Phần
tụng niệm
Kính
lạy đức Thích ca mâu ni thế tôn, cùng hết thảy Phật bảo.
Kính
lạy kinh Kim cương bát nhã ba la mật, cùng hết thảy Pháp
bảo.
Kính
lạy tôn giả Thiện hiện, cùng hết thảy Tăng bảo.
Kinh Kim Cương Bát
Nhã Ba La Mật
(1)
(1-8)
Tôi nghe như vầy :
Một
thời Thế tôn
ở
nước Xá vệ,
trong
khu lâm viên
Chiến
thắng Thiện thí,
cùng
với một ngàn
hai
trăm năm chục
vị
đại tỷ kheo.
(2)
(9-22)
Vào lúc bấy giờ
gần
đến giờ ăn,
nên
đức Thế tôn
sửa
y, cầm bát,
đi
vào khất thực
trong
thành Xá vệ.
Tuần
tự khất thực
trong
thành này rồi,
Ngài
về chỗ ở
ăn
uống xong xuôi,
thu
dọn y bát,
rửa
sạch hai chân
và
trải đồ lót
lót
chỗ mà ngồi.
(3)
(23-48)
Lúc ấy Thiện hiện,
một
vị trưởng lão,
cũng
có ở trong
các
đại tỷ kheo.
Từ
chỗ mình ngồi,
trưởng
lão đứng dậy,
vắt
một vạt y,
để
trần vai phải,
đầu
gối bên phải
quì
xuống chấm đất,
hai
tay chắp lại
cung
kính mà thưa :
kính
bạch Thế tôn,
Ngài
thật hiếm có ;
Ngài
khéo nâng đỡ
cho
các Bồ tát,
lại
khéo giao phó
cho
các Bồ tát.
Kính
bạch Thế tôn,
thiện
nam thiện nữ
đã
phát tâm nguyện
vô
thượng bồ đề,
thì
phải làm sao
để
ở tâm ấy ?
Và
phải làm sao
để
sửa tâm mình ?
(4)
(49-70)
Ðức Thế tôn dạy :
tốt
lắm Thiện hiện ;
thật
đúng như lời
trưởng
lão đã nói,
Như
lai rất khéo
nâng
đỡ Bồ tát,
Như
lai rất khéo
giao
phó Bồ tát.
Do
vậy, trưởng lão,
hãy
nghe cho kỹ,
Như
lai sẽ nói
cho
các vị biết
thiện
nam thiện nữ
phát
tâm bồ đề
thì
bằng cách nào
trú
ở tâm ấy,
và
bằng cách nào
sửa
chữa tâm mình.
Trưởng
lão thưa rằng,
dạ,
bạch Thế tôn,
chúng
con ước muốn
được
nghe Ngài dạy.
(5)
(71-102)
Trưởng lão Thiện hiện
Bồ
tát thì phải
sửa
chữa tâm mình
bằng
tuệ giác này :
Bao
nhiêu chúng sinh
hoặc
sinh bằng trứng,
hoặc
sinh bằng thai,
sinh
bằng ẩm thấp,
sinh
bằng biến hóa,
hoặc
có hình sắc
hoặc
không hình sắc,
hoặc
có tư tưởng,
hoặc
không tư tưởng,
có
không tư tưởng,
ta
làm hết thảy
đều
được nhập vào
niết
bàn hoàn toàn
mà
giải thoát cả.
Làm
cho vô lượng
vô
số chúng sinh
niết
bàn như vậy,
mà
thật không thấy
có
chúng sinh nào
được
niết bàn cả.
Tại
sao như vậy ?
trưởng
lão Thiện hiện,
vì
nếu Bồ tát
mà
vẫn còn có
ý
tưởng ngã, nhân,
chúng
sinh, thọ giả
thì
Bồ tát ấy
không
phải Bồ tát.
(6)
(103-144)
Trưởng lão Thiện hiện
đối
với các pháp,
Bồ
tát không nên
trú
ở đâu cả
mà
làm bố thí :
không
ở nơi sắc
mà
làm bố thí,
không
ở nơi thanh
hương,
vị, xúc, pháp,
mà
làm bố thí.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát hãy nên
bố
thí như thế :
không
ở đâu cả.
Tại
sao như vậy,
vì
nếu Bồ tát
không
ở đâu cả
mà
làm bố thí
thì
được phước đức
không
thể lường được.
Trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
không
gian hướng đông
có
lường được không ?
Không,
bạch Thế tôn.
Trưởng
lão Thiện hiện,
không
gian hướng nam,
hướng
tây hướng bắc,
và
cả bốn góc,
cả
trên cả dưới,
có
lường được không ?
Càng
không, bạch Ngài.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát bố thí
mà
không ở đâu
thì
được phước đức
cũng
y như thế
không
thể lường được.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát chỉ nên
trú
ở theo lời
Như
lai dạy đây.
(7)
(145-164)
Trưởng lão Thiện hiện
ông
nghĩ thế nào,
đối
với Như lai,
có
thể hay không
thấy
bằng đặc tướng ?
Không,
bạch Thế tôn,
không
thể thấy Ngài
bằng
các đặc tướng ;
tại
sao như vậy,
vì
theo Ngài dạy
thì
các đặc tướng
là
phi đặc tướng.
Ðức
Thế tôn bảo
trưởng
lão Thiện hiện,
hễ
có đặc tướng
thì
đặc tướng ấy
toàn
là giả dối,
nếu
thấy đặc tướng
là
phi đặc tướng
thì
thấy Như lai.
(8)
(165-234)
Trưởng lão Thiện hiện ;
bạch
đức Thế tôn,
có
thể có ai
nghe
pháp thoại này
mà
sinh đức tin
đúng
chân lý không ?
Ðức
Thế tôn dạy,
đừng
hỏi như vậy,
trưởng
lão Thiện hiện ;
sau
khi Như lai
nhập
niết bàn rồi,
năm
trăm năm sau,
có
ai giữ giới,
làm
phước, tu tuệ,
thì
với pháp thoại
như
thế này đây,
có
thể tin tưởng
đúng
với chân lý.
Trưởng
lão phải biết
những
người như vậy
không
chỉ gieo trồng
gốc
rễ điều lành
nơi
một đức Phật,
nơi
hai đức Phật,
nơi
ba bốn năm
đức
Phật mà thôi,
mà
đã gieo trồng
gốc
rễ điều lành
ở
nơi vô số
ngàn
vạn đức Phật.
Những
người như vậy
mà
được nghe đến
pháp
thoại thế này
thì
dầu đến nỗi
chỉ
một ý niệm
tin
tưởng trong sáng,
Như
lai cũng vẫn
biết
và thấy rõ
họ
thực hiện được
vô
lượng phước đức.
Tại
sao như vậy,
vì
những người này
không
còn có nữa
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả,
không
còn có nữa
ý
tưởng về pháp
và
về phi pháp.
Nếu
những người này
còn
có ý tưởng
là
còn ngã nhân
chúng
sinh thọ giả,
còn
ý tưởng pháp
là
còn ngã nhân,
chúng
sinh thọ giả,
còn
tưởng phi pháp
là
còn ngã nhân
chúng
sinh thọ giả.
Vì
lý do ấy,
đừng
nắm lấy pháp,
lại
càng đừng nên
nắm
lấy phi pháp.
Do
ý nghĩa này
Như
lai thường nói,
các
vị Tỷ kheo
hãy
nhận thức rằng
pháp
Như lai nói
tựa
như chiếc bè :
pháp
còn phải bỏ,
huống
chi phi pháp ?
(9)
(235-262)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
phải
chăng Như lai
được
vô thượng giác ?
phải
chăng Như lai
có
sự thuyết pháp ?
Trưởng
lão thưa rằng
kính
bạch Thế tôn,
theo
con hiểu biết
ý
của Ngài nói,
thì
không thể có
một
pháp khẳng định
để
được mệnh danh
là
vô thượng giác,
cũng
không thể có
một
pháp khẳng định
để
được gọi là
Thế
tôn thuyết pháp.
Tại
sao như vậy,
vì
Pháp Ngài nói
không
thể nắm lấy
không
thể diễn tả,
không
phải là pháp
không
phải phi pháp
lý
do là vì
hết
thảy hiền thánh
toàn
do Vô vi
biểu
hiện khác biệt.
(10)
(263-300)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
có
ai đem cho
đủ
hết bảy loại
vàng
ngọc chất đầy
đại
thiên thế giới,
thì
người cho ấy
được
phước nhiều không ?
rất
nhiều, bạch Ngài ;
vì
phước đức ấy
Ngài
đã nói là
tính
phi phước đức,
thế
nên Ngài nói
phước
đức rất nhiều.
Trưởng
lão Thiện hiện,
nhưng
nếu có ai
từ
pháp thoại này
tiếp
nhận ghi nhớ
dầu
là chỉ được
chỉnh
cú bốn câu,
và
biết đem nói
cho
bao người khác,
thì
phước người ấy
vẫn
hơn người trước.
Tại
sao như vậy,
vì
lẽ, trưởng lão,
hết
thảy Phật đà
cùng
với Phật pháp
-
Pháp vô thượng giác
của
các Phật đà -
toàn
là xuất ra
từ
pháp thoại này.
Trưởng
lão Thiện hiện,
gọi
là Phật pháp
thì
Như lai nói
là
phi Phật pháp,
thế
nên Như lai
nói
là Phật pháp.
(11)
(301-392)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
vị
Tu đà hoàn
có
ý nghĩ rằng
ta
được đạo quả
Tu
đà hoàn chăng ?
Trưởng
lão thưa Ngài
không,
bạch Thế tôn ;
tại
sao như vậy,
vì
Tu đà hoàn
là
Vào dòng nước,
thế
nhưng thật ra
không
có cái gì
nhập
vào đâu cả :
không
nhập sắc thanh,
hương,
vị, xúc, pháp,
nên
được mệnh danh
là
Tu đà hoàn.
Trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
vị
Tư đà hàm
có
ý nghĩ rằng
ta
được đạo quả
Tư
đà hàm chăng ?
Trưởng
lão thưa Ngài
không,
bạch Thế tôn ;
tại
sao như vậy,
vì
Tư đà hàm
là
Một trở lại,
thế
nhưng thật ra
không
có cái gì
một
lần trở lại,
nên
được mệnh danh
là
Tư đà hàm.
Trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
vị
A na hàm
có
ý nghĩ rằng
ta
được đạo quả
A
na hàm chăng ?
Trưởng
lão thưa Ngài,
không,
bạch Thế tôn ;
tại
sao như vậy,
vì
A na hàm
là
Không trở lại,
thế
nhưng thật ra
không
có cái gì
không
còn trở lại,
nên
được mệnh danh
là
A na hàm.
Trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
vị
A la hán
có
ý nghĩ rằng
ta
được đạo quả
A
la hán chăng ?
Trưởng
lão thưa Ngài,
không,
bạch Thế tôn ;
tại
sao như vậy,
vì
lẽ thật ra
không
có cái gì
là
A la hán,
nên
được mệnh danh
là
A la hán.
Kính
bạch Thế tôn,
nếu
vị La hán
nghĩ
rằng mình được
đạo
quả La hán,
thì
như thế là
chấp
trước ngã nhân,
chấp
trước chúng sinh,
chấp
trước thọ giả.
Bạch
Ngài, Ngài nói
trong
số những người
được
định Không cãi,
con
là hơn hết,
con
là La hán
ly
dục bậc nhất ;
nhưng
con không có
ý
nghĩ mình là
một
vị La hán
ly
dục bậc nhất.
Nếu
con còn nghĩ
mình
là La hán,
thì
Ngài không nói
Thiện
hiện là người
thích
thú làm theo
chánh
định Không cãi ;
vì
con không còn
làm
theo gì cả,
nên
Ngài nói con
theo
định Không cãi.
(12)
(393-402)
Ðức Thế tôn bảo
trưởng
lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
Như
lai xưa kia
nơi
đức Nhiên đăng,
được
pháp gì chăng ?
Không,
bạch Thế tôn ;
nơi
đức Nhiên đăng,
thực
sự Thế tôn
không
được pháp gì.
(13)
(403-426)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
phải
chăng Bồ tát
trang
hoàng cõi Phật ?
Không,
bạch Thế tôn ;
lý
do là vì
trang
hoàng cõi Phật,
sự
trang hoàng ấy
Thế
tôn đã nói
là
phi trang hoàng,
thế
nên Ngài nói
đó
là trang hoàng.
Do
vậy, trưởng lão,
Bồ
tát đại sĩ
hãy
sinh cái tâm
trong
sạch như vầy :
không
ở nơi sắc
mà
sinh tâm ra,
không
ở nơi thanh,
hương,
vị, xúc, pháp,
mà
sinh tâm ra ;
hãy
đừng ở vào
bất
cứ chỗ nào
mà
sinh tâm ra.
(14)
(427-438)
Trưởng lão Thiện hiện,
ví
dụ có người
thân
thể cao lớn
như
núi Tu di,
ông
nghĩ thế nào,
thân
ấy lớn không ?
rất
lớn, bạch Ngài ;
tại
sao, bởi vì
Ngài
nói thân lớn
là
phi thân lớn,
thế
nên Ngài nói
đó
là thân lớn.
(15)
(439-506)
Trưởng lão Thiện hiện,
giả
thiết sông Hằng
có
bao nhiêu cát,
thì
mỗi hạt cát,
là
một sông Hằng,
ông
nghĩ thế nào,
số
cát tất cả
sông
Hằng như vậy
nhiều
hay không nhiều ?
rất
nhiều, bạch Ngài ;
số
lượng sông Hằng
đã
là vô số,
huống
chi số cát
những
sông Hằng ấy.
Trưởng
lão Thiện hiện,
với
lời nói thật,
Như
lai hôm nay
nói
với trưởng lão :
giả
sử thiện nam
hay
thiện nữ nào
đem
hết bảy loại
vàng
ngọc chất đầy
thế
giới đại thiên
nhiều
như số cát
những
sông Hằng ấy
mà
làm bố thí,
thì
phước họ được
là
nhiều hay ít ?
Trưởng
lão kính thưa,
rất
nhiều, bạch Ngài.
Trưởng
lão Thiện hiện,
nếu
có thiện nam
hay
thiện nữ khác
với
pháp thoại này,
tiếp
nhận ghi nhớ
dầu
chỉ bốn câu,
và
biết đem nói
cho
bao người khác,
thì
phước người này
hơn
phước người trước.
Thêm
nữa, trưởng lão,
chỗ
nào giảng dạy
pháp
thoại như vầy,
dầu
chỉ bốn câu,
trưởng
lão cũng phải
nhận
thức chỗ ấy,
tất
cả thế giới
chư
thiên nhân loại
và
a tu la
đều
nên hiến cúng
chùa
tháp Như lai.
Huống
chi có người
tiếp
nhận ghi nhớ,
đọc
xét văn nghĩa,
tụng
được thuộc lòng,
giảng
nói cho người
trọn
pháp thoại này ;
trưởng
lão phải biết
người
ấy đạt được
cái
pháp tối thượng
hiếm
có bậc nhất,
và
những địa điểm
người
ấy giảng dạy
pháp
thoại như vầy
là
có Như lai
hay
có các vị
đệ
tử cao trọng.
(16)
(507-532)
Vào lúc bấy giờ
trưởng
lão Thiện hiện
bạch
đức Thế tôn,
pháp
thoại như vầy
nên
gọi tên gì ?
chúng
con cần phải
ghi
nhớ thế nào ?
Ðức
Thế tôn dạy,
trưởng
lão Thiện hiện,
pháp
thoại như vầy
nên
gọi tên là
Kim
cương bát nhã
ba
la mật đa,
trưởng
lão hãy nhớ
pháp
thoại như vầy
qua
danh hiệu ấy.
Tại
sao như vậy,
trưởng
lão Thiện hiện,
bởi
vì bát nhã
ba
la mật đa
thì
Như lai nói
là
phi bát nhã
ba
la mật đa,
thế
nên Như lai
nói
là bát nhã
ba
la mật đa.
(17)
(533-540)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
Như
lai có sự
thuyết
pháp hay không ?
Trưởng
lão thưa Ngài,
không,
bạch Thế tôn,
Thế
tôn không có
thuyết
pháp gì cả.
(18)
(541-558)
Trưởng lão Thiện hiện,
ông
nghĩ thế nào,
thế
giới đại thiên
có
bao vi trần,
số
lượng nhiều không ?
rất
nhiều, bạch Ngài.
Trưởng
lão Thiện hiện,
những
vi trần ấy,
Như
lai nói chúng
là
phi vi trần,
thế
nên Như lai
nói
là vi trần.
Và
bao thế giới,
Như
lai cũng nói
những
thế giới ấy
là
phi thế giới,
thế
nên Như lai
nói
là thế giới.
(19)
(559-572)
Trưởng lão Thiện hiện
trong
ý của ông
ông
nghĩ thế nào,
có
thể hay không
nhìn
thấy Như lai
bằng
ba mươi hai
đặc
tướng siêu nhân ?
Không,
bạch Thế tôn ;
tại
sao như vậy,
vì
các đặc tướng
thì
Thế tôn nói
là
phi đặc tướng,
thế
nên Thế tôn
nói
là đặc tướng.
(20)
(573-586)
Trưởng lão Thiện hiện,
nếu
có thiện nam
hay
thiện nữ nào
đem
thân mạng mình
bằng
cát sông Hằng
mà
bố thí cả,
và
có người khác
với
pháp thoại này
tiếp
nhận ghi nhớ
dầu
chỉ bốn câu,
và
đem giảng nói
cho
bao người khác,
thì
phước người này
quá
nhiều hơn nữa.
(21)
(587-662)
Vào lúc bấy giờ
trưởng
lão Thiện hiện,
nghe
pháp thoại này
lĩnh
hội sâu xa,
lòng
đầy xúc cảm,
rơi
lụy mà khóc.
Trưởng
lão thưa rằng,
thật
quá hiếm có,
kính
bạch Thế tôn ;
Ngài
đã tuyên thuyết
pháp
thoại cực sâu.
Từ
khi có được
con
mắt tuệ giác
cho
đến ngày nay,
con
chưa nghe được
pháp
thoại như vầy.
Bạch
Ngài, có ai
nghe
pháp thoại này
tin
tưởng trong sáng
và
phát sinh được
cái
tuệ giác thật,
thì
biết người ấy
đạt
được công đức
hiếm
có bậc nhất.
Kính
bạch Thế tôn,
tuệ
giác thật ấy
thì
Ngài nói là
phi
tuệ giác thật,
thế
nên Ngài nói
là
tuệ giác thật.
Kính
bạch Thế tôn,
hôm
nay con được
nghe
pháp thoại này,
tin
tưởng lĩnh hội,
tiếp
nhận ghi nhớ,
thì
không khó mấy.
Nhưng
nếu tương lai,
năm
trăm năm sau
người
nào nghe được
pháp
thoại như vầy,
tin
tưởng, lĩnh hội,
tiếp
nhận, ghi nhớ,
mới
hiếm có nhất.
Tại
sao như vậy,
bởi
vì người ấy
thì
không còn có
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả Ố
Ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả
là
phi ý tưởng :
phi
mọi ý tưởng
thì
thế gọi là
chư
Phật như lai.
Ðức
Thế tôn dạy
trưởng
lão Thiện hiện,
thật
đúng như vậy :
nếu
có người này
được
nghe pháp thoại
Bát
nhã như vầy
mà
không kinh ngạc,
cũng
không sợ hãi,
thì
biết người ấy
cực
kỳ hiếm có.
Tại
sao, trưởng lão,
bởi
vì Bát nhã
chính
là tối thượng
ba
la mật đa,
và
Như lai nói
cái
pháp tối thượng
ba
la mật đa
là
phi tối thượng
ba
la mật đa,
thế
nên Như lai
nói
là tối thượng
ba
la mật đa.
(22)
(663-696)
Trưởng lão Thiện hiện,
cái
pháp nhẫn nhục
ba
la mật đa,
Như
lai cũng nói
là
phi nhẫn nhục
ba
la mật đa,
thế
nên Như lai
nói
là nhẫn nhục
ba
la mật đa.
Tại
sao trưởng lão,
vì
như xưa kia,
trong
khi Như lai
bị
Ca lị vương
cắt
thịt khắp nơi
tay
chân Như lai,
Như
lai không có
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả.
Nếu
lúc bấy giờ
Như
lai còn có
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả
thì
phải sinh ra
giận
dữ oán hận.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Như
lai lại nhớ
trong
thì quá khứ,
có
năm trăm đời
Như
lai đã làm
tiên
nhân Nhẫn nhục.
Vào
lúc bấy giờ,
Như
lai cũng không
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả.
(23)
(697-758)
Vì lý do ấy,
trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát thì phải
rời
mọi ý tưởng
mà
phát huy tâm
vô
thượng bồ đề ;
đừng
ở nơi sắc
mà
sinh tâm ra,
đừng
ở nơi thanh,
hương,
vị, xúc, pháp,
mà
sinh tâm ra.
Hãy
sinh cái tâm
không
ở đâu cả.
Nếu
tâm ở đâu
thì
chính như thế
là
phi trú ở.
Vì
lý do này,
Như
lai nói rằng
Bồ
tát thì phải
không
ở sắc, thanh,
hương,
vị, xúc, pháp,
mà
làm bố thí.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát thì vì
ích
lợi chúng sinh
một
cách khắp cả
mà
hãy bố thí
theo
cách như vậy.
Vì
Như lai nói
ý
tưởng chúng sinh
là
phi ý tưởng,
Như
lai cũng nói
hết
thảy chúng sinh
là
phi chúng sinh.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Như
lai là người
nói
phải, nói chắc,
nói
như sự thật,
nói
không lừa đảo,
nói
không mâu thuẫn.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Pháp
mà Như lai
đã
chứng ngộ được,
cái
Pháp như vậy
không
phải chắc chắn,
không
phải trống rỗng.
Trưởng
lão Thiện hiện,
Bồ
tát nếu tâm
ở
nơi mọi thứ
mà
làm bố thí,
thì
như một người
vào
trong bóng tối,
không
còn thấy được
một
thứ gì hết ;
Bồ
tát nếu tâm
không
ở mọi thứ
mà
làm bố thí,
thì
như một người
đã
có mắt sáng,
lại
có ánh sáng
mặt
trời soi rõ,
nên
thấy đủ cả.
(24)
(759-776)
Trưởng lão Thiện hiện,
trong
thì vị lai,
nếu
có thiện nam
hay
thiện nữ nào,
đối
với pháp thoại
Bát
nhã như vầy,
tiếp
nhận ghi nhớ,
đọc
xét văn nghĩa,
tụng
được thuộc lòng,
nói
cho người khác,
thì
thế là được
Như
lai sử dụng
tuệ
giác Như lai
mà
biết rất rõ,
và
thấy rất rõ,
rằng
người như vậy
ai
cũng đạt được
vô
lượng công đức.
(25)
(777-848)
Trưởng lão Thiện hiện,
nếu
có thiện nam
hay
thiện nữ nào
buổi
sáng đã đem
hằng
sa thân mạng
mà
bố thí cả,
buổi
trưa cũng đem
hằng
sa nhân mạng
mà
bố thí nữa,
buổi
chiều lại đem
hằng
sa nhân mạng
mà
bố thí luôn,
và
sự bố thí
thân
mạng như vậy
làm
đến trăm ngàn
vạn
ức thời kỳ ;
và
có người khác
nghe
pháp thoại này,
trong
lòng tin tưởng
chứ
không đối kháng,
thì
phước người này
hơn
phước người trước,
huống
chi có người
sao
chép ấn hành
tiếp
nhận ghi nhớ,
đọc
xét văn nghĩa,
tụng
được thuộc lòng,
nói
cho người khác.
Trưởng
lão Thiện hiện,
chính
yếu mà nói
thì
bài pháp thoại
Bát
nhã như vầy
có
những công đức
ngoài
tầm nghĩ bàn,
ước
lượng, đối chiếu,
siêu
việt giới hạn ;
Như
lai nói cho
những
người đi theo
giáo
pháp đại thừa,
nói
cho những người
đi
theo giáo pháp
đại
thừa tối thượng.
Ai
có năng lực
tiếp
nhận ghi nhớ,
đọc
xét văn nghĩa,
tụng
được thuộc lòng,
trình
bày phong phú
cho
bao người khác,
thì
chính Như lai
biết
rõ người ấy,
thấy
rõ người ấy,
đạt
được công đức
không
thể ước lượng,
không
thể đối chiếu,
không
có giới hạn,
ngoài
tầm nghĩ bàn.
Những
người như vậy
có
thể gánh vác
tuệ
giác vô thượng
của
ta, Như lai.
Tại
sao như thế,
trưởng
lão Thiện hiện,
bởi
vì những ai
ưa
pháp tiểu thừa,
vẫn
còn ngã nhân,
chúng
sinh thọ giả,
thì
với pháp này
không
thể lắng nghe,
tiếp
nhận ghi nhớ,
đọc
xét văn nghĩa,
tụng
được thuộc lòng,
nói
cho người khác.
(26)
(848-862)
Trưởng lão Thiện hiện,
bất
cứ chỗ nào,
hễ
có bản kinh
Kim
cương bát nhã,
thì
cả thế giới
chư
thiên, nhân loại
và
a tu la,
đều
nên hiến cúng.
Nên
biết chỗ ấy
chính
là chùa tháp
tôn
thờ Như lai ;
hãy
lạy, đi nhiễu,
tung
rãi các loại
bông
hoa, hương liệu.
(27)
(863-878)
Thêm nữa, trưởng lão,
bất
cứ thiện nam
hay
thiện nữ nào
học
hỏi ghi nhớ,
nghiên
cứu, tụng thuộc
kinh
Kim cương này
mà
bị khinh dễ,
thì
biết người ấy
tội
ác đời trước
đáng
sa chỗ dữ,
nhưng
vì đời này
bị
người khinh dễ
thì
tội ác đó
tiêu
tan hết cả,
người
ấy sẽ được
tuệ
giác vô thượng.
(28)
(879-934)
Trưởng lão Thiện hiện,
Như
lai nhớ lại
quá
khứ vô số
thời
kỳ vô số,
trước
khi Như lai
gặp
đức Nhiên đăng,
thì
đã gặp được
tám
trăm bốn ngàn
vạn
ức trăm triệu
chư
Phật như lai,
đối
với Ngài nào
Như
lai cũng đồng
thừa
sự hiến cúng
chứ
không bỏ qua.
Nhưng
nếu có ai
ở
trong thời kỳ
cuối
cùng sau này,
mà
có năng lực
học
hỏi, ghi nhớ,
nghiên
cứu tụng thuộc
bản
kinh Kim cương
bát
nhã này đây,
thì
bao công đức
người
ấy đạt được,
công
đức Như lai
phụng
sự chư Phật
không
bằng phần trăm,
phần
ngàn vạn ức,
đến
nỗi toán pháp
và
ví dụ nữa,
cũng
không bằng được
một
phần nào cả.
Trưởng
lão Thiện hiện,
nếu
có thiện nam
hay
thiện nữ nào
ở
trong thời kỳ
cuối
cùng sau này,
mà
có khả năng
tiếp
nhận, ghi nhớ,
nghiên
cứu, tụng thuộc
bản
kinh Kim cương
bát
nhã như vầy,
bao
nhiêu công đức
mà
họ đạt được,
nếu
Như lai nói
một
cách đầy đủ,
thì
tất có kẻ
nghe
mà nổi khùng,
bối
rối, hoài nghi,
không
thể tin được.
Trưởng
lão Thiện hiện,
phải
nhận thức rằng
ý
nghĩa Kim cương
không
thể nghĩ bàn,
hiệu
quả cũng vậy
không
thể nghĩ bàn.
(29)
(935-970)
Vào lúc bấy giờ
trưởng
lão Thiện hiện
kính
bạch Thế tôn,
thiện
nam thiện nữ
đã
phát tâm nguyện
vô
thượng bồ đề,
thì
phải làm sao
để
ở tâm ấy ?
và
phải làm sao
để
sửa tâm mình ?
Ðức
Thế tôn dạy,
trưởng
lão Thiện hiện,
thiện
nam thiện nữ
phát
tâm bồ đề,
thì
sửa tâm mình
bằng
tuệ giác này :
ta
phải làm cho
hết
thảy chúng sinh
được
niết bàn rồi
mà
thật không thấy
một
chúng sinh nào
được
niết bàn cả.
Lý
do là vì
Bồ
tát mà có
ý
tưởng ngã nhân
chúng
sinh thọ giả,
thì
như thế là
không
phải Bồ tát.