Phân
khoa.-
Nhã
4.- phước đức của pháp thoại (đoạn 20)
Chính
văn.-
20.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào
đem thân mạng mình bằng cát sông Hằng mà bố thí cả, và
có người khác với pháp thoại này tiếp nhận ghi nhớ dầu
chỉ bốn câu, và đem giảng nói cho bao người khác, thì phước
người này quá nhiều hơn nữa.
Phân
khoa.-
Bát
2.- như thật tri kiến về đức tin của tuệ giác (đoạn 21)
Chính
văn.-
21.
Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Thiện hiện nghe pháp thoại
này, lĩnh hội sâu xa, lòng đầy xúc cảm, rơi lụy mà khóc.
Trưởng lão thưa rằng, thật quá hiếm có, kính bạch Thế
tôn ; Ngài đã tuyên thuyết pháp thoại cực sâu. Từ khi có
được con mắt tuệ giác cho đến ngày nay, con chưa nghe được
pháp thoại như vầy. Bạch Ngài, có ai nghe pháp thoại này
tin tưởng trong sáng và phát sinh được cái tuệ giác thật
(1), thì biết người ấy đạt được công đức hiếm có
bậc nhất. Kính bạch Thế tôn, tuệ giác thật ấy thì Ngài
nói là phi tuệ giác thật, thế nên Ngài nói là tuệ giác
thật (2). Kính bạch Thế tôn, hôm nay con được nghe pháp thoại
này, tin tưởng lĩnh hội, tiếp nhận ghi nhớ, thì không khó
mấy. Nhưng nếu tương lai, năm trăm năm sau người nào nghe
được pháp thoại như vầy, tin tưởng, lĩnh hội, tiếp nhận,
ghi nhớ, mới hiếm có nhất. Tại sao như vậy, bởi vì người
ấy thì không còn có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả
Ố Ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả là phi ý tưởng
: phi mọi ý tưởng thì thế gọi là chư Phật như lai (3).
Ðức Thế tôn dạy trưởng lão Thiện hiện, thật đúng như
vậy : nếu có người này được nghe pháp thoại Bát nhã như
vầy mà không kinh ngạc, cũng không sợ hãi, thì biết người
ấy cực kỳ hiếm có. Tại sao, trưởng lão, bởi vì Bát nhã
chính là tối thượng ba la mật đa (4), và Như lai nói cái
pháp tối thượng ba la mật đa là phi tối thượng ba la mật
đa, thế nên Như lai nói là tối thượng ba la mật đa.
Ghi
chú.-
(1)
Tuệ giác thật.- Chính văn là thật tướng, Hd dịch chân thật
tưởng, có nghĩa là tuệ giác chính xác. Chữ này thích hợp
ở đây.
(2)
Chính văn của từ ngữ này vẫn là thật tướng. Coi ghi chú
1 ở trên.
(3)
Phi mọi ý tưởng, thì thế gọi là chư Phật như lai.- Ðược
biết Td câu này cũng chuyển mà dịch, và vì vậy mà rất
độc đáo. Không chuyển thì như Hd : bởi vì chư Phật tách
rời tất cả ý tưởng.
(4)
Bởi vì Bát nhã chính là tối thượng ba la mật đa.- Bát nhã
ba la mật đa : tuệ giác toàn hảo. Tối thượng ba la mật
đa : tuyệt đối toàn hảo, một tên khác của Bát nhã. Câu
trên đây là lấy các bản dịch khác mà bổ túc. Nhưng bổ
túc thật đủ thì phải là : bởi vì Bát nhã chính là tối
thượng ba la mật đa. Tối thượng ba la mật đa mà Như lai
nói thì chư vị Như lai cũng nói là tối thượng ba la mật
đa.
Lược
giải.-
Ðức
tin của Bát nhã cũng như Bát nhã, đức tin mà bản thân của
nó là chư Phật : siêu việt mọi ý tưởng.
Phân
khoa.-
Bát
3.- như thật tri kiến về chi tiết của tuệ giác,
có
2 nhã : nhã 1 như thật tri kiến về nhẫn nhục, nhã 2 như
thật tri kiến về bố thí.
Nhã
1.- như thật tri kiến về nhẫn nhục (đoạn 22).
Chính
văn.-
22.
Trưởng lão Thiện hiện, cái pháp nhẫn nhục ba la mật đa
(1), Như lai cũng nói là phi nhẫn nhục ba la mật đa, thế nên
Như lai nói là nhẫn nhục ba la mật đa (2). Tại sao trưởng
lão, vì như xưa kia, trong khi Như lai bị Ca lị vương cắt
thịt khắp nơi tay chân Như lai, Như lai không có ý tưởng
ngã nhân chúng sinh thọ giả. Nếu lúc bấy giờ Như lai còn
có ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả thì phải sinh ra
giận dữ oán hận. Trưởng lão Thiện hiện, Như lai lại nhớ
trong thì quá khứ, có năm trăm đời Như lai đã làm tiên nhân
Nhẫn nhục. Vào lúc bấy giờ, Như lai cũng không ý tưởng
ngã nhân chúng sinh thọ giả.
Ghi
chú.-
(1)
Nhẫn nhục ba la mật đa.- Nghĩa là sự chịu đựng toàn hảo.
(2)
Thế nên Như lai nói là nhẫn nhục ba la mật đa.- là lấy
Hd mà bổ túc.
Lược
giải.-
Bồ
tát hạnh có sáu sự toàn hảo gọi là lục độ. Căn bản
của lục độ là trí độ (bát nhã), năm độ còn lại là
chi tiết của căn bản ấy. Trong năm độ còn lại, liên hệ
nhất với ngã chấp là thí độ và nhẫn độ. Nhẫn độ
là xả bỏ tự ngã (bỏ thân), thí độ là xả bỏ ngã sở
(bỏ của). Ðoạn này Phật lấy tiền thân của mình để
dạy hãy như thật tri kiến như thế nào về nhẫn độ.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến về bố thí (đoạn 23).
Chính
văn.-
23.
Vì lý do ấy, trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì phải rời
mọi ý tưởng mà phát huy tâm vô thượng bồ đề (1) ; đừng
ở nơi sắc mà sinh tâm ra, đừng ở nơi thanh, hương, vị,
xúc, pháp, mà sinh tâm ra (2). Hãy sinh cái tâm không ở đâu
cả. Nếu tâm ở đâu thì chính như thế là phi trú ở (3).
Vì lý do này, Như lai nói rằng Bồ tát thì phải không ở
sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà làm bố thí. Trưởng
lão Thiện hiện, Bồ tát thì vì ích lợi chúng sinh một cách
khắp cả mà hãy bố thí theo cách như vậy. Vì Như lai nói
ý tưởng chúng sinh là phi ý tưởng (4), Như lai cũng nói
hết thảy chúng sinh là phi chúng sinh (5). Trưởng lão Thiện
hiện, Như lai là người nói phải, nói chắc, nói như sự
thật, nói không lừa đảo, nói không mâu thuẫn. Trưởng lão
Thiện hiện, Pháp mà Như lai đã chứng ngộ được, cái Pháp
như vậy không phải chắc chắn, không phải trống rỗng (6).
Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát nếu tâm ở nơi mọi thứ
mà làm bố thí, thì như một người vào trong bóng tối, không
còn thấy được một thứ gì hết ; Bồ tát nếu tâm không
ở mọi thứ mà làm bố thí, thì như một người đã có mắt
sáng, lại có ánh sáng mặt trời soi rõ, nên thấy đủ cả.
Ghi
chú.-
(1)
Rời mọi ý tưởng mà phát huy tâm vô thượng bồ đề.- Nghĩa
là phát huy tuệ giác tối thượng bằng cách tách rời mọi
thứ khái niệm phản ảnh ngã chấp.
(2)
Ðừng ơ nơi sắc đến mà sinh tâm ra.- Câu này có thể dịch
tắt : đừng ở nơi lục trần mà sinh tâm ra. Hd còn thêm :
đừng ở nơi phi lục trần mà sinh tâm ra.
(3)
Phi trú ở.- Chữ Phi ở đây là sự tự phủ nhận.
(4)
Ý tưởng chúng sinh la phi ý tưởng.- ý tưởng chúng sinh, chính
văn là tướng, chỉ có nghĩa là ý tưởng. Dịch ý tưởng
chúng sinh là lấy các bản khác mà bổ túc. Ý tưởng chúng
sinh là phi ý tưởng, chữ Phi ở đây, coi ghi chú 3 ở trên.
(5)
Phi chúng sinh.- Chữ Phi ở đây vừa tự phủ nhận vừa tự
siêu việt. Coi thêm lược giải của đoạn 37.
(6)
Không phải chắn chắn, không phải trống rỗng.- Nói nôm na
là không thật không dối, nói cách khác là không khẳng định
không phủ định, nói tổng quát là siêu việt mọi phạm trù
đối kháng nhau.
Lược
giải.-
Ðoạn
này dạy như thật tri kiến về thí độ : người cho, vật
cho và người nhận, kể cả ý tưởng về ba thứ này, toàn
là Phi : siêu việt mọi phạm trù có không. Trong phần đầu
của đoạn này, từ vì lý do ấy đến vô thượng bồ đề
là phi người cho, từ đừng ơ nơi sắc đến mà
làm bố thí là phi vật cho, từ trưởng lão Thiện hiện
đến là phi chúng sinh là phi người nhận. Bố thì bằng vô
trú bát nhã như vầy bổ túc hơn nữa cho đoạn 6 đã nói.
Phân
khoa.-
Bát
4.- phước đức của pháp thoại
Chính
văn.-
24.
Trưởng lão Thiện hiện, trong thì vị lai, nếu có thiện nam
hay thiện nữ nào, đối với pháp thoại Bát nhã như vầy,
tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc
lòng, nói cho người khác (1), thì thế là được Như lai sử
dụng tuệ giác Như lai mà biết rất rõ, và thấy rất rõ
(2), rằng người như vậy ai cũng đạt được vô lượng công
đức.
Ghi
chú.-
(1)
Nói cho người khác.- là lấy các bản khác mà bổ túc.
(2)
Và thấy rất rõ.- Ðủ thì phải là : và Như lai sử dụng
mắt Phật của Như lai mà thấy rất rõ.
Phân
khoa.-
Cương
2.- như thật tri kiến về sự tin của tuệ giác ấy, có 4
bát : bát 1 như thật tri kiến về sự tin đặc biệt, bát
2 như thật tri kiến về địa điểm đặc biệt, bát 3 như
thật tri kiến về phước đức đặc biệt.
Bát
1.- như thật tri kiến về sự tin đặc biệt (đoạn 25)
Chính
văn.-
25.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay thiện nữ nào
buổi sáng đã đem hằng sa thân mạng mà bố thí cả, buổi
trưa cũng đem hằng sa nhân mạng mà bố thí nữa, buổi chiều
lại đem hằng sa nhân mạng mà bố thí luôn, và sự bố thí
thân mạng như vậy làm đến trăm ngàn vạn ức thời kỳ
(1) ; và có người khác nghe pháp thoại này, trong lòng tin tưởng
chứ không đối kháng, thì phước người này hơn phước người
trước, huống chi có người sao chép ấn hành, tiếp nhận
ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, nói
cho người khác. Trưởng lão Thiện hiện, chính yếu mà nói
thì bài pháp thoại Bát nhã như vầy có những công đức ngoài
tầm nghĩ bàn, ước lượng, đối chiếu, siêu việt giới
hạn ; Như lai nói cho những người đi theo giáo pháp đại
thừa (2), nói cho những người đi theo giáo pháp đại
thừa tối thượng (3). Ai có năng lực tiếp nhận ghi nhớ,
đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, trình bày phong
phú cho bao người khác, thì chính Như lai biết rõ người ấy,
thấy rõ người ấy, đạt được công đức không thể ước
lượng, không thể đối chiếu, không có giới hạn, ngoài
tầm nghĩ bàn. Những người như vậy có thể gánh vác tuệ
giác vô thượng của ta, Như lai. Tại sao như thế, trưởng
lão Thiện hiện, bởi vì những ai ưa pháp tiểu thừa (4),
vẫn còn ngã nhân, chúng sinh thọ giả, thì với pháp
này không thể lắng nghe, tiếp nhận ghi nhớ, đọc xét văn
nghĩa, tụng được thuộc lòng, nói cho người khác.
Ghi
chú.-
(1)
Thời kỳ.- là dịch chữ kiếp. Kiếp là kiếp ba : thời kỳ
dài. Thời kỳ này có ba loại : lớn, gìữa, nhỏ.
(2)
Ðại thừa.- Cỗ xe vĩ đại.
(3)
Ðại thừa tối thượng.- Chính văn là tối thượng thừa
: cỗ xe trên hết.
(4)
Những ai ưa pháp tiểu thừa.- là các vị Thanh văn.
Lược
giải.-
Tiểu
thừa Thanh văn còn ngã chấp là vì tự mãn với niết bàn
tiểu thừa. Sự tự mãn ấy chính là ngã chấp không những
theo bản năng mà cũng còn theo lý thuyết. Ngã chấp như vậy
nên chữ Phi của Kim cương là "mũi dao tổn thương con tim của
họ". Do vậy, hãy như thật tri kiến về đức tin Bát nhã
: tin nổi Bát nhã là theo nổi đại thừa.
Phân
khoa.-
Bát
2.- như thật tri kiến về địa đim đặc biệt (đoạn 26)
Chính
văn.-
26.
Trưởng lão Thiện hiện, bất cứ chỗ nào, hễ có bản kinh
Kim cương bát nhã, thì cả thế giới chư thiên, nhân loại
và a tu la, đều nên hiến cúng. Nên biết chỗ ấy chính là
chùa tháp tôn thờ Như lai ; hãy lạy, đi nhiễu, tung rãi các
loại bông hoa, hương liệu.
Phân
khoa.-
Bát
3.- như thật tri kiến về hiệu năng đặc biệt (đoạn 27)
Chính
văn.-
27.
Thêm nữa, trưởng lão, bất cứ thiện nam hay thiện nữ nào
học hỏi ghi nhớ, nghiên cứu, tụng thuộc kinh Kim cương này
mà bị khinh dễ, thì biết người ấy tội ác đời trước
đáng sa chỗ dữ, nhưng vì đời này bị người khinh dễ thì
tội ác đó tiêu tan hết cả, người ấy sẽ được tuệ
giác vô thượng.
Lược
giải.-
Hiệu
năng Kim cương được nói như đoạn này thì thật rõ và gần
như độc đáo. Phải là kinh như Kim cương mới có cái hiệu
năng tiêu diệt ngay trong đời này những ác nghiệp đã thuần
thục. Hãy như thật tri kiến như vậy để khỏi ngờ và sợ
khi thấy đọc tụng Kim cương mà hay bị những sự bất như
ý.
Phân
khoa.-
Bát
4.- như thật tri kiến về phước đức đặc biệt (đoạn
28)
Chính
văn.-
28.
Trưởng lão Thiện hiện, Như lai nhớ lại quá khứ vô số
thời kỳ vô số (1), trước khi Như lai gặp đức Nhiên đăng,
thì đã gặp được tám trăm bốn ngàn vạn ức trăm triệu
chư Phật như lai, đối với Ngài nào Như lai cũng đồng thừa
sự hiến cúng chứ không bỏ qua. Nhưng nếu có ai ở trong
thời kỳ cuối cùng sau này, mà có năng lực học hỏi, ghi
nhớ, nghiên cứu tụng thuộc bản kinh Kim cương bát nhã này
đây, thì bao công đức người ấy đạt được, công đức
Như lai phụng sự chư Phật không bằng phần trăm, phần ngàn
vạn ức, đến nỗi toán pháp và ví dụ nữa, cũng không bằng
được một phần nào cả. Trưởng lão Thiện hiện, nếu có
thiện nam hay thiện nữ nào ở trong thời kỳ cuối cùng sau
này, mà có khả năng tiếp nhận, ghi nhớ, nghiên cứu, tụng
thuộc bản kinh Kim cương bát nhã như vầy, bao nhiêu công đức
mà họ đạt được, nếu Như lai nói một cách đầy đủ,
thì tất có kẻ nghe mà nổi khùng, bối rối, hoài nghi, không
thể tin được. Trưởng lão Thiện hiện, phải nhận thức
rằng ý nghĩa Kim cương không thể nghĩ bàn, hiệu quả cũng
vậy không thể nghĩ bàn.
Ghi
chú.-
(1)
Thời kỳ vô số.- là a tăng kỳ kiếp.
Lược
giải.-
Phật
đem chính phước đức của mình mà đề cao phước đức Kim
cương : phước đức Kim cương siêu việt là vì ý nghĩa Kim
cương siêu việt.
Phân
khoa.-
Kim
3 : như thật tri kiến về chủ thể,
có
2 cương, cương 1 như thật tri kiến về chủ thể, cương 2
như thật tri kiến về chủ thể mà loại bỏ tà kiến.
Cương
1, như thật tri kiến về chủ thể,
có
3 bát : bát 1 như thật tri kiến chủ thể về nhân và quả
của Bồ tát, bát 2 như thật tri kiến chủ thể về Phật
quả của Bồ tát, bát 3 phước đức của pháp thoại.
Bát
1.- như thật tri kiến chủ thể về nhân và quả của Bồ
tát,
có
5 nhã, nhã 1 như thật tri kiến về chủ thể phát tâm vô thượng
bồ đề, nhã 2 như thật tri kiến về chù thể thực hiện
vô thượng bồ đề, nhã 3 như thật tri kiến về Bồ tát
hạnh thực hiện vô thượng bồ đề, nhã 4 như thật tri kiến
về tuệ của vô thượng bồ đề, nhã 5 như thật tri kiến
về phước của vô thượng bồ đề
Nhã
1.- như thật tri kiến về chủ thể phát tâm vô thượng
bồ đề (đoạn 29).
Chính
văn.-
29.
Vào lúc bấy giờ, trưởng lão Thiện hiện kính bạch Thế
tôn, thiện nam thiện nữ đã phát tâm nguyện vô thượng bồ
đề, thì phải làm sao để ở tâm ấy ? và phải làm sao để
sửa tâm mình ? Ðức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện,
thiện nam thiện nữ phát tâm bồ đề, thì sửa tâm mình bằng
tuệ giác này : ta phải làm cho hết thảy chúng sinh được
niết bàn rồi mà thật không thấy một chúng sinh nào được
niết bàn cả. Lý do là vì Bồ tát mà có ý tưởng ngã nhân
chúng sinh thọ giả, thì như thế là không phải Bồ tát. Tại
sao như vậy, trưởng lão Thiện hiện, bởi vì thật ra không
có pháp gì là người phát tâm vô thượng bồ đề.
Lược
giải.-
Ðoạn
này văn tự gần như lặp lại đoạn 5, nhưng cốt ý nói bát
nhã không thấy có mình là người phát tâm vô thượng bồ
đề.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến về chủ thể thực hiện vô thượng
bồ đề (đoạn 30)
Chính
văn.-
30.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, nơi đức Nhiên
đăng, phải chăng Như lai có một pháp gì gọi là đạt được
vô thượng bồ đề ? Không, bạch Thế tôn ; theo chỗ con hiểu
ý nghĩa đã được Thế tôn dạy cho thì khi Ngài ở nơi đức
Nhiên đăng, không có pháp gì gọi là đạt được vô thượng
bồ đề. Ðức Thế tôn dạy, đúng vậy, Thiện hiện, đúng
là không có pháp gì gọi là Như lai đạt được vô thượng
bồ đề. Nếu có pháp gì gọi là Như lai đạt được tuệ
giác vô thượng bồ đề, thì đức Nhiên đăng đã không ghi
nhận, rằng trong tương lai ông thành Phật đà, danh hiệu gọi
là Thích ca mâu ni ; vì thật không có pháp gì gọi là Như
lai đạt được vô thượng bồ đề, nên đức Nhiên đăng
mới ghi nhận cho, bằng cách nói rằng ông thành Phật đà
danh hiệu gọi là Thích ca mâu ni Ố tại sao như vậy ? vì
chữ Như lai chính là nghĩa Như của tất cả pháp (1). Nếu
có ai nói Như lai đạt được vô thượng bồ đề, thì nói
như vậy là không chính xác (2), bởi vì, trưởng lão, thật
ra không có pháp gì gọi là Như lai đạt được vô thượng
bồ đề, sự đạt được ấy không phải chắc chắn, không
phải trống rỗng. Vì lý do này, Như lai tuyên ngôn rằng tất
cả pháp toàn là Phật pháp. Trưởng lão Thiện hiện, tất
cả pháp ấy Như lai đã nói phi tất cả pháp, nên Như lai
nói là tất cả pháp.
Ghi
chú.-
(1)
Vì chữ Như lai chính là nghĩa Như của tất cả pháp.- Hd thêm
: Như lai là dị danh của chân như chân thật, Như lai là dị
danh của pháp tánh vô sinh, Như lai là dị danh của con đường
vĩnh diệt, Như lai là dị danh của bất sinh tuyệt đối. Cd
cũng thêm như vậy. Thêm như vậy rõ ràng là thêm thắt và
rất kém cả văn lẫn ý. Như lai là nghĩa Như, dịch như vậy,
và nguyên bản như vậy, thì văn và ý đều độc đáo. Như
là Như thế. Như, nói đủ là Chân như : trung thực như thế.
Mà Như Thế thì nghĩa là ở đâu, lúc nào, người nào, vật
gì, cũng vốn như thế, toàn như thế, và vẫn như thế, chứ
không khác đi vì phân biệt, khái niệm. Nói cách khác, Như
Thế là các pháp tự siêu việt mọi sự sai khác. Như Thế
là thực thể của Phật (cũng như của các pháp), Phật là
biểu tượng của thực thể ấy, nên nói Như lai và Như.
(2)
Thì nói như vậy là không chính xác.- là lấy Hd mà bổ túc.
Lược
giải.-
Ðoạn
30 này đã được nói lược ở đoạn 12, nhưng đoạn ấy
cốt nói bát nhã không thấy có bồ tát hạnh quả của Phật,
còn đoạn này cốt nói bát nhã không thấy có cái người
thực hiện vô thượng bồ đề.
Phân
khoa.-
Nhã
3.- như thật tri kiến về Bồ tát hạnh thực hiện vô thượng
bồ đề (đoạn 31-32)
Chính
văn.-
31.
Trưởng lão Thiện hiện, ví như có ngưởi thân thể cao lớn...
Trưởng lão Thiện hiện liền bạch Thế tôn, thân cao lớn
ấy thì Ngài đã nói phi thân cao lớn, thế nên Ngài nói là
thân cao lớn. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát cũng vậy :
Bồ tát mà nói ta phải làm cho vô số chúng sinh đều được
niết bàn, thì không được gọi là vị Bồ tát ; trưởng
lão Thiện hiện, bởi vì thật ra không có pháp gì gọi là
Bồ tát. Vì thế Như lai nói tất cả pháp không phải ngã
nhân chúng sinh thọ giả.
(32)
Trưởng lão Thiện hiện, nếu Bồ tát nói ta phải trang hoàng
cõi Phật của ta, thì không được gọi là vị Bồ tát. Tại
sao, trưởng lão, trang hoàng cõi Phật thì Như lai nói là phi
trang hoàng, thế nên Như lai nói là trang hoàng. Trưởng lão
Thiện hiện, Bồ tát thấu triệt về sự vô ngã (1), Như lai
mới nói vị ấy đích thực là vị Bồ tát.
Ghi
chú.-
(1)
Sự vô ngã.- Chính văn là vô ngã pháp. Tra cứu tất cả bản
dịch, biết đích chính văn ấy có nghĩa cái pháp vô ngã,
chứ không phải vô ngã vô pháp. Sự vô ngã ở đây là vô
nhân ngã và vô pháp ngã, chứ không phải chỉ là vô ngã khác
với vô pháp.
Lược
giải đoạn 31-32.-
Cả
hai đoạn này cốt nói bát nhã không thấy có cái người làm
bồ tát hạnh : đoạn 31 nói sự làm nên chúng sinh, đoạn
32 nói sự làm sạch thế giới. Ðoạn 31, văn phần đầu gần
như lặp lại đoạn 14, nhưng đoạn 14 cốt nói Phật thân
là phi Phật thân (thân lớn là phi thân lớn), còn đoạn 31
này nói Bồ tát là phi Bồ tát (thân lớn là phi thân lớn).
Ðoạn 32 cũng vậy, văn như đoạn 13 mà ý cốt không nói cái
người làm sạch thế giới.
Phân
khoa.-
Nhã
4.- như thật tri kiến về tuệ của vô thượng bồ đề (đoạn
33)
Chính
văn.-
33.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có đúng Như lai
hiện có mắt thịt, mắt trời phải không ? Phải, bạch Thế
tôn, Ngài có mắt thịt và có mắt trời. Có đúng Như lai
hiện có mắt tuệ, mắt pháp phải không ? Phải, bạch Thế
tôn, Ngài có mắt tuệ và có mắt pháp. Như lai hiện có mắt
Phật phải không ? Phải, bạch Thế tôn, Ngài có mắt Phật.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, cát trong sông
Hằng Như lai cũng nói là cát phải không ? Phải, Ngài nói
cát. Ông nghĩ thế nào, có bao nhiêu cát trong một sông Hằng
thì có sông Hằng bằng số cát ấy, và những cõi Phật bằng
với số cát những sông Hằng này thì nhiều hay không ? Rất
nhiều, bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, bao nhiêu tâm tưởng
(1) tất cả chúng sinh trong những cõi Phật được nói như
vậy, Như lai biết hết. Tại sao, trưởng lão, Như lai nói
rằng bao tâm tưởng ấy là phi tâm tưởng, thế nên Như lai
nói là tâm tưởng : Tâm tưởng quá khứ không thể nhận được,
tâm tưởng hiện tại không thể nhận được, tâm tưởng
vị lai không thể nhận được.
Ghi
chú.-
(1)
Tâm tưởng.- Hd rõ là tâm tưởng diễn biến (tâm lưu chú).
Lược
giải.-
Về
ngũ nhãn của Phật, Dẫn nhập điều 7 mục c đã nói sơ lược.
Nay nói sơ lược hơn nữa, theo ngôn ngữ Kim cương. Thấy A
(sở ngôn) là nhục nhãn và thiên nhãn. Thấy A là phi-A (tức
phi) là tuệ nhãn. Vì A là phi-A nên nói là A (thị danh) là
pháp nhãn. Phật nhãn viên mãn và siêu việt tất cả. Ngũ
nhãn như vậy nên biết bình thường như các Phật cũng thấy
biết, thấy biết cái biến hóa và siêu tốc nhất như tâm
lý Phật càng thấy biết - thấy biết tận cùng số lượng,
thực chất.
Phân
khoa.-
Nhã
5.- như thật tri kiến về phước của vô thượng bồ đề
(đoạn 34)
Chính
văn.-
34.
Trưởng lão Thiện hiện, giả sử có ai đem hết vàng ngọc
đầy cõi đại thiên mà bố thí cả, người này vì thế được
phước nhiều không ? Rất nhiều, bạch Ngài, người này vì
thế được phước rất nhiều. Trưởng lão Thiện hiện, nếu
phước có thật thì Như lai đã không nói phước nhiều, nhưng
vì phước ấy thật là phi phước, thế nên Như lai nói là
phước nhiều.
Lược
giải.-
Phước
của vô thượng bồ đề là thuận tánh mà tu hành và diệu
dụng. Tức như Khởi tín luận nói thuận theo sự không trú
ở của chân như mà không trú ở sinh tử và niết bàn...,
thuận theo chân như không tham lẫn mà bố thí...
Phân
khoa.-
Bát
2.- Như thật tri kiến chủ thể về Phật quả của Bồ tát,
có
4 nhã, nhã 1 như thật tri kiến về Phật thân, nhã 2 như thật
tri kiến về Phật thuyết, nhã 3 như thật tri kiến về Phật
hóa, nhã 4 như thật tri kiến về Phật pháp.
Nhã
1.- như thật tri kiến về Phật thân (đoạn 35)
Chính
văn.-
35.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có thể hay không
nhìn thấy Như lai bằng cái sắc thân toàn hảo đặc tướng
? Không, bạch Thế tôn, không nên nhìn Ngài bằng cái sắc
thân toàn hảo đặc tướng. Tại sao như vậy, vì cái sắc
thân toàn hảo đặc tướng thì Thế tôn nói là phi sắc thân
toàn hảo đặc tướng, đó là lý do tại sao Thế tôn nói
là sắc thân toàn hảo đặc tướng. Trưởng lão Thiện hiện,
ông nghĩ thế nào, có thể hay không nhìn thấy Như lai bằng
các đặc tướng toàn hảo tất cả ? Không, bạch Thế tôn,
không nên nhìn Ngài bằng các đặc tướng toàn hảo tất cả.
Tại sao như vậy, vì các đặc tướng toàn hảo tất cả thì
Thế tôn nói là phi đặc tướng toàn hảo tất cả, đó là
lý do tại sao Thế tôn, nói là đặc tướng toàn hảo tất
cả.
Lược
giải.-
Ðây
là lần thứ 3 trong 5 lần, các đoạn 7, 19, 35, 41, 42) đã và
còn nói về sự thấy Phật bằng tướng hảo. Nhưng 5 lần
như vậy văn đồng mà ý khác. Ở đây, đoạn 35, là như thật
tri kiến về cái chủ thể có cái thân đầy đủ tướng hảo
và có tướng hảo đầy đủ.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến về Phật thuyết (đoạn 36)
Chính
văn.-
36.
Trưởng lão Thiện hiện, đừng nói Như lai có cái ý nghĩ
Như lai thuyết pháp. Ðừng nói như vậy. Lý do tại sao, vì
nói Như lai có sự thuyết pháp thì thế chính là phỉ báng
Như lai Ố Nói thế tức là không khéo lĩnh hội ý nghĩa đã
được Như lai tuyên thuyết. Trưởng lão Thiện hiện, gọi
là thuyết pháp là thật không có pháp gì để thuyết, như
thế mới được gọi là thuyết pháp.
Lược
giải.-
Thuyết
pháp không những chỉ là thuyết rằng Pháp là Phi (Như) : là
siêu việt ngôn thuyết, mà ngay cái người thuyết pháp cũng
là Phi. Ðó là như thật tri kiến về Phật thuyết pháp và
Pháp của Phật thuyết.
Phân
khoa.-
Nhã
3.- như thật tri kiến về Phật hóa (đoạn 37)
Chính
văn.-
37.
Lúc ấy Thiện hiện, người lấy tuệ giác mà làm tính mạng,
kính bạch Thế tôn, có thể có ai trong thì vị lai nghe Pháp
như vầy mà tin tưởng không ? Ðức Thế tôn dạy, những người
như vậy không phải chúng sinh hay không chúng sinh ; tại sao,
trưởng lão, gọi là chúng sinh thì Như lai nói là phi chúng
sinh, vì thế Như lai gọi là chúng sinh (1).
Ghi
chú.-
(1)
Ðược biết trọn đoạn này là lấy Bd mà bổ túc, nguyên
Td không có. Người làm việc này là ai thì không rõ. Các bản
dịch khác sau Bd đều có đoạn này. Xét cả văn và ý thì
thấy bổ túc rất phải.
Lược
giải.-
Người
thuyết Pháp và Pháp được thuyết như thế nào thì người
nghe Pháp cũng vậy. Người nghe Pháp không phải là chúng sinh
(vì là Phi, là Như), dầu hiện không phải là không chúng sinh
(vì chưa tự biết là Phi, là Như). Phật hóa là giáo hóa cho
họ biết sự không tự biết ấy. Hãy như thật tri kiến như
vậy về Phật hóa và người được Phật hóa.
Phân
khoa.-
Nhã
4.- như thật tri kiến về Phật pháp (đoạn 38)
Chính
văn.-
38.
Trưởng lão Thiện hiện, kính bạch Thế tôn, Thế tôn đạt
được vô thượng bồ đề, thật ra là sự phi đạt được
chăng ? Ðúng, đúng như vậy, trưởng lão Thiện hiện ; Như
lai đối với vô thượng bồ đề không có chút gì gọi là
đạt được nên được gọi là vô thượng bồ đề. Thêm
nữa, trưởng lão, Pháp thì đồng đẳng, không bất đồng
đẳng (1), thế nên gọi là vô thượng bồ đề : không có
ngã nhân chúng sinh thọ giả mà làm pháp lành, thế thì đạt
được vô thượng bồ đề. Trưởng lão Thiện hiện, gọi
là pháp lành thì Như lai nói là phi pháp lành, thế nên Như
lai gọi là pháp lành.
Ghi
chú.-
(1)
Pháp thì đồng đẳng, không bất đồng đẳng.- Chính văn
là thị pháp bình đẳng, vô hữu cao hạ, dịch sát : Pháp
ấy bình đẳng, không có cao thấp. Hd rõ hơn : Pháp ấy bình
đẳng, không bất bình đẳng. Nghĩa : Pháp là Như, tự Nó
không có gì là không Như, không có gì sai khác vì ngã chấp.
Lược
giải.-
Pháp
là pháp vô thượng bồ đề của Phật, là Phật pháp. Pháp
ấy là Như, siêu việt mọi khái niệm mà độc chất là ngã
chấp. Thiện pháp đạt đến Pháp ấy cũng là Như biểu hiện
- là thuận tánh khởi dụng.
Phân
khoa.-
Bát
3.- phước đức của pháp thoại (đoạn 39)
Chính
văn.-
39.
Trưởng lão Thiện hiện, có người đem cho bảy loại vàng
ngọc chất đống bằng với những núi Tu di trong cõi đại
thiên, và có người khác tiếp nhận ghi nhớ dầu chỉ bốn
câu bản kinh Bát nhã ba la mật này, và nói cho người, thì
phước người trước không bằng phần trăm, phần ngàn vạn
ức, toán pháp, ví dụ, cũng không bằng được một phần
nào cả.
Phân
khoa.-
Cương
2.- như thật tri kiến về chủ thể mà loại bỏ tà kiến,
có
hai bát : bát 1 như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến, bát
2 loại bỏ tà kiến mà hội nhập như thật tri kiến.
Bát
1.- như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến,
có
hai nhã : nhã 1 như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến thường
còn, nhã 2 như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến đoạn
diệt.
Nhã
1.- như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến thường còn
(đoạn 40-41)
Chính
văn.-
40.
Trưởng lão Thiện hiện, các vị đừng nói Như lai nghĩ rằng
Như lai giải thoát các loại chúng sinh ; trưởng lão Thiện
hiện, đừng nghĩ như vậy, vì thật không có một chúng sinh
nào Như lai giải thoát. Nếu có chúng sinh Như lai giải thoát,
thì thế chính là Như lai đã có ý tưởng ngã nhân chúng sinh
thọ giả. Trưởng lão Thiện hiện, ý tưởng về ngã thì
Như lai nói phi ý tưởng ngã (1), nhưng người tầm thường
thì bảo là ngã. Trưởng lão Thiện hiện, người tầm thường
ấy Như lai nói là người phi tầm thường (2).
Ghi
chú.-
(1)
Phi ý tưởng ngã.- Nghĩa là chính thực chất ngã chấp tự
phủ nhận lấy nó. Ngã ở đây bao gồm tất cả ngã nhân
chúng sinh thọ giả : bao gồm tất cả nhân ngã và pháp
ngã
(2)
Phi người tầm thường.- Sau câu này Hd thêm : thế nên gọi
là những người tầm thường. Người tầm thường : phàm
phu của Td hay ngu phu dị sinh của Hd. Người tầm thường phi
người tầm thường là chúng sinh phi chúng sinh : chúng sinh
vốn là Như (coi lược giải đoạn 37). Ðại sư Tăng triệu
chú thích : phàm phu phi phàm phu nên có thể giáo hóa cho thành
thánh giả (Vạn 38/217A).
Lược
giải.-
Loại
bỏ ngã chấp thường còn (chấp có) có hai đoạn. Ðây là
đoạn thứ nhất cốt nói nếu Phật thấy có chúng sinh được
mình hóa độ (cũng như nếu thấy có mình hóa độ chúng sinh)
thì cái thấy ấy là ngã chấp : chấp thường, chấp có.
Chính
văn.-
41.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng có
thể nhìn thấy Như lai bằng ba mươi hai đặc tướng siêu
nhân ? Kính bạch Thế tôn, theo chỗ con hiểu nghĩa của Ngài
dạy, không thể nhìn Ngài bằng ba mươi hai đặc tướng siêu
nhân. Ðức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, thật đúng
như vậy, bởi vì nếu nhìn ba mươi hai nét đặc tướng siêu
nhân mà cho có thể nhìn thấy Như lai thì Chuyển luân vương
cũng là Như lai. Thế nên không thể nhìn thấy Như lai bằng
ba mươi hai đặc tướng siêu nhân ; hãy nhìn Như lai bằng
cách nhìn thấy tất cả đặc tướng là phi đặc tướng (1).
Bấy giờ Thế tôn nói chỉnh cú này :
“Nếu
đem sắc tướng
nhìn
thấy Như lai,
hoặc
đem âm thanh
nhận
thức Như lai,
thì
những người ấy
đã
đi lạc đường,
không
còn có thể
thấy
biết Như lai” (2).
Ghi
chú.-
(1)
Ðoạn 41 này tham chiếu Hd mà chuyển dịch chính văn của Td.
Nếu dịch đúng chính văn Td thì như sau, vẫn dịch mỗi câu
4 chữ để ai muốn thì dùng :
Trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
phải
chăng có thể
nhìn
thấy Như lai,
bằng
ba mươi hai
đặc
tướng siêu nhân ?
Trưởng
lão thưa Ngài,
kính
bạch Thế tôn,
đúng
là có thể
nhìn
thấy Thế tôn
bằng
ba mươi hai
đặc
tướng siêu nhân.
Ðức
Thế tôn dạy,
trưởng
lão Thiện hiện,
nếu
nói có thể
đem
ba mươi hai
đặc
tướng siêu nhân
mà
thấy Như lai,
thì
Chuyển luân vương
cũng
là Như lai.
Trưởng
lão thưa ngài,
kính
bạch Thế tôn,
theo
con hiểu ý
đức
Thế tôn dạy
thì
thật không thể
nhìn
thấy Thế tôn
bằng
ba mươi hai
đặc
tướng siêu nhân.
Td
như vậy có thể Phạn bản của Td là như vậy, mà cũng có
thể Td chuyển văn mà dịch cho rõ ý. Ý đó là sự chấp ngã
(chấp thường, chấp có), là cái bản năng không dễ bỏ :
ngài Tu bồ đề nghe Phật dạy đến đây rồi mà còn bộc
lộ không tự kiểm cái chấp ấy đến như vậy - bộc lộ
theo bản năng, không những thấy có mình nhìn Phật, thấy
có Phật mình nhìn, mà nhìn thấy chỉ qua sắc tướng như
người thường nhìn thấy. Nhưng nguyên Phạn bản Td như vậy
hay Td chuyển văn như vậy, đằng nào cũng đã gây bối rối
cho người đọc tụng, vì văn tự khác quá với các đoạn
7, 19 và 35, chưa kể 42. Nên tôi phải đối chiều Hd mà chuyển
dịch. Hd tuy không làm rõ được nhiều cái ý như đã nói,
nhưng không gây bối rối nào cả.
(2)
Bài chỉnh cú này của Td, văn ý già dăn, không như các bản
khác còn thêm 4 câu nữa : hãy nhìn thấy pháp tánh của Như
lai là pháp thân của Như lai, pháp tánh thì siêu việt nhận
thức nên người (đi lạc đường) ấy không thể biết được.
Lược
giải.-
Ðây
là đoạn thứ hai loại bỏ chấp thường còn (chấp có) :
Nếu thấy Phật qua sắc tướng (hay tìm Phật qua âm thanh)
như cái thấy (và cái nghe) của ngã chấp, thì ai có mang 32
tướng tốt (dầu không tốt bằng Phật) cũng là Phật cả.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến mà loại bỏ tà kiến đoạn diệt (đoạn
42-43)
Chính
văn.-
42.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu ông nghĩ rằng Như lai không
do (1) đặc tướng toàn hảo mà được tuệ giác vô thượng
bồ đề, thì này trưởng lão, đừng nghĩ như vậy, rằng
ta, Như lai, không do đặc tướng toàn hảo mà được vô thượng
bồ đề (2).
Ghi
chú.-
(1)
Không do.- Chữ không, chính văn là bất, có vị cho là không
có (Vạn 83/327A hay Chính 33/152). Xét ý Td thì phải có (coi
điều thứ ba của ghi chú 2 dưới đây).
(2)
Ðoạn 42 này chỉ Nd không có, nhưng xét có thì đúng hơn.
Ðoạn 42 này có 3 điều cần ghi chú. Ðiều thứ nhất, đoạn
này loại bỏ ý nghĩ Phật không do đặc tướng mà thành Phật
(nghĩa là nghĩ Phật là đoạn diệt hư vô), bởi vì 32
đặc tướng của Phật mỗi đặc tướng do cả trăm phước
trang nghiêm, và Phật do phước ấy mà thành Phật, mà được
Phật thân toàn hảo đặc tướng. Ðiều thứ hai, đoạn này
các bản khác trái hẳn với Td. Hãy lấy Hd làm mẫu mà đối
chiếu, như sau : Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, Như lai chứng
vô thượng giác là do các đặc tướng toàn hảo chăng ? Thiện
hiện, đừng nghĩ như vậy, tại sao, bởi vì, Thiện hiện,
Như lai không do các đặc tướng toàn hảo mà chứng vô thượng
giác. Ðiều thứ ba, ngay Td mà bỏ chữ bất đi (coi ghi chú
1), và dịch ép câu chót, thì cũng cùng ý : Thiện hiện, nếu
ông nghĩ rằng Như lai được vô thượng giác là do các đặc
tướng toàn hảo (thì), Thiện hiện, đừng nghĩ như vậy,
(vì) Như lai không do các đặc tướng toàn hảo mà chứng vô
thượng giác. Nhưng xét ý đại sư Tăng triệu (Vạn 38/217B)
thì đoạn 42 này phải hiểu và dịch như đã dịch, lại phải
đặc vào tiết mục loại bỏ chấp đoạn diệt (chấp không).
Nếu hiểu và dịch như các bản khác thì đoạn này là loại
bỏ chấp thường còn (chấp có), và như vậy thì thừa (vì
trùng ý với đoạn 14).
Lược
giải.-
Loại
bỏ chấp đoạn diệt (chấp không) cũng bằng hai đoạn. Ðây
là đoạn thứ nhất, nói quả bất diệt (Phật đà bất diệt).
Quả ấy là Phật thân đủ mọi tướng hảo : chính Phật
thân này tự phủ nhận sự chấp không (chấp đoạn) rồi.
Muốn hiểu Phật đà bất diệt như thế nào thì coi Pháp hoa
phẩm 16.
Chính
văn.-
43.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu ông nghĩ rằng những người
phát tâm vô thượng bồ đề nói rằng các pháp là tiêu diệt
hẳn, thì đừng nghĩ thế, tại sao, bởi vì những người
phát tâm vô thượng bồ đề đối với các pháp không nói
tiêu diệt (1).
Ghi
chú.-
(1)
Không nói tiêu diệt.- Chính văn là bất thuyết đoạn diệt
tướng, so với các bản khác và dịch đủ thì phải là không
nhận thức qui định và tuyên bố các pháp là tiêu diệt.
Lược
giải.-
Ðây
là đoạn thứ hai loại bỏ chấp đoạn diệt (chấp không),
bằng cách nói nhân bất diệt (Bồ tát bất diệt). Nhân ấy
là phát tâm vô thượng bồ đề : chính sự phát tâm này tự
phủ nhận sự chấp không (chấp đoạn rồi).
Phân
khoa.-
Bát
2.- loại bỏ tà kiến mà hội nhập như thật tri kiến
có
4 nhã : nhã 1 hội nhập như thật tri kiến về nhân, nhã 2
hội nhập như thật tri kiến về quả, nhã 3 hội nhập như
thật tri kiến về vũ trụ, nhã 4 hội nhập như thật tri kiến
về bản thân.
Phân
khoa trên đây, có thể đổi từ ngữ mà nói một cách khác,
nghĩa là nhìn một cách khác hơn nữa về 4 nhã này : nhã 1
hội nhập như thật tri kiến về nghiệp quả, nhã 2 hội nhập
như thật tri kiến về thực thể, nhã 3 hội nhập như thật
tri kiến về vũ trụ, nhã 4 hội nhập như thật tri kiến về
bản thân. Cách nhìn như vầy có nghĩa đoạn 44 này cho thấy
phi thường phi đoạn nên có nghiệp thì có nghiệp quả, đoạn
45 cho thấy phi thường phi đoạn nên bản thể vốn siêu việt,
đoạn 46-47 cho thấy phi thường phi đoạn nên cảnh giới là
phi cảnh giớii, đoạn 48 cho thấy phi thường phi đoạn nên
bản thân là Phật thân. Cách nhìn như vầy sát ý hơn, nhưng
kém sát văn, nhất là văn đoạn 44, nên tôi không dùng mà
thấy phải nêu lên ở đây.
Nhã
1.- hội nhập như thật tri kiến về nhân (đoạn 44)
Chính
văn.-
44.
Trưởng lão Thiện hiện, một vị Bồ tát đem cho tất cả
bảy loại vàng ngọc chất đầy thế giới như cát sông Hằng
; vị Bồ tát khác biết tất cả pháp toàn là vô ngã, thành
được sức Nhẫn, thì Bồ tát này hơn Bồ tát trước. Lý
do là vì, trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì không tiếp
nhận phước đức. Trưởng lão Thiện hiện kính bạch Thế
tôn, tại sao Bồ tát không nhận phước đức ? Bởi vì,
Thiện hiện, Bồ tát làm hết mọi sự phước đức, thế
nhưng không nên tham đắm phước đức, Như lai do vậy nói
là không nhận mọi sự phước đức.
Ghi
chú.-
(1)
Vô ngã.- ngã ở đây bao gồm tất cả khái niệm về ngã là
ngã nhân chúng sinh thọ giả, bao gồm tất cả cái ngã
bản năng và cái ngã lý thuyết, bao gồm cả nhân ngã và pháp
ngã.
(2)
Sức nhẫn.- Chính văn là nhẫn, Hd thêm : kham nhẫn. Như vậy
Nhẫn ở đây là chấp nhận. Chấp nhận cái gì ? Một, chấp
nhận vô ngã chứ không chới với ; sự chấp nhận này là
tuệ giác. Hai, chấp nhận nghịch cảnh chứ không thoái chuyển
; sự chấp nhận này là nhẫn nhục. Sự chấp nhận trước
dẫn ra sự chấp nhận sau, và gồm cả hai sự Nhẫn này lại
thì thấy vô ngã là vô sinh (Hd rõ như vậy) : không còn si
mê phiền não. Nên sức Nhẫn ở đây gọi là Vô sinh pháp
nhẫn. Ðiển hình sức Nhẫn này là tiền thân Phật được
nói trong đoạn 22.
(3)
Td như vầy thật rõ. Hd như sau, hãy đối chiếu để thấy
: Nên nắm nhận mà không nên nắm nhận, thế nên nói là nên
nắm nhận.
Lược
giải.-
Hội
nhận như thật tri kiến về nhân là thấy Vô sinh pháp nhẫn
hoạt dụng thành cái phước đức siêu việt đam mê, cố thủ.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- Hội nhập như thật tri kiến về quả (đoạn 45)
Chính
văn.-
45.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu nói Như lai có đến, có đi,
có ngồi, có nằm, thì người nói ấy không hiểu ý nghĩa
Như lai đã nói. Tại sao như vậy, bởi vì Như lai không đến
từ đâu, không đi về đâu, nên gọi Như lai.
Lược
giải.-
Hội
nhập như thật tri kiến về quả là thấy Như lai và Như :
siêu việt mọi sự không Như.
Phân
khoa.-
Nhã
3.- hội nhập như thật tri kiến về vũ trụ (đoạn 46-47)
Chính
văn.-
46.
Trưởng lão Thiện hiện, có ai nghiền nát thế giới đại
thiên thành ra vi trần, thì ông nghĩ sao, những vi trần ấy
là nhiều hay ít ? Rất nhiều, bạch Ngài. Tại sao, bởi vì
những vi trần ấy nếu là thật có, thì Ngài không nói là
những vi trần Ố Thế nhưng vi trần thì Ngài đã nói là phi
vi trần, do đó Ngài nói là những vi trần (1).
47.
Và bạch Thế tôn, cái mà Ngài nói thế giới đại thiên là
phi thế giới, vì thế nên được gọi là thế giới. Tại
sao như vậy, bởi vì nếu nói thế giới thật có, thì đó
chỉ là ý tưởng hợp nhất Ý tưởng hợp nhất thì
Ngài nói phi ý tưởng hợp nhất, nên được gọi là ý tưởng
hợp nhất. Ðức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện hiện, ý
tưởng hợp nhất thì không là gì để mà nói cả, nhưng người
tầm thường đam mê dính mắc cái sự như vậy.
Ghi
chú đoạn 46.-
(1)
Những vi trần trong đoạn này, dịch đủ chữ của chính văn
thì phải là khối lượng vi trần (vi trần chúng). Nhưng dịch
như vậy không giữ được nguyên ý nói về phân tử, nên
phải lược bỏ.
Ghi
chú đoạn 47.-
(1)
Cả hai đoạn 46 và 47 này, về văn tự thì vừa giống vừa
nói rộng đoạn 18.
Lược
giải đoạn 46-47.-
Cả
hai đoạn 46-47 này là hội nhập như thật tri kiến về vũ
trụ (về phân tử của vũ trụ và về vũ trụ của phân tử),
thấy chúng không là gì để mà cãi và ham.
Phân
khoa.-
Nhã
4.- hội nhập như thật tri kiến về bản thân (đoạn 48)
Chính
văn.-
48.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu có ai nói Thế tôn nói về ý
tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thì này trưởng
lão, ông nghĩ thế nào, người đó có hiểu ý nghĩa Như lai
đã nói hay không ? Không, bạch Thế tôn, người ấy không
hiểu ý nghĩa đã được Thế tôn nói ra. Lý do tại sao, vì
Thế tôn nói ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả thì tức
là phi (1) ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả, thế nên
gọi là ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả.
Ghi
chú.-
(1)
Phi.- Ở đây có nghĩa là tự phủ nhận.
Lược
giải.-
Hội
nhập như thật tri kiến về bản thân là thâm tín Bát nhã.
Thâm tín Bát nhã thì thường nghĩ nhớ bản thân, nhất là
bản thân trong ngã chấp, vốn là và vẫn là Phi, là Như.
Phân
khoa.-
Kinh
3.- Kết thúc,
có
2 kim : kim 1 kết thúc ứng với hai câu hỏi đáp căn bản,
kim 2 kết thúc như các kinh khác.
Kim
1.-kết thúc ứng với 2 câu hỏi đáp căn bản,
có
3 cương : cương 1 kết thúc ứng với 2 câu hỏi đáp căn bản,
cương 2 khuyến cáo tu học và diễn tả Kim cương, cương 3
chì cách diễn tả Kim cương.
Cương
1.- Kết thúc ứng với 2 câu hỏi đáp căn bản (đoạn 49)
Chính
văn.-
49.
Trưởng lão Thiện hiện, những người phát tâm vô thượng
bồ đề, thì với các pháp hãy biết như vậy, hãy thấy như
vậy, tin tưởng, lĩnh hội cũng là như vậy : đừng nên trú
ở nơi ý tưởng pháp. Trưởng lão Thiện hiện, nói ý tưởng
pháp thì Như lai nói phi ý tưởng pháp, vì thế mới gọi là
ý tưởng pháp.
Ghi
chú.-
(1)
Các pháp.- Pháp ở đây là tổng quát cả 3 mặt đối tượng,
tuệ giác và chủ thể, mà đã được nói trong phần nội
dung.
Lược
giải.-
“Ðừng
nên trú ở nơi ý tưởng pháp” là lặp lại vô trú bát nhã
đã nói suốt từ đoạn 2 đến đây, tổng kết kinh này ứng
với hai câu hỏi đáp căn bản mở đầu trong đoạn 2-6.
Phân
khoa.-
Cương
2.- khuyến cáo tu học và diễn tả Kim cương (đoạn 50).
Chính
văn.-
50.
Trưởng lão Thiện hiện, nếu có người nào đem cho tất cả
bảy loại vàng ngọc chất đầy vô lượng vô số thế giới,
và có người khác, không kể thiện nam hay là thiện nữ, đối
với pháp thoại Bát nhã như vầy, tiếp nhận ghi nhớ, nghiên
cứu tụng thuộc, diễn tả cho người, thì dầu chỉ được
chỉnh cú bốn câu, phước họ đạt được vẫn hơn người
trước.
Lược
giải.-
Pháp
hạnh đối với Kim cương mà đoạn này và các đoạn tương
tự ở trước đã khuyến cáo là sao chép ấn hành, tiếp nhận
ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng, diễn
nói cho người (thư tả, thọ trì, độc, tụng, vị tha nhân
thuyết). Tựu trung, diễn nói hay diễn tả cho người là giới
thiệu, loan báo và giảng dạy. Cách này được ghi thêm ở
đoạn 51 dưới đây. Cách ấy cho thấy diễn tả Kim cương
cho người thì chính mình phải có và sống theo tuệ giác Kim
cương.
Phân
khoa.-
Cương
3.- chỉ cách diễn tả Kim cương (đoạn 51)
Chính
văn.-
51.
Diễn tả cho người bằng cách thế nào ? Bằng cách đừng
nắm ý tưởng về pháp, mà như sự Như chứ không dao động
(1). Tại sao mà phải diễn tả cách ấy ?
“Bởi
vì tất cả
các
pháp hữu vi
toàn
là giống như
chiêm
bao, ảo thuật,
bóng
nước, ảnh tượng,
sương
mai, điện chớp ;
rất
cần phải có
cái
nhìn như vậy”.
Ghi
chú.-
(1)
Bằng cách đừng nắm ý tưởng về pháp, mà như sự Như chú
không giao động.- Câu này là một trong những câu độc đáo
của Td Kim cương. Hãy đối chiếu với Hd sau đây : Như là
không diễn tả chỉ bảo cho người, và vì thế nên gọi là
diễn tả chỉ bảo cho người. Ðây là ý nghĩa của Td, "bằng
cách đừng nắm ý tưởng về pháp" là vô trú bát nhã không
thấy người nói, pháp được nói và người nghe. "Mà như
sự Như chứ không dao động" là vô trú bát nhã thấy tất
cả đều là Như, chứ không dao động theo những thứ không
Như, những khái niệm về ngã, nhân ngã cũng như pháp ngã.
(2)
Bài chỉnh cú này chỉ có sáu ví dụ, khác với các bản khác
có 9 : tinh tú, ảo ảnh (của mắt bịnh), ngọn đèn, ảo thuật,
sương mai, bóng nước, chiêm bao, điện chớp, đám mây. Trong
sáu ví dụ của Td thì chiêm bao, ảo thuật, bóng nước, sương
mai và điện chớp là năm ví dụ dễ hiểu nhất, và có thể
vì vậy mà Td để nguyên. Còn ảnh tượng thì không có trong
9 ví dụ, rõ ràng chứng tỏ Td dùng chữ này để tổng quát
bốn ví dụ toàn là ảnh tượng, đó là tinh tú, ảo ảnh,
ngọn đèn và đám mây. Về ý nghĩa của 9 ví dụ thì nên
coi sự giải thích của Thế thân đại sĩ (Chính 25/797 và
884). Nhưng ở đó chỉ giải thích theo biến kế chấp tánh
: giải thích theo y tha khởi tánh thì phải tham khảo Nhiếp
luận (Chính 31/140). Còn ý nghĩa sáu ví dụ của Td thì rõ
ràng chỉ nói tổng quát rằng các pháp hữu vi toàn như mộng
ảo bào ảnh - toàn là Phi với nghĩa tự phủ nhận : hãy quan
sát như vậy mà diễn tả Kim cương. Nhưng đó là mới nói
một mặt. mặt khác, cũng những ví dụ ấy mà cho thấy các
pháp hữu vi toàn là Phi với nghĩa tự siêu việt, hoạt hiện
và hoạt dụng một cách đa dụng và vô tận như mộng ảo
bào ảnh : hãy quan sát như vậy mà diễn tả Kim cương.
Lược
giải.-
Hãy
diễn tả Kim cương bằng cách chính mình phải thường xuyên
tưởng nhớ, chiêm nghiệm và diệu dụng đạo lý chữ Phi.
Như thế đó là vô trú bát nhã mà hủy diệt ngã chấp cũng
ở đó, phát tâm với hàng tâm và trú tâm cũng ở đó.
Phân
khoa.-
Kim
2.- kết thúc như các kinh khác (đoạn 52)
Chính
văn.-
52.
Khi đức Thế tôn tuyên thuyết hoàn tất bản kinh Kim cương
bát nhã này rồi, trưởng lão Thiện hiện, các vị tỷ kheo
và tỷ kheo ni, những cận sự nam và cận sự nữ, toàn thể
thế giới chư thiên, nhân loại, và a tu la, được nghe những
điều Thế tôn tuyên thuyết, ai cũng hoan hỷ, tín thọ, phụng
hành.