TẬP I -
THIÊN CÓ KỆ
[03] Chương
III
Tương Ưng
Kosala
I.
Phẩm Thứ Nhất
I.
Tuổi Trẻ (S.i,68)
1)
Như vầy tôi nghe.
Một
thời Thế Tôn trú ở Sàvatthi (Xá-vệ), Jetavana (Thắng Lâm),
tại vườn ông Anàthapindika (Cấp Cô Ðộc).
2)
Rồi vua Pasenadi (Ba-tư-nặc) nước Kosala (Kiều-tát-la) đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào
đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm
thân hữu, rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô Thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác không?
4)
-- Thưa Ðại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn
chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác,
thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Ðại vương, Ta đã
chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
5)
-- Thưa Tôn giả Gotama, có những vị Sa-môn, Bà-la-môn là vị
hội chủ, vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có
tiếng tốt, có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần
chúng tôn sùng. Như ngài Purana Kassapa, Makkali Gosàla, Nigantha
Nàtaputta, Sanjaya Belatthiputta, Kakudha Kaccàyana, Ajita Kesakambala.
Khi con hỏi các vị ấy: "Có tự xem là đã chứng Vô thượng
Chánh đẳng Chánh giác không?", thời họ đã trả lời, không
tự xem mình đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Vậy làm sao Tôn giả Gotama, trẻ tuổi, sanh sau đẻ muộn,
và chỉ mới xuất gia lại tự cho mình như vậy?
6)
-- Thưa Ðại vương, có bốn loại trẻ tuổi không nên khinh
thường, hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thế nào
là bốn?
--
Thưa Ðại vương, Khattiya trẻ tuổi không nên khinh thường
hay không nên miệt thị vì họ là trẻ. Thưa Ðại vương,
con rắn trẻ tuổi không nên khinh thường hay không nên miệt
thị vì chúng là trẻ. Thưa Ðại vương, ngọn lửa trẻ tuổi
không nên khinh thường hay không nên miệt thị vì chúng là
trẻ. Thưa Ðại vương, Tỷ-kheo trẻ tuổi không nên khinh thường
hay không nên miệt thị vì họ là trẻ.
Thưa
Ðại vương, bốn loại trẻ tuổi này không nên khinh thường
hay không nên miệt thị vì chúng là trẻ.
7)
Thế Tôn nói như vậy. Nói xong, bậc Thiện Thệ lại nói thêm
như sau:
8)
Sanh
dòng Sát-đế-lỵ,
Thuộc
quý tộc, danh xưng,
Chớ
khinh thường là trẻ,
Chớ
miệt thị là nhỏ.
Vị
Sát-đế-lỵ ấy,
Ðến
thời lên ngôi vua,
Làm
chúa tể loài Người,
Trị
vì cả quốc độ.
Vị
ấy nếu phẫn nộ,
Dùng
vương phạt gia hình,
Ai
bảo tồn mạng mình,
Hãy
tránh né vị ấy.
9)
Ở
làng hay là rừng,
Có
thấy rắn bò qua,
Chớ
khinh thường rắn trẻ,
Chớ
miệt thị rắn nhỏ,
Cao
thấp hình sai biệt.
Rắn
sống đầy nhiệt khí,
Bị
tấn công, nó cắn,
Kẻ
ngu cả nam nữ,
Ai
bảo tồn mạng mình,
Hãy
tránh né loài rắn.
10)
Lửa
cháy đầy khát vọng,
Lửa
đốt thiêu, đốt cháy,
Chớ
khinh thường lửa trẻ,
Chớ
miệt thị lửa nhỏ.
Lửa
được đồ bén cháy,
Liền
cháy to, cháy lớn,
Bị
tấn công, lửa đốt,
Kẻ
ngu cả nam nữ,
Ai
bảo tồn mạng mình,
Hãy
tránh né lửa cháy.
11)
Khu
rừng bị lửa đốt,
Lửa
đốt thiêu, đốt cháy,
Sau
nhiều đêm và ngày,
Rễ
mầm lại mọc lên.
12)
Còn
Tỷ-kheo trẻ giới,
Nồng
cháy với nhiệt tình,
Nhưng
không con, không cái,
Không
của cải truyền thừa,
Không
con, không thừa tự,
Như
thân cây tala.
13)
Do
vậy, người hiền trí,
Tự
thấy hạnh phúc mình,
Ðối
với rắn và lửa
Danh
xưng Sát-đế-lỵ,
Vị
Tỷ-kheo trì giới,
Với
bốn vị kể trên,
Hãy
biết cách cư xử,
Chơn
chánh và tốt đẹp.
14) Khi
nghe nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch
Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng
ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường
cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối
để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh
pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày,
giải thích. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp,
quy y chúng Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay
trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
II.
Người (S.i,70)
1)
Tại tịnh xá ở Sàvatthi.
2)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, đi đến Thế Tôn, sau khi đảnh
lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
3)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Có bao nhiêu loại pháp, bạch Thế Tôn, khi khởi lên trong nội
tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và
bất an cho người ấy?
4)
-- Thưa Ðại vương có ba loại pháp khi khởi lên trong nội
tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và
bất an cho người ấy. Thế nào là ba? Tham pháp, thưa Ðại
vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người, sẽ đưa
lại bất lợi, khổ não và bất an cho người ấy. Sân pháp,
thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm của một người,
sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất an trú cho người
ấy. Si pháp, thưa Ðại vương, khi khởi lên trong nội tâm
của một người sẽ đưa lại bất lợi, khổ não và bất
an cho người ấy. Ba pháp ấy, thưa Ðại vương, khi khởi lên
trong nội tâm của một người, sẽ đưa lại bất lợi, khổ
não và bất an cho người ấy.
5)
Tham,
sân, si ba pháp,
Là
ác tâm cho người,
Chúng
di hại tự ngã,
Chúng
tác thành tự ngã,
Như
vỏ và lõi cây,
Tự
tác thành trái cây.
III.
Vua (S.i,71)
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)
Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, có cái gì sanh mà không già và không chết
không?
3)
-- Thưa Ðại vương, không có cái gì sanh mà không già và không
chết.
4)
Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Sát-đế-lỵ là những
bậc đại phú, phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn,
có nhiều vàng và bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều
tiền của, ngũ cốc. Các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi
già và chết.
5)
Thưa Ðại vương, dầu cho những vị Bà-la-môn là những bậc
đại phú, dầu cho những gia chủ là những bậc đại phú,
phú hào, có tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng
bạc, có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ
cốc, các vị ấy có sanh cũng không thoát khỏi già và chết.
6)
Thưa Ðại vương, cho đến các vị Tỷ-kheo, những bậc A-la-hán,
đã đoạn tận các lậu hoặc, Phạm hạnh đã thành, những
việc nên làm đã làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt
được mục đích tối hậu, đã đoạn được hữu kiết sử,
đã được giải thoát nhờ chánh trí, cho đến thân này của
các vị ấy cũng phải bị hủy hoại, cũng phải bị từ bỏ.
7)
Xe
vua dầu mỹ diệu,
Rồi
cũng phải hư hoại,
Thân
thể này cũng vậy,
Rồi
cũng phải già yếu.
Chỉ
thiện pháp không già,
Bậc
thiện nhân nói vậy.
IV.
Thân Ái (S.i,71)
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, ở đây khi con đang ngồi yên tịnh một mình,
tư tưởng này khởi lên nơi con: "Ðối với những ai, tự
ngã là thân ái? Ðối với những ai, tự ngã là kẻ thù?"
Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
3)
"Những ai sống thân làm ác, sống miệng nói ác, sống ý nghĩ
ác; đối với người ấy, tự ngã là kẻ thù. Dầu họ có
nói: "Tự ngã là thân ái của chúng tôi", nhưng tự ngã đối
với họ là kẻ thù. Vì sao vậy? Những gì kẻ thù làm cho
kẻ thù, tự ngã của họ làm cho tự ngã của họ như vậy.
Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thù.
4)
Những ai sống thân làm thiện, sống miệng nói thiện, sống
ý nghĩ thiện, đối với họ, tự ngã là thân ái. Dầu cho
họ có nói: "Tự ngã là kẻ thù của chúng tôi", nhưng tự
ngã đối với họ là thân ái. Vì sao vậy? Những gì kẻ thân
ái làm cho kẻ thân ái, tự ngã của họ làm cho tự ngã của
họ như vậy. Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thân
ái."
5)
-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Như vậy là phải,
thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, những ai sống thân làm
ác... Do vậy, đối với họ, tự ngã là kẻ thù. Thưa Ðại
vương, những ai sống thân làm thiện... Do vậy, đối với
họ, tự ngã là kẻ thân ái.
6)
Nếu
những ai biết được,
Tự
ngã là thân ái,
Họ
sẽ không liên hệ,
Với
các điều ác hạnh.
Kẻ
làm điều ác hạnh,
Khó
được chơn hạnh phúc,
Bị
thần chết cầm tù,
Từ
bỏ thân làm người.
Kẻ
có nghiệp như vậy,
Cái
gì là của mình?
Lấy
cái gì đem đi?
Cái
gì theo dõi họ,
Như
bóng theo dõi hình?
Ở
đây kẻ bị chết,
Làm
các nghiệp công đức,
Làm
các nghiệp ác đức,
Lấy
cả hai đem đi.
Cả
hai của kẻ ấy,
Như
bóng theo dõi hình.
Cả
hai theo kẻ ấy,
Do
vậy hãy làm lành,
Tích
lũy cho đời sau,
Công
đức cho đời sau,
Là
hậu cứ cho người.
V.
Tự Bảo Hộ (S.i,72)
1)
Ngồi một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
2)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh
một mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: "Ðối với những
ai, tự ngã được bảo vệ? Ðối với những ai, tự ngã không
được bảo vệ?" Và rồi bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau:
3)
"Những ai thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác, những người
ấy không bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ được tượng binh
bảo vệ, hay được mã binh bảo vệ, hay được xa binh bảo
vệ, hay được bộ binh bảo vệ; đối với những người
ấy, tự ngã không được bảo vệ. Vì cớ sao? Vì sự bảo
vệ như vậy là bảo vệ ở ngoài, không phải sự bảo vệ
bên trong. Cho nên đối với những người ấy, tự ngã không
được bảo vệ.
4)
Và những ai thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện,
những người ấy bảo vệ tự ngã. Dầu cho họ không được
tượng binh bảo vệ, hay không được mã binh bảo vệ, hay
không được xa binh bảo vệ, hay không được bộ binh bảo
vệ; đối với những người ấy, tự ngã được bảo vệ.
Vì cớ sao? Vì sự bảo vệ như vậy là sự bảo vệ bên trong,
không phải sự bảo vệ ở ngoài. Cho nên đối với những
người ấy, tự ngã được bảo vệ."
5)
Lành
thay bảo vệ thân!
Lành
thay bảo vệ lời!
Lành
thay bảo vệ ý!
Lành
thay tổng bảo vệ!
Kẻ
liêm sỉ bảo vệ,
Tổng
quát và cùng khắp,
Vị
ấy có tên gọi,
Là
vị được bảo vệ.
VI.
Thiểu Số (S.i,73)
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con đang ngồi yên tịnh một
mình, tư tưởng này khởi lên nơi con: "Ít thay là những người
trong đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào lại
có thể không bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị
say mê trong các dục và không có những hành vi không tốt đẹp
đối với các người khác. Trái lại, thật là nhiều thay,
những người trong đời này, sau khi được tài sản phong phú,
dồi dào, có thể bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê
trong các dục và có những hành vi không tốt đẹp đối với
các người khác.
3)
-- Thật sự là vậy, thưa Ðại vương. Thật sự là vậy,
thưa Ðại vương. Ít thay là những người trong đời này,
sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, lại có thể không
bị lôi cuốn, không bị chìm đắm, không bị say mê trong các
dục và không có những hành vi không tốt đẹp đối với
người khác. Trái lại, thật là nhiều thay những người trong
đời này, sau khi được tài sản phong phú, dồi dào, có thể
bị lôi cuốn, bị chìm đắm, bị say mê trong các dục và
có những hành vi không tốt đẹp đối với các người khác.
4)
Loài
người bị đắm say,
Trong
tài sản, trong dục,
Họ
tham lam, điên dại,
Trong
các dục ở đời,
Không
ý thức rõ ràng,
Ðã
quá độ say mê,
Chẳng
khác gì con nai,
Không
thấy đặt bẫy sập,
Về
sau họ khổ đau,
Chịu
quả báo ác nghiệp.
VII.
Xử Kiện (S.i,74)
1)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
2)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con ngồi trong pháp đường (để
xử kiện), con thấy chính các vị Sát-đế-lỵ đại phú,
các Bà-la-môn đại phú, các gia chủ đại phú, phú hào, có
tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc,
có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc;
vì nhân các dục, vì duyên các dục, vì nguyên nhân các dục,
đã dụng ý nói lời vọng ngôn. Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ
như sau: "Nay ta đã chán ngấy xử kiện. Nay hãy để cho vị
hiền diện (bhadramukha) được có danh tiếng nhờ tài xử kiện."
3)
-- Thưa Ðại vương, các vị Sát-đế-lỵ đại phú, các vị
Bà-la-môn đại phú, các vị gia chủ đại phú, phú hào có
tiền của lớn, có tài sản lớn, có nhiều vàng và bạc,
có nhiều tài sản vật dụng, có nhiều tiền của, ngũ cốc;
vì nhân các dục, vì duyên các dục, vì nhân duyên các dục,
đã dụng ý nói lên lời vọng ngôn. Do vậy họ sẽ gánh chịu
bất lợi, đau khổ trong một thời gian dài.
4)
Loài
Người bị đắm say,
Trong
tài sản, trong dục,
Họ
tham lam, điên dại,
Trong
các dục ở đời.
Không
ý thức rõ ràng,
Ðã
quá độ say mê,
Chẳng
khác gì con cá,
Không
thấy đặt bẫy sập.
Về
sau họ khổ đau,
Chịu
quả báo ác nghiệp.
VIII.
Mallikà: Mạt-lỵ (S.i,75)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ vua Pasenadi nước Kosala có mặt với hoàng hậu
Mallikà, trên lầu thượng (hoàng cung).
3)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với hoàng hậu Mallikà:
--
Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự
ngã của hoàng hậu.
4)
-- Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn
là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác
thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương?
5)
-- Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự
ngã của ta.
6)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala bước xuống lầu và đi đến
Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống
một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch
Thế Tôn:
7)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, con đi lên lầu thượng (của hoàng
cung) với hoàng hậu Mallikà và con nói với hoàng hậu Mallikà:
" --
Này Mallikà, có ai khác thân ái với hoàng hậu hơn là tự
ngã của hoàng hậu?".
Khi
được nói vậy, bạch Thế Tôn, hoàng hậu Mallikà trả lời
với con:
" --
Thưa Ðại vương, không có ai khác thân ái với thiếp hơn
là tự ngã của thiếp. Nhưng thưa Ðại vương, có ai khác
thân ái với Ðại vương hơn là tự ngã của Ðại vương?".
Ðược nói vậy, bạch Thế Tôn, con trả lời cho hoàng hậu
Mallikà:
" --
Này Mallikà, không có ai khác thân ái với ta hơn là tự ngã
của ta".
8)
Rồi Thế Tôn, sau khi biết rõ ý nghĩa này, trong lúc ấy liền
nói lên bài kệ này:
Tâm
ta đi cùng khắp,
Tất
cả mọi phương trời,
Cũng
không tìm thấy được,
Ai
thân hơn tự ngã.
Tự
ngã đối mọi người,
Quá
thân ái như vậy.
Vậy
ai yêu tự ngã,
Chớ
hại tự ngã người.
IX.
Tế Ðàn (S.i,75)
1)
Tại Sàvatthi.
2)
Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức một đại
tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con bò con đực, năm
trăm con bò con cái, năm trăm con dê, và năm trăm con cừu (urabbha)
được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế đàn.
3)
Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch,
hay những người lao động, bị hình phạt thúc đẩy, bị
sợ hãi thúc đẩy,với nước mắt đầy mặt, than khóc và
làm các công việc chuẩn bị (cho lễ tế đàn).
4)
Rồi rất nhiều Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát đi
vào Sàvatthi để khất thực; khất thực xong, sau bữa ăn,
trên con đường đi khất thực trở về, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
5)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala tổ chức
một đại lễ tế đàn. Năm trăm con bò đực, năm trăm con
bò con đực, năm trăm con bò con cái, năm trăm con dê, năm trăm
con cừu được dắt đến trụ tế lễ để làm lễ tế đàn.
Và có những người nô tỳ, hay những người phục dịch,
hay những người lao công, bị hình phạt thúc đẩy, bị sợ
hãi thúc đẩy, với nước mắt đầy mặt và than khóc, làm
các công việc chuẩn bị cho lễ tế đàn.
6)
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy,
nói lên bài kệ:
Lễ
cúng ngựa, cúng người,
Quăng
cọc, rượu chiến thắng,
Không
chốt cửa, đại lễ,
Chúng
không phải quả lớn.
Chỗ
nào có giết hại,
Dê,
cừu và trâu bò,
Lễ
tế đàn như vậy,
Bậc
Ðại Thánh không đi.
Tế
đàn không rộn ràng,
Cúng
dường được thường hằng,
Không
có sự giết hại,
Dê,
cừu và trâu bò,
Lễ
tế đàn như vậy,
Bậc
Ðại Thánh sẽ đi.
Bậc
trí tế như vậy,
Tế
đàn vậy, quả lớn.
Ai
tế lễ như vậy,
Chỉ
tốt hơn, không xấu,
Là
tế đàn vĩ đại,
Ðược
chư Thiên hoan hỷ.
X.
Triền Phược (S.i,76)
1)
Lúc bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala đang bắt trói một số
đông người. Một số người bị trói bằng dây, một số
người bị trói bằng dây chuyền, một số người bị trói
bằng kềm kẹp.
2)
Rồi một số đông Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, cầm bát,
đi vào Sàvatthi để khất thực. Ði khất thực xong, sau bữa
ăn, trên con đường khất thực trở về, họ đi đến Thế
Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một
bên.
3)
Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
--
Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Pasenadi nước Kosala bắt trói một
số đông người. Một số người bị trói bằng dây, một
số người bị trói bằng dây chuyền, một số người bị
trói bằng kềm kẹp.
Rồi
Thế Tôn sau khi hiểu biết ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy nói
lên bài kệ:
Bậc
có trí nói rằng
Trói
vậy không vững chắc,
Trói
bằng sắt, dây gai,
Kềm
kẹp bằng gỗ mộc;
Ðam
mê các dục lạc,
Với
châu báu, trang sức,
Và
tâm tư tưởng vọng,
Hướng
về con, về vợ.
Bậc
có trí nói rằng
Trói
vậy thật vững chắc.
Dầu
trói buộc trì xuống,
Tế
nhị và khó thoát,
Các
vị chơn xuất gia,
Cắt
đứt chúng làm đôi,
Không
ước vọng mong cầu,
Từ
bỏ mọi dục lạc.
II.
Phẩm Thứ Hai
I.
Bện Tóc (S.i,77)
1)
Một thời Thế Tôn ở tại Sàvatthi, Pubbàràma (Ðông Viên),
tại lâu đài Migàramàtu (Lộc Tử Mẫu giảng đường).
2)
Lúc bấy giờ, Thế Tôn vào buổi chiều, từ chỗ Thiền tịnh
độc cư đứng dậy, và đến ngồi tại mái hiên phía cửa
ngoài.
Rồi
vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh
lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
3)
Lúc bấy giờ, bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy vị
lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ với thân
đầy lông, với móng tay dài, lớn như cây lau, mang các dụng
cụ khất sĩ đang đi ngang qua, cách Thế Tôn không xa bao nhiêu.
4)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp
y vào phía một bên vai, quỳ xuống trên đầu gối tay mặt,
chấp tay hướng về bảy vị bện tóc, bảy vị Niganthà, bảy
vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị du sĩ ấy và
nói lên ba lần tên của mình: "Thưa chư Tôn, con là vua Pasenadi
nước Kosala".
5)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, khi bảy vị bện tóc, bảy vị
Niganthà, bảy vị lõa thể, bảy vị mặc một y và bảy vị
du sĩ ấy đã đi qua không lâu liền đi đến Thế Tôn, đảnh
lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
6)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, có phải những Tôn giả ấy là những vị
A-la-hán trên đời này, hay là những vị đang đi trên con đường
hướng đến đạo quả A-la-hán?
7)
-- Thưa Ðại vương, khi Ðại vương còn là cư sĩ, trong khi
còn sống thọ hưởng các dục, bị con cái trói buộc, quen
dùng các loại chiên đàn ở xứ Kàsi, trang sức với vòng
hoa, hương thơm, dầu sáp, sử dụng vàng và bạc, thời Ðại
vương thật khó biết được các vị ấy là bậc A-la-hán
hay là bậc đang đi con đường hướng đến A-la-hán quả.
8)
Thưa Ðại vương, chính phải cọng trú mới biết được giới
đức của một người, và phải trong một thời gian dài không
thể khác được, phải có tác ý, không phải không có tác
ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
9)
Thưa Ðại vương, chính phải cùng chung một nghề mới biết
được sự thanh tịnh của một người, phải trong một thời
gian dài không thể khác được, phải có tác ý, không phải
không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
10)
Thưa Ðại vương, chính trong thời gian bất hạnh mới biết
được sự trung kiên của một người, phải trong một thời
gian dài không thể không khác được, phải có tác ý, không
phải không tác ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
11)
Thưa Ðại vương, chính phải đàm đạo mới biết được
trí tuệ của một người, và phải trong một thời gian dài
không thể khác được, phải có tác ý, không phải không tác
ý, phải có trí tuệ, không phải với ác tuệ.
12)
-- Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Thật hy hữu thay, bạch
Thế Tôn, khi Thế Tôn đã khéo nói như sau: " Thưa Ðại vương,
khi Ðại vương còn là cư sĩ... ... không phải không với ác
tuệ"!
13)
Bạch Thế Tôn, có những người trinh thám này của con, những
người trinh sát, sau khi đi trinh sát một nước, họ đến
con. Trước hết họ báo cáo rồi con mới đúc kết.
14)
Bạch Thế Tôn, ở đây những người ấy sau khi tẩy sạch
bụi và nhớp, sau khi tắm rửa và xoa dầu, sau khi chải sạch
râu tóc, mặc áo vải trắng, họ được hầu hạ săn sóc
và cho thọ hưởng năm dục công đức.
15)
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này, ngay trong lúc ấy
mới nói lên bài kệ:
Không
phải do sắc tướng,
Biết
rõ được con người,
Không
phải nhìn thoáng qua,
Ðặt
được lòng tin cậy.
Dưới
bộ áo đạo đức,
Với
hình tướng tự chế,
Những
kẻ sống buông thả,
Sống
phây phây đời này.
Như
bông tai bằng đất,
Giả
dạng bông tai thật,
Như
nửa tiền bằng đồng ,
Ðược
sơn phết lớp vàng.
Một
số sống che đậy,
Ẩn
kín dưới bề ngoài,
Nội
thân thật bất tịnh,
Mặt
ngoài giả mỹ diệu.
II.
Năm Vua (S.i,79)
1)
Trú ở Sàvatthi.
2)
Một thời, năm vị vua, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng
thủ, đang thọ hưởng, được cung cấp và được đoanh vây
với năm dục công đức. Câu chuyện sau đây được khởi
lên giữa các vị ấy: "Dục lạc nào tối thượng?"
3)
Ở đây, có người nói: "Sắc là dục tối thượng"; có người
nói: "Tiếng là dục tối thượng"; có người nói: "Hương
là dục tối thượng"; có người nói: "Vị là dục tối thượng";
có người nói: "Xúc là dục tối thượng". Và các vua ấy
không thể thuyết phục nhau về vấn đề này.
4)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala nói với các vua ấy:
--
Chư Tôn giả, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến hãy
hỏi Thế Tôn ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời chúng ta như
thế nào, chúng ta sẽ như vậy thọ trì.
5)
-- Thưa vâng, Tôn giả.
Các
vua ấy vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala.
6)
Rồi năm vua ấy, với vua Pasenadi nước Kosala là thượng thủ,
đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi
xuống một bên.
7)
Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Ở đây, bạch Thế Tôn, năm vua chúng con đang thọ hưởng,
được cung cấp, được đoanh vây với năm dục công đức,
câu chuyện sau đây được khởi lên giữa chúng con: "Dục
nào là tối thượng?". Có người nói: "Sắc là dục tối thượng".
Có người nói: "Tiếng là dục tối thượng". Có người nói:
"Hương là dục tối thượng". Có người nói: "Vị là dục
tối thượng". Có người nói: "Xúc là dục tối thượng".
Bạch Thế Tôn, dục nào là tối thượng?
8)
-- Thưa Ðại vương, tùy theo cùng độ ưa thích mà Ta nói rằng
dục ấy là tối thượng trong năm dục công đức. Và thưa
Ðại vương, các sắc ấy đối với một số người được
ưa thích, các sắc ấy đối với một số người không được
ưa thích. Thưa Ðại vương, nếu một ai ưa thích đối với
các sắc pháp, tâm viên ý mãn, không có muốn các sắc pháp
nào khác hơn, các sắc pháp nào tốt đẹp hơn các sắc pháp
ấy, thời đối với vị này, các sắc pháp ấy là tối thượng,
đối với vị này, các sắc pháp ấy là vô thượng.
9)
Thưa Ðại vương,các tiếng ấy... ... Các hương ấy ... ...
Các vị ấy... ... Thưa Ðại vương, các xúc ấy đối với
một số người được ưa thích, các xúc ấy đối với một
số người không được ưa thích. Thưa Ðại vương, nếu một
ai ưa thích đối với xúc pháp, tâm viên ý mãn, không có ý
muốn các xúc pháp nào khác hơn, các xúc pháp nào tốt hơn
các xúc pháp ấy, thời đối với vị này, các xúc pháp ấy
là tối thượng, các xúc pháp ấy là vô thượng.
10)
Lúc bấy giờ, có cư sĩ Candanangalika đang ngồi trong hội chúng
ấy. Rồi cư sĩ Candanangalika từ chỗ ngồi đứng dậy đắp
thượng y lên một bên vai, chấp tay hướng về Thế Tôn và
bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, một tư tưởng khởi lên nơi con. Bạch Thiện
Thệ, một tư tưởng khởi lên nơi con.
11)
Thế Tôn nói:
--
Này Candanangalika, hãy nói lên tư tưởng ấy.
12)
Rồi cư sĩ Candanangalika trước mặt Thế Tôn tán thán với
một bài kệ thích nghi:
Giống
như hoa sen đỏ,
Nực
thơm mùi hương dịu,
Sáng
sớm tinh sương nở,
Với
hương hoa ứ đọng.
Hãy
xem Angira,
Chói
hào quang chiếu diệu,
Như
mặt trời sáng chói,
Giữa
hư không bao la.
13) Rồi
năm vị vua ấy đắp năm áo lên trên mình cư sĩ Candanangalika.
14)
Nhưng cư sĩ Candanangalika đắp năm áo ấy lên trên thân Thế
Tôn.
III.
Ðại Thực: Ăn nhiều (S.i,81)
1)
Trú ở Sàvatthi.
Lúc
bấy giờ, vua Pasenadi nước Kosala thường ăn bữa ăn thịnh
soạn.
2)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi ăn xong, no đủ, thỏa thích,
đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi
xuống một bên.
3)
Rồi Thế Tôn sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala đã ăn xong,
no đủ, thỏa thích, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Con
người thường chánh niệm,
Ðược
ăn, biết phải chăng,
Chừng
mực, cảm thọ mạnh,
Già
chậm, tuổi thọ dài.
4) Lúc
bấy giờ, thanh niên Bà-la-môn Sudassana đứng sau lưng vua Pasenadi
nước Kosala.
5)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala gọi thanh niên Sudassana:
--
Này Bạn, hãy đi đến và học thuộc lòng bài kệ từ Thế
Tôn và trong khi dọn ăn cho ta, hãy đọc lên bài kệ ấy. Ta
sẽ cấp thường nhật cho ông một trăm đồng tiền vàng.
6)
-- Thưa vâng, Ðại vương.
Thanh
niên Sudassana vâng đáp vua Pasenadi nước Kosala, học thuộc
lòng bài kệ này từ Thế Tôn, và trong khi dọn cơm cho vua
Pasenadi nước Kosala, đọc lên bài kệ này:
"Con
người thường chánh niệm,
Ðược
ăn, biết phải chăng,
Chừng
mực, cảm thọ mạnh,
Già
chậm, tuổi thọ dài."
7) Rồi
vua Pasenadi nước Kosala tuần tự hạn chế, cho đến chỉ ăn
nhiều nhất là một nàlika.
8)
Vua Pasenadi sau một thời gian, thân thể được khỏe mạnh,
tự tay thoa bóp chân tay và nói lên lời cảm hứng sau đây:
"Ôi, thật sự Thế Tôn đã thương tưởng nghĩ đến lợi
ích cho ta, cả hai đời hiện tại và vị lai!"
IV,V.
Hai Lời Nói Về Chiến Tranh (Si,82)
Trú
ở Sàvatthi.
1)
Vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, triệu tập bốn binh
chủng gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala và tiến đánh
Kàsi.
2)
Vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha triệu tập bốn binh chủng gây chiến với ta
và tiến đánh Kàsi."
3)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala sau khi triệu tập bốn loại binh
chủng dàn trận ở Kàsi, chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha.
4)
Rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha, tấn công vua
Pasenadi nước Kosala. Trong cuộc chiến trận, vua Ajàtasattu,
con bà Videhi nước Magadha chiến thắng vua Pasenadi nước Kosala.
Bị chiến bại, vua Pasenadi nước Kosala lui về tại kinh đô
Sàvatthi.
5)
Rồi một số Tỷ-kheo, vào buổi sáng đắp y, cầm bát, đi
vào Sàvatthi để khất thực. Ði khất thực ở Sàvatthi xong,
sau bữa ăn, trên con đường đi khất thực trở về, họ đi
đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi
xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch
Thế Tôn:
6)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước
Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng gây chiến với
vua Pasenadi nước Kosala, tiến đánh Kàsi. Bạch Thế Tôn, vua
Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu con bà Videhi
nước Magadha gây chiến với ta, tiến đánh Kàsi". Rồi vua
Pasenadi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng,
dàn trận ở Kàsi chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha.
Bạch Thế Tôn, rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha
và vua Pasenadi nước Kosala xáp chiến nhau. Trong cuộc chiến
trận ấy, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha chiến thắng
vua Pasenadi nước Kosala. Bạch Thế Tôn, bị chiến bại, vua
Pasenadi nước Kosala rút lui về kinh đô của mình là Sàvatthi.
7)
-- Này các Tỷ-kheo, vua Ajàtasattu, con bà Videbi nước Magadha
là ác hữu, là ác bạn lữ, là ác giao du. Và này các Tỷ-kheo,
vua Pasenadi nước Kosala là thiện hữu, là thiện bạn lữ,
là thiện giao du. Và này Tỷ-kheo, hôm nay, trong đêm này, vua
Pasenadi nước Kosala trải một đêm đau khổ của người bại
trận.
Thắng
trận sanh thù oán,
Bại
trận nếm khổ đau,
Ai
bỏ thắng, bỏ bại,
Tịch
tịnh, hưởng an lạc.
8) Rồi
vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha triệu tập bốn loại
binh chủng, gây chiến với vua Pasenadi nước Kosala và tiến
đánh Kàsi.
9)
Vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, gây
chiến ta và tiến đánh Kàsi."
10)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh
chủng, dàn trận ở Kàsi chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha.
11)
Rồi vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và vua Pasenadi
nước Kosala xáp chiến với nhau. Trong cuộc chiến ấy, vua
Pasenadi nước Kosala chiến thắng vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha và bắt sống vua ấy.
12)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala suy nghĩ như sau: "Tuy vua Ajàtasattu,
con bà Videhi nước Magadha làm hại ta, dầu ta không làm hại
ai; nhưng vua ấy là cháu trai của ta. Vậy ta hãy tịch thu toàn
bộ tượng binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ
bộ binh của vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và chỉ
tha cho vua ấy mạng sống".
13)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi tịch thu toàn bộ tượng
binh... ... và chỉ tha cho vua ấy mạng sống.
14)
Rồi một số lớn vị Tỷ-kheo vào buổi sáng đắp y, mang
theo y bát và đi vào Sàvatthi để khất thực. Khất thực ở
Sàvatthi xong, sau buổi ăn, trên con đường đi khất thực trở
về, họ đi đến Thế Tôn sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn
và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo
ấy bạch Thế Tôn:
15)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước
Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng, gây chiến
với vua Pasenadi nước Kosala và tiến đánh Kàsi. Bạch Thế
Tôn, vua Pasenadi nước Kosala được nghe: "Vua Ajàtasattu, con
bà Videhi nước Magadha, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng,
gây chiến với ta và tiến đánh Kàsi". Rồi bạch Thế Tôn,
vua Pasendi nước Kosala, sau khi triệu tập bốn loại binh chủng,
dàn trận chống vua Ajàtasattu, con bà Videhi, nước Magadha. Rồi
Bạch Thế Tôn ,vua Ajàtasattu, con bà Videhi nước Magadha và
vua Pasenadi nước Kosala xáp chiến với nhau. Trong cuộc chiến
ấy, vua Pasenadi nước Kosala chiến thắng vua Ajàtasattu, con
bà Videhi nước Magadha và bắt sống vua ấy. Rồi vua Pasenadi
nước Kosala suy nghĩ như sau: "Tuy vua Ajàtasattu, con bà Videhi
nước Magadha làm hại ta, dầu ta không làm hại ai; nhưng vua
ấy là cháu trai của ta. Vậy ta hãy tịch thu toàn bộ tượng
binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ bộ binh của
vua Ajàtasatu, con bà Videhi nước Magadha và chỉ tha cho vua ấy
mạng sống." Rồi vua Pasenadi nước Kosala, sau khi tịch thu toàn
bộ tượng binh, toàn bộ mã binh, toàn bộ xa binh, toàn bộ
bộ binh của vua Ajàtasattu con bà Videhi nước Magadha, và tha
cho vua ấy mạng sống.
16)
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu rõ ý nghĩa này ngay trong lúc ấy
nói lên bài kệ:
Vì
nghĩ đến tư lợi,
Nên
mới cướp hại người,
Khi
người khác cướp hại,
Bị
hại, lại hại người.
Người
ngu nghĩ như vậy,
Khi
ác chưa chín muồi,
Khi
ác đã chín muồi,
Người
ngu chịu khổ đau.
Sát
người, bị người sát,
Thắng
người, bị người thắng,
Mắng
người, người mắng lại,
Não
người, người não lại,
Do
nghiệp được diễn tiến,
Bị
hại, lại hại người.
VI.
Người Con Gái (S.i,86)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala đi đến Thế Tôn; sau khi đến,
đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
3)
Rồi một người đi đến vua Pasenadi nước Kosala và báo tin
kề bên tai vua Pasenadi nước Kosala: "Thưa Ðại vương, hoàng
hậu Mallikà đã sinh hạ được một người con gái".
4)
Khi được nói vậy, vua Pasenadi nước Kosala không được hoan
hỷ.
5)
Rồi Thế Tôn, sau khi biết vua Pasenadi nước Kosala không được
hoan hỷ, ngay lúc ấy nói lên bài kệ:
Này
Nhân chủ, ở đời,
Có
một số thiếu nữ,
Có
thể tốt đẹp hơn,
So
sánh với con trai,
Có
trí tuệ, giới đức,
Khiến
nhạc mẫu thán phục.
Rồi
sinh được con trai,
Là
anh hùng, quốc chủ,
Người
con trai như vậy,
Của
người vợ hiền đức,
Thật
xứng là Ðạo sư,
Giáo
giới cho toàn quốc.
VII.
Không Phóng Dật (S.i,86)
1)
Ở tại Sàvatthi.
2)...
Ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi nước
Kosala bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, có một pháp nào có thể đưa đến chứng
đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này
và hạnh phúc đời sau?
3)
-- Thưa Ðại vương, có một pháp có thể đưa đến chứng
đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này
và hạnh phúc đời sau.
4)
-- Bạch Thế Tôn, pháp ấy là gì, có thể đưa đến chứng
đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này
và hạnh phúc đời sau?
5)
-- Bất phóng dật, thưa Ðại vương, là một pháp có thể
đưa đến chứng đắc và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh
phúc đời này và hạnh phúc đời sau. Thưa Ðại vương, cũng
như con voi, trong tất cả loài hữu tình có chân, tóm thâu
tất cả đặc tướng của chân trong bàn chân của nó; và
bàn chân của voi được xem là đệ nhất về phương diện
to lớn trong tất cả loại chân. Cũng vậy, thưa Ðại vương,
bất phóng dật là một pháp có thể đưa đến chứng đắc
và tồn tại cả hai hạnh phúc: hạnh phúc đời này và hạnh
phúc đời sau.
6)
Ai
ước nguyện tuổi thọ,
Không
bệnh, có diệu sắc,
Ðược
sanh lên Thiên giới,
Sanh
các nhà quý tộc,
Phải
liên tục tăng thượng,
Tinh
tấn, không dừng nghĩ.
Người
hiền triết tán thán,
Hạnh
lành không phóng dật,
Ðối
với những người lành,
Làm
các hạnh công đức,
Người
hiền không phóng dật,
Ðược
cả hai lợi ích,
Lợi
ích trong đời này,
Lợi
ích cả đời sau.
Kẻ
anh hùng được gọi,
Là
bậc chơn hiền trí,
Nếu
biết nắm chụp lấy,
Hạnh
phúc cho chính mình.
VIII.
Không Phóng Dật (S.i,87)
1)
Trú ở Sàvatthi.
2)
... Rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, vua Pasenadi
nước Kosala bạch Thế Tôn:
--
Ở đây, bạch Thế Tôn, trong khi con ngồi yên tĩnh một mình,
tư tưởng sau đây được khởi lên: "Pháp được Thế Tôn
khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện bạn
lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ, ác
giao du".
3)
-- Như vậy là phải, thưa Ðại vương. Thưa Ðại vương, pháp
được Ta khéo giảng. Và pháp ấy giảng cho thiện hữu, thiện
bạn lữ, thiện giao du, không phải cho ác hữu, ác bạn lữ,
ác giao du.
4)
Một thời, thưa Ðại vương, Ta ở giữa dòng họ Sakka (Thích-ca)
tại một thị trấn của các vị Sakka.
5)
Rồi thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ananda đến Ta, sau khi đến,
đảnh lễ Ta và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên,
thưa Ðại vương, Tỷ-kheo Ananda bạch với Ta:
"--
Bạch Thế Tôn, quá phân nửa đời sống Phạm hạnh này thuộc
về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du."
6)
Khi được nói vậy, thưa Ðại vương. Ta nói với Tỷ-kheo
Ananda:
" --
Này Ananda, không phải vậy. Này Ananda, không phải vậy. Thật
sự, này Ananda, toàn phần đời sống Phạm hạnh này thuộc
về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du. Từ một Tỷ-kheo
làm bạn với thiện, này Ananda, chúng ta hy vọng rằng vị
ấy sẽ tu trì Thánh đạo Tám ngành, làm cho sung mãn Thánh
đạo Tám ngành của vị thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện
giao du.
7)
Và Ananda, thế nào là Tỷ-kheo thiện hữu, thiện bạn lữ,
thiện giao du làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành?
8)
Ở đây, này Ananda, Tỷ-kheo tu tập chánh tri kiến, y cứ viễn
ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn diệt, y cứ xả ly, tu tập chánh
tư duy..., tu tập chánh ngữ..., tu tập chánh nghiệp..., tu tập
chánh mạng..., tu tập chánh tinh tấn..., tu tập chánh niệm...,
tu tập chánh định, y cứ viễn ly, y cứ ly tham, y cứ đoạn
diệt, y cứ xả ly. Như vậy, này Ananda, là vị Tỷ-kheo thiện
hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du, tu tập Thánh đạo Tám
ngành, làm cho sung mãn Thánh đạo Tám ngành.
9)
Và chính theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu
như thế nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc
về thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du.
10)
Này Ananda, chính vì Ta y cứ, làm bạn với thiện, nên các
chúng sanh bị sanh được giải thoát khỏi sanh; các chúng sanh
bị già được giải thoát khỏi già; các chúng sanh bị bệnh
được giải thoát khỏi bệnh; các chúng sanh bị chết được
giải thoát khỏi chết; các chúng sanh bị sầu, bi, khổ, ưu,
não được giải thoát khỏi sầu, bi, khổ ưu, não. Và chính
theo pháp môn này, này Ananda, Ông cần phải hiểu như thế
nào toàn phần đời sống Phạm hạnh này là thuộc về thiện
hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du."
11)
Do vậy, này Ðại vương, cần phải học như sau: "Tôi sẽ
là thiện hữu, thiện bạn lữ, thiện giao du". Như vậy, này
Ðại vương, Ðại vương cần phải học. Này Ðại vương,
để Ðại vương có thể trở thành thiện hữu, thiện bạn
lữ, thiện giao du, Ðại vương cần phải y cứ, an trú vào
một pháp, tức là không phóng dật trong các thiện pháp.
12)
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật,
y cứ không phóng dật, thời các nữ cung nhân sẽ suy nghĩ:
"Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng dật;
vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không phóng
dật."
13)
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật,
y cứ không phóng dật, các vị Sát-đế-lỵ chư hầu sẽ suy
nghĩ: "Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ không phóng
dật; vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật, y cứ không
phóng dật."
14)
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật,
y cứ không phóng dật, các dân chúng ở thị trấn và quốc
độ sẽ suy nghĩ: "Ðại vương an trú không phóng dật, y cứ
không phóng dật. Vậy chúng ta hãy an trú không phóng dật,
y cứ không phóng dật."
15)
Thưa Ðại vương, nếu Ðại vương an trú không phóng dật,
y cứ không phóng dật, thời tự ngã được che chở, hộ trì,
nội cung được che chở hộ trì, kho tàng được che chở,
hộ trì.
16)
Người
ước mong tài sản,
Phải
liên tục tăng thượng,
Người
hiền trí tán thán,
Hạnh
lành không phóng dật.
Ðối
với những người lành,
Làm
các hạnh công đức.
Người
hiền không phóng dật,
Ðược
cả hai lợi ích,
Lợi
ích trong đời này,
Lợi
ích cả đời sau.
Kẻ
anh hùng được gọi
Là
bậc chơn hiền trí,
Nếu
biết nắm chụp lấy
Hạnh
phúc cho chính mình.
IX.
Không Con ( S.i,89)
1)
Nhân duyên ở Sàvatthi.
2)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, vào buổi trưa đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
--
Thưa Ðại vương, Ðại vương đi từ đâu đến trong giữa
trưa như thế này?.
3)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi
bị mệnh chung, và con đến để xem tài sản của vị không
có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến
tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc.
Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của triệu phú gia chủ ấy
lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại. Còn
vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì đi
xe nhỏ, cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
4)
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương! Thật như vậy, thưa Ðại
vương! Một kẻ không phải Chân nhân, thưa Ðại vương, dầu
cho có được tài sản lớn không đem lại an lạc cho mình,
không đem lại an lạc cho cha mẹ, không đem lại an lạc cho
vợ con, không đem lại an lạc cho các người phục vụ, cho
các người làm công hoan hỷ, không đem lại an lạc cho bạn
bè thân hữu; đối với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, không thiết
trí các sự cúng dường hướng thượng, có khả năng đưa
lên thượng giới, đưa đến lạc quả, hướng đến Thiên
giới. Các tài sản của người ấy nếu không thọ dụng chơn
chánh, thời vua chúa sẽ cướp đoạt, hay trộm cắp cướp
đoạt, hay bị lửa đốt, hay bị nước cuốn trôi, hay bị
con cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như
vậy, thưa Ðại vương, các tài sản nếu không thọ dụng
chơn chánh, đưa đến tổn giảm, không đưa đến thọ hưởng.
5)
Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước tại chỗ vắng người,
với nước trong sáng, với nước mát lạnh, với nước dịu
ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến tốt đẹp và khả
ái. Nhưng không có người đến gánh nước, hay uống nước,
hay tắm, hay sử dụng hồ nước ấy vào bất cứ công việc
gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy không được thọ
dụng chơn chánh sẽ đưa đến tổn giảm, không đưa đến
thọ hưởng. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một kẻ không phải
Chân nhân, dầu cho có được tài sản lớn, không đem lại
an lạc cho mình... ... Sự việc là như vậy, thưa Ðại vương,
các tài sản nếu không thọ dụng chơn chánh, đưa đến tổn
giảm, không đưa đến thọ hưởng.
6)
Và bậc Chân nhân, thưa Ðại vương, có được tài sản lớn,
đem lại an lạc cho mình, đem lại an lạc cho cha mẹ, đem lại
an lạc cho vợ con, đem lại an lạc cho người phục vụ, cho
người làm công, đem lại an lạc cho bạn bè thân hữu; đối
với các vị Sa-môn, Bà-la-môn, thiết trí các sự cúng dường
hướng thượng, có khả năng thăng lên thượng giới, đưa
đến lạc quả, hướng đến Thiên giới. Các tài sản của
người ấy được thọ dụng chơn chánh, thời vua chúa không
cướp đoạt, hay trộm cắp không cướp đoạt, hay không bị
lửa đốt, hay không bị nước cuốn trôi, hay không bị con
cháu thừa tự thù nghịch cướp đoạt. Sự việc là như vậy,
thưa Ðại vương, các tài sản nếu thọ dụng chơn chánh,
sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm.
7)
Ví như, thưa Ðại vương, một hồ nước không xa làng mạc
hay thị trấn, với nước trong sáng, với nước mát lạnh,
với nước dịu ngọt, với nước trắng tinh, với bờ bến
tốt đẹp và khả ái. Và có người đến gánh nước, hay
uống nước, hay tắm, hay xử dụng hồ nước ấy vào bất
cứ công việc gì. Như vậy, thưa Ðại vương, nước ấy được
thọ dụng chơn chánh, sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa
đến tổn giảm. Cũng vậy, thưa Ðại vương, một bậc Chân
nhân khi được tài sản lớn, đem lại an lạc cho mình... ...
Sự việc là vậy, các tài sản được sử dụng chơn chánh,
sẽ đưa đến thọ hưởng, không đưa đến tổn giảm.
8)
Như
nước trong tươi mát,
Nằm
tại chỗ không người,
Không
người uống, người dùng,
Ði
đến chỗ tổn giảm;
Cũng
vậy là tài sản,
Kẻ
hạ liệt có được,
Không
tự mình thọ hưởng,
Lại
không cho một ai.
Kẻ
trí tuệ sáng suốt,
Tài
sản thâu hoạch được,
Biết
thọ dụng, phục vụ,
Với
bà con, đoàn thể,
Trở
thành như ngưu vương,
Nuôi
dưỡng và giúp đỡ,
Vô
tội khi bị chết,
Ðược
sanh lên Thiên giới.
X.
Không Có Con (S.i,91)
1)
Rồi vua Pasenadi nước Kosala, giữa trưa, đi đến Thế Tôn,
sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên.
Thế Tôn nói với vua Pasenadi nước Kosala đang ngồi một bên:
--
Thưa Ðại vương, Ðại vương đi đâu lại giữa trưa như
thế này?.
2)
-- Ở đây, bạch Thế Tôn, có triệu phú gia chủ ở Sàvatthi
bị mệnh chung. Và con đến để xem tài sản của vị không
có con ấy được chở vào nội thành. Bạch Thế Tôn, có đến
tám triệu đồng tiền vàng, không nói đến tiền bằng bạc.
Bạch Thế Tôn, tuy vậy đồ ăn của vị triệu phú gia chủ
ấy lại chỉ gồm có cháo tấm chua ngày hôm qua để lại.
Còn vải mặc chỉ mang vải gai may thành ba tấm. Còn xe thì
đi xe nhỏ cũ kỹ và hư nát, có gắn tán che bằng lá.
3)
-- Thật như vậy, thưa Ðại vương. Thật như vậy, thưa Ðại
vương. Thưa Ðại vương, vị triệu phú gia chủ ấy thuở
xưa, đã bố thí đồ ăn khất thực cho một vị Bích-chi Phật
tên là Tagarasikkhi. Vị ấy nói: " Hãy bố thí cho vị Sa-môn".
Nói xong, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, rồi bỏ đi. Nhưng
về sau, vị ấy hối tiếc, nói rằng: "Tốt hơn, các người
phục dịch hay làm công ăn đồ ăn khất thực này". Và hơn
nữa, vị ấy đoạt mạng sống người con độc nhất của
người anh, vì tài sản của người ấy.
4)
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy có bố
thí đồ ăn khất thực cho vị Ðộc Giác Phật tên là Tagarasikkhi.
Do kết quả hành động ấy, vị ấy được sanh bảy lần
lên thiện thú, Thiên giới. Do kết quả dư hưởng còn lại,
vị ấy được làm nhà triệu phú bảy lần ở Sàvatthi này.
5)
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy sau khi
bố thí về, lại hối tiếc nói rằng: "Tốt hơn, các người
phục vụ hay làm công ăn đồ ăn khất thực này". Do kết
quả của hành động ấy, tâm của vị ấy hướng về các
món ăn không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng về
các đồ mặc không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng
về các xe cộ không được tốt đẹp, tâm của vị ấy hướng
về sự thọ hưởng năm dục công đức không được tốt
đẹp.
6)
Thưa Ðại vương, vì người triệu phú gia chủ ấy đoạt
mạng sống người con độc nhất của người anh, vì tài sản
của người ấy. Do kết quả hành động của vị ấy, vị
ấy bị nung nấu ở địa ngục nhiều năm, nhiều trăm năm,
nhiều trăm ngàn năm. Do kết quả dư hưởng còn lại, gia tài
không con bảy lần phải nhập vào công khố của vua. Thưa
Ðại vương, đối với người triệu phú gia chủ này, các
công đức cũ bị đoạn diệt và công đức mới chưa được
chứa cất thêm. Và nay, thưa Ðại vương, người triệu phú
gia chủ đang bị nung nấu trong địa ngục Mahàroruva.
7)
-- Bạch Thế Tôn, như vậy người triệu phú gia chủ đã sanh
vào địa ngục Mahàroruva?
8)
-- Thưa Ðại vương, như vậy người triệu phú gia chủ đã
sanh vào địa ngục Mahàroruva.
9)
Lúa,
tài sản, vàng bạc,
Hay
mọi vật sở hữu,
Nô
tỳ và lao công,
Các
mạng sống tùy thuộc,
Vị
ấy phải ra đi,
Không
đem theo được ai,
Tất
cả phải bỏ lại,
Khi
ra đi một mình.
10)
Chỉ
có các hành động,
Về
thân, miệng và ý.
Mới
thật thuộc vị ấy,