Phần
Lược Giải
Bảng
viết tắt
Chính
Ðại tạng kinh bản Ðại chính tân tu.
Vạn
Tục tạng kinh bản chữ Vạn.
Td
Hoa
dịch Kim cương của ngài Cưu ma la thập (đầu thế kỷ 5)
Bd
hoa dịch Kim cương của ngài Bồ đề lưu chi (đầu thế kỷ
6).
Chd
hoa dịch Kim cương của ngài Chân đế (giữa thế kỷ 6)
Cd
hoa dịch Kim cương của ngài Cấp đa (cuối thế kỷ 6)
Hd
hoa dịch Kim cương của ngài Huyền tráng (giữa thế kỷ 7)
ND
hoa dịch Kim cương của ngài Nghĩa tịnh (đầu thế kỷ 8)
Ecd
Anh dịch Kim cương của Edward Conze, Luân đôn, 1957. Bản dịch
của Lệ pháp.
Ghi
chú : Td, Bd, Chd, Cd và Nd, mang số hiệu của Chính như sau
: 235, 236, 237, 238 và 239, cùng nằm trong Chính 8/748-775. Hd thì
thuộc số hiệu 220, Chính 7/980-985.
Dẫn
Nhập
Dẫn
nhập này quá hơn những lời hướng dẫn. Ở đây thực sự
giải thích những gì cần làm trước như vậy về Kim cương.
1.
Kinh Kim cương
Trong
văn chương Trung hoa, Kim cương và Tịnh danh của ngài La thập
dịch, được ưa thích không những từ phía quần chúng mà
còn từ phía trí thức. Phật tử hay người ngoài đều như
vậy. Nhưng trong hai kinh ấy, Kim cương được ưa thích hơn.
Liêu trai cho thấy tác giả của nó ưa thích Kim cương đến
thế nào. Ðó là chỉ nói một tác phẩm dị thường.
Trong
sự tụng niệm, Kim cương với Pháp hoa của ngài La thập dịch
được tụng niệm nhiều nhất, ở các xứ Phật giáo văn
hệ Trung hoa. Nhưng trong hai kinh ấy, Kim cương cũng được
tụng niệm nhiều hơn.
Trong
linh nghiệm, những sự ấy xảy ra ở Trung hoa và còn được
ghi lại thì Kim cương có 113 tờ so với 37 tờ của Pháp hoa.
Tất cả đều nằm trong Vạn 149/38-150. Trong số này, các tờ
60-73 là trích Thái bình quảng ký, sách ngoài, có tiếng.
Ðặc
biệt nhất, Kim cương liên hệ trọn vẹn đối với lục tổ
Huệ năng, một hiện tượng rất độc đáo của Phật giáo
Trung hoa. Truyện kể khá rõ trong Pháp bảo đàn (Chính 48/337-364)
và đại khái như vầy. Có một chàng tiều phu không biết
chữ, chưa vợ con, còn mẹ già. Một hôm nhân bán củi mà
được nghe tụng Kim cương, liền đốn ngộ. Hỏi, được
biết ngũ tổ Hoằng nhẫn dạy ai cũng nên tụng kinh ấy. Tiều
phu liền thu xếp cho mẹ già, lặn lội đến Hoàng mai yết
kiến ngũ tổ. Rồi một đêm, tế nhị và bí mật, ngũ tổ
lấy ca sa trương ra che kín thiền thất, đem Kim cương giảng
cho. Giảng đến câu "hãy đừng ở vào bất cứ nơi nào mà
sinh tâm ra" (đoạn 13) thì tiều phu đại ngộ tất cả các
pháp không ngoài tự tánh, và thưa rằng không ngờ tự tánh
vốn tự trong sáng, không ngờ tự tánh vốn bất sinh diệt,
không ngờ tự tánh vốn tự đủ cả, không ngờ tự tánh
vốn không dao động, không ngờ tự tánh vốn sinh vạn pháp.
Ðó là cuộc truyền ngôi tổ vị thứ sáu, anh chàng tiều
phu liền thành lục tổ Huệ năng. Sau này lục tổ khuyên người
làm theo chánh định Bát nhã bằng cách tụng niệm Kim cương,
với lời nói giản dị : lúc nào chỗ nào tâm cũng đừng
ngu, ngu một chút là bát nhã mất một chút, trí một chút
là bát nhã sinh một chút.
Với
văn dịch của Td, Kim cương hoa văn quả thật ý càng cao từ
càng giản, giản mà hoa. Ðọc tụng cảm thấy tiêu sái, khoái
sảng, thấy chẳng có gì mà không bỏ nổi, chẳng có gì mà
không làm được.
2.
Tài liệu tham khảo để dịch giải Kim cương.
Chính
văn mà tôi dịch giải là Td. Nhưng để hiểu chính văn này,
cần phải tham khảo sáu bản dịch khác mà bảng viết tắt
đã liệt kê. Các bản chú thích phải tham khảo là của ngài
Tăng triệu ; của các đại sĩ Vô trước, Thế thân và Công
đức thi ; của các đại sư Trí giả, Cát tạng và Khuy cơ
; của các đại sư Trí nghiễm, Ðức thanh, Trí húc và Thái
hư cũng có tham khảo. Văn bản của các vị trên đây nằm
trong Chính 25 và 33, trong Vạn 38 và 39, riêng của đại sư
Thái hư có đến ba bản, nằm trong toàn thư tập 11.
Ðọc
kỹ các bản dịch khác mới càng thấy Td được tôn sùng
rất phải. Cũng nhờ đọc các bản dịch khác mới hiểu Td
rõ ràng. Các bản dịch khác, Hd có lẽ bị thêm vài chỗ ;
và khá kỳ, nhưng quí, là Cd cố ý không đảo trang, nhuận
sắc.
3.
Vài dòng về dịch chủ La thập và ngài Tăng triệu
Ai
liên hệ đến Phật giáo văn hệ Trung hoa đều biết ngài
La thập, nhất là biết lối dịch thượng thặng của "ông
vua giới phiên dịch" ấy (từ ngữ của Lương Khải Siêu,
Phật học nghiên cứu bài 6). Sinh bình ngài có một sự tự
than : nếu đặt bút viết A tỳ đạt ma của đại thừa thì
Ca chiên diên không bằng, nhưng ở đất Tần thì viết làm
gì (Chính 55/101). Khi lâm chung, thệ nguyện nếu phiên dịch
không sai ý Phật thì hỏa thiêu rồi lưỡi vẫn còn, và quả
nhiên lưỡi vẫn còn. Sau đó có người cho biết những gì
ngài dịch chỉ được một phần mười những gì ngài thuộc
lòng (Chính55/102). Ngài thọ 70 tuổi, mất năm quí sữu (dương
lịch 413) ngày 13 tháng 4 (ngài Tăng triệu ghi trong lời viếng
thầy, Chính 52/264). Thì gian phiên dịch chỉ được 12 năm
(401-412), tạm ghi theo Lương Khải Siêu (Phật học nghiên cứu,
phụ lục bài 1).
Còn
ngài Tăng triệu thì là Nhan Hồi và Tăng Sâm của ngài La thập,
đứng đầu tứ thánh thập triết. Ngoài sự cọng tác việc
dịch của thầy, ngài còn chú thích và trước thuật. Chú
thích hiện còn hai bản là Kim cương và Tịnh danh, trước
thuật hiện còn, gọi là Triệu luận. Với Triệu luận, cho
đến nay ngài vẫn đứng đầu trong sự lĩnh hội Bát nhã,
và ngoài đời thì cũng với Triệu luận, ngài đi vào văn
học gia và văn học sử Trung hoa.
Riêng
bản chú thích Kim cương thì Trung hoa thất lạc lâu lắm. Nhật
bản năm 1688 mới phát hiện và ấn hành. Bản chú thích này
nếu không phải viết lúc ngài La thập đang còn thì sau đó
cũng không lâu, vì ngài Tăng triệu không thọ, mất lúc 31
tuổi, cùng năm với thầy (Chính 50/365). Chỉ tiếc là tôi
có tìm mà chưa thấy khi ngài La thập dịch Kim cương thì ai
là người bút thọ, ai là người viết tựa mà tôi tin là
có, và dịch vào năm nào.
4.
Cách dịch và cách giải Kim cương được áp dụng
Như
đã nói, chính văn mà tôi dịch giải là Td. Lý do không những
vì Td là định bản Kim cương, mà còn vì càng so sánh với
các bản dịch khác càng thấy nên lấy Td làm chính văn. Ðại
sư Khuy cơ, đệ tử đắc truyền của ngài Huyền tráng, mà
khi chú thích Kim cương cũng chú thích Td, không chú thích bản
dịch của thầy mình (Hd), như vậy cũng đủ biết giá trị
của Td.
Về
cách dịch, để dễ tụng, tôi cố ý dịch mỗi câu bốn chữ
và mỗi đoạn không lẽ câu. Tổng cọng có 52 đoạn, 1544
câu. Tuy nhiên, để mỗi dòng một câu thì dễ tụng mà đọc
không dễ hiểu như bình thường các câu liền nhau trong một
dòng, nên phần tụng niệm tôi để mỗi dòng một câu, mà
phần giải thích thì để các câu liền nhau như tảng văn
thường.
Trở
lại nói cách dịch câu và đoạn như trên. Cách ấy thật
mất thì giờ và công sức. Nhưng điều ấy không đáng nói.
Ðiều đáng nói là dịch như vậy thì phải bớt hay phải
thêm những chỗ không đáng bớt hoặc không đáng thêm, thậm
chí có chỗ còn hại ý nghĩa không nhỏ, chưa nói có lúc vụng
về một cách không đáng. Ấy thế nhưng tôi vẫn áp dụng
cách dịch này ở đây, vì cốt cho dễ tụng.
Lối
giải thì những gì cần phải giải thích trước và chung thì
phải làm như vậy trong phần Dẫn nhập này, rồi sau đó giải
thích chính văn. Giải thích chính văn thì bằng ba mục là
phân khoa, ghi chú và lược giải. Dĩ nhiên chỗ nào không cần
thì thôi một hay hai trong ba mục ấy. Riêng mục ghi chú sẽ
gồm có sự khảo dị, đối chiếu với các bản dịch khác,
ở những chỗ nào cần phải làm như vậy.
Cũng
phải nói trước ở đây về mục phân khoa, tức phân chia
và tiêu đề các tiết mục mà lập thành Mục lục. Các tiết
mục này, phần đại thể thì tôi theo ngài Tăng triệu, và
sẽ được nói sau đây, còn phần hệ thuộc thì tôi phải
tự làm lấy. Phân chia và tiêu đề các tiết mục cũng là
cách giải thích, nhưng là cách giải thích nói lên nhiều nhất
ý kiến chính của người giải thích. Nhất là trường hợp
Kim cương trùng văn không ít, nhưng phân chia và tiêu đề thì
thấy liền văn giống mà ý khác. Tôi biết như vậy, nhất
là muốn dịch giải Kim cương một cách hết lòng cẩn trọng,
nên không phải muốn khoe khoang hay lập dị và tự làm như
vừa nói. Tự làm chỉ vì sở tri lượng của tôi phải tự
làm mà thôi.
5.
Ðại thể của Kim cương
Ngài
Tăng triệu nói chủ yếu của kinh này là không tuệ, nên đại
thể có ba phần : Các đoạn 1-15 nói cảnh không (nhưng ý nói
cảnh, chưa nói tuệ) ; các đoạn 16-28 nói tuệ không (nhưng
chỉ nói tuệ, chưa nói người) ; các đoạn 29-52 nói người
không (tức là Bồ tát không). Văn tự ba phần tự biểu hiện
như thế, nên trước sau tuy có phần giống nhau mà thật ra
ý nghĩa không giống. Trong bốn thời Phật thuyết Bát nhã,
kinh này là thời đầu tiên. Lời ước lược, nghĩa phong phú,
cái ý sâu kín khó mà thấy được (Vạn 38/208B).
Không
tuệ là tuệ Bát nhã : tuệ giác như thật tri kiến về Như
(coi ghi chú 11 của Dẫn nhập), nghĩa là không còn ngã chấp
nên gọi là không tuệ. Không tuệ ấy như thật tri kiến về
đối tượng của nó thì gọi là cảnh không, như thật tri
kiến về bản thân của nó thì gọi là tuệ không, như thật
tri kiến về chủ thể của nó (về người tu không tuệ) thì
gọi là người không. Ba phần như vậy tôi đổi từ ngữ
như sau và đã ghi trong Mục lục : kim 1 như thật tri kiến
về đối tượng, kim 2 như thật tri kiến về tuệ giác, kim
3 như thật tri kiến về chủ thể.
Nhưng
ba tiết mục đại thể này không được ngài Tăng triệu phân
chia tiết mục hệ thuộc, nên việc ấy, như đã nói, tôi
phải tự làm. Và vì vậy mà có sự tách các đoạn 1 đến
6 làm kinh 1 mở đầu, tách các đoạn 49 đến 52 làm kinh 3
kết thúc, còn các đoạn 7 đến 48 là kinh 2 nội dung gồm
cả ba phần đại thể nói trên. Việc này không vì khuôn sáo
mà vì chia tiết mục đại thể và hệ thuộc thì văn kinh
tự có như vậy.
Ðiều
phải nói thêm, và đây mới thật là đại thể của Kim cương,
ấy là từ đại thể trên mà nhìn và nói cách khác cho thật
sát văn kinh, thì đại thể kinh này có hai phần. Phần 1, với
hai câu hỏi đáp mở đầu, cho thấy phải có Bát nhã loại
bỏ ngã chấp mới phát nguyện và phát huy bồ đề tâm một
cách chính xác. Phần 2, từ đó cho đến cuối, cho thấy Bát
nhã ấy loại bỏ ngã chấp như thế nào. Cả hai phần này
cùng với chi tiết như Mục lục ghi (mà đổi số chút ít)
chứ không chi khác.
6.
Ðối tượng của Kim cương.
Kinh
này Phật cốt dạy cho ai ? Trong phần mở đầu, trừ Nd và
Ecd sau 1250 vị tỷ kheo ghi thêm chúng đại bồ tát, tất cả
các bản khác chỉ ghi 1250 vị tỷ kheo mà thôi. Thêm nữa,
trong phần kết thúc, Bd, Nd và Ecd ghi thêm bồ tát đại sĩ,
nhưng các bản khác chỉ ghi bốn chúng và chư thiên, nhân loại,
a tu la, và chỉ ghi ở đây chứ không ghi trong phần mở đầu.
Như vậy đối tượng chủ yếu của Kim cương là các vị
tỷ kheo, nói cách khác là các vị Thanh văn.
Ở
đây nên so sánh với Pháp hoa. Pháp hoa lấy Thanh văn làm đối
tượng, xác quyết là họ chưa được niết bàn hoàn toàn.
Niết bàn hoàn toàn là phải như Phật. Họ từng là đệ tử
được Phật dạy cho làm Phật chứ không phải làm La hán.
Kim cương cũng vậy mà không vậy. Cái tim của Thanh văn là
vô ngã, Kim cương cho thấy họ chưa vô ngã. Kim cương không
phủ nhận Thanh văn bằng cách cho họ thấy họ tăng thượng
mạn, tự tôn tự mãn với vị trí mà Phật giả định Ố
dầu đến đoạn 25, Kim cương cũng nói vì sự ấy mà họ
không tin nổi Kim cương. Thế nhưng Kim cương không phủ nhận
gì hết, mà chỉ cốt dạy cho Thanh văn cái tuệ giác Bát nhã
để họ tự nhìn thấy cái ngã mà tận trừ, bước tới.
Do vậy, Kim cương ít nói lý pháp mà nói hạnh pháp và nói
quả pháp nhiều hơn : nói ngay cái tuệ giác, cái việc tu hành
và đắc quả của tuệ giác ấy.
Nhưng
trên đây chỉ là một cách xét. Xét cách khác thì đối tượng
Kim cương là Bồ tát. Bồ tát ở đây có hai. Một là các
vị Thanh văn đã hay có thể chuyển thành Bồ tát ; Bồ tát
như vậy là như đã nói trên đây. Hai là Bồ tát theo Bồ
tát thừa ; các vị này, qua sự đối thoại với ngài Tu bồ
đề, Phật đã nói đến từ đầu đến cuối kinh này.
Bồ
tát là gì ? Trong văn chương tư tưởng bình dân của Ấn độ,
Bồ tát là mẫu người lý tưởng. Tựa như quân tử của
Trung hoa, Bồ tát của Ấn độ cũng vậy mà hơn vậy : minh
triết, dũng liệt, xả thân, cứu đời... Phật giáo thì đời
Phật, và ngay loài người, cũng có các vị Bồ tát nổi tiếng.
Thắng man phu nhân... nhóm Hiền hộ... và Duy ma, một người
không những là Bồ tát mà còn là Bồ tát bất khả tư nghị.
Thêm nữa, nói về Bồ tát thì rõ ràng có cái khuynh hướng
cho tại gia cũng quan trọng, chưa nói có khi quan trọng hơn
; nói về Bồ tát hạnh thì rõ ràng quan trọng là bố thí,
nhẫn nhục và tuệ giác ; và căn bản của mọi sự trên đây
là phát bồ đề tâm, chữ phát vừa có nghĩa phát nguyện
vừa có nghĩa phát huy. Bồ tát là như vậy, nhưng đứng về
mặt Tam bảo thì Bồ tát phải làm tỷ kheo mới được ngang
với tỷ kheo, với Thanh văn, và cũng là Tăng bảo ; chỉ đứng
về mặt làm Phật thì Bồ tát mới được nhận là phật
tử đích thực, mới là người sẽ đạt đến địa vị của
Phật.
Bồ
tát, như vậy, không thể không có Bát nhã -không thể còn
có ngã chấp mà được gọi là Bồ tát, mà làm được việc
của Bồ tát. Ðối tượng Bồ tát của Kim cương là như vậy.
7.
Nội dung của Kim cương.
Ở
đây sẽ đi sâu vào một vài chi tiết mà qua đó càng thấy
nội dung kinh này, ngoài nội dung đã thấy qua hai điều 5 và
6 ở trên.
a.
Ý nghĩa danh h iệu Kim cương bát nhã ba la mật.
Kim
cương là chất kim cương, ở đây lấy chất ấy ví dụ cho
sự khó phá hủy. Bát nhã là tuệ giác như thật tri kiến
về Như (coi ghi chú 11 của Dẫn nhập). Ba la mật là rời
bỏ, vượt đến : rời bỏ bờ bến bên này là vượt đến
bờ bến bên kia, tức là nói đến sự toàn hảo. Kim cương
bát nhã ba la mật có hai nghĩa.
Nghĩa
thứ 1, kim cương ví dụ cho ngã chấp; tuệ giác toàn hảo
có năng lực phá hủy cái ngã chấp khó phá hủy đó, nên
gọi tuệ giác ấy là Kim cương bát nhã ba la mật. Hd và Nd
thêm hai chữ năng đoạn (Năng đoạn kim cương bát nhã ba la
mật : Năng đoạn kim cương chi bát nhã ba la mật) thì chỉ
làm cho nghĩa thứ 1 này rõ hơn để khỏi lầm rằng Kim cương
bát nhã ba la mật có nghĩa thứ 2 dưới đây.
Nghĩa
thứ 2, kim cương ví dụ cho chính tuệ giác ; tuệ giác toàn
hảo có cái năng lực khó phá hủy là phá hủy được ngã
chấp, nên tuệ giác ấy gọi là Kim cương bát nhã ba la mật.
Như
vậy danh hiệu kinh này cho thấy kinh này cốt nói năng lực
của Bát nhã và nói ngã chấp mà năng lực ấy phá hủy.
b.
Ngã chấp trong Kim cương.
Kim
cương nói về ngã chấp bằng bốn tướng ngã, nhân,
chúng sinh, thọ giả. Tướng, các bản khác dịch tưởng hay
chấp, vậy tướng là ý tưởng, tức khái niệm. Về bốn
tướng, thứ tự có thể không phải là ngã, nhân, chúng
sinh, thọ giả, như Td và Bd ghi, mà là như sau, theo các bản
dịch khác : ngã, chúng sinh, thọ giả, nhân.
Ngã
thì bản nào cũng dịch là ngã. Chúng sinh thì Hd là hữu tình.
Thọ giả thì Hd là mạng giả. Nhân thì Hd chỉ dịch âm là
bổ đặc dà la (dịch nghĩa : sát thủ thú), Chd là thọ giả
(chữ thọ là chịu), Nd là cánh cầu thú. Do sự cắt nghĩa
của đại sĩ Thế thân (Chính 25/783 và 876) mà biết ngã là
khái niệm tự ngã, chúng sinh là khái niệm sinh thể (hay khái
niệm liên tục), thọ giả là khái niệm đời sống (hay khái
niệm tồn tại), nhân là khái niệm tái sinh.
Nếu
sắp thứ tự ngã, nhân, chúng sinh, thọ giả thì đọc và
hiểu dễ hơn, nhưng dầu muốn dầu không, thứ tự ấy cũng
hàm ý nghĩa ngã nhân là tự tha (tôi với anh), và chính hàm
ý này lại khẳng định tự ngã hơn lên.
Ngoài
bốn tướng này, Hd còn nói sĩ phu, ý sinh, ma nạp bà, tác
giả, thọ giả. Trong 5 chữ này chữ ma nạp bà đáng nói.
Chữ ấy có người nói phải dịch là thắng ngã (Phật học
đại từ điển 2569), và nhân đấy nên nói lược về ngã
chấp.
Ngoại
đạo ban đầu nói chỉ ông trời Ðại phạn hay ông trời
Ðại tự tại mới có trước, tự có, rồi sinh ra và chi phối
tất cả, nghĩa là chỉ ông trời ấy mới là ngã. Kế đến,
ông trời ấy biến thành phiếm thần : cái bản thể phổ
biến của ông trời ấy phú cho mỗi người mỗi vật đều
có một phần ; phần ấy đồng nhất với ông trời, vậy
là ông trời = bản ngã = tự ngã. Tự ngã này biểu thị lắm
đặc tính tự tại chủ thể (tự chủ và chủ đạo) dưới
những danh xưng như những ký hiệu về nó : chúng sinh, thọ
giả, nhân, v/v. Ðó là ngã chấp của kiến thức lý thuyết.
Kiến thức lý thuyết ấy thật ra bắt nguồn rồi suy diễn
từ ngã chấp của mỗi người chúng ta, chưa nói của cả
mọi loài động vật. Ngã chấp ấy chỉ là và chính là ý
thức cái tôi : cái tôi tự chủ (ngã tướng), cái tôi mà
do nó nên tôi là một sinh thể liên tục mà có tâm thức (chúng
sinh tướng), là một sinh mạng có đời sống và sống hết
đời (thọ giả tướng), là một linh hồn sẽ tái sinh những
đời khác y như đời này (nhân tướng). Cái tôi như vậy
không mấy ai nghe nói đến, chứ chưa nói không mấy ai biết
nói đến, nhưng không vì vậy mà sự tự ý thức về nó không
có. Trong ý thức bình thường rằng tôi đây, tôi khác anh
đây, cũng như anh đấy, anh không phải tôi đấy, thì ý thức
này chính là ý thức về ngã, càng đơn sơ bao nhiêu càng sâu
dày bấy nhiêu. Ngã như vậy là bản năng hơn là kiến thức,
nên động vật hạ đẳng nhất cũng có chứ đừng nói loài
người. Ngã này là đệ thất thức, và mới đáng nói (vì
Thanh văn cũng vẫn còn), hơn là nói đến ngã chấp của ngoại
đạo (mà Thanh văn đã hết). Ngã này không phải chỉ là ngã
trong hai thứ ngã với pháp, mà là ngã trong cả hai thứ ấy
là nhân ngã và pháp ngã. Nói giản dị, hễ có ngã thì nhìn
vào đâu cũng thấy ta ; thấy không phải ta chính là phản
diện khẳng định sự thấy ta. Ngã này mới là cái ngã của
Kim cương nói đến, cái ngã mà chỉ có Bát nhã mới hủy
diệt được.
c.
Bát nhã của Kim cương.
Kim
cương nói Phật có năm thứ mắt, hai thứ nghĩa đen, ba thứ
nghĩa bóng. Hai thứ nghĩa đen là nhục nhãn với thiên nhãn.
Nhục nhãn nhìn không suốt qua chướng ngại vật và bóng tối,
nhìn không xa, thiên nhãn trái lại, nhưng thứ nào cũng nhìn
thấy hình sắc như người với trời. Nói như người với
trời mà thật ra không như rất nhiều : Phật thấy hình sắc
mà không bị hình sắc lừa dối, không như người với trời
thấy hình sắc nhưng thật ra chỉ nhìn thấy đối tượng.
Ba thứ nghĩa bóng là tuệ nhãn, tức nhất thế trí, thấy
thực thể ; pháp nhãn, tức đạo chủng trí, thấy cách tu
; Phật nhãn, tức nhất thế chủng trí, thấy hết thực thể,
tướng dụng, cách tu. Tất cả năm thứ mắt này là Bát nhã
toàn hảo của Phật trong Kim cương. Nhưng sơ khởi Phật dạy
cho người nghe kinh này thì chính yếu là tuệ nhãn. Cách dạy
nói khá nhiều là sở ngôn (nói rằng, gọi là) tức phi (là
phi, là không phải) và thị danh (thế nên nói là, vì lý do
ấy nên nói là). Dĩ nhiên sở ngôn, tức phi và thị danh không
phải là một ước lệ nhất quán trong Kim cương, nhưng quá
rõ ràng thể thấy cách dạy này nhiều chỗ giống nhau, và
không thể không có tính cách nhất quán. Không những như vậy,
mà đoạn 10 chữ phi có kèm chữ tính (tính phi phước đức),
và Hd đoạn 14, không những "thân lớn ấy ngài nói là phi
thân lớn, vì thế nên Ngài nói là thân lớn" mà còn thêm,
"chứ không phải vì là thân lớn mà Ngài nói là thân lớn".
Cách
dạy như vậy cho thấy, ví dụ, chúng ta nói A thì Phật nói
A đó là phi-A, và đó là tại sao Ngài nói là A (chứ không
phải vì A là A mà Phật nói là A). Như vậy phi-A không phải
là B, mà là A tự siêu việt, có trường hợp là tự phủ
nhận, có trường hợp vừa tự phủ nhận vừa tự siêu việt.
Vậy Phi là thế nào ?
Ở
chỗ khác, Phi là duyên sinh tính không, là đương sinh vô sinh,
hay thấp một chút là mộng ảo bào ảnh (mà đoạn 51 của
Kim cương cũng nói đến, trong trình độ này). Nhưng ở Kim
cương thì Phi có cái ngữ khí trực chỉ : Phi là như thật
tri kiến các pháp toàn là Như. Nói giản dị một chút, Phi
là siêu việt : siêu việt khái niệm và diễn tả. Cho nên
A là phi-A (là Như), và đó là lý do tại sao Phật nói là A
; nói A như vậy thì không phải như ngã chấp chỉ thấy biết
A là A và vì vậy mà nói là A.
Phi,
như thế, là Bát nhã của Kim cương, như thật thấy biết
nên thấy biết gì cũng Phi, hủy bỏ cái ngã thấy biết gì
cũng là ngã cả.
d.
Phát tâm, trú tâm và hàng tâm.
Phát
tâm, nói rõ là phát tâm bồ đề, nói rõ hơn nữa là phát
tâm vô thượng bồ đề, và nói rõ nhất là phát tâm vô thượng
chánh đẳng giác. Vô thượng chánh đẳng giác (a nậu đa la
tam miệu tam bồ đề) là tuệ giác biết đúng, biết hết
và biết hơn tất cả. Tuệ giác ấy là Bát nhã, là tuệ giác
của Phật. Phát nguyện cầu mong tuệ giác ấy, đồng thời
phát huy tuệ giác ấy, thì gọi là phát tâm Ố Phát huy trọn
vẹn tuệ giác ấy là trở thành Phật đà. Phát nguyện và
phát huy tâm bồ đề như vậy có hai lý do, và do đó có hai
việc làm, ấy là vì thương nỗi đau khổ của chúng sinh mà
nỗ lực cứu độ, vì xót sự suy tàn của chánh pháp mà nỗ
lực duy trì.
Phát
tâm như vậy là căn bản của đại thừa, là làm theo đại
thừa (nên thay vì phát tâm bồ đề, có bản dịch là phát
thú đại thừa). Phát tâm thì phải trú tâm và hàng tâm. Trú
là đứng vững, là trú ở. Hàng là buộc đầu hàng, là chiến
thắng, sửa chữa. Trú tâm là trú ở nơi sự phát tâm, hàng
tâm là hủy diệt ngã chấp. Nói cách khác, trú tâm hàng tâm
là vận dụng Bát nhã. Như vậy chủ đích Kim cương là dạy
Bát nhã để phát tâm, trú tâm và hàng tâm. Ðó là nội dung
căn bản của kinh này.
Ở
tiểu thừa, tuệ giác các vị Thanh văn hủy diệt ngã chấp
chỉ là ngã chấp lý thuyết như ngoại đạo nói, còn ngã
chấp bản năng mà chúng sinh có thì Thanh văn còn tự mãn tự
tôn là vẫn còn loại ngã chấp ấy. Do vậy, sự phát tâm,
trú tâm và hàng tâm đã nói trên không được có ở các vị
Thanh văn. Kim cương dẫn tiến Thanh văn, cũng dẫn tiến Bồ
tát, là dẫn tiến cái điều căn bản này đây.
8.
Kim cương : đại thừa với tiểu thừa
Vấn
đề không phải cần đặt ra do một số luận điệu gần
đây liên hệ đến đại thừa tiểu thừa, mà vấn đề đặt
ra để một mặt nhìn nội dung Kim cương rõ hơn nữa, mặt
khác cần nói đến mấy vấn đề căn bản của đại thừa
tiểu thừa, ít nhất cũng nói mở đầu và vắn tắt.
a.
Vấn đề Phật.
Tiểu
thừa thì nhất thiết cho Phật cũng chỉ là một vị La hán.
Căn cứ gần như duy nhất chỉ vì trong mười đức hiệu của
Phật có đức hiệu La hán, và vì khi năm vị tỷ kheo thành
La hán đầu tiên thì Phật nói thế gian có sáu vị La hán.
Thật quá dễ dàng để thấy căn cứ như vậy không xứng
đáng là căn cứ để nói Phật cũng là và chỉ là một vị
La hán.
La
hán tương đồng được một phần với Phật về đoạn đức
(giải thoát), nhưng không tương đồng được phần nào với
Phật về trí đức (tuệ giác) và ân đức (độ sinh). La hán
không có 10 lực, 18 bất cọng và nhiều pháp khác của Phật,
mà đó là những pháp số không phải chỉ đại thừa nêu
lên. Trong tín ngưỡng, bốn bất hoại tín tin Phật riêng,
tin Tăng riêng ;và ba ngôi báu cho thấy Phật bảo không thể
là Tăng bảo. Trong qui chế, Phật không đồng chúng kiết ma
tác pháp tăng sự. Thành thật luận (của tiểu thừa) đã
nói rõ như vậy (Chính 32/258).
b.
Vấn đề chúng sinh thành Phật
Tiểu
thừa không công nhận, ngay cả trong thì gian, rằng ai cũng
có thể thành La hán, có đâu công nhận ai cũng trở thành
Phật đà. Ðại thừa thì sự công nhận này là một trong
những căn bản quan trọng, đặc biệt quan trọng cho tín niệm
độ sinh.
c.
Vấn đề niết bàn
Hai
vấn đề trên nói theo ngôn ngữ Kim cương thì Như lai là Như,
chúng sinh là phi chúng sinh (nghĩa là cũng Như). Do vậy, cả
hai vấn đề dẫn đến vấn đề Niết bàn, vì Niết bàn là
Như chứ không chi khác.
Tiểu
thừa hay nói mình không đề cập bản thể, có khi còn loạn
hơn, cho bản thể là không có, là biến chế từ ngoại đạo.
Nhưng có lúc cũng thấy ra bản thân của mình, và đỉnh cao
của mình là Niết bàn, dầu nói hoa mỹ đến đâu cũng không
khỏi bị cho là hư vô, đoạn kiến. Ấy thế nên gần đây
hay đề cao Như lai (Tathata). Như lai, đúng ra là Như, ở tiểu
thừa gần như không nói đến, trừ ra nói đến trong chữ
Như lai, và Thành thật luận nói thừa như thật đạo lai thành
chánh giác (Chính 32/242) ; càng không xác định rằng Như lai
là sự thật, là bản thể trung thực. đại thừa, như Kim
cương, với chữ Phi, cho thấy Như lai là cả hai : là bản
thể trung thực và vì bản thể này mà sự thật các pháp
không phải những gì ngã chấp thấy là thật. Nói giản dị,
Như là bản thể siêu việt của các pháp. Như ấy là Niết
bàn.
Ở
tiểu thừa, Niết bàn được chứng dưới hai dạng : dạng
thứ nhất đoạn tập đế mà còn khổ đế, dạng thứ hai
khổ đế cũng không còn. Thuật ngữ gọi hai dạng này là
hữu dư y và vô dư y. Nhưng Niết bàn rồi, nói nôm na, cái
thân thuộc khổ đế này chết rồi, thì sau đó là thế nào
? Ở đây chỉ còn diễn tả bằng mấy cách mà đáng nói là
vài cách sau đây. Cách thứ nhất, có người rành xương người
chết. Ngươì chết đã là gì, và là gì sau khi chết, người
ấy cầm xương mà gõ là biết hết. Nhưng có một loại xương
người ấy cầm gõ không thể biết là gì cả, vì đó là
xương La hán : La hán không còn sinh ra nữa nên người ấy
không thể biết là gì như đã biết các loại xương khác.
Cách thứ hai là nói Như lai phi chung phi bất chung - thì đại
thừa mới cắt nghĩa được cách nói này có ý nghĩa gì.
Ðại
thừa không nhận Niết bàn như trên là cứu cánh. Niết bàn
như trên, và đức Phật có Niết bàn như trên, gần như không
thể nói là liên quan đến sự tồn tại của chánh pháp và
sự giải thoát của chúng sinh.
Ðại
thừa nói căn bản của Niết bàn là Như. Thực thể chúng
sinh là Như nên Phật mới có thể làm cho Niết bàn thể hiện.
Niết bàn ấy là vô trú niết bàn : vì có đại bi nên không
ham niết bàn, vì có đại trí nên không bị sinh tử - đại
nguyện tự tại ở trong sinh tử mà hóa độ chúng sinh. Niết
bàn của đại thừa là như vậy. Nên trong đoạn mở đầu
Kim cương đã nói đến Niết bàn, rồi trong đoạn gần cuối
Kim cương nói rõ rằng tâm nguyện bồ đề thì không nói đoạn
diệt.
9.
Thực hành Kim cương.
Những
điều đã trình bày ở trên cho thấy thực hành theo Kim cương
là như thế nào. Phát tâm, trú tâm và hàng tâm là quan trọng
nhất. Thực hành theo Kim cương là như thế. Và như đã thấy,
phát tâm, trú tâm và hàng tâm là vô trú bát nhã, được diễn
đạt bằng chữ Phi.
Sánh
với chữ Không của toàn bộ Bát nhã, chữ Vượt qua (yết
đế) của bát nhã tâm kinh, thì chữ Phi của Kim cương bát
nhã hoạt bát hơn nhiều lắm.
Chữ
Phi được thực hành bằng luận chứng sơ khởi là bài chỉnh
cú cuối cùng của Kim cương, quán sát các pháp hữu vi như
mộng ảo bào ảnh. Nhưng chữ Phi cũng có thể thực hành từ
sơ khởi đến chung cục theo phong cách của Thiền tông.
Theo
phong cách ấy thì thấy gì cũng phi cả. Nhất là phi cả cái
Phi. Phi thì không vướng mắc vào đâu cả, nhất là vướng
mắc vào phóng đãng, phóng khí, tự nhiên, nhác, nhát, thoái
chuyển, lệch hướng. Phi thì làm cho tâm trí và tâm hồn rỗng
thông như không gian mà phong phú như hoa lá. Mình với cuộc
đời phi tức mà cũng phi ly, siêu nhiên cũng như tục lụy
đều không vướng mắc.
Loài
cọp cũng như loài mèo, khi bị ném lên trong không thì có cái
khả năng chuyển mình để rơi xuống vẫn chạm đất bằng
bốn chân. Chúng không thương tổn hay phải chết vì sự rơi
xuống, dầu rơi xuống từ cao. Thiền tông lấy hình ảnh này
làm một bài học cho con người rơi vào cuộc đời này. Bài
học quan trọng ở chỗ ta có chuyển mình được như cọp
với mèo hay không. Chữ Phi là sự chuyển mình ấy.
10.
Vị trí của Kim cương
Sự
phát tâm và sự niết bàn của Kim cương vừa nói trên đây
cho thấy đại thừa không đặt sự tồn tại của chánh pháp
ngoài sự lợi ích của cuộc đời, không đặt sự toàn giác
ngoài sự độ sinh. Do vậy, đại thừa thích ứng mọi xã
hội. Nhưng nội cách nói sở ngôn, tức phi và thị danh mà
thôi, Kim cương đã cho thấy đại thừa thích ứng như thế
nào. Ðại thừa không như phàm phu và tiểu thừa thấy A vì
A là A : thấy có hay thấy không đều thấy theo cái ngã bản
năng - Và chính vì thế mà tai họa cho cuộc đời, chính vì
thế mà lý tưởng vị tha cũng thành ra đỉnh cao vị kỷ.
Ðại thừa thấy vì A là phi-A nên mới là A : biến mọi hoạt
động của bản năng thành mọi hoạt dụng của đại thừa.
Thích ứng như vậy là Bát nhã của Kim cương được hoạt
dụng vào sự thích ứng. Thì sự thích ứng không những có,
mà còn có một cách hoạt bát chứ không phải tha hóa, không
phải tục hóa. Khả năng này được đặt thành vấn đề,
và là vấn đề chính yếu, thì đại thừa và Kim cương của
đại thừa phải được quan tâm nghiêm chỉnh.