Lược
giải Kim cương
Phân
khoa.-
Kim
cương được dịch thành 1544 câu, 52 đoạn, phân khoa có năm
lớp, đánh dấu bằng 5 chữ : kinh, kim, cương bát, nhã. Kim
cương có ba kinh, kinh 1 mở đầu, kinh 2 nội dung, kinh 3 kết
thúc.
Kinh
1. -mở đầu,
có
hai kim : kim 1 mở đầu như các kinh khác, kim 2 mở đầu bằng
hai câu hỏi đáp căn bản.
Kim
1.- mở đầu như các kinh khác (đoạn 1)
Chính
văn.-
1.
Tôi nghe như vầy : Một thời Thế tôn ở nước Xá vệ (1),
trong khu lâm viên Chiến thắng Thiện thí (2), cùng với một
ngàn hai trăm năm chục vị đại tỷ kheo (3).
Ghi
chú.-
(1)
nước Xá vệ.- Xá vệ vốn là tên thủ đô nước Kiều tát
la (nên gọi là thành Xá vệ). Sau vì để khác với nước
Kiều tát la ở nam bộ Ấn nên lấy tên Xá vệ làm quốc hiệu
luôn. Xá vệ có nghĩa là Nổi tiếng. Thời Phật, đãy là
nước của Ba tư nặc vương, thuộc tây bắc bộ Ấn.
(2)
Chiến thắng thiện thí.- Chiến thắng (hay Thắng) là dịch
nghĩa tên vương tử Kỳ đà. Thiện thí (khéo cho) hay Cấp
cô độc (chu cấp những người cô độc) là dịch nghĩa tên
trưởng giả Tu đạt đa. Chiến thắng Thiện thí, hay (Thắng
cấp cô độc) là liên danh hai người này để gọi khu vườn
rừng mà họ chung nhau hiến Phật. Ở đó có tinh xá Kỳ viên,
nơi Phật thuyết Kim cương.
(3)
Sau câu này, Nd và Ecd thêm : và các đại bồ tát.
Phân
khoa.-
Kim
2.- mở đầu bằng hai câu hỏi đáp căn bản (đoạn 2-6)
Chính
văn.-
2.
Vào lúc bấy giờ gần đến giờ ăn, nên đức Thế tôn sửa
y, cầm bát (1), đi vào khất thực trong thành Xá vệ. Tuần
tự khất thực (2) trong thành này rồi, Ngài về chỗ ở, ăn
uống xong xuôi, thu dọn y bát, rửa sạch hai chân và trải
đồ lót lót chỗ mà ngồi (3).
Ghi
chú.-
(1)
Sửa y, cầm bát.- Y là y ca sa, bát là bát ứng khí
(2)
Tuần tự khất thực.- là khất thực hết đường này đến
đường khác, hết nhà này qua nhà khác, không lựa chọn, dầu
được hiến cúng hay không, và chưa giáp vòng thì không trở
lại trên một đường, đến lại nơi một nhà.
(3)
Trải đồ lót lót chỗ mà ngồi.- (a) Dịch rõ như vậy là
tham chiếu Cd. Chỗ ngồi của Phật có thể do Ngài tự sắp,
hoặc do người sắp cho như Nd và Ecd dịch, nhưng ai sắp đi
nữa thì trước khi ngồi, Phật cũng tự trải tọa cụ lót
chỗ ấy rồi mới ngồi. Phép của tỷ kheo là như vậy. (b)
sau câu này, các bản dịch khác đều thêm : "mà ngồi xếp
bằng, thẳng mình, tập trung tư tưởng như đối trước mặt.
Các vị tỷ kheo đến chỗ Ngài, lạy ngang chân và đi quanh
Ngài ba vòng rồi ngồi xuống một bên". Có người chú thích
tập trung tư tưởng như đối trước mặt là Phật nhập đại
định Bát nhã, và thuyết Kim cương là sự biểu hiện kỳ
diệu của đại định này. Thêm và cắt nghĩa như vậy không
khỏi khuôn sáo và mất đi sự giản dị của Phật đáng có
ở đây.
Lược
giải.-
Tả
Phật như đoạn này là nói Phật vì chúng sinh nên không ở
niết bàn mà ở sinh tử, và ở sinh tử thì Ngài cũng chịu
cái thân đói khát ăn uống, cũng làm một vị tỷ kheo, và
là vị tỷ kheo rất gương mẫu. Tất cả điều này chính
là vô trú bát nhã (vô trú niết bàn) của đại thừa mà Phật
đem ra nâng đỡ và giao phó cho Bồ tát, một cách đích thân
biểu thị chứ không phải chỉ cần lời nói.
Chính
văn.-
3.
Lúc ấy Thiện hiện (1), một vị trưởng lão, cũng có ở
trong các đại tỷ kheo. Từ chỗ mình ngồi, trưởng lão đứng
dậy, vắt một vạt y, để trần vai phải, đầu gối bên
phải quì xuống chấm đất, hai tay chắp lại, cung kính mà
thưa : kính bạch Thế tôn, Ngài thật hiếm có ; Ngài khéo
nâng đỡ (2) cho các Bồ tát, lại khéo giao phó (3) cho các
Bồ tát. Kính bạch Thế tôn, thiện nam thiện nữ đã phát
tâm nguyện vô thượng bồ đề (4), thì phải làm sao để
ở
tâm ấy ? và phải làm sao để sửa tâm mình ? (5)
Ghi
chú.-
(1)
Thiện hiện.- Là chữ Hd dịch nghĩa tên ngài Tu bồ đề. Các
vị khác dịch Không sinh, Thiện cát, Thiện thật, Diệu sinh,
đều cùng nghĩa. Ngài Thiện hiện là vị lĩnh hội về Không
hơn hết trong các vị đại đệ tử của Phật.
(2)
Nâng đỡ.- Chính văn là hộ niệm, nghĩa đen là giữ gìn thương
tưởng, trong đó có hàm ý truyền đạt cảm hứng.
(3)
Giao phó.- Chính văn là phó chúc, nghĩa đen là phó thác căn
dặn
(4)
Phát tâm nguyện vô thượng bồ đề.- Có bản dịch phát thú
đại thừa (khởi hành bằng đại thừa), có bản dịch cả
hai từ ngữ : phát tâm bồ đề mà tu hành đại thừa
hay ở trong đại thừa mà phát tâm bồ đề. Thật ra nên dịch
một trong hai từ ngữ thôi, vì hai từ ngữ ấy chỉ có một
nghĩa. Dầu vậy dịch phát bồ đề tâm thì sát chữ nghĩa
của chính văn hơn cả, nhất là ăn khớp với câu đáp của
Phật ở sau.
(5)
a.- Cả hai ghi chú 4 ở trên và 5 ở đây phải coi lại Dẫn
nhập điều 7 mục d. b.- các bản dịch khác có 3 câu hỏi
: ở thế nào, tu thế nào và sửa thế nào. Thêm tu thế nào
là thừa, vì ở với sửa là tu, nhất là thêm như vậy thì
phân ba câu đáp của Phật rất miễn cưỡng.
Lược
giải.-
Ngài
Thiện hiện nhận thấy sự nâng đỡ và giao phó như đoạn
2 đã tả, nên hỏi như đoạn 3 ở đây - Hỏi để Phật nâng
đỡ và giao phó bằng lời nói, rõ thêm cho sự nâng đỡ và
giao phó không lời ở trên. Kim cương là sự nâng đỡ và
giao phó bằng thân miệng của Phật giành cho các vị có tư
cách Bồ tát. Hai câu hỏi ở đây, và hai câu đáp của Phật
quán triệt toàn bộ Kim cương như vậy.
Chính
văn.-
4.
Ðức Thế tôn dạy : tốt lắm Thiện hiện ; thật đúng như
lời trưởng lão đã nói, Như lai rất khéo nâng đỡ Bồ tát,
Như lai rất khéo giao phó Bồ tát. Do vậy, trưởng lão, hãy
nghe cho kỹ, Như lai sẽ nói cho các vị biết thiện nam thiện
nữ phát tâm bồ đề thì bằng cách nào trú ở tâm ấy, và
bằng cách nào sửa chữa tâm mình. Trưởng lão thưa rằng,
dạ, bạch Thế tôn, chúng con ước muốn được nghe ngài dạy.
5.
Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát thì phải sửa chữa tâm
mình bằng tuệ giác này : Bao nhiêu chúng sinh hoặc sinh bằng
trứng, hoặc sinh bằng thai, sinh bằng ẩm thấp, sinh bằng
biến hóa, hoặc có hình sắc hoặc không hình sắc, hoặc có
tư tưởng, hoặc không tư tưởng, có không tư tưởng (1),
ta làm hết thảy đều được nhập vào niết bàn hoàn toàn
(2) mà giải thoát (3) cả. Làm cho vô lượng vô số chúng
sinh niết bàn như vậy, mà thật không thấy có chúng sinh nào
được niết bàn cả. Tại sao như vậy ? trưởng lão Thiện
hiện, vì nếu Bồ tát mà vẫn còn có ý tưởng ngã, nhân,
chúng sinh, thọ giả thì Bồ tát ấy không phải Bồ tát.
6.
Trưởng lão Thiện hiện đối với các pháp (1), Bồ tát không
nên trú ở (2) đâu cả mà làm bố thí (3) : không ở nơi sắc
mà làm bố thí, không ở nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp (4),
mà làm bố thí. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát hãy nên
bố thí như thế : không ở đâu cả. Tại sao như vậy, vì
nếu Bồ tát không ở đâu cả mà làm bố thí thì được
phước đức không thể lường được. Trưởng lão Thiện
hiện, ông nghĩ thế nào, không gian hướng đông có lường
được không ? Không, bạch Thế tôn. Trưởng lão Thiện hiện,
không gian hướng nam, hướng tây hướng bắc, và cả bốn
góc, cả trên cả dưới, có lường được không ? Càng không,
bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát bố thí mà không
ở đâu thì được phước đức cũng y như thế không thể
lường được. Trưởng lão Thiện hiện, Bồ tát chỉ nên
trú ở theo lời Như lai dạy đây.
Ghi
chú đoạn 5.-
(1)
Có không tư tưởng.- Dịch sát và rõ : hoặc không phải có
tư tưởng, không phải không tư tưởng.
(2)
Niết bàn hoàn toàn.- Là vô dư niết bàn. Ðối lại, niết
bàn chưa toàn là hữu dư niết bàn. Chưa toàn là mới hết
tập đế, hoàn toàn là hết khổ đế nữa.
(3)
Giải thoát.- Ở đây chính văn là diệt độ (dứt tuyệt,
vượt qua). Giải thoát hay diệt độ đều là nghĩa của chữ
niết bàn.
(4)
Ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả.- Coi lại Dẫn
nhập điều 7 mục b.
Ghi
chú đoạn 6.-
(1)
Pháp.- Pháp ở đây chỉ cho sáu cảnh nói ở dưới, nhưng
cũng có nghĩa rộng hơn là chỉ cho vạn hữu, bao gồm hết
thảy tâm vật, ngã pháp, nhiễm tịnh, có không... Trong nghĩa
rộng này, pháp không những là những thứ cụ thể, mà những
sự lệ thuộc những thứ ấy cũng là pháp. Nên cây bút là
pháp, mà cây bút ấy dài hay ngắn, cũ hay mới, đẹp hay xấu,
hữu ích hay vô dụng, cũng là pháp cả. Một ý tưởng cũng
vậy, nó là một pháp, nhưng nó là thiện hay ác, lợi hay hại,
đúng hay sai, cũng toàn là pháp. Pháp, như vậy, là không đơn
thuần ; mỗi pháp chính là và nghĩa là một khái niệm, biểu
thị sự tổ hợp bao nhiêu là dữ kiện, đối chiếu, kinh
nghiệm... Thế nên có, không, phi có, phi không, toàn là pháp
cả, và vì thế, nên các pháp đều tự nói lên cái Phi của
mỗi pháp.
(2)
Trú ở.- Ở đây nghĩa là đam mê, vướng mắc, lấy làm
đất đứng, làm yếu tố hỗ trợ.
(3)
Bố thí.- Theo các vị chú giải, bố thí ở đây, và những
chỗ tương tự, là gồm cả các pháp ba la mật khác nữa,
trừ ba la mật căn bản là bát nhã.
Không
ở nơi sắc đến hương vị xúc pháp.- Sắc thanh hương vị
xúc pháp, tạm dịch hình sắc, âm thanh, hơi hướng, mùi vị,
tiếp xúc và ấn tượng. Ở đây cũng nên dịch một chiều
: sắc đẹp, tiếng hay, hơi thơm, mùi ngon, xúc khoái, bóng
thích. Sáu thứ này hay gọi là 6 trần (6 loại bụi bặm làm
mờ tâm trí), hoặc gọi là 6 cảnh (6 đối cảnh của 6 thức).
Sáu thứ này bao gồm mọi tài sản ở trong (là thân thể,
sức lực, tư tưởng), và tài sản ở ngoài (tiền của, tư
liệu để sống, hưởng thụ). Trú ở 6 trần mà bố thí là
cho người những thứ ấy mà kể, mà ỷ, nhất là cầu kết
quả (mong được những thứ ấy mà nhiều và tốt hơn lên).
Không trú ở mà bố thí là thuận theo bản thể không keo lẫn
nên cho mà không thấy người cho, của cho và người nhận.
Trú ở là ngã chấp, không trú ở là bát nhã.
Lược
giải đoạn 4-6.-
Phật
đáp câu hỏi sửa tâm như thế nào bằng cách nói nguyện
độ chúng sinh mà không thấy có chúng sinh là người được
hóa độ, có mình là người hóa độ. Vì thấy như vậy là
ngã chấp, không thể hóa độ chúng sinh.
Phật
đáp câu hỏi ở tâm như thế nào bằng cách nói là đừng
ở đâu cả thì thế chính là ở nơi tâm nguyện bồ đề
đó.
Cách
nói như hai câu đáp này cho thấy phát tâm ở đây là tín
thánh tựu phát tâm sắp lên trong Khởi tín luận ; sự không
trú ở đâu cả là phương tiện thứ 1 của sự tín thành
tựu phát tâm, là sự làm của sự giải hành phát tâm.
"Không
ở đâu cả thì như thế chính là ở nơi tâm nguyện bồ đề",
đó là vô trú bát nhã. Vô trú bát nhã ấy là căn bản ; từ
sau các đoạn 2-6 mở đầu sắp đi, cho đến các đoạn 49-51
kết thúc ứng với các đoạn mở đầu này, chỉ là và toàn
là vô trú bát nhã ấy.
Mặt
khác, bản năng chúng sinh là đam mê mới hoạt động : có
trú ở mới có mọi sự, dầu là sự lý tưởng. Kim cương
cho thấy bản năng ấy là nngã chấp; ngã chấp ấy được
tập chuyển hóa, lọc bỏ, thì mọi hoạt động trở thành
diệu dụng đại thừa.
Phân
khoa.-
Kinh
2.- nội dung,
có
3 kim : kim 1 như thật tri kiến về đối tượng, kim 2 như thật
tri kiến về tuệ giác, kim 3 như thật tri kiến về chủ thể.
Kim
1.- như thật tri kiến về đối tượng,
có
3 cương : cương 1, như thật tri kiến về Phật, cương 2 như
thật tri kiến về Pháp, cương 3 như thật tri kiến Tăng.
Cương
1.- như thật tri kiến về Phật,
có
2 bát : bát 1 như thật tri kiến về Phật, bát 2 đức tin của
pháp thoại.
Bát
1.- như thật tri kiến về Phật (đoạn 7)
Chính
văn.-
7.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, đối với Như
lai, có thể hay không thấy bằng đặc tướng (1) ? Không, bạch
Thế tôn, không thể thấy Ngài bằng các đặc tướng ; tại
sao như vậy, vì theo Ngài dạy thì các đặc tướng là phi
đặc tướng. Ðức Thế tôn bảo trưởng lão Thiện hiện,
hễ có đặc tướng thì đặc tướng ấy toàn là giả dối,
nếu thấy đặc tướng là phi đặc tướng thì thấy Như lai
(2).
Ghi
chú.-
(1)
Ðặc tướng.- Ở đây chính văn là thân tướng, dịch đủ
là tổng thể hoàn hảo mọi đặc tướng siêu nhân ; tức
là chỉ cho cái thân trượng lục của Phật đủ 32 tướng
đại trượng phu (hay đại sĩ phu). Chư thiên, các loài khác,
loài người mà trong đó có các vị Thanh văn và các vị Bồ
tát mới phát tâm, chỉ thấy Phật qua cái thân này - cái thân
mà nay hay gọi là đức Phật trong lịch sử.
Hễ
có đặc tướng đến thì thấy Như lai.- Ðặc tướng
ở đây, chính văn là tướng, tham chiếu các bản dịch khác
thì biết tướng ấy chỉ cho đặc tướng của Phật, mặc
dầu chữ tướng ấy có thể bao gồm mọi hiện tượng. Giả
dối ở đây là nói dối, gian trá, lừa phỉnh. Như lai ở
đây nói Phật là biểu tượng của Như (coi ghi chú 1 của
đoạn 30 và mục c điều 7 của Dẫn nhập). Trọn câu này
được biết là Td dịch tắt, và vì vậy rất độc đáo,
chuyển văn bao nhiêu sát ý bấy nhiêu, hơn hẳn các bản dịch
khác như sau : đặc tướng toàn hảo đi nữa cũng là giả
dối, phi đặc tướng mới là trung thực ; như vậy nên đem
đặc tướng là phi đặc tướng mà nhìn Như lai. (nên nhìn
Như lai bằng cách thấy đặc tướng là phi đặc tướng ;
Ecd sót câu này).
Lược
giải.-
Vô
trú bát nhã trước hết như thật tri kiến về Phật, qua đặc
tướng của Ngài. Thì thấy đặc tướng ấy là phi đặc tướng
mới thấy Ngài. Ở đây không cần đem hóa thân và pháp thân
ra mà giải thích.
Phân
khoa.-
Bát
2.- đức tin của pháp thoại (đoạn 8)
Chính
văn.-
8.
Trưởng lão Thiện hiện ; bạch đức Thế tôn, có thể có
ai nghe pháp thoại (1) này mà sinh đức tin đúng chân lý không
? Ðức Thế tôn dạy, đừng hỏi như vậy, trưởng lão Thiện
hiện ; sau khi Như lai nhập niết bàn rồi, năm trăm năm sau
(2), có ai giữ giới, làm phước, tu tuệ (3), thì với pháp
thoại như thế này đây, có thể tin tưởng đúng với chân
lý. Trưởng lão phải biết những người như vậy không chỉ
gieo trồng gốc rễ điều lành nơi một đức Phật, nơi hai
đức Phật, nơi ba bốn năm đức Phật mà thôi, mà đã gieo
trồng gốc rễ điều lành ở nơi vô số ngàn vạn đức Phật.
Những người như vậy mà được nghe đến pháp thoại thế
này thì dầu đến nỗi chỉ một ý niệm tin tưởng trong sáng,
Như lai cũng vẫn biết và thấy rõ (4) họ thực hiện được
vô lượng phước đức. Tại sao như vậy, vì những người
này không còn có nữa ý tưởng ngã nhân chúng sinh thọ giả,
không còn có nữa ý tưởng về pháp và về phi pháp (5). Nếu
những người này còn có ý tưởng chúng sinh thọ giả, còn
ý tưởng pháp là còn ngã nhân, chúng sinh thọ giả, còn tưởng
phi pháp là còn ngã nhân chúng sinh thọ giả. Vì lý do ấy,
đừng nắm lấy pháp, lại càng đừng nên nắm lấy phi pháp.
Do ý nghĩa này Như lai thường nói, các vị Tỷ kheo hãy nhận
thức rằng pháp Như lai nói tựa như chiếc bè : pháp còn phải
bỏ, huống chi phi pháp (6) ?
Ghi
chú.-
(1)
Pháp thoại.- Chính văn là ngôn thuyết chương cú, nói nôm
na là bài thuyết pháp, hội thoại về pháp. Pháp thoại ở
đây chỉ kinh Kim cương này, nhưng xác hơn thì là pháp thoại
vừa nói đoạn trên.
(2)
Năm trăm năm sau.- có ba chỗ nói đến là các đoạn 8, 21,
28. Ðối chiếu ba chỗ ấy của Td, lại đối chiếu Td với
các bản khác, thì biết các bản khác có ý nói 500 năm sau
là 500 năm thứ 5 của 5 lần 500 năm sau Phật nhập diệt ;
còn Td thì hai chỗ sau có thể cũng là ý này, nhưng ở đây
và chỗ khác như Ðại trí độ luận, thì 500 năm sau có ý
chỉ cho hậu bán thiên kỷ thứ nhất sau khi Phật nhập diệt,
tức 500 năm thứ 2 trong 5 lần 500 năm. Ý này cũng không cốt
nói chánh pháp tượng pháp gì, mà thật sự là thì gian các
bộ phái tiểu thừa rộn ràng đến nỗi rõ ràng là đấu
tranh kiên cố.
(3)
Có ai giữ giới, làm phước, tu tuệ.- Chính văn Td chỉ có
giữ giới và làm phước. Tu tuệ là căn cứ các bản khác
mà bổ túc. Td tại sao không có tu tuệ thì không biết được,
chỉ biết nói giữ giới, làm phước và tu tuệ mới tin nổi
Kim cương là nói thông thường, còn chỉ nói giữ giới, làm
phước, là có ý nói những sự này sẽ phát tuệ, có khi phát
đột ngột, thần kỳ nữa : điều này thì đáng quan tâm.
(4)
Như lai cũng vẫn biết và thấy rõ.- Ðược biết nói
rõ là Như lai đem tuệ giác của Như lai mà biết rõ, Như lai
đem mắt Phật của Như lai mà thấy rõ. Phước đức Kim cương
phi con mắt và tuệ giác của Phật thì không dễ thấy ra và
biết hết.
(5)
Tại sao như vậy đến và về phi pháp.- Ðoạn này Td như vậy
là chỉ có 3 : ngã, pháp, phi pháp. Các bản khác dịch 5, thêm
tưởng, phi tưởng. Có thể Td cho hai thứ này cũng là pháp
và phi pháp nên lược bỏ - Như thế xét ra có lý hơn về
văn cũng như ý. Nghĩa của ba thứ ngã, pháp, phi pháp, coi ghi
chú 6 dưới đây.
"Nếu
những người này" đến "huống chi phi pháp".- Chiếc bè để
từ bờ nguy hiểm bên này vượt qua bờ an toàn bên kia. Pháp
của Phật dạy là như chiế c bè ấy. Bờ bên này là sinh
tử, bờ bên kia là niết bàn. Dòng sông là ác pháp phiền
não. Qua bên kia rồi bỏ bè mới lên bờ được - trừ ra sau
đó dùng bè ấy trở lại đưa người khác cùng qua với.
Pháp là thiện pháp của Phật dạy, đối lại, phi pháp là
ác pháp mà thiện pháp đối trị. Phi pháp tệ hơn pháp. Như
vậy pháp và phi pháp trong ba thứ (hay năm thứ) trên, cắt
nghĩa cao và hay đến mấy mà không ăn khớp với từ và ý
của ví dụ thì vẫn thấy khó thông. Nay tạm lấy ý của
bồ tát Công đức thi (Chính 25/889) và đại sư Tăng triệu
(Vạn 38/200B) mà cắt nghĩa như sau, khá thấp và dễ. Ngã là
ngã chấp (gồm cả nhân, chúng sinh và thọ giả của
ngã chấp ấy). Pháp là chấp có (gồm cả thường kiến của
ngoại đạo và pháp số 5 uẩn của tiểu thừa). Phi pháp là
chấp không (gồm cả đoạn kiến của ngoại đạo và ác thủ
không của đại thừa). Cả ba ý tưởng này toàn là ngã mà
biến thể (nên chính văn nói còn ý tưởng, còn ý tưởng
pháp, còn ý tưởng phi pháp, thì toàn là còn ngã nhân chúng
sinh thọ giả). Vậy ý tưởng là phi pháp, bát nhã là pháp,
pháp này đối trị phi pháp kia, khi phi pháp kia hết rồi thì
pháp này cũng hết.
Lược
giải.-
Còn
ý tưởng là còn ngã, còn ngã thì khẳng định thế nào cũng
là ngã biến thể, phủ định đến mấy vẫn là ngã biến
thể. Tin bát nhã là nhận thức và đã bắt đầu không còn
như vậy. Không còn như vậy thì phước đức làm ra mới gọi
là thiện pháp (đoạn 38).
Phân
khoa.-
Cương
2.- như thật tri kiến về Pháp,
có
2 bát : bát 1 như thật tri kiến về Pháp, bát 2 phước đức
của pháp thoại.
Bát
1.- như thật tri kiến về Pháp
Chính
văn.-
9.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng Như
lai được vô thượng giác (1) ? phải chăng Như lai có sự
thuyết pháp (2) ? Trưởng lão thưa rằng kính bạch Thế tôn,
theo con hiểu biết ý của Ngài nói, thì không thể có một
pháp khẳng định để được mệnh danh là vô thượng giác,
cũng không thể có một pháp khẳng định để được gọi
là Thế tôn thuyết pháp. Tại sao như vậy, vì Pháp (3) Ngài
nói không thể nắm lấy không thể diễn tả, không phải là
pháp, không phải phi pháp (4) lý do là vì hết thảy hiền
thánh (5) toàn do Vô vi biểu hiện khác biệt (6).
Ghi
chú.-
(1)
Vô thượng giác.- là gọi tắt từ ngữ vô thượng chánh đẳng
giác (a nậu đa la tam miệu tam bồ đề).
(2)
Phải chăng Như lai được vô thượng giác ? phải chăng Như
lai có sự thuyết pháp ?.- hai câu hỏi này cho thấy Phật pháp
(hay Pháp) có hai : một, Phật pháp là pháp của Phật chứng,
tức những công đức mà Phật thực hiện : là tuệ giác vô
thượng, và Như của tuệ giác ấy chứng ngộ ; là thuộc
tính của tuệ giác ấy, như 10 lực, 18 bất cọng, v/v. Hai,
Phật pháp là pháp của Phật nói, tức những giáo lý
mà Phật khai thị, những tiếng nói diễn đạt pháp của Phật
chứng.
(3)
Pháp.- Pháp ở đây là Như (Vô vi). Coi ghi chú 2 ở trên (điều
một) và ghi chú 6 ở dưới.
(4)
Không phải là pháp, không phải phi pháp.- Không phải những
khái niệm khẳng định hay phủ định theo sự chấp trước
(5)
Hiền thánh.- là mượn thành ngữ của Trung hoa mà dịch. Dịch
rõ có lẽ nên nói là các vị giải thoát (chưa toàn và hoàn
toàn).
(6)
Toàn do Vô vi biểu hiện khác nhau.- Biểu hiện là chữ của
Hd và các bản khác. Vô vi Chd là Vô vi chân như, do đó biết
Vô vi ở đây là Như (coi ghi chú 1 của đoạn 30). Tùy sự
hội nhập Chân như vô vi chưa toàn hay đã toàn mà biểu hiện
các địa vị giải thoát chưa toàn hay đã toàn.
Lược
giải.-
Cũng
như Phật, Pháp của Phật chứng và thuyết, và cả hiền thánh,
những vị tu học Pháp ấy, toàn là biểu hiện của Như, siêu
việt nhận thức, diễn đạt, và đối tượng của nhận thức,
diễn đạt : hãy như thật tri kiến về Pháp.
Phân
khoa.-
Bát
2.- Phước đức của Pháp thoại (đoạn 10)
Chính
văn.-
10.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, có ai đem cho
(1) đủ hết bảy loại vàng ngọc chất đầy đại thiên
thế giới (2), thì người cho ấy được phước nhiều không
? rất nhiều, bạch Ngài ; vì phước đức ấy Ngài đã nói
là tính phi phước đức (3), thế nên Ngài nói phước đức
rất nhiều. Trưởng lão Thiện hiện, nhưng nếu có ai từ
pháp thoại này tiếp nhận ghi nhớ dầu là chỉ được chỉnh
cú bốn câu (4), và biết đem nói cho bao người khác, thì phước
người ấy vẫn hơn người trước. Tại sao như vậy, vì lẽ,
trưởng lão, hết thảy Phật đà cùng với Phật pháp (5) -
Pháp vô thượng giác của các Phật đà - toàn là xuất ra
từ pháp thoại (6) này. Trưởng lão Thiện hiện, gọi là Phật
pháp (7) thì Như lai nói là phi Phật pháp, thế nên Như lai
nói là Phật pháp (8).
Ghi
chú.-
(1)
Chỉ Cd và Ecd thêm : hiến cúng các đức Như lai, Ứng cúng,
Chánh biến tri. Nhưng không thêm như vậy thì hơn.
(2)
Ðại thiên thế giới.- Gọi đủ là tam thiên đại thiên thế
giới : thế giới hệ gồm một tỷ thế gìới, Ecd nói tương
đương thiên hà.
(3)
Tính phi phước đức.- Chính văn là phi phước đức tính.
Chữ tính ở đây là chữ duy nhất đi với chữ Phi. Tra xét
thì Td quả có, không phải sau này thêm vào. Nhưng các bản
khác không có. Như vậy có lẽ nên hiểu Td đặt chữ tính
ở đây để nhắc ta nhớ đến Như, dẫu rằng chữ Phi (siêu
việt) đã là nói đến Như.
(4)
Chỉnh cú bốn câu.- Chính văn là tứ cú kệ, chỉ cho đơn
vị trong lối tính chữ xưa của kinh sách Phật giáo Ấn, cứ
32 chữ, bất cứ bắt đầu từ đâu, là một kệ 4 câu, mỗi
câu 8 chữ. Nói chỉnh cú bốn câu cũng như nói một đoạn
có ý nghĩa chính yếu của pháp thoại.
(5)
Phật pháp.- Coi ghi chú 7 dưới đây.
(6)
Pháp thoại.- Ở đây vừa chỉ đoạn kinh này vừa chỉ bản
kinh này, nhưng chỉ bản kinh này nhiều hơn.
(7)
Phật pháp.- Coi ghi chú 2 (điều một) của đoạn 9 ở trên.
(8)
Thế nên Như lai nói là Phật pháp.- Câu này Td không có, Bd
cũng vậy, nhưng các bản còn lại đều có, nên phải bổ
túc. Xét có thì đúng hơn.
Lược
giải.-
Phước
đức học, nhớ, tụng và giảng Kim cương mà Phật nói là
nhiều, vì phước đức ấy siêu việt phước đức : vì phước
đức ấy là Như. Nhưng điều này chỉ nói phía ngưởi học,
nhớ, tụng và giảng, lý do nhiều còn vì Kim cương là mẹ
sinh ra của Phật và tuệ giác của Phật.
Phân
khoa.-
Cương
3.- như thật tri kiến về Tăng
có
3 bát : bát 1 như thật tri kiến về Thanh văn, bát 2 như thật
tri kiến về Bồ tát, bát 3 phước đức của pháp thoại.
Bát
1.- như thật tri kiến về Thanh văn (đoạn 11)
Chính
văn.-
11.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị Tu đà hoàn
có ý nghĩ rằng ta được đạo quả Tu đà hoàn chăng ? Trưởng
lão thưa Ngài, không, bạch Thế tôn ; tại sao như vậy, vì
Tu đà hoàn là Vào dòng nước (1), thế nhưng thật ra không
có cái gì nhập vào đâu cả : không nhập sắc thanh, hương,
vị, xúc, pháp, nên được mệnh danh là Tu đà hoàn (2). Trưởng
lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị Tư đà hàm có ý nghĩ
rằng ta được đạo quả Tư đà hàm chăng ? Trưởng lão thưa
Ngài, không, bạch Thế tôn ; tại sao như vậy, vì Tư đà hàm
là Một trở lại (3), thế nhưng thật ra không có cái gì một
lần trở lại, nên được mệnh danh là Tư đà hàm. Trưởng
lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị A na hàm có ý nghĩ
rằng ta được đạo quả A na hàm chăng ? Trưởng lão thưa
Ngài, không, bạch Thế tôn ; tại sao như vậy, vì A na
hàm là Không trở lại (4), thế nhưng thật ra không có cái
gì không còn trở lại, nên được mệnh danh là A na hàm. Trưởng
lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, vị A la hán có ý nghĩ
rằng ta được đạo quả A la hán chăng ? Trưởng lão thưa
Ngài, không, bạch Thế tôn ; tại sao như vậy, vì lẽ thật
ra không có cái gì là A la hán, nên được mệnh danh là A la
hán (5). Kính bạch Thế tôn, nếu vị La hán nghĩ rằng mình
được đạo quả La hán, thì như thế là chấp trước ngã
nhân, chấp trước chúng sinh, chấp trước thọ giả (6). Bạch
Ngài, Ngài nói trong số những người được định Không cãi
(7), con là hơn hết, con là La hán ly dục bậc nhất ; nhưng
con không có ý nghĩ mình là một vị La hán ly dục bậc nhất.
Nếu con còn nghĩ mình là La hán, thì Ngài không nói Thiện
hiện là người thích thú làm theo chánh định Không cãi (8)
; vì con không còn làm theo gì cả, nên Ngài nói con theo định
Không cãi.
Ghi
chú.-
(1)
Vào dòng nước.- Là nghĩa của chữ dự lưu hay nhập lưu :
ngược với dòng đời mà nhập vào dòng giải thoát.
(2)
Trừ Td, Bd và Chd, các bản còn lại, sau câu này còn thêm :
Nếu Tư đà hoàn nghĩ rằng ta được đạo quả Tu đà hoàn,
thì thế là chấp ngã nhân chúng sinh thọ giả. Thêm như
vậy thật cần thiết và chính xác. Câu này còn phải có sau
ba đạo quả kế tiếp. Td chỉ có sau đạo quả La hán, như
vậy có lẽ biểu thị ba đạo quả trước không có là dịch
lược đi.
(3)
Một trở lại.- là nghĩa của chữ nhất lai : một lần nữa
trở lại nhân gian và lục dục thiên.
(4)
Không trở lại.- là nghĩa của chữ bất lai hay bất hoàn :
không còn như nhất lai.
(5)
Nên được mệnh danh là A la hán.- là lấy Hd mà bổ túc.
(6)
Nếu vị La hán đến chấp trước thọ giả.- Là nói La hán
tự mãn tự đắc thì thế chính là ngã chấp. Câu này phải
có nơi ba đạo quả trước và cùng nghĩa.
(7)
Ðịnh không cãi.- Một phép định có đặc tính an bình, không
xung đột.
(8)
Làm theo chánh định không cãi.- Làm theo, chính văn là hành,
cũng có thể dịch đi theo. Có bản dịch trú : ở trong, cùng
nghĩa. Nhưng ở trong hay đi theo, làm theo gì cũng có nghĩa là
sống trong, sống theo.
Lược
giải.-
Nghĩa
của câu “hết thảy hiền thánh toàn do Vô vi biểu hiện
khác biệt” (đoạn 9) càng phải được nói ở đây, khi như
thật tri kiến về bốn đạo quả Thanh văn : bốn đạo quả
ấy cũng là Phi, là biểu hiện của Như. Là ở đây có nghĩa
phải là. Vì nếu các vị Thanh văn, trong đó đặc biệt La
hán, còn nghĩ mình chứng quả nào hay được pháp gì, thì
ý nghĩ ấy chính là ngã chấp.
Phân
khoa.-
Bát
2.- như thật tri kiến về Bồ tát,
có
3 nhã : nhã 1 như thật tri kiến về Bồ tát hạnh quả của
Phật, nhã 2 như thật tri kiến về Bồ tát hạnh, nhã 3 như
thật tri kiến về Bồ tát quả.
Nhã
1.- như thật tri kiến về Bồ tát hạnh quả của Phật (đoạn
12)
Chính
văn.-
12.
Ðức Thế tôn bảo trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế
nào, Như lai xưa kia nơi đức Nhiên đăng, được pháp gì chăng
? Không, bạch Thế tôn ; nơi đức Nhiên đăng, thực sự Thế
tôn không được pháp gì.
Lược
giải.-
Như
thật tri kiến về Bồ tát hạnh quả của Phật bằng cách
nhìn lại một mẫu của hạnh quả ấy, ấy là lúc Ngài gặp
đức Nhiên đăng. Việc này sẽ nói rõ hơn đoạn 30.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến về Bồ tát hạnh (đoạn 13)
Chính
văn.-
13.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, phải chăng Bồ
tát trang hoàng cõi Phật (1) ? Không, bạch Thế tôn ; lý do
là vì trang hoàng cõi Phật, sự trang hoàng ấy Thế tôn đã
nói là phi trang hoàng, thế nên Ngài nói đó là trang hoàng.
Do vậy, trưởng lão, Bồ tát đại sĩ hãy sinh cái tâm trong
sạch như vầy : không ở nơi sắc mà sinh tâm ra, không ở
nơi thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà sinh tâm ra (2) ; hãy đừng
ở vào bất cứ chỗ nào mà sinh tâm ra (3).
Ghi
chú.-
(1)
Trang hoàng cõi Phật.- Cõi Phật, chính văn là Phật độ, gồm
một hay nhiều đại thiên thế giới làm một cõi mà một
đức Phật làm hóa chủ. Cõi Phật như vậy, trong nghĩa hóa
thân hóa độ thì không nhất thiết phải là tịnh độ như
Cực lạc hay uế độ như Sa bà, mà là hoàn toàn tùy bản
nguyện của đức Phật hóa chủ ; nhưng trong nghĩa báo thân
báo độ thì tất cả đều là tịnh độ, và tịnh độ Sa
bà thì coi Pháp hoa các phẩm 11 và 16. Còn trang hoàng cõi Phật
là Bồ tát hạnh. Nói tổng quát, Bồ tát hạnh là tịnh Phật
quốc độ, thành tựu chúng sinh : làm sạch thế giới, làm
nên chúng sinh.
(2)
Riêng Hd ở đây có thêm và tóm tắt như sau : không ở nơi
lục trần, không ở nơi phi lục trần.
(3)
Tương truyền lục tổ Huệ năng nghe ngũ tổ Hoằng nhẫn giảng
đến câu này thì đốn ngộ, thốt lên năm tiếng không ngờ
nổi tiếng (coi dẫn nhập điều 1), tỏ ra hiểu Kim cương
một cách xứng đáng là đốn ngộ của một vị tổ sư.
Lược
giải.-
Bồ
tát hạnh là vô trú bát nhã hoạt hiện mọi việc làm sạch
thế giới và làm nên chúng sinh. Hãy như thật tri kiến như
vậy về Bồ tát hạnh.
Phân
khoa.-
Nhã
3.- như thật tri kiến về Bồ tát quả (đoạn 14)
Chính
văn.-
14.
Trưởng lão Thiện hiện, ví dụ có người thân thể cao lớn
như núi Tu di, ông nghĩ thế nào, thân ấy lớn không ? rất
lớn, bạch Ngài ; tại sao, bởi vì Ngài nói thân lớn là phi
thân lớn, thế nên Ngài nói đó là thân lớn (1).
Ghi
chú.-
(1)
Tại sao, bởi vì đến đó là thân lớn.- Ðoạn này Td
lược mà độc đáo. Hd như sau, cũng rõ : tại sao, vì thân
lớn thì Ngài nói thân lớn ấy là phi thân lớn ; (vì là phi
thân lớn) nên gọi là thân lớn, chứ không phải vì là thân
lớn mà gọi là thân lớn.
Lược
giải.-
Bồ
tát quả là gì ? Là chủ đích mà Bồ tát hạnh nhắm đến.
Chủ đích ấy là Như, là Phật thân. Trong ngôn ngữ Kim cương,
thân chúng sinh cũng là phi thân, là tự siêu việt, là Như.
Ðoạn 14 này giả dụ có cái thân lớn, và vì thân lớn là
phi thân (là Như) mà gọi là thân lớn, chứ không phải vì
thân lớn mà gọi là thân lớn. Như vậy thân nhỏ cũng là
phi thân (cũng là Như) : cũng là thân lớn, cũng là Phật thân.
Tăng triệu đại sư giải thích đoạn này chỉ có mấy chữ
(Vạn 38/79), tôi viết lại giản dị như sau : biết thân này
là phi thân thì thân này là Phật thân.
Phân
khoa.-
Bát
3.- phước đức của pháp thoại (đoạn 15)
Chính
văn.-
15.
Trưởng lão Thiện hiện, giả thiết sông Hằng có bao nhiêu
cát, thì mỗi hạt cát, là một sông Hằng, ông nghĩ thế nào,
số cát tất cả sông Hằng như vậy nhiều hay không nhiều
? rất nhiều, bạch Ngài ; số lượng sông Hằng đã là vô
số, huống chi số cát những sông Hằng ấy. Trưởng lão Thiện
hiện, với lời nói thật, Như lai hôm nay nói với trưởng
lão : giả sử thiện nam hay thiện nữ nào đem hết bảy loại
vàng ngọc chất đầy thế giới đại thiên nhiều như số
cát những sông Hằng ấy mà làm bố thí (1), thì phước họ
được là nhiều hay ít ? Trưởng lão kính thưa, rất nhiều,
bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, nếu có thiện nam hay
thiện nữ khác với pháp thoại (2) này, tiếp nhận ghi nhớ
dầu chỉ bốn câu (3), và biết đem nói cho bao người khác
(4), thì phước người này hơn phước người trước. Thêm
nữa, trưởng lão, chỗ nào giảng dạy pháp thoại như vầy,
dầu chỉ bốn câu, trưởng lão cũng phải nhận thức chỗ
ấy, tất cả thế giới chư thiên nhân loại và a tu la đều
nên hiến cúng chùa tháp Như lai. Huống chi có người tiếp
nhận ghi nhớ, đọc xét văn nghĩa, tụng được thuộc lòng,
giảng nói cho người (5) trọn pháp thoại này ; trưởng lão
phải biết người ấy đạt được cái pháp tối thượng
hiếm có bậc nhất, và những địa điểm người ấy giảng
dạy pháp thoại như vầy (6) là có Như lai hay có các vị đệ
tử cao trọng.
Ghi
chú.-
(1)
Trừ Chd và Td, các bản khác thêm vào câu này như sau : mà
phụng hiến Phật. Nhưng không thêm thì đúng hơn.
(2)
Ðoạn 15 này có bốn chữ pháp thoại, đều có nghĩa như ghi
chú 6 của đoạn 10.
(3)
Bốn câu.- là nói tắt câu chỉnh cú 4 câu. Các đoạn sau đây,
chỗ nào có chữ ấy thì cũng đồng nghĩa.
(4)
Ðem nói cho bao người khác.- Ðem nói là giới thiệu, loan báo
và giảng dạy.
(5)
Giảng nói cho người.- Td thiếu câu này, đối chiếu phần
trên thì thấy. Nên phải lấy Chd, Cd và Hd mà bổ túc. Nghĩa
: coi ghi chú 4 ở trên.
(6)
Và những địa điểm người ấy giảng dạy pháp thoại như
vầy.- Dịch sát chính văn là : những địa điểm có bản
kinh này. Dịch sát như vậy không ăn khớp lắm với văn ý
ở trên.
Phân
khoa.-
Kim
2.- như thật tri kiến về tuệ giác,
có
2 cương : cương 1 như thật tri kiến về tuệ giác, cương
2 như thật tri kiến về sự tin của tuệ giác ấy.
Cương
1.- như thật tri kiến về tuệ giác,
có
4 bát : bát 1 như thật tri kiến về bản thân của tuệ giác,
bát 2 như thật tri kiến về đức tin của tuệ giác,bát 3
như thật tri kiến về chi tiết của tuệ giác, bát 4 phước
đức của pháp thoại.
Bát
1.- như thật tri kiến về bản thân của tuệ giác,
có
4 nhã : nhã 1 như thật tri kiến về bản thân của tuệ giác,
nhã 2 như thật tri kiến về tuệ giác Phật dạy, nhã 3 như
thật tri kiến về cái thân Phật dùng để dạy tuệ giác
ấy, nhã 4 phước đức của pháp thoại.
Nhã
1.- như thật tri kiến về bản thân của tuệ giác (đoạn
16)
Chính
văn.-
16.
Vào lúc bấy giờ trưởng lão Thiện hiện bạch đức Thế
tôn, pháp thoại (1) như vầy nên gọi tên gì ? chúng con cần
phải ghi nhớ thế nào ? Ðức Thế tôn dạy, trưởng lão Thiện
hiện, pháp thoại như vầy nên gọi tên là Kim cương bát nhã
ba la mật đa (2), trưởng lão hãy nhớ pháp thoại như vầy
qua danh hiệu ấy. Tại sao như vậy, trưởng lão Thiện hiện,
bởi vì bát nhã ba la mật đa thì Như lai nói là phi bát nhã
ba la mật đa, thế nên Như lai nói là bát nhã ba la mật đa
(3).
Ghi
chú.-
(1)
Pháp thoại.- Trong đoạn này, những chữ này chỉ cho bản
kinh này mặc dầu bản kinh này chưa phải kết thúc ở đây.
(2)
Kim cương bát nhã ba la mật đa.- tên kinh này được nói trong
đoạn này thì Chd, Cd, Nd và Ecd không có chữ Kim cương. Td
Kim cương bát nhã ba la mật đa, Hd Năng đoạn Kim cương bát
nhã ba la mật đa. Nghĩa : coi Dẫn nhập điều 7 mục a.
(3)
Thế nên Như lai nói là bát nhã ba la mật đa.- là lấy Hd và
Cd mà bổ túc.
Lược
giải.-
Ðoạn
này không phải kết thúc như thường lệ các kinh khác. Ðoạn
này Phật đặt tên kinh là Bát nhã ba la mật đa (trí độ)
để dạy cho ngài Tu bồ đề như thật tri kiến về bản thân
của bát nhã ấy ; Bát nhã mà gọi là Bát nhã là vì phi Bát
nhã : vì tự siêu việt chính nó, vì là Như.
Phân
khoa.-
Nhã
2.- như thật tri kiến về tuệ giác Phật dạy (đoạn 17-18)
Chính
văn.-
17.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, Như lai có sự
thuyết pháp hay không ? Trưởng lão thưa Ngài, không, bạch
Thế tôn, Thế tôn không có thuyết pháp gì cả.
18.
Trưởng lão Thiện hiện, ông nghĩ thế nào, thế giới đại
thiên có bao vi trần (1), số lượng nhiều không ? rất nhiều,
bạch Ngài. Trưởng lão Thiện hiện, những vi trần ấy, Như
lai nói chúng là phi vi trần, thế nên Như lai nói là vi trần.Và
bao thế giới (2), Như lai cũng nói những thế giới ấy là
phi thế giới, thế nên Như lai nói là thế giới.
Ghi
chú đoạn 18.-
(1)
Vi trần.- Nghĩa đen là bụi nhỏ. Cũng gọi là cực vi : phân
tử nhỏ nhất. Trong lý thuyết vài học phái cổ của Ấn
cho vi trần là phân tử tối sơ của cấu trúc vũ trụ. Xa
hơn chút nữa, sau đó có học phái cho vi trần không chỉ thuần
là vật lý mà còn là phân tử tối sơ của cấu trúc tâm
lý. Các bộ phái Phật giáo tiểu thừa cũng có kẻ gần như
có tư tưởng ấy. Nhưng đại thừa thì cho vi trần không là
tối sơ hay tối hậu gì hết, mà chỉ là sự phân tích tưởng
tượng rằng đó là phân tử vật lý nhỏ nhất trong cấu
trúc vũ trụ.
(2)
Thế giới.- Thế là thì gian, giới là không gian, đó là định
nghĩa của Lăng nghiêm. Nên thế giới là vũ trụ.
Lược
giải đoạn 17-18.-
Ðoạn
17 nói tắt đoạn 9 ở trước và đoạn 36 ở sau. Nhưng lời
nói như nhau mà ý không đồng. Ðoạn 17 này cốt nói tuệ
giác bát nhã biết Pháp của Phật thuyết là phi Pháp. Và cái
biết, như cái được biết của nó, cũng là phi biết. Ðoạn
18 cho thấy, cái biết biết Phật thuyết và Pháp của Phật
thuyết là như vậy, và cũng là như vậy mà biết về phân
tử và vũ trụ của phân tử : biết cái cấu trúc khổng lồ
đè nặng tâm thức con người ấy cũng chỉ là Phi. Hãy như
thật tri kiến như vậy về bát nhã Phật dạy.
Phân
khoa.-
Nhã
3.- như thật tri kiến về cái thân Phật dùng để dạy tuệ
giác ấy (đoạn 19)
Chính
văn.-
19.
Trưởng lão Thiện hiện trong ý của ông, ông nghĩ thế nào,
có thể hay không nhìn thấy Như lai bằng ba mươi hai đặc
tướng siêu nhân (1) ? Không, bạch Thế tôn ; tại sao như vậy,
vì các đặc tướng thì Thế tôn nói là phi đặc tướng,
thế nên Thế tôn nói là đặc tướng.
Ghi
chú.-
(1)
32 đặc tướng siêu nhân.- Coi lại đoạn 7, ghi chú 1.
Lược
giải.-
Cái
thân mà Phật dùng để thuyết bát nhã ở đây là thân trượng
lục, thân 32 tướng tốt. Nhưng thân ấy là phi thân, là Như.
Như vậy nếu thấy 32 tướng là Như thì thế là thấy Phật
bằng 32 tướng. Bát nhã thấy là như vậy, và chính cái thấy
ấy đã là như vậy.