triền, nọc độc,
Người
vậy được giải thoát,
Không
bị dẫn nơi nào.
Ác
ma! Bậc Giác Ngộ
Mọi
sanh y diệt tận,
Vị
ấy nếu có ngủ,
Các
Ông làm được gì?
VIII.
Hoan Hỷ (S.i,107)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
này trước mặt Thế Tôn:
Cha
sung sướng vì con,
Người
chăn sướng vì bò,
Người
sướng vì sanh y,
Không
sanh y, không sướng.
(Thế
Tôn):
Cha
sầu vì con cái,
Người
chăn sầu vì bò,
Người
sầu vì sanh y,
Không
sanh y, không sầu.
Rồi
Ác ma biết rằng: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết
ta", liền biến mất tại chỗ.
IX.
Tuổi Thọ (S.i,108)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha, tại Trúc Lâm, chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Ở đấy, Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo" -- "Thưa
vâng, bạch Thế Tôn". Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
3)
Thế Tôn nói như sau:
--
Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người
ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều
lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị
tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm
năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.
4)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Loài
Người thọ mạng dài,
Người
lành chớ âu lo,
Bú
sữa no, hãy sống
Tử
vong đâu có đến.
5) (Thế
Tôn):
Loài
Người thọ mạng ngắn,
Người
lành phải âu lo,
Như
cháy đầu, hãy sống,
Tử
vong rồi phải đến.
6) Rồi
Ác ma, biết được "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất
tại chỗ.
X.
Tuổi Thọ (S.i,108)
1)
Tại Ràjagaha (Vương Xá).
Tại
đây, Thế Tôn nói như sau:
--
Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người
ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều
lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị
tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm
năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.
2)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
này với Thế Tôn:
Ngày
đêm không trôi qua,
Thọ
mạng không chấm dứt,
Thọ
mạng người xoay vần,
Như
vành theo trục xe.
3) (Thế
Tôn):
Ngày
đêm có trôi qua,
Thọ
mạng có chấm dứt,
Mạng
người phải khô cạn,
Như
suối nhỏ đầu non.
4) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ
ấy.
II.
Phẩm Thứ Hai
I.
Hòn Ðá (S.i,109)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta
(Linh Thứu).
2)
Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi giữa trời, trong bóng đêm tối,
và trời mưa từng hột một.
3)
Rồi Ác ma muốn làm Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc
dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, xô những
tảng đá lớn rơi xuống không xa Thế Tôn bao nhiêu.
4)
Rồi Thế Tôn biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói bài
kệ với Ác ma:
Dầu
Ông làm chấn động,
Toàn
bộ núi Linh Thứu,
Cũng
không làm rung động,
Bậc
Giác Ngộ, Giải Thoát.
5) Rồi
Ác ma được biết: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.
II.
Con Sư Tử (S.i,106)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông
Anàthapindika. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại chúng
bao vây, đang thuyết pháp.
2)
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này xung quanh có đại chúng
bao vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đến Sa-môn Gotama và
làm mờ mắt (đại chúng ấy)."
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
này với Thế Tôn:
Sao
Ngài lại rống lên,
Rống
như loài sư tử,
Vô
úy không sợ hãi,
Trước
hội chúng đông đảo?
Nay
Ngài có địch thủ,
Chớ
nghĩ Ngài thắng trận!
4) (Thế
Tôn):
Bậc
Ðại Hùng rống lên,
Vô
úy trước đại chúng,
Như
Lai chứng mười lực,
Vượt
tham ái ở đời.
5) Rồi
Ác ma biết được : "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ
ấy.
III.
Phiến Ðá (S.i,110)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở Ràjagaha (Vương Xá), tại Maddakucchi, vườn
Nai (Migadaya).
2)
Lúc bấy giờ, chân Thế Tôn bị phiến đá gây thương tích.
Thế Tôn cảm xúc khốc liệt, toàn thân đau đớn, nhói đau,
đau nhức mãnh liệt, không thích thú, không vừa ý. Và Thế
Tôn chánh niệm tỉnh giác, nhẫn chịu không để tâm tư buồn
nản.
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
này với Thế Tôn:
Sao
Ngài uể oải nằm,
Hay
tìm thơ, tìm vận,
Phải
chăng việc sai biệt,
Không
chờ đợi Ngài làm,
Phải
một mình cô độc,
Trên
ghế giường nằm, ngồi,
Với
gương mặt ngái ngủ,
Sao
Ngài ngủ như vậy?
(Thế
Tôn):
Ta
không uể oải nằm,
Không
tìm thơ, tìm vận,
Mục
đích Ta đã đạt,
Ðâu
có sầu muộn gì!
Ta
nằm ngồi một mình,
Trên
ghế giường vắng lặng,
Yên
tĩnh Ta nằm nghỉ,
Tâm
từ, thương chúng sanh.
Những
kẻ, ngực bị đâm,
Hổn
hển tim dồn dập,
Vẫn
tìm được giấc ngủ,
Dầu
bị thương tích nặng.
Sao
Ta lại không ngủ,
Khi
không bị thương tích,
Khi
thức không âu lo,
Khi
ngủ chẳng sợ hãi,
Ngày
đêm không khởi lên,
Phiền
não bận lòng Ta?
Ta
không thấy tai hại,
Một
chỗ nào trên đời,
Do
vậy, Ta nằm nghỉ,
Tâm
từ, thương chúng sanh.
5) Rồi
Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", buồn khổ, thất vọng liền biến mất tại chỗ
ấy.
IV.
Tương Ưng Thích Nghi (S.i,111)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Kosala, tại một làng Bà-la-môn
tên là Ekasàlà. Lúc bấy giờ, Thế Tôn xung quanh có đại
chúng cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp.
2)
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này, xung quanh có đại chúng
cư sĩ đoanh vây, đang thuyết pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn
Gotama và làm mờ mắt (đại chúng này)."
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Thật
không chút thích hợp,
Ðể
Ngài giảng dạy người,
Giữa
người thuận, kẻ nghịch,
Chớ
hành nghề đứng giữa.
4) (Thế
Tôn):
Với
lòng từ, thương tưởng,
Bậc
Giác Ngộ dạy người,
Giữa
người thuận, kẻ nghịch,
Như
Lai chơn giải thoát.
5) Rồi
Ác ma biết được : "Thế Tôn đã biết ta..." liền biến mất
tại chỗ ấy.
V.
Ý (S.i,111)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi, Jetavana, tại vườn ông Anàthapindika.
2)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Mọi
hành tung của ý
Là
bẫy sập trên không,
Chính
với bẫy sập ấy,
Ta
trói buộc lấy Ngài,
Này
vị Sa-môn kia,
Ngài
chưa thoát khỏi ta.
3) (Thế
Tôn):
Sắc,
thanh, vị, hương, xúc,
Làm
tâm ý ưa thích,
Ta
không ưa muốn chúng,
Ta
vượt thoát ngoài chúng,
Này
kẻ Tử ma kia,
Ông
đã bị bại trận.
4) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất
tại chỗ ấy.
VI.
Bình Bát (S.i,112)
1)
Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho
các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi,
làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết
sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.
2)
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các
Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm
cho hoan hỷ, và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức
chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy
đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)".
3)
Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời
(để phơi cho khô).
4)
Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình
bát ấy.
5)
Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:
--
Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình
bát.
6)
Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:
--
Này Tỷ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma
muốn đến làm mờ mắt các ông.
7)
Và Thế Tôn biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói lên bài
kệ cho Ác ma:
Sắc,
thọ, tưởng, hành, thức,
Cái
ấy không phải tôi,
Cái
ấy không của tôi,
Như
vậy đây ly tham,
Ly
tham vậy, tâm an,
Mọi
kiết sử siêu thoát,
Dầu
tìm mọi xứ sở,
Ma
quân không gặp được.
8) Ác
ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất
tại chỗ ấy.
VII.
Xứ (S.i,112)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Vesàli (Tỳ-xá-ly), Ðại Lâm, chỗ
Trùng Các giảng đường.
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về
sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ.
Và các vị Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý,
tập trung mọi tư tưởng, lóng tai nghe pháp.
3)
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các
Tỷ- kheo về sáu xúc xứ, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm
cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức
chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy
đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)".
4)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, Ác ma hét lên một
tiếng to lớn, khủng khiếp, dễ sợ, như đất bị nứt vỡ.
5)
Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:
--
Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, hình như quả đất này bị nứt vỡ.
6)
Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tỷ-kheo ấy :
--
Này Tỷ-kheo, không phải đất nứt vỡ. Ðó là Ác ma đi đến
để làm mờ mắt các Ông.
7)
Rồi Thế Tôn biết được: "Ðây là Ác ma", liền nói bài
kệ cho Ác ma:
Sắc,
thanh, vị và hương,
Cùng
toàn bộ xúc, pháp,
Là
thế vật rùng rợn,
Làm
mê loạn ở đời.
Ðệ
tử bậc Chánh Giác,
Chánh
niệm, vượt khỏi chúng,
Vượt
thế lực Ác ma,
Như
mặt trời sáng chói.
8) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất
tại chỗ ấy.
VIII.
Ðoàn Thực (S.i,113)
1)
Một thời Thế Tôn trú ở Magadha, tại làng Bà-la-môn tên
là Pancasàlà.
2)
Lúc bấy giờ, tại làng Bà-la-môn tên là Pancasàlà, lễ trao
đổi tặng vật giữa nam nữ thanh niên đang được xảy ra.
3)
Rồi Thế Tôn đắp y, vào buổi sáng, cầm y bát đi vào làng
Bà-la- môn Pancasàlà để khất thực.
4)
Lúc bấy giờ, các Bà-la-môn gia chủ ở Pancasàlà bị Ác ma
xâm nhập và quyết định: "Chớ để Sa-môn Gotama nhận được
đồ ăn khất thực".
5)
Rồi Thế Tôn đi vào làng Bà-la-môn tên Pancasàlà để khất
thực với bình bát rửa sạch như thế nào, cũng đã trở
về cùng với bình bát được rửa sạch như vậy.
6)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói với Thế Tôn:
--
Này Sa-môn, Ngài có nhận được đồ ăn khất thực không?
7)
-- Này Ác ma, có phải Ông làm cho Ta không nhận được đồ
ăn khất thực?
8)
-- Vâng bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy đi vào làng Bà-la-môn
Pancasàlà một lần thứ hai nữa. Và tôi sẽ làm để Thế
Tôn nhận được đồ ăn khất thực
(Thế
Tôn):
Ác
ma làm điều ác,
Ðể
tấn công Như Lai,
Này
Ác ma, vì sao,
Ông
có thể nghĩ rằng,
Ðiều
ác Ông hại Ta,
Sẽ
không có kết quả.
Chúng
ta sống sung sướng,
Những
người không có gì,
Như
chư Thiên Quang Âm,
Như
chư Thiên Quang Âm,
Có
hào quang sáng chói,
Lấy
hỷ làm đồ ăn.
9) Rồi
Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến
mất tại chỗ ấy.
IX.
Người Nông Phu (S.i,114)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết
pháp cho các Tỷ-kheo về vấn đề liên hệ đến Niết-bàn,
khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo
ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm
tư, lóng tai nghe pháp.
2)
Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các
vị Tỷ-kheo về các vấn đề liên hệ đến Niết-bàn... Vậy
ta hãy đi đến Sa-môn Gotama để làm mờ mắt (các Tỷ-kheo
ấy)."
3)
Rồi Ác ma biến hình thành một người nông phu, mang trên vai
một cái cày lớn, tay cầm một cây gậy đâm bò, đầu bù
tóc rối, mặc đồ vải gai, chân lấm bùn nhơ, đi đến, sau
khi đến, nói với Thế Tôn:
4)
-- Này Sa-môn, Ngài có thấy con bò đực không?
5)
-- Nhưng này Ác ma, con bò đực đối với Ông là gì?
6)
-- Này Sa-môn, mắt là của ta, sắc là của ta, thức xứ do
mắt xúc chạm là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu
để thoát khỏi ta?
Này
Sa-môn, tai là của ta. Tiếng là của ta...
Này
Sa-môn, mũi là của ta, hương là của ta...
Này
Sa-môn, lưỡi là của ta, vị là của ta...
Này
Sa-môn, thân là của ta, xúc là của ta...
Này
Sa-môn, ý là của ta, pháp là của ta, thức xứ do ý xúc chạm
là của ta. Này Sa-môn, Ngài có thể đi đâu để thoát khỏi
ta không?
7)
-- Này Ác ma, mắt là của Ông, sắc là của Ông, thức xứ
do mắt xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không
có mắt, không có sắc, không có thức xứ xúc chạm, thời
chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
8)
Này Ác ma, tai là của Ông, tiếng là của Ông, thức xứ do
tai xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có
tai, không có tiếng, không có thức xứ do tai xúc chạm, thời
chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
9)
Này Ác ma, mũi là của Ông, hương là của Ông, thức xứ do
mũi xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có
mũi, không có hương, không có thức xứ do mũi xúc chạm, thời
chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
10)
Này Ác ma, lưỡi là của Ông, vị là của Ông, thức xứ do
lưỡi cảm xúc là của ông. Này Ác ma, chỗ nào không có lưỡi,
không có vị, không có thức xứ do lưỡi xúc chạm, thời
chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma. Này Ác ma,
thân là của Ông, xúc là của Ông, thức xứ do thân xúc chạm
là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có thân, không có
xúc, không có thức xứ do thân xúc chạm, thời chỗ ấy không
có hành xứ của Ông, này Ác ma.
11)
Này Ác ma, ý là của Ông, pháp là của Ông, thức xứ do ý
xúc chạm là của Ông. Và này Ác ma, chỗ nào không có ý,
không có pháp, không có thức xứ do ý xúc chạm, thời này
Ác ma, chỗ ấy không có hành xứ của Ông, này Ác ma.
12)
--
Sự vật được Ngài nói:
"Cái
này là của tôi".
Và
những người đã nói:
"Cái
này là của tôi".
Nếu
ở đây có ý,
Ðối
với sự vật ấy,
Như
vậy, này Sa-môn,
Ngài
không thoát khỏi ta.
13) (Thế
Tôn):
Sự
vật được Ông nói:
"Cái
này không của tôi".
Và
những người đã nói:
"
Chúng không phải là tôi".
Này
Ác ma, như vậy,
Ông
có biết được chăng,
Cho
đến Ông không thấy ,
Con
đường của Ta đi?
14) Rồi
Ác ma... liền biến mất tại chỗ ấy.
X.
Thống Trị (S.i,116)
1)
Một thời Thế Tôn ở Kosala, dưới chân núi Tuyết Sơn, tại
một am thất nhỏ trong rừng.
2)
Trong khi Thế Tôn Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây
được khởi lên: "Có thể chăng cai trị mà không giết hại,
không để người giết hại; không chinh phục, không khiến
người chinh phục; không sầu muộn, không khiến người sầu
muộn một cách đúng pháp?".
3)
Rồi Ác ma, biết được tâm tư Thế Tôn như vậy, liền đi
đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị
không giết hại, không khiến người giết hại; không chinh
phục, không khiến người chinh phục; không sầu muộn, không
khiến người sầu muộn một cách đúng pháp.
4)
-- Này Ác ma, Ông thấy gì mà Ông nói với Ta như vậy: "Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy cai trị. Thiện Thệ hãy cai trị không
giết hại, không khiến người giết hại...,... một cách đúng
pháp"?
5)
-- Bạch Thế Tôn, bốn như ý túc đã được Thế Tôn tu tập,
làm cho sung mãn, làm cho như thành cỗ xe, làm cho như thành
căn cứ địa, kiên trì, chất chứa, khéo áp dụng. Và Bạch
Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi
trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và
ngọn núi có thể trở thành vàng.
6)
(Thế Tôn):
Dầu
cho cả ngọn núi,
Trở
thành toàn vàng ròng,
Cho
đến hóa gấp đôi,
Cũng
không thỏa mãn được,
Tham
vọng của một người.
Biết
vậy để hành trì,
Ai
thấy rõ đau khổ,
Và
nguyên nhân đau khổ,
Làm
sao người như vậy,
Có
khuynh hướng ái dục?
Sau
khi biết sanh y
Là
ràng buộc ở đời,
Người
biết vậy nên học,
Giải
trừ mọi buộc ràng.
7) Rồi
Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã
biết ta", sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ
ấy.
III.
Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh)
I.
Ða Số (S,i.117)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii
2)
Lúc bấy giờ, nhiều Tỷ-kheo sống không xa Thế Tôn, không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
3)
Rồi Ác ma biến hình thành một Bà-la-môn, với búi tóc lớn,
mặc áo bằng da con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà,
hơi thở hổn hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến
các Tỷ-kheo ấy; sau khi đến, nói với các Tỷ-kheo:
--
Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen
nhánh, trong tuổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi
đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức hãy thọ
hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại
và chạy theo những gì bị thời gian chi phối.
4)
-- Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo
những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi
bỏ những gì bị thời gian chi phối và chạy theo hiện tại.
Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi
phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đấy
càng nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị
thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng
thượng, và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu.
5)
Khi nghe nói vậy, Ác ma cúi đầu, le lưỡi, trên trán hiện
ra ba đường nhăn, chống gậy bỏ đi.
6)
Rồi các Tỷ-kheo ấy đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh
lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
7)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, chúng con sống không xa Thế Tôn,
không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần. Rồi bạch Thế Tôn,
một người Bà-la-môn, với búi tóc lớn, mặc áo bằng da
con linh dương, già yếu, lưng còm như xà nhà, hơi thở hổn
hển, tay cầm gậy bằng gỗ udumbara, đi đến chúng con; sau
khi đến, nói với chúng con như sau:
" --
Chư Ðại đức xuất gia quá trẻ, niên thiếu, tóc còn đen
nhánh, trong buổi thanh xuân, trong thời trẻ thơ của tuổi
đời, không thọ hưởng các dục. Chư Ðại đức, hãy thọ
hưởng các ái dục của con người, chớ có bỏ hiện tại
để chạy theo những gì bị thời gian chi phối".
8)
Khi được nghe nói vậy, bạch Thế Tôn, chúng con nói với
Bà la môn ấy:
" --
Này Bà-la-môn, chúng tôi không bỏ hiện tại và chạy theo
những gì bị thời gian chi phối. Và này Bà-la-môn, chúng tôi
bỏ những gì bị thời gian chi phối để chạy theo hiện tại.
Này Bà-la-môn, Thế Tôn đã nói các dục bị thời gian chi
phối, nhiều khổ đau, nhiều phiền não, tai họa ở đây càng
nhiều hơn. Còn pháp này thuộc về hiện tại, không bị thời
gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng
và chỉ người trí mới tự mình giác hiểu".
9)
Khi được nghe nói vậy, người Bà-la-môn ấy cúi đầu, le
lưỡi, trên trán hiện ra ba đường nhăn, chống gậy rồi
ra đi.
10)
-- Này các Tỷ-kheo, người ấy không phải là Bà-la-môn, chính
là Ác ma đi đến để làm mờ mắt các Ông.
11)
Rồi Thế Tôn biết được ý nghĩa này, ngay khi ấy nói lên
bài kệ:
Ai
thấy rõ khổ đau,
Và
nguyên nhân đau khổ,
Làm
sao người như vậy,
Có
khuynh hướng các dục?
Sau
khi biết sanh y
Là
ràng buộc ở đời,
Người
biết vậy nên học,
Giải
trừ mọi buộc ràng.
II.
Samiddhi (S.i,119)
1)
Một thời Thế Tôn ở giữa các vị Sakkà, tại Silàvatii.
2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi sống không xa Thế Tôn, không
phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
3)
Rồi Tôn giả Samiddhi, trong khi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng
sau đây được khởi lên: "Thật lợi ích cho ta, thật khéo
lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích
cho ta, khi ta được xuất gia trong Pháp luật khéo giảng! Thật
lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi những vị đồng
Phạm hạnh với ta là những bậc trì giới và hành trì thiện
pháp!"
4)
Rồi Ác ma với tâm tư của mình biết được tâm tư của
Tôn giả Samiddhi, liền đi đến Tôn giả Samiddhi. Sau khi đến,
không xa Tôn giả Samiddhi, Ác ma hét lên tiếng hét to lớn,
rùng rợn, khiến người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
5)
Rồi Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
Tôn giả Samiddhi bạch Thế Tôn:
6)
-- Bạch Thế Tôn, con sống không xa Thế Tôn, không phóng dật,
nhiệt tâm, tinh cần. Bạch Thế Tôn, trong khi con Thiền tịnh
độc cư, tư tưởng sau đây được khởi lên: "Thật lợi
ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi bậc Ðạo Sư của
ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác! Thật lợi ích
cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi ta được xuất gia trong
Pháp luật khéo giảng! Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi
ích cho ta, khi các vị đồng Phạm hạnh với ta là những bậc
trì giới và hành trì thiện pháp!" Khi ấy, bạch Thế Tôn,
không xa con, một tiếng hét to lớn rùng rợn khởi lên, khiến
người ta nghĩ như là quả đất vỡ tung.
7)
-- Này Samiddhi, không phải quả đất vỡ tung đâu. Ðó là
Ác ma đã đến để làm mờ mắt Ông. Này Samiddhi, Ông hãy
đến tại chỗ ấy và sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần.
8)
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Samiddhi vâng đáp Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài, rồi ra
đi.
9)
Lần thứ hai, Tôn giả Samiddhi tại chỗ ấy sống không phóng
dật, nhiệt tâm, tinh cần. Lần thứ hai, trong khi Tôn giả
Samiddhi Thiền tịnh độc cư, tư tưởng sau đây được khởi
lên: "Thật lợi ích thay cho ta, thật khéo lợi ích cho ta, khi
bậc Ðạo Sư của ta là bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Chánh Giác!
Thật lợi ích cho ta, thật khéo lợi ích cho ta khi...,... và
hành trì thiện pháp!". Lần thứ hai, Ác ma biết được tư
tưởng của Tôn giả Samiddhi...,... khiến người ta nghĩ như
là quả đất vỡ tung.
10)
Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi biết: "Ðây là Ác ma" liền nói
lên bài kệ với Ác ma:
Ta
với lòng tín ngưỡng,
Bỏ
gia đình, xuất gia,
Niệm
tuệ ta tăng trưởng,
Tâm
tư ta Thiền định.
Dầu
Ông tạo sắc gì,
Không
làm ta sợ hãi.
11) Rồi
Ác ma biết được: "Tỷ-kheo Samiddhi biết ta", buồn khổ, thất
vọng, liền biến mất tại chỗ.
III.
Godhika (S.i,120)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha, Veluvana, tại chỗ nuôi dưỡng
các con sóc.
2)
Lúc bấy giờ, Tôn giả Godhika trú ở sườn núi Isigili, tại
Kàlasilà.
3)
Rồi Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt tâm, tinh
cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát. Rồi Tôn giả
Godhika lại thối thất nhất thời tâm giải thoát ấy.
4)
Lần thứ hai, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần và chứng được nhất thời tâm giải thoát.
Và lần thứ hai, Tôn giả Godhika lại thối thất nhất thời
tâm giải thoát ấy.
5)
Lần thứ ba, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
6)
Lần thứ tư, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
7)
Lần thứ năm, Tôn giả Godhika sống... tâm giải thoát ấy.
8)
Lần thứ sáu, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, chứng được nhất thời tâm giải thoát. Lần
thứ sáu, Tôn giả Godhika cũng thối thất nhất thời tâm giải
thoát ấy.
9)
Lần thứ bảy, Tôn giả Godhika sống không phóng dật, nhiệt
tâm, tinh cần, chứng được nhứt thời tâm giải thoát.
10)
Rồi Tôn giả Godhika suy nghĩ: "Cho đến lần thứ sáu, ta bị
thối thất nhất thời tâm giải thoát. Vậy nay ta hãy đem
lại con dao".
11)
Rồi Ác ma biết được tâm tư của Tôn giả Godhika, liền
đi đến Thế Tôn; sau khi đến nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Ôi,
bậc Ðại Anh hùng!
Ôi,
bậc Ðại Trí tuệ!
Ngài
chói sáng hào quang,
Thần
lực và danh xưng.
Ngài
vượt qua tất cả,
Mọi
sân hận hãi hùng.
Con
chân thành đảnh lễ,
Dưới
chân bậc Pháp nhãn.
Ôi,
bậc Ðại Anh hùng!
Bậc
Chinh phục tử thần!
Ðệ
tử Ngài muốn chết,
Ðang
suy nghĩ đến chết.
Ôi,
bậc Chói Hào quang!
Hãy
ngăn chặn vị ấy.
Làm
sao, bạch Thế Tôn,
Vị
đệ tử của Ngài,
Hoan
hỷ trong giáo lý,
Lại
không chứng hữu học,
Còn
muốn đoạt mạng sống?
Ôi,
danh vọng thế gian!
12) Lúc
bấy giờ, Tôn giả Godhika đã đem lại và sử dụng con dao.
13)
Rồi Thế Tôn được biết: "Ðây là Ác ma", liền nói lên
bài kệ với Ác ma:
Như
vậy là sở hành,
Của
bậc Ðại Anh hùng,
Không
còn nuôi ước vọng
Tạo
thêm dòng sinh mạng,
Ðoạn
tận ái, ái căn,
Godhika
nhập diệt.
14) Rồi
Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, chúng ta hãy đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà,
tại chỗ thiện nam tử Godhika đã đem lại và sử dụng con
dao.
15)
-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các
vị Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.
16)
Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỷ-kheo đi đến sườn
núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả
Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương
hay co quắp lại).
17)
Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi
về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía
Trên, đi về phía Dưới.
18)
Rồi Thế Tôn gọi các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi
về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về
phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
--
Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
19)
-- Này các Tỷ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của
thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được
an trú ở đâu?". Và này các Tỷ-kheo, thiện nam tử Godhika
đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
20)
Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến
Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên,
dưới và bề ngang,
Bốn
phương, các phương giữa,
Ta
tìm, nhưng không gặp,
Godhika
đi đâu.
21) (Thế
Tôn):
Vị
Anh hùng kiên chí,
Thường
Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày
đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng
sự sống, không tham,
Chiến
thắng quân thần chết,
Tái
sanh không đi đến,
Chinh
phục ái, ái căn,
Godhika
nhập diệt.
22)
Còn
kẻ bị sầu muộn,
Từ
nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa
bị thất vọng,
Liền
biến mất tại chỗ.
IV.
Bẩy Năm (S.i,122)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Uruvelà trên bờ sông Neranjarà, dưới
cây Ajapàla Nigrodha.
2)
Lúc bấy giờ, Ác ma đi theo Thế Tôn trong suốt bảy năm, với
hy vọng tìm cho được lỗi lầm, nhưng tìm không được.
3)
Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên bài kệ
với Thế Tôn:
Với
tâm tư sầu muộn,
Ngài
Thiền tư trong rừng,
Vì
tài sản hao mòn,
Hay
vì thèm tài sản?
Có
thể tại xóm làng,
Ngài
đã gây tội phạm.
Sao
Ngài không làm thân
Với
bà con xóm giềng?
Sao
Ngài không có thể
Làm
bạn với một ai?
4) (Thế
Tôn):
Mọi
sầu căn nhổ sạch,
Không
tội phạm, Ta Thiền,
Không
sầu muộn, Ta Thiền.
Mọi
hữu ái, đoạn tận,
Vô
lậu, Ta Thiền định,
Này
Bà con phóng dật!
5) (Ác
ma):
Sự
vật được Ngài nói:
"Cái
này là của tôi".
Và
những người đã nói:
"Cái
này chính là tôi".
Nếu
ở đây móng ý,
Ðối
với sự vật ấy,
Như
vậy, này Sa-môn,
Ngài
không thoát khỏi ta.
6) (Thế
Tôn):
Sự
vật được ông nói:
"Cái
này không của tôi"
Và
những người đã nói:
"Họ
không phải là tôi".
Hãy
hiểu biết như vậy,
Này
kẻ Ác ma kia!
Cho
đến Ông không thấy,
Con
đường của Ta đi.
7) (Ác
ma):
Nếu
Ngài chứng ngộ được,
Ðường
an toàn bất tử,
Ngài
hãy đi một mình.
Sao
lại dạy người khác?
8) (Thế
Tôn):
Người
đi đến bờ kia,
Họ
hỏi nước bất tử,
Ðược
hỏi, Ta trả lời,
Cảnh
giới vô dư y.
9) --
Bạch Thế Tôn, ví như một hồ nước không xa làng hay thị
trấn. Tại đấy có một con cua. Rồi bạch Thế Tôn, nhiều
người con trai hay người con gái, từ làng ấy đi ra, đi đến
hồ nước ấy. Sau khi đến, họ kéo con cua ấy lên khỏi nước
và đặt nó trên đất liền. Bạch Thế Tôn, khi nào con cua
ấy thò ra cái càng nào, những người con trai hay những người
con gái ấy, lấy gậy hay lấy miểng sành chặt đứt, bẻ
gãy hay đập nát cái càng ấy. Như vậy, bạch Thế Tôn, con
cua ấy, với mọi càng bị chặt đứt, bẻ gãy, đập nát,
không thể bò xuống hồ nước ấy nữa. Ví như lúc trước
có những lộn xộn, mâu thuẫn, xuyên tạc gì đã được Thế
Tôn chặt đứt, bẻ gẫy, đập nát. Và nay, bạch Thế Tôn,
với hy vọng tìm cho được lỗi lầm, con không thể đến
gần Thế Tôn được.
10)
Rồi Ác ma, trước mặt Thế Tôn, trong nỗi niềm thất vọng,
nói lên bài kệ này:
Như
quạ liệng hư không,
Thấy
đá như miếng mỡ,
Tưởng
rằng sẽ tìm được,
Miếng
gì mềm và ngon.
Không
tìm được gì ngon,
Liền
từ đó bay đi,
Như
quạ mổ hòn đá,
Thất
vọng ta bỏ đi,
Giã
từ Gotama.
11) Rồi
Ác ma, sau khi nói lên những bài kệ ấy trước mặt Thế Tôn,
từ chỗ ấy bỏ đi, rồi ngồi kiết-già trên đất, không
xa Thế Tôn, im lặng, hổ ngươi, thụt vai, cúi đầu, sững
sờ, câm miệng, lấy chiếc gậy cào trên đất.
V.
Những Người Con Gái (S.i,124)
1)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, đi đến Ác
ma, sau khi đến, nói lên bài kệ này với Ác ma:
Cha
thân yêu, sao cha
Lại
thất vọng như vậy?
Vì
ai, vì người nào,
Khiến
cha phải sầu muộn?
Chúng
con với ái dục,
Sử
dụng như bẫy mồi,
Sẽ
buộc chặt họ lại,
Như
buộc chặt voi rừng,
Và
dẫn họ đến cha,
Khiến
họ quy phục cha.
2) (Ác
ma):
Bậc
La-hán, Thiện Thệ,
Bậc
Chánh Giác ở đời,
Không
dễ dùng ái dục,
Khéo
nhiếp phục vị ấy.
Vị
ấy đã vượt qua,
Lãnh
vực của Ác ma,
Do
vậy, ta sầu não,
Buồn
phiền đến cực độ.
3) Rồi
các nữ ma Khát ái, Bất lạc, và Tham dục đi đến Thế Tôn;
sau khi đến, nói với Thế Tôn:
--
Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng
Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng,
đoạn tận mọi sanh y.
4)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía
một bên và suy nghĩ như sau: "Sở thích của con người cao
thấp khác nhau. Vậy chúng ta biến hình thành một trăm thiếu
nữ".
5)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục, sau khi biến
hình thành một trăm thiếu nữ, liền đi đến Thế Tôn; sau
khi đến, nói với Thế Tôn:
--
Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng
Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng,
đoạn tận mọi sanh y.
6)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua phía
một bên và suy nghĩ như sau: "Sở thích của con người cao
thấp khác nhau. Vậy chúng ta hãy biến hình thành một trăm
thiếu phụ chưa sanh con".
7)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục sau khi biến
thành một trăm thiếu phụ chưa sanh con, liền đi đến Thế
Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn:
--
Thưa Sa-môn, chúng con xin hầu hạ dưới chân Ngài.
Nhưng
Thế Tôn không chú ý đến, vì Ngài đã giải thoát vô thượng,
đoạn tận mọi sanh y.
8)
Rồi các nữ ma Khát ái...,... sau khi biến hình thành một thiếu
phụ đã sanh một con, đi đến Thế Tôn...,... vì Ngài đã
giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
9)
Rồi các nữ ma Khát ái...,... sau khi biến hình thành một thiếu
phụ đã sanh hai con, đi đến Thế Tôn...,... vì Ngài đã giải
thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
10)
Rồi các nữ ma Khát ái...,.... sau khi biến hình thành một
thiếu phụ trung niên, đi đến Thế Tôn...,... vì Ngài đã
giải thoát vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
11)
Rồi các nữ ma Khát ái...,... sau khi biến hình thành một phụ
nữ lớn tuổi, đi đến Thế Tôn...,... Vì Ngài đã giải thoát
vô thượng, đoạn tận mọi sanh y.
12)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi qua một
bên và nói như sau:
--
Cha chúng ta nói thật đúng sự thật:
Bậc
La-hán, Thiện Thệ,
Bậc
Chánh Giác ở đời,
Không
dễ dùng ái dục,
Khéo
nhiếp phục vị ấy.
Vị
ấy đã vượt qua,
Quyền
lực của Ác ma,
Do
vậy ta sầu não,
Buồn
phiền đến cực độ.
13) Nếu
chúng ta tấn công với phương tiện này, một Sa-môn hay Bà-la-môn
nào chưa ly ái dục, người ấy sẽ bể tim, hay miệng hộc
máu nóng, hay bị loạn tâm, hay bị cuồng ý. Ví như một cây
lau xanh bị gặt hái sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy. Cũng
vậy, người ấy sẽ héo hắt, khô cằn, tiều tụy.
14)
Rồi các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Thế
Tôn; sau khi đi đến, liền đứng một bên.
15)
Ðứng một bên, nữ ma Khát ái nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Với
tâm tư sầu muộn,
Ngài
Thiền tư trong rừng,
Vì
tài sản hao mòn,
Hay
vì thèm tài sản?
Có
thể tại xóm làng,
Ngài
đã gây tội phạm,
Sao
Ngài không làm thân
Với
bà con xóm giềng?
Sao
Ngài không có thể
Làm
bạn với một ai?
16) (Thế
Tôn):
Với
mục đích đạt thành,
Với
thân tâm an tịnh,
Ta
chiến thắng quân binh.
Hình
sắc lạc, khả ái.
Ta
độc tọa Thiền tư,
Chứng
ngộ chơn an lạc,
Do
vậy, giữa chúng sanh,
Ta
không bạn một ai.
Làm
bạn với một ai,
Ðối
với Ta không cần.
17) Rồi
nữ ma Bất lạc nói lên bài kệ với Thế Tôn:
Làm
sao vị Tỷ-kheo,
Sống
giữa nhiều (chướng ngại),
Ðã
vượt năm bộc lưu,
Lại
gắng vượt thứ sáu?
Làm
sao Thiền tư được,
Giữa
rất nhiều dục tưởng,
Ðược
giữ ngoài vị ấy,
Không
bắt vị ấy được?
18) (Thế
Tôn):
Với
thân được khinh an,
Với
tâm khéo giải thoát,
Không
còn các sở hành,
Chánh
niệm, không tham trước,
Biết
rõ được Chánh pháp,
Không
tầm, tu Thiền định.
Không
phẫn nộ, vọng niệm,
Không
thụy miên, giải đãi,
Như
vậy vị Tỷ-kheo,
Sống
giữa nhiều chướng ngại,
Ðã
vượt năm bộc lưu,
Lại
gắng vượt thứ sáu,
Như
vậy tu Thiền tư,
Giữa
rất nhiều dục tưởng,
Ðược
giữ ngoài vị ấy,
Không
bắt vị ấy được.
19) Rồi
nữ ma Tham dục, nói lên bài kệ này trước mặt Thế Tôn:
Ðoạn
tận được khát ái,
Sống
giữa các chúng đoàn,
Phần
lớn các chúng sanh,
Chắc
chắn sẽ sống vậy.
Vị
không tham trước này,
Sống
từ bỏ đám đông,
Ðoạn
tận dẫn quần sanh,
Thoát
khỏi Ma vương quốc.
20) (Thế
Tôn):
Thật
vậy, chư Ðại Hùng,
Thật
vậy, chư Như Lai,
Với
chơn vi diệu pháp,
Hướng
dẫn (mọi quần sanh),
Ðược
Chánh pháp hướng dẫn,
Dầu
có ganh tức gì,
Không
thể không biết vậy.
21) Rồi
các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục đi đến Ác ma.
22)
Và Ác ma thấy các nữ ma Khát ái, Bất lạc và Tham dục từ
xa đi lại. Thấy vậy, Ác ma liền nói lên bài kệ:
Các
Ngươi thật kẻ ngu,
Lấy
cành sen phá đá,
Lấy
móng tay đào núi,
Lấy
răng nhai sắt thép.
Các
Ngươi thật giống người,
Lấy
đầu húc đá tảng,
Cố
gắng tìm chân đứng,
Trong
vực thẳm thâm sâu.
Các
Ngươi thật giống người,
Lấy
ngực đâm lao nhọn.
Thất
vọng, các Ông đến,
Giã
từ Gotama.
23)
Trong
áo xiêm lòe loẹt,
Con
gái ma, chúng đến,
Khát
ái và Bất lạc,