C2.
nói về đại dụng của danh hiệu, có 5 D
Ðại
dụng ấy đâu phải chỉ năm ba việc. Sau đây chỉ là nói
5 việc làm điển hình mà thôi.
D1.
diệt sự tham lẫn mà được sự bố thí
Lúc
ấy, đức Thế tôn lại bảo Mạn thù đồng tử, Mạn thù,
có những kẻ không nhận thức cái lẽ thiện ác, chỉ giữ
thói tham lẫn mà không biết bố thí và phước báo bố thí.
Ngu muội, không có trí tuệ, thiếu cả đức tin. Dồn chứa
tài sản vàng ngọc cho nhiều, nỗ lực mà giữ. Thấy người
xin đến, lòng họ không vui. Giả sử bất đắc dĩ mà bố
thí, thì lúc đó đau tiếc sâu xa như cắt thịt mình. Lại
còn lắm kẻ tham lẫn, dồn chứa tài sản, mà đối với bản
thân của họ, họ còn không hưởng dụng, huống chi có thể
đem cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ, người làm hay kẻ đến xin.
Những kẻ ấy, sinh mạng kết thúc ở đây thì sanh trong thế
giới quỉ đói hay súc vật. Nhưng xưa kia, khi ở trong loài
người, từng được thoáng nghe danh hiệu của đức Dược
sư lưu ly quang như lai, nên ngày nay, dẫu ở trong ác đạo,
vẫn thoáng nhớ danh hiệu của đức Như lai ấy, và ngay khi
nhớ thì chết ở ác đạo mà sanh lại loài người, được
sự nhớ đời trước nên sợ nỗi khổ ác đạo mà không
ham dục lạc, thích bố thí và ca tụng người bố thí. Có
gì cũng không tiếc. Dần dần tiếp theo, đầu mắt, tay chân,
máu thịt, và những bộ phận khác của cơ thể, còn có thể
đem cho người đến xin, huống chi những thứ tiền tài sản
vật khác.
Người
làm (tác sứ) : người làm việc cho mình, người của mình
sai sử. Ngay khi nhớ thì chết ở ác đạo mà sanh lại loài
người, được sự nhớ đời trước nên sợ nỗi khổ ác
đạo mà không ham dục lạc, thích bố thí và ca tiếng người
bố thí, đó là những hiệu quả tốt của sự nhớ lại danh
hiệu Phật. Ở trong ác đạo mà nhớ lại được danh hiệu
Phật mới khó. Nên chết liền ở ác đạo và nhớ đời trước
ở đó chính là phước báo. Rồi dần dần có gì cho nấy,
cho cả của ở trong là tư tưởng, sức lực, uy thế và cơ
thể, thì đó là hành bồ tát đạo và cũng là hiệu quả
của sự nhớ lại danh hiệu Phật.
D2.
diệt sự phạm tội mà được sự giữ giới
Mạn
thù, có kẻ dầu thọ giới pháp với Như lai mà lại phá giới
pháp ấy. Có kẻ không phá giới pháp mà phá qui tắc. Có kẻ
đối với giới pháp và qui tắc tuy được sự không phá hoại,
nhưng lại phá hoại chánh kiến. Có kẻ không phá hoại chánh
kiến mà bỏ phế đa văn, nên đối với nghĩa lý sâu xa của
kinh Phật nói không thể lý giải. Có kẻ tuy đa văn mà thượng
mạn : vì thượng mạn úp che tâm trí nên cho mình phải, bảo
người trái, ghét chê cả chánh pháp, làm bè đảng với ma.
Những kẻ ngu si như vậy tự mình đã làm theo tà kiến, lại
làm cho vô số người khác rơi xuống hố lớn nguy hiểm. Những
kẻ ấy đáng lý trôi lăn vô cùng trong địa ngục, súc sanh
và loài quỉ. Nhưng nếu được nghe danh hiệu của đức Dược
sư lưu ly quang như lai, thì bỏ ngay tánh ác tu các pháp lành,
và sẽ không sa vào các ác đạo. Giả sử có kẻ vẫn không
thể bỏ ngay tánh ác, tu các pháp lành, và phải sa vào ác
đạo đi nữa, thì nhờ uy lực đại nguyện của đúc Dược
sư lưu ly quang như lai mà làm cho họ thoáng nghe được danh
hiệu của ngài, sinh mạng kết thúc ở ác đạo, sanh lại
trong loài người, được chánh kiến, tinh tiến, và ý thích
khéo thuần hóa, nên thoát ly gia đình, đi đến phi gia đình,
ở trong pháp Như lai mà thọ giới, giữ giới, không có phạm
giới mà lại chánh kiến, đa văn, lý giải nghĩa lý cực kỳ
sâu xa mà lại viễn ly thượng mạn, không chê chánh pháp,
không làm bạn ma, dần dần tu hành các hạnh bồ tát và đầy
đủ một cách mau chóng.
Qui
tắc cũng là giới luật mà gồm hết các phần uy nghi và "kiền
độ", nói tóm, là mọi qui định về tất cả sự tổ chức
và sinh hoạt của hàng xuất gia. Thượng mạn = tăng thượng
mạn, là sự kiêu ngạo cho mình đã được pháp tăng thượng.
Ở đây là tự thị sự đa văn cho là đã thấu triệt. Ðáng
lý trôi lăn vô cùng, đáng lý, nguyên văn là ưng, nghĩa đen
: nên, phải, lẽ ra, đáng lý. Mà nói như vậy là gần như
nói định nghiệp. Vậy mà nghe (và trì) danh hiệu Phật thì
sự đáng lý ấy không còn nữa, chứn g tỏ diệu dụng của
danh hiệu Phật thật lớn và mạnh. Nhờ uy lực đại nguyện
của đức Dược sư lưu ly quang như lai mà làm cho họ thoáng
nghe được danh hiệu của ngài, nên chú ý văn và nghĩa của
câu "nhờ uy lực đại nguyện "... "Làm cho họ thoáng nghe"
(linh kỳ hiện tiền tạm văn), đủ thì phải dịch : làm cho
họ hiện tại thoáng nghe. Hiện tại đây là đang lúc sa vào
ác đạo. Ði đến phi gia đình (thú ư phi gia) thấy có người
dịch từ Paly là sống không gia đình. Làm bạn ma : làm bè
đảng với ma. Ma đây là ma vương.
D3.
diệt sự ganh ghét mà được sự giải thoát
Mạn
thù, có những kẻ tham lẫn ganh ghét, tán tụng bản thân,
công kích kẻ khác, nên sẽ sa vào ba ác đạo, nhiều lần
ngàn năm chịu mọi sự khổ sở khốc liệt. Chịu khổ sở
khốc liệt rồi, sinh mạng kết thúc ở đó mà đến
sanh trong loài người, thì làm trâu bò, lừa ngựa, lạc đà,
thường bị đánh đập, đói khát hành hạ, lại luôn luôn
mang nặng, chở nhiều, và đi theo đường phải đi ; hoặc
được làm người thì sinh nơi hèn hạ, làm tôi tớ người,
bị người sai sử, thường mất tự do. Nhưng nếu xưa kia,
khi còn làm người, từng nghe danh hiệu của đức thế tôn
Dược sư lưu ly quang như lai, thì do nhân lành ấy mà nay nhớ
lại, chí tâm qui y, nhờ thần lực của Ngài mà thoát hết
khổ sở, giác quan tinh nhuệ, trí tuệ đa văn, thường cầu
thắng pháp, thường gặp thiện hữu, đứt hẳn lưới ma,
đập vỏ vô minh, khô sông phiền não, giải thoát hết thảy
sinh lão bịnh tử, lo buồn khổ não.
Trâu
bò (ngưu), Hoa văn thì trâu bò gì cũng là ngưu, phân biệt
chăng là thủy ngưu hoàng ngưu mà thôi. Thắng pháp : chánh
pháp hơn hết.
D4.
diệt sự hại nhau mà được sự thương nhau
Mạn
thù, có những kẻ tính thích chống đối, ly gián, đấu tranh,
kiện tụng, gây bực tức và rối loạn cho bản thân và kẻ
khác. Ðem cả thân thể, lời nói và ý nghĩ mà tạo ra và
thêm lớn đủ thứ ác nghiệp. Gây mãi cho nhau những sự bất
lợi để mưu hại lẫn nhau. Cáo triệu những vị thần rừng
núi, cây cối mồ mả, giết sinh vật lấy máu huyết mà cúng
tế dạ xoa, la sát, viết tên người mình oán, làm hình và
ảnh của người ấy, đem chú thuật tàn ác mà thư, ếm phù
chú, dùng thuốc độc, chú quỉ khởi thi - dùng mọi cách
này mà làm đứt sinh mạng người ấy, làm chết thân họ.
Người ấy nếu được nghe danh hiệu của đức Dược sư
lưu ly quang như lai, thì mọi việc dữ trên không cách nào
hại được. Lại cùng kẻ kia, tất cả đôi bên đều nổi
dậy từ tâm đối với nhau, làm lợi ích an lạc mà không
còn ý thức thương tổn hay tâm lý ghét giận. Ðôi bên cùng
vui đẹp. Ðối với những thứ mình hưởng thụ, ai cũng thích
vừa đủ thì thôi, không muốn lấn nhau, chỉ làm lợi ích
cho nhau.
Gây
mãi cho nhau những sự bất lợi để mưu hại lẫn nhau... (triển
chuyển thường vi bất nhiêu ích sự, hỗ tương mưu hại)
cũng có thể dịch : gây mãi cho nhau những sự bất lợi, mưu
hại lẫn nhau, bằng cách... Dạ xoa (dược xoa = yaksha) một
loại quỉ ăn thịt người, mạnh, nhanh, khó lường, ở trên
mặt đất, trong không gian và trên chư thiên. La sát ( = raksasa)
tên chung các ác quỉ, ăn uống máu thịt loài người, phi trong
không hoặc đi trên đất, giống cái rất đẹp (và gọi là
raksasi).
Thuốc
độc (cổ đạo) : đồ độc luyện có thuật, với ác ý.
Chú quỉ khởi thi nghĩa là chú cho thây chết đứng dậy. Dùng
chú Vetala tụng mà chú cho thây chết đứng dậy, bảo đi giết
người, gọi là quỉ khởi thi (Phạn : krtya, Paly : kicca). Người
ấy nếu được nghe danh hiệu..., người ấy là "người mình
oán" ở trên, là người bị thù oán. Lại cùng kẻ kia...,
kẻ kia là kẻ thù oán, kẻ đã dùng mọi cách mà hại người
ở trên. Ðôi bên cùng vui đẹp (các các hoan duyệt) cũng có
thể dịch nôm na là ai nấy đều vui vẻ. Thích vừa đủ thì
thôi (hỷ túc = tri túc) dịch không thừa thì chỉ là thích
đủ.
D5.
được sanh Cực lạc hay các sự chuyển sanh khác
Mạn
thù, trong bốn chúng tỷ kheo, tỷ kheo ni, ưu bà tắc, ưu bà
di, và những thiện nam thiện nữ khác có đức tin thuần tịnh,
nếu ai có khả năng thọ trì Bát quan trai giới, bằng cách
hoặc cả năm hoặc ba tháng, thọ trì giới ấy. Rồi đem thiện
căn này nguyện sanh thế giới hệ Cực lạc ở phía tây, chỗ
A di đà phật, để được nghe chánh pháp của ngài, nhưng
chưa quyết định. Nếu nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược
sư lưu ly quang như lai, thì đến khi sinh mạng kết thúc, có
tám vị đại bồ tát danh hiệu Văn thù sư lợi bồ tát, Quan
thế âm bồ tát, Ðắc đại thế bồ tát, Vô tận ý bồ tát,
Bảo đàn hoa bồ tát, Dược vương bồ tát, Dược thượng
bồ tát và Di lạc bồ tát, tám vị đại bồ tát này lướt
không gian mà đến, chỉ đường cho người ấy. Tức thì người
ấy tự nhiên hóa sinh trong hoa sen bằng các thứ ngọc, và
đủ mọi màu sắc xen lẫn với nhau, của thế giới hệ Cực
lạc.
Cả
năm (nhất niên) : trọn một năm, mỗi năm. Cả năm thọ trì
Bát quan trai giới là mỗi tháng trong một năm thọ trì 6 ngày
: 8, 14, 15, 23, 29, 30 (tháng thiếu thì lui lại các ngày 28, 29).
Ba tháng là mỗi năm thọ trì Bát quan trai giới bằng cách
chay tịnh 3 tháng : giêng, năm và chín.
Danh
hiệu 8 vị đại bồ tát là trích bản dịch 1 (Chính 21/533d)
mà bổ túc. Danh hiệu ấy, Phạn tự như sau, trích tài liệu
9.
-
Manjushri,
-
Avalokitesvara,
-
Maha srhama prapta,
-
Akohayamati,
-
Pouh thang tha (Hoa văn),
-
Bhaishajyaraja,
-
Bhaisajyasamudgata,
-
Maitreya.
Ðoạn
này nói danh hiệu của đức Dược sư làm cho những người
nguyện sanh Cực lạc được quyết định sanh thế giới hệ
ấy. Ðoạn dưới đây nói danh hiệu của Ngài làm cho người
sanh lên cõi trời, hoặc làm cho người chuyển nữ thành nam
:
Cũng
có người nhờ sự ấy mà sanh lên cõi trời. Tuy sanh lên cõi
trời, nhưng thiện căn xưa cũng chưa cùng tận, và không còn
sanh lại tại các ác đạo. Mà sự sống lâu trên cõi trời
chấm hết thì sanh lại trong nhân gian. Bằng cách hoặc sanh
làm luân vương, thống nhiếp cả bốn đại châu, uy đức
tự tại, xây dựng vô lượng trăm ngàn chúng sanh vào mười
thiện nghiệp. Hoặc sanh vào dòng sát đế lợi, bà la môn,
cư sĩ, đại gia, nhiều tiền tài, lắm vàng ngọc, kho bồ
tràn đầy, thân hình và tướng mạo đều đẹp đẽ trang
nghiêm, bà con và bạn bè cùng đầy đủ, trí tuệ thông minh,
sức lực mạnh mẽ như đại lực sĩ. Nếu là phụ nữ mà
được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang
như lai, nhất tâm thọ trì, thì về sau không còn chịu lại
thân thể phụ nữ.
Sự
ấy và thiện căn xưa đều chỉ cho việc thọ trì Bát quan
trai giới cả năm hay ba tháng nói trên. Ðại gia : gia đình
thế tộc hoặc tôn xưng phụ nữ (đại gia = đại cô). Luân
vương = chuyển luân vương. Luân vương có 7 thứ quí báu,
nhưng quan trọng là bánh xe (luân). Luân vương có 4 : bánh vàng,
bánh bạc, bánh đồng, bánh sắt. Luân vương có bánh xe vàng
thì thống trị cả 4 đại châu : đông là Thắng thần châu,
nam là Thiệm bộ châu, tây là Ngưu hóa châu, bắc là Câu lô
châu. Các vị luân vương khác, bánh xe sắt chỉ thống trị
1 đại châu phía nam, bánh xe đồng chỉ thống trị 2
đại châu phía nam và phía tây, còn bánh xe bạc chỉ thống
trị 3 đại châu phía nam, phía tây và phía đông.
Mười
thiện nghiệp là đình chỉ 10 ác nghiệp :
Thân
không sát sanh,
không
trộm cướp,
không
dâm dục,
Miệng
không nói dối trá,
không
nói thêu dệt,
không
nói hai lưỡi,
không
nói thô ác,
Ý
không tham lam,
không
sân hận,
không
tà kiến,
C3.
nói về đại dụng của chú
Trọn
phần này trích bản dịch 5) (Chính 14/414g) mà bổ túc.
Mạn
thù, khi đức Dược sư lưu ly quang như lai thành tựu tuệ
giác vô thượng bồ đề, thì do năng lực đại nguyện xưa
mà quán sát chúng sanh bị mọi bịnh khổ, như những bịnh
gầy ốm, co quắp, tiêu khô, vàng nóng, hoặc bị trúng bùa
ếm, thuốc độc, hoặc chết non, chết ngang trái. Muốn làm
cho họ tiêu trừ những bịnh khổ ấy, sở cầu mãn nguyện,
nên bấy giờ đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai nhập
định danh hiệu Diệt trừ mọi khổ não của chúng sanh. Nhập
định ấy rồi, từ trong nhục kế phóng ra ánh sáng lớn.
Trong ánh sáng này diễn ra đà la ni vĩ đại sau đây : Nam mô,
Bạc già phạt dế, bệ sát xã lũ rô - bệ lưu ly bát lạt
bà - hát ra xà dã, đát tha yết đa dã, a ra hát đế, tam miệu
tam bột đà da, đát điệt tha : Án, bệ sát thệ, bệ sát
thệ - bệ sát xã - tam một yết đế, sa ha. Khi trong ánh sáng
diễn ra đà la ni vĩ đại ấy rồi, đại địa chấn động,
phóng ánh sáng lớn, hết thảy chúng sanh bịnh khổ tiêu trừ,
hưởng được cái vui yên ổn. Mạn thù, nếu thấy nam tử
hay nữ nhân, ai bị bịnh khổ, thì nên nhất tâm vì bịnh
nhân ấy mà luôn luôn tinh khiết, tắm rửa, súc miệng, rồi
đem thực phẩm, dược phẩm, hay nước không có trùng, trì
chú này một trăm lẻ tám biến, cho họ uống, ăn, thì bịnh
khổ họ có tiêu tan tất cả. Nếu có cần gì, chí tâm tụng
niệm thì cũng được như vậy, lại không bịnh, thêm tuổi
và sau khi sinh mạng kết thúc thì sanh thế giới hệ của đức
Dược sư lưu ly quang như lai, được sự không còn thoái chuyển
cho đến tuệ giác bồ đề. Vì vậy, Mạn thù, nếu có nam
tử nữ nhân nào đối với đức Dược sư lưu ly quang
như lai mà chí tâm, tha thiết, cung kính, cúng dường, thì hãy
thường trì chú này, đừng để phế bỏ, quên mất.
Trước
hết, đây là mấy chỗ cần âm thích. Thuốc độc (cô độc
= cô đạo) : coi lại trang 105. Chết ngang trái (hoạnh tử),
hoạnh là phi lý, bất trắc, dữ dội ; hoạnh tử là chết
không đáng, ngang trái, dữ dội hay bất trắc. Ðà la ni (dharani)
dịch tổng trì, có nghĩa nắm giữ toàn thể. Ở đây, đà
la ni là chú, 1 trong 4 đà la ni (văn, nghĩa, chú, nhẫn). Chú
mà gọi đà la ni, vì chú do thiền định phát khởi và tổng
trì vô lượng văn nghĩa, vô lượng công đức. Mật giáo còn
nói, đà la ni dịch là minh (đà la ni do ánh sáng của Phật
diễn ra) là chú (hiệu nghiệm như thần, diệt trừ tai họa)
là mật ngữ (không thể hiểu nổi) là chân ngôn (lời nói
chân thật của Phật). Luôn luôn tinh khiết, dịch luôn luôn
là vì có bản chép chữ thường vào đây. Nhưng tuồng như
không cần phải như vậy.
Trừ
trường hợp muốn như vậy.
Bây
giờ có 4 chi tiết quan trọng cần nói.
Chi
tiết thứ I, theo bản dịch 1 (Chính 21/536) thì tên 12 đại
tướng Dạ xoa và chú này đều do Cứu thoát bồ tát nói.
Xét văn ý xuất xứ trên, và văn ý của chú, thấy như vậy
có lý hơn.
Chi
tiết thứ 2, sau đây là Phạn tự của chú, trích tài liệu
9, phần Anh văn, trang 11 : Namo bhagavate bhaishajyaguru vaiduryaprabha
rajaya tathagataya arhate samyaksambuddhaya tadyatha. Om bhaishajye bhaishajye
bhaishajya samudgate svaha.
Chi
tiết thứ 3, Vạn 35/189a nói, Nam mô (namo) dịch qui y. Bạc
già phạt đế (bhaigavate) dịch thế tôn. Bệ sát xã lũ
rô (bhaishajyaguru) dịch Dược sư. Bệ lưu ly bát lạt bà -
hát ra xà dã (vaiduryaprabha-rajaya) dịch âm và nghĩa là lưu
ly quang. Ðát tha yết da dã (tathagataya) dịch như lai. A ra hát
đế (arhate) dịch ứng cúng. Tam miệu tam bột đà da (samyaksambuddhaya)
dịch chánh biến tri. Ðát diệt tha (tadyatha) dịch tức thuyết
chú viết. Liên lạc lại, có nghĩa : Qui kính đức thế tôn
Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh biến tri, nói
chú như sau. Từ chữ Án đến chữ sa ha mới là chú, mật
ngữ.
Chi
tiết thứ 4, tôi cắt
in ảnh nơi 2 trang phụ sau đây : a. nguyên Phạn tự cổ
của chú này (và 1 câu tiểu chú), cắt Vạn 35/196a ; b. nguyên
Phạn tự cổ, và một lối dịch âm khác, của chú này, cắt
Chính 19/21
C4.
nói về đại dụng của sự phụng trì, có 3 D
Ðại
dụng này cũng không phải chỉ năm ba việc. Sau đây chỉ là
nói điển hình mà thôi.
D1.
Phật dạy tổng quát và ngài Văn thù phát nguyện
Mạn
thù, nếu nam tử hay nữ nhân có đức tin thuần tịnh, được
nghe danh hiệu của đức Dược sư lưu ly quang như lai, ứng
cúng, chánh biến tri, nghe rồi trì niệm. Sáng sớm đánh răng,
tắm rửa, súc miệng sạch sẽ, đem các thứ hương hoa, trong
đó có hương đốt, hương xoa, và diễn tấu kỹ nhạc mà
cúng dường hình tượng của ngài. Ðối với kinh này, hoặc
tự chép, hoặc bảo người chép, nhất tâm thọ trì, nghe học
nghĩa lý. Ðối với pháp sư giảng giải kinh này, cũng nên
cúng dường, mọi đồ giúp sống thân thể mà mình có, hãy
cúng dường đầy đủ, đừng để vị ấy thiếu thốn. Như
vậy thì được chư Phật hộ niệm, sở cầu mãn nguyện,
cho đến thực hiện tuệ giác bồ đề.
Lời
này, cũng như trọn C3 ở trên, vẫn trích Chính 14/414d, nhưng
đã đổi những chữ "bảy đức Phật như trên" (như thượng
thất Phật) thành những chữ "đức Dược sư lưu ly quang"
(Dược sư lưu ly quang). Lời này chỉ tài liệu 4 (bản dịch
5) có.
Lời
này Phật dạy tổng quát về sự cúng dường hình tượng
đức Dược sư, cúng dường kinh Dược sư, và cúng dường
pháp sư giảng dạy kinh ấy. Ích lợi của sự cúng dường
như trên là được chư Phật hộ niệm. Hộ niệm : gia hộ,
tưởng nhớ, truyền cảm hứng. Ðược chư Phật hộ niệm
nên cầu gì được nấy, cho đến thực hiện tuệ giác bồ
đề (nghĩa là thành Phật). Tuệ giác bồ đề, chữ tuệ giác
là thêm cho dễ hiểu, thật ra chính bồ đề là tuệ giác.
Nhưng nói bồ đề chỉ là nói tắt A nậu đa la tam miệu tam
bồ đề.
Trong
lời trên, còn nên chú ý câu diễn tấu kỹ nhạc (tác chúng
kỹ nhạc). Cứ như chỗ tôi hiểu, thì tác chúng kỹ nhạc
có 2 nghĩa hẹp và rộng. Hẹp thì chỉ có nghĩa hòa tấu các
nhạc khí. Rộng thì có nghĩa biểu diễn các kỹ thuật, trong
đó có sự hòa tấu nhạc khí.
Lúc
ấy Mạn thù đồng tử bạch Phật, bạch đức Thế tôn, con
nguyện khi thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, thì
dùng mọi cách làm cho những thiện nam hay thiện nữ có đức
tin thanh tịnh được nghe danh hiệu của đức thế tôn Dược
sư lưu ly quang như lai. Cho đến trong lúc ngủ, con cũng đem
danh hiệu Ngài thức tỉnh thính giác của họ. Bạch đức
Thế tôn, đối với kinh này thì thọ trì đọc tụng hay tuyên
thuyết khai thị cho người, tự chép hay bảo người chép,
cung kính tôn trọng, đem hiến cúng những thứ hương hoa, hương
xoa, hương vụn, hương đốt, vòng hoa, chuỗi ngọc, tràng phan,
bảo cái, và kỹ thuật biểu diễn, trong đó có âm nhạc.
Lấy tơ lụa có năm màu sắc làm bao mà đựng. Quét rưới
chỗ thanh tịnh, trần thiết dá cao mà để. Thì khi ấy bốn
đại thiên vương, cùng tùy thuộc của họ, và vô số trăm
ngàn thiên chúng, đều đến chỗ đó mà cúng dường, hộ
vệ. Bạch đức Thế tôn, những chỗ kinh bảo này lưu hành,
có ai thọ trì được, thì vì bản nguyện, công đức, và
danh hiệu được nghe, của đức thế tôn Dược sư lưu ly
quang như lai, mà nên biết chỗ ấy không còn chết ngang trái,
không còn bị những quỉ thần ác đoạt mất tinh chất. Ðã
bị đoạt thì được lại như cũ, thân tâm an lạc.
Khi
thời kỳ Phật pháp tương tự xuất hiện, là khi tượng pháp
xuất hiện. Nhưng tra các bản dịch, câu này khác nhau như
sau : Bản dịch 1 "Phật khứ thế hậu' (Chính 21/533d), bản
dịch 3 "hậu thời" (Chính 14/403t) ; bản dịch 5 "mạt pháp"
(Chính 14/4 14d). Sở dĩ tôi quan tâm và tra kỹ, vì như trước
tôi đã nói, tôi không tin kinh này chỉ nói cho người tượng
pháp.
Dá
cao (cao tòa) tòa là cái dá, cái ghế hay bàn. Bốn đại thiên
vương : đông là Trì quốc (Dhritarastra), nam là Tăng trưởng
(Virudhaka), tây là Quảng mục (Virupaksa), bắc là Ða văn (Dhanada
hay Vaisramana) ; 4 vị này hộ vệ 4 đại châu loài người nên
gọi là 4 thiên vương hộ thế (hộ vệ thế gian). Tinh chất
(tinh khí), tài liệu 9 (Anh văn, trang 13) và Pđ 2511t đều có
ý nói là khí lực tinh thần của con người. Tôi cho chữ này
chỉ có nghĩa đen thông thường, nghĩa là nói về tinh khí
thật. Nhưng, để bớt thô, tôi đã đổi tinh khí ra tinh chất.
Còn muốn hiểu chữ tinh khí với nghĩa rộng thì như Pđ 349d
dẫn kinh Ðại tập 52 nói, tinh khí có 3, là của đất, của
chúng sanh và của pháp ; 3 thứ này được tăng trưởng bởi
sự dưỡng dục Phật pháp, xí nhiên Tam bảo chủng cho tồn
tại lâu dài ở thế gian.
D2.
Phật chỉ cách thức và nói ích lợi
Phật
dạy, Mạn thù, đúng như vậy, đúng như ông nói. Mạn thù,
nếu có thiện nam thiện nữ đức tin thuần tịnh, muốn cúng
dường đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì trước
hết, hãy tạo lập hình tượng của ngài, trần thiết tòa
thanh tịnh mà đặt để. Rãi các thứ hoa, đốt các thứ hương,
đem các thứ tràng phan mà trang hoàng chỗ ấy. Bảy ngày đêm
thọ Bát quan trai giới, ăn đồ ăn thanh tịnh. Tắm gội cho
sạch và thơm, mặc y phục sạch sẽ. Nên phát sanh tâm không
dơ bẩn, tâm không giận dữ tác hại. Nghĩa là đối với
hết thảy chúng sanh khởi lên cái tâm lợi ích an lạc, từ
bi hỷ xả và bình đẳng. Rồi tấu nhạc và ca tụng, nhiễu
quanh tượng phật Dược sư lưu ly quang như lai theo chiều hướng
bên phải. Lại nên tưởng niệm bản nguyện và công đức
của đức Như lai ấy, đọc tụng kinh này, tư duy nghĩa ý
và diễn giảng khai thị. Như vậy thì mọi sở cầu đều
toại ý : cầu sống lâu được sống lâu, cầu giàu có được
giàu có, cầu quan chức được quan chức, cầu con trai được
con trai, cầu con gái được con gái.
Cách
thức phụng thờ tượng và thọ trì kinh của đức Dược
sư mà đoạn này chỉ, ngoài hình thức cần có, còn có sự
thọ trì Bát quan trai giới, và khởi tâm từ bi lợi ích đối
với toàn thể. Như vậy có nghĩa mọi việc phải xuất từ
tâm lý vị tha. Còn lợi ích thực hiện được thì có 2 phần
: phần được phước (đoạn này nói) và phần khỏi nạn
(đoạn sau nói). Phần được phước thì phúc lộc thọ đủ
cả. Lại rất nên thêm sự cầu nguyện làm thành việc đáng
làm, "cầu làm thành việc gì thì làm thành việc ấy".
D3.
Phật nói ích lợi trong sự khỏi nạn
Nếu
ai bỗng nhiên bị ác mộng, thấy đủ cảnh tượng khủng
khiếp, hoặc bị những giống chim quái dị đến tập hợp
lại, hoặc chỗ ở có cả trăm sự quái dị xuất hiện, kẻ
ấy nếu đem những đồ tuyệt diệu cung kính cúng dường
đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, thì những ác
mộng và những cảnh tượng khủng khiếp, những sự không
cát tường, ẩn mất tất cả, không thể tác hại. Nếu ai
bị những sự hãi sợ như thủy tai, hỏa hoạn, khí giới,
độc chất, chơi vơi giữa chừng, sa xuống chỗ hiểm, voi
dữ, sư tử, cọp, sói, gấu, bi, rắn độc, bò cạp, rít,
sâu, muỗi, nhặng, mà chí tâm tưởng niệm được đức phật
Dược sư lưu ly quang như lai, cung kính cúng dường, thì mọi
sự hãi sợ đều thoát được cả. Nếu ai bị nước khác
xâm lăng, quấy nhiễu, nội bộ trộm cướp phản loạn, tưởng
niệm cung kính đức Như lai ấy, cũng thoát hết thảy.
Ðoạn
này khỏi 3 tai nạn : mọi sự quái dị, mọi sự hãi sợ và
quốc gia bất an. Sau đây có vài chỗ cần âm thích. Ðộc
chất (độc) cũng bao gồm độc khí. Sâu (do diên) - Thereuonema
tuberculata. Nước khác xâm lăng quấy nhiễu, không những đối
với lãnh thổ mà còn đối với chính trị, văn hóa và kinh
tế (TH 28/2372).