Tài liệu
Tài
liệu dùng để dịch giải kinh này gồm có :
1.
Phật thuyết quán đánh bạt trừ quá tội sanh tử đắc độ
kinh quyển đệ thập nhị (Chính 21/532-536) ;
2.
Phật thuyết Dược sư như lai bản nguyện kinh (Chính 14/401-404)
;
3.
Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh
(Chính 14/404-408) ;
4.
Dược sư lưu ly quang thất Phật bản nguyện công đức kinh
(Chính 14/409-418) ;
5.
Dược sư kinh cổ tích (Vạn 35/172-178) ;
6.
Dược sư kinh trực giải (Vạn 35/179-196) ;
7.
Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh giảng
ký (TH 28/2229-2408) ;
8.
Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh (bản
in riêng, của cơ quan Lưu thông sách Phật ở Hương cảng)
;
9.
Dược sư lưu ly quang như lai bản nguyện công đức kinh (Trung
Anh hợp san, của cơ quan Lưu thông sách Phật ở Hương cảng).
Ngoài
9 tài liệu trên đây, còn có Dược sư đăng diệm (Vạn 59/145-146)
và 10 bản Nghi quỹ (Chính 19/20 - 67). Ðiều đáng nói và đáng
tiếc là, theo Pđ 2838d, còn có tài liệu gọi là Dược sư
kinh sớ của ngài Khuy cơ (đệ tử ngài Huyền tráng). Tài
liệu này, nếu có, tất nhiên quan trọng bậc nhất. Nhưng
hiện trong Ðại tạng kinh bản Ðại chính tân tu và Tục tạng
kinh bản chữ Vạn đều không có.
Sau
đây là những điều cần biết :
A.
Kinh này trước sau có 5 bản dịch : bản dịch 1 là tài liệu
1, dịch giả Cát hữu, dịch quãng 317 ; bản dịch 2 là Dược
sư lưu ly quang kinh, dịch giả Tuệ giản, dịch quãng 457, bản
này thất lạc ; bản dịch 3 là tài liệu 2, dịch giả Pháp
hạnh, dịch năm 615 ; bản dịch 4 là tài liệu 3, dịch giả
Huyền tráng, dịch năm 650 ; bản dịch 5 là tài liệu 4, dịch
giả Nghĩa tịnh, dịch năm 707.
B.
Ðối chiếu đại khái về 4 bản dịch hiện còn trên đây
thì cần ghi ngay ở đây là 2 chỗ : (l) tên 8 vị bồ tát là
trích tài liệu 1 (Chính 21/533d) ; (2) chú là trích tài liệu
4 (Chính 14/414). Ðối chiếu này còn phải nói rõ hơn nơi mục
dịch giả dưới đây.
C.
Bản văn tôi dịch là tài liệu 8, đối chiếu với bản chính
là tài liệu 3 (bản dịch 4) và các tài liệu đã kê. Sự
đối chiếu này sẽ nói rõ trong lược giải. Sở dĩ tôi chọn
tài liệu 8 là vì bản này mới thường trì tụng.
Dịch
giả
Thời
đại nhà Ðường, Tam tạng pháp sư Huyền tráng dịch.
Niên
đại của ngài Huyền tráng là 569-664. Kinh này dịch vào lúc
ngài 55 tuổi, năm 650. Trên đây là tham khảo PHNC bài 18 trang
59-81. Bài này là bản niên phổ quí nhất của ngài Huyền
tráng.
Nhưng,
bản tài liệu 8 mà tôi căn cứ để dịch giải, đúng ra còn
phải kê thêm các dịch giả Cát hữu và Nghĩa tịnh. Vì lẽ,
như khoản B cần biết ở mục tài liệu trên đã nói, bản
này có bổ túc 2 chỗ là tên 8 vị bồ tát và chú. Việc bổ
túc ấy do ai thì tìm chưa thấy, nhưng chú thích số 11 và
số 13 của Chính 14/406 (tài liệu 3, bản chính) cho biết có
bản bổ túc như vậy. Sự bổ túc này đã lưu hành xưa nay.
Ðiều
phải nói hơn nữa, là cả 2 chỗ bổ túc trong tài liệu 1
đã có. Riêng về chú, tài liệu 1 không những có (Chính 21/536t)
mà nói có lý hơn cả tài liệu 4 (là nơi trích chú). Tài liệu
1 lại có trước nhất và sớm nhất, vào đầu thế kỷ 4
(317), còn tài liệu 4 có gần 4 thế kỷ sau (707). Vậy trích
2 chỗ nói trên mà bổ túc cho tài liệu chính (tài liệu 3,
có năm 650) là rất phải.
Mệnh
đề
Kinh
Bản nguyện công đức của đức Dược sư lưu ly quang như
lai.
Mệnh
đề này có nghĩa là bản kinh nói về bản nguyện và công
đức của đức Dược sư.
Bản
nguyện, bản, nghĩa đen là gốc, trước, của mình. Nguyện
là thề nguyền, chí nguyện. Cái nguyện gốc, trước và của
mình (đức Dược sư), gọi là bản nguyện.
Công
đức, ở đây, nghĩa giản dị nhất, công là công tu, đức
là được : hiệu quả đạt được bởi công năng tu tập,
gọi là công đức. Công đức ấy của đức Dược sư gồm
có :
-
Chánh báo y báo trang nghiêm, tức thân thể và vũ trụ trang
nghiêm của ngài ;
-
Danh hiệu của ngài ;
-
Những ích lợi (diệu dụng hay thần lực) mà ngài ban cho chúng
sanh, trong đó có sự tiêu tai diên thọ.
Trong
3 loại công đức trên đây, danh hiệu có khi được tách ra
mà nói danh hiệu, bản nguyện và công đức.
Dược
sư lưu ly quang như lai là danh hiệu đầy đủ của đức Dược
sư. Dược sư, Phạn tự là Bệ sát xã lũ rô (Bhaishajyaguru),
nghĩa đen : thầy thuốc chữa bịnh. Lưu ly quang là dịch
âm (lưu ly) và dịch nghĩa (quang) Phạn tự Bệ lưu ly bát lạt
bà - hát ra xà dã (Vaiduryaprabha-rajaya), nghĩa đen : ánh sáng
lưu ly. Lưu ly là dịch âm và gọi tắt tên một thứ ngọc
đá. Ngọc này trong ngoài trong suốt màu xanh, vật gì gần
nó cũng thành một màu ấy. Dược sư lưu ly quang như lai :
một đức Như lai có danh hiệu là Thầy thuốc chữa bịnh,
ánh sáng như ngọc lưu ly.
Cương
yếu
Kinh
này nội dung có 2 phần, là nói về bản nguyện và công đức
của đức Dược sư. Phần danh hiệu chỉ là phần công đức
tách ra.
Nhưng,
nói về một đức Phật thì không phải chỉ có bản nguyện
và công đức. Chỉ nói bản nguyện và công đức, vì đó
là 2 phần nhân và quả của một đức Phật. Nhưng, nhân và
quả của một đức Phật cũng không phải chỉ có bản nguyện
và công đức. Chỉ nói bản nguyện và công đức là vì nhiều
lý do, mà lý do quan trọng nhất là đề cao tha lực. Kinh này
nói tự lực (sự hành trì của ta) thì ít, nói tha lực (sự
gia hộ của Phật) mới nhiều. Mà nhân và quả của một đức
Phật thì bản nguyện và công đức là 2 phần vì chúng sanh
và cho chúng sanh, nên đặc biệt nêu lên.
Ðiều
phải chú ý hơn hết là, như vừa nói, kinh này đề cao tha
lực. Thật vậy, kinh này đề cao tha lực đến nỗi C5 trong
B3 cho biết, sự gia hộ của Phật là điều thuộc "thậm thâm
hành xứ" của Phật, điều của Phật làm và của Phật biết,
chỉ "nhất sanh bồ tát" là bồ tát chỉ một đời nữa làm
Phật mới tin và hiểu đúng như sự thực. Còn ngài A nan đi
nữa mà tiếp nhận được là do uy lực của Phật, huống
chi phàm phu chúng ta.
Lược
giải
Như
thường lệ, kinh này vẫn có 3 A : mở đầu, nội dung và kết
thúc.
A1
mở đầu
Tôi
nghe như vầy.
Một
thời, đức Thế tôn du hóa các nước, đến thành Quảng nghiêm,
dừng ở dưới cây Tiếng nhạc. Tám ngàn vị đại tỷ kheo,
ba vạn sáu ngàn vị đại bồ tát, và các quốc vương, đại
thần, đạo sĩ cư sĩ tám bộ thiên long, loài người
và loài không phải người, đại chúng vô lượng như vậy,
cung kính vây quanh đức Thế tôn để được ngài thuyết pháp
cho.
Tôi
nghe như vầy (như thị ngã văn), nghĩa là "toàn bộ pháp thoại
như thế này là do tôi nghe". Câu này cũng có thể dịch tôi
nghe như thế này, như vầy tôi nghe. Nhưng, như vầy là tiếng
thổ ngữ, bất đắc dĩ mới dùng.
Ðạo
sĩ (Bà la môn), Bà la môn đúng là giai cấp đạo sĩ, cũng
như Sát đế lợi đúng là giai cấp võ sĩ. Tám bộ thiên long
(thiên long bát bộ). Tám bộ là 8 loài : thiên, long, dạ xoa,
càn thát bà, a tu la, ca lầu la, khẩn na la, ma hầu la dà (Phạn
tự : deva, naga, yaksha, gandharva, asula, garuda, kimnara, mahoraga).
Tám bộ này, thiên và long là 2 loại mà đứng đầu, nên hay
nói "thiên long bát bộ". Nếu chép "thiên long dược xoa" thì
cũng nói 8 bộ mà chỉ kê ra 3 loại đầu. Riêng kinh này, nếu
chép "thiên long dược xoa" cũng có lý, vì C7 của B3, loại
dạ xoa liên hệ nhiều đến kinh này.
Lúc
ấy, Mạn thù pháp vương tử vâng theo uy thần của Phật,
từ chỗ ngồi đứng dậy, trần vai áo bên trái, gối bên
phải quì xuống sát đất, hướng về đức Phật, cong mình,
chắp tay mà thưa, bạch đức Thế tôn, con xin ngài nói về
tướng loại như thế này, đó là danh hiệu, bản nguyện vĩ
đại và công đức thù thắng của chư Phật, làm cho người
nghe tiêu trừ những sự chướng ngại do nghiệp lực tạo
ra. Là vì con muốn lợi lạc cho mọi người trong thời kỳ
Phật pháp tương tự xuất hiện. Ðức Thế tôn tán dương
Mạn thù đồng tử, lành thay Mạn thù, lành thay, ông đem lòng
thương rộng lớn thỉnh cầu Như lai nói về danh hiệu, bản
nguyện và công đức của chư phật dể cứu vớt những kẻ
bị nghiệp chướng buộc thắt, lợi lạc mọi người trong
thời kỳ Phật pháp tương tự. Ôâng hãy nghe kỹ, suy nghĩ
rất khéo, Như lai sẽ nói cho. Mạn thù bạch Phật, dạ, xin
Phật chỉ dạy, chúng con thích thú mà nghe.
Mạn
thù = Mạn thù thất lợi, Văn thù sư lợi, Văn thù : Manjushri.
Pháp vương tử : thái tử của đấng Pháp vương. Chỉ ngài
Mạn thù mới hay được gọi như vậy. Kinh này được hỏi
bởi ngài Mạn thù, còn kinh Di đà do Phật tự nói chứ không
ai hỏi được : hãy so sánh giữa 2 kinh, rồi so sánh giữa
2 kinh với các kinh, về sự mở đầu này mà thôi, cũng thấy
được giá trị kinh này.
Tướng
loại : sắc thái và bộ môn, tức danh hiệu, bản nguyện và
công đức của chư Phật. Cũng có thể đọc "tương loại",
nghĩa là tương tự : tương tự giữa chư Phật, về danh hiệu,
bản nguyện và công đức. Bản nguyện vĩ đại (bản đại
nguyện) đúng ra phải dịch là đại nguyện gốc, trước.
Thời kỳ Phật pháp tương tự (tượng pháp) Phật pháp có
3 thời kỳ. Trước thời kỳ này là thời kỳ Phật pháp nguyên
chất (chánh pháp) và sau thời kỳ này là thời kỳ Phật pháp
cuối cùng (mạt pháp). Nhưng tôi không tin kinh này chỉ nói
cho người thuộc thời kỳ Phật pháp tương tự. Nói người
thuộc thời kỳ này mới đa số tin và làm theo kinh này thì
có lý hơn. Ðoạn văn trên có 2 chỗ dùng chữ tượng pháp
(thời kỳ Phật pháp tương tự) là chỗ ngài Văn thù thỉnh
và chỗ Phật khen. Chỗ trước, bản dịch 1 cũng dùng chữ
tượng pháp (Chính 21/532g), bản dịch 3 dùng chữ lai thế chánh
pháp hoại thời (Chính 14/401g), bản dịch 5 cũng dùng chữ
tượng pháp (Chính 14/409t). Nhưng chỗ sau, bản dịch 1 chỉ
dùng chữ nhất thế vô lượng chúng sanh (Chính 21/532g), bản
dịch 3 chỉ dùng chữ chư thiên nhân (Chính 14/401g), bản dịch
5 chỉ dùng chữ vô lượng nghiệp chướng hữu tình (Chính
14/409g). Rất nên đối chiếu như vậy để thấy người mạt
pháp không phải vô phần đối với kinh này.
Ðồng
tử = kumara, nghĩa đen : trẻ thơ. Ở đây ý nghĩa là không
có ý niệm dâm dục như tâm hồn trẻ thơ.
A2
nội dung, có 3 B
Lời
thỉnh của ngài Văn thù và lời hứa của đức Thế tôn,
trong văn mở đầu, đều nói danh hiệu, bản nguyện và công
đức. Vậy nội dung kinh này nên chia ra 3 B : danh hiệu, bản
nguyện và công đức của đức Dược sư.
B1.
Danh hiệu
Phật
dạy Mạn thù, phía đông, cách thế giới hệ này bởi những
thế giới hệ bằng số cát hơn mười sông Hằng,
có một thế giới hệ tên Tịnh lưu ly. Ðức Phật ở đó
danh hiệu là Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng, chánh
biến tri, minh hạnh túc, thiện thệ, thế gian giải vô thượng
sĩ, điều ngự trượng phu, thiên nhân sư, phật : thế tôn.
Ðoạn
này vắn tắt nhưng nói được 3 điều : chánh báo trang
nghiêm của đức Dược sư, danh hiệu viên mãn của ngài, sau
hết, mở đầu tổng quát cho nội dung kinh này (là nội dung
nói về đức Dược sư). Tuy nói được đến 3 điều như
vậy, phần danh hiệu viên mãn vẫn là phần chính.
Trước
hết, thế giới hệ (thế giới) là chỉ cho đại thiên
thế giới, nên ngài Thái hư nói bằng với tinh vân hệ hay
tinh hải hệ của thiên văn (TH 28/2326)(40), do đó, phải dịch
là thế giới hệ mới đúng. Còn từ ngữ thế giới hay lầm
lẫn với địa cầu. Mà địa cầu chỉ là một trong rất
nhiều thành phần của tiểu thế giới(41). Ngàn tiểu thế
giới là tiểu thiên thế giới. Ngàn tiểu thiên thế
giới là trung thiên thế giới. Ngàn trung thiên thế giới mới
là đại thiên thế giới, có 1 tỷ tiểu thế giới (TH 28/2326).
Bây
giờ nói danh hiệu của đức Dược sư. Danh hiệu "Dược sư
lưu ly quang" đã cắt nghĩa. Nhưng, được gọi là một đức
Phật, phải là đấng có 10 công đức lớn, tiêu biểu bởi
10 đức hiệu (dầu 10 công đức và 10 đức hiệu cũng chỉ
nói tóm lược mà thôi). Mười đức hiệu, tài liệu chính
(Chính 14/405) chép : như lai, ứng, chánh đẳng giác, minh hạnh
viên mãn, thiện thệ, thế gian giải, vô thượng trượng phu,
điều ngự sĩ, thiên nhân sư, phật : bạc già phạn. Chép
như vậy thì có 3 điều cần chú ý.
Một,
10 đức hiệu, thông thường thì nguyên Phạn tự như sau :
1.
Tathagata,
2.
Arhat,
3.
Samyaksambuddha,
4.
Vidyacarana-sampanna,
5.
Sugata,
6.
Lokavid,
7.
Anuttara,
8.
Purusa-damya-sarathi,
9.
Sasta-deavamanusyanam,
10.
Buddha-lokanatha.
Dịch
nghĩa và chấm câu như sau :
1.
Như lai,
2.
Ứng cúng,
3.
Chánh biến tri,
4.
Minh hạnh túc,
5.
Thiện thệ,
6.
Thế gian giải,
7.
Vô thượng sĩ,
8.
Ðiều ngự trượng phu,
9.
Thiên nhân sư,
10.
Phật - thế tôn.
Nhưng
đức hiệu Thế tôn, nếu dịch âm là Phật đà - lộ ca na
tha, và nguyên Phạn tự là Buddha-lokanatha, thì Phật - thế
tôn là 1 đức hiệu, nếu dịch âm là Bạc già phạn, và nguyên
Phạn tự là Bhagavan, thì Thế tôn là đức hiệu riêng : đấng
có 10 đức hiệu nên tôn xưng là Thế tôn (Pđ 252t). Ở đây,
nguyên Hoa văn dịch âm là Bạc già phạn, thì Phạn tự là
Bhagavan, nên Thế tôn là đức hiệu riêng, và phải chấm câu
như đã chấm.
Hai,
có mấy chỗ dịch nghĩa cần lưu ý :
-
Ứng = ứng cúng ;
-
Chánh đẳng giác (chánh đẳng chánh giác) = Chánh biến tri
;
-
Minh hạnh viên mãn = Minh hạnh túc ;
-
Vô thượng trượng phu = Vô thượng sĩ ;
-
Ðiều ngự sĩ = Ðiều ngự trượng phu.
Ba,
10 đức hiệu này, quan trọng nhất là như lai, ứng cúng, chánh
biến tri, nên trong kinh này, và nhiều chỗ khác, có khi chỉ
nói 3 đức hiệu ấy.
B2.
Bản nguyện
Mạn
thù, đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, xưa kia, khi
làm hạnh bồ tát, đã phát ra mười hai đại nguyện, cốt
làm cho mọi người thực hiện mọi sự mong ước.
Ðại
nguyện thứ nhất, nguyện con sau này, khi được tuệ giác
vô thượng, thì bản thân ánh sáng rực rỡ, chiếu soi vô
số thế giới hệ. Thân ấy lại được trang hoàng bằng bâm
hai tướng tốt của bậc đại trượng phu, và tám mươi tướng
phụ. Lại làm cho mọi người không khác gì với con.
Ðại
nguyện thứ hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, thì thân như ngọc lưu ly, trong ngoài trong suốt, không
chút vẩn đục, ánh sáng to lớn và chiếu tỏa xa rộng. Công
đức đồ sộ, lại khéo an trú. Những tia sáng rực rỡ, dệt
nhau như mạng lưới, và tráng lệ quá hơn nhật nguyệt. Chúng
sanh tối tăm được soi sáng cả, nên tùy ý hướng mà làm
mọi sự nghiệp.
Ðại
nguyện thứ ba, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, thì vận dụng vô lượng trí tuệ và phương tiện,
làm cho mọi người cùng được vô tận những vật hưởng
dụng, không để cho ai có sự thiếu thốn.
Ðại
nguyện thứ tư, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, thì những kẻ đi theo tà đạo đều được làm cho
ở yên trong đạo giác ngộ, những người tu theo thanh văn
duyên giác đều được xây dựng bằng pháp đại thừa.
Ðại
nguyện thứ năm, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, thì vô số người tu hành phạn hạnh trong chánh pháp
của con, con làm cho tất cả được giới thể không thiếu
sót, trọn vẹn giới pháp ba loại. Giả sử phá phạm đi nữa,
nghe danh hiệu con rồi là phục hồi thanh tịnh, không rơi vào
đường dữ.
Ðại
nguyện thứ sáu, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, những kẻ thân hình thấp kém, giác quan không đủ,
xấu xí, u mê, mù điếc, câm ngọng, tay quắp, chân quẹo,
lưng gù phung lác, điên cuồng, đủ thứ bịnh khổ, nhưng
nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều đẹp đẽ, thông minh,
giác quan hoàn bị, hết mọi bịnh khổ.
Vạn
35/1 73a, dẫn kinh A tu la nói, Lưu ly quang bồ tát gặp Trí thắng
phật thì bắt đầu phát ra đại nguyện tổng quát, nơi Bảo
đảnh phật mới phát ra đại nguyện riêng biệt. Lại dẫn
kinh Thập phương chư Phật hiện tiền, nói, nơi Thanh long quang
phật phát ra 12 đại nguyện. Như vậy, văn từ 12 đại nguyện
chữ "ngã" phải dịch "con", vì là lời Bồ tát nguyện với
Phật.
Tuệ
giác vô thượng, nguyên Hoa văn ở đại nguyện 1 nói đủ
là A nậu đa la tam niệu tam bồ đề (Anuttara - samyaka - sambodhi),
ở 11 đại nguyện sau nói tắt là bồ đề. Ðó là tuệ giác
của Phật. Nói được tuệ giác ấy có nghĩa là nói thành
Phật. Lại khéo an trú (thân thiện an trú), chữ thân bỏ,
vì nó đã là chủ từ cả đoạn văn này. Khéo an trú : khéo
ngồi yên tịnh, khéo yên tịnh. Giới pháp ba loại (tam tụ
giới) = giới pháp bồ tát, cùng lúc phải đủ nhiếp luật
nghi (đoạn ác) nhiếp thiện pháp (tu thiện) nhiêu ích hữu
tình (lợi người). Nghe danh hiệu con rồi là nói tắt. Nói
đủ một chút thì "rồi, biết nhất tâm qui y, trì niệm, thì
nhờ năng lực phước đức và uy thần của con... "
Ðại
nguyện thứ bảy, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, những kẻ bị mọi thứ bịnh khổ hành hạ mà không
ai cứu giúp, không nơi nương tựa, không có y sĩ, không có
dược liệu, không có thân thuộc, không có nhà cửa, nghèo
nàn lắm khổ, thì danh hiệu của con, một khi đi qua thính
giác của họ, là bịnh khổ tan biến, thân tâm an lạc, nhà
cửa, thân thuộc và đồ dùng, đầy dủ tất cả, cho đến
thực hiện được tuệ giác vô thượng.
Ðại
nguyện thứ tám, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, nếu có nữ nhân nào bị hành hạ bởi cả trăm thứ
khổ sở của nữ nhân, nên cùng cực chán ngán, muốn thoát
thân ấy, thì nghe danh hiệu con rồi, tất cả đều chuyển
thân nữ nhân thành thân nam tử, đủ tướng trượng phu, cho
đến thực hiện được tuệ giác vô thượng.
Ðại
nguyện thứ chín, nguyện con sau này, khi được tuệ giác vô
thượng, thì làm cho mọi người thoát khỏi mạng lưới của
ma vương, cởi mở thắt buộc của ngoại dạo. Sa vào rừng
rậm ác kiến thì sẽ được dẫn ra, đem đặt vào chánh kiến,
và dần dần làm cho họ thực tập các hạnh bồ tát, để
thực hiện một cách mau chóng tuệ giác vô thượng.
Ðại
nguyện thứ mười, nguyện con sau này, khi được tuệ giác
vô thượng, thì những kẻ bị phép vua ghi sổ, xích trói
đánh khảo, giam nhốt lao ngục, sắp bị hành hình, cọng với
vô lượng tai nạn khổ nhục, bi thảm sầu muộn khác nữa,
ngâm nấu bức bách, làm cho cả cơ thể lẫn tâm trí đều
chịu thống khổ, nhưng nghe danh hiệu của con, thì vì năng
lực phước đức và uy thần của con mà họ thoát hết
mọi sự lo sợ khổ sở.
Ðại
nguyện mười một, nguyện con sau này, khi được tuệ giác
vô thượng, những kẻ bị đói khát hành hạ, vì cầu cái
ăn mà làm mọi ác nghiệp, nhưng nghe được danh hiệu của
con, nhất tâm thọ trì, thì trước hết con làm cho họ no đủ
cơ thể bằng thực phẩm tuyệt diệu, sau đó con sẽ đem cái
vui cứu cánh của pháp vị mà xây dựng cho họ.
Ðại
nguyện người hai, nguyện con sau này, khi được tuệ giác
vô thượng, những kẻ nghèo thiếu y phục, ngày đêm khổ
sở vì muỗi mòng lạnh nóng, nếu nghe danh hiệu của con mà
nhất tâm thọ trì, thì như sở thích của họ, họ được
liền những thứ y phục tuyệt diệu, lại được những đồ
trang sức bằng vàng ngọc. Hoa vòng, hương xoa, âm nhạc hòa
tấu và mọi kỹ thuật biểu diễn, tùy ý họ thích, con làm
cho đầy đủ tất cả.
Mạn
thù, dó là mười hai đại nguyện tối thượng, nhiệm mầu,
của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai, ứng cúng,
chánh biến tri, đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát.
Trong
đại nguyện thứ 7, nhà cửa thân thuộc (gia thuộc tư cụ),
tài liệu 9 (Anh văn, trang 4 dòng 11) dịch là gia tộc, bạn
bè. Cho đến thực hiện được tuệ giác vô thượng, câu
này, và những văn ý tương tự, có 2 điểm cần chú ý : (a)
chính sự sống và phương tiện để sống, đã được sau
khi trì niệm danh hiệu Phật, cũng là công cụ dẫn đến sự
thành Phật ; (b) chữ cho đến là nói tắt sự tu dần các
hạnh bồ tát. Pháp vị : mùi vị chánh pháp. Chánh pháp đem
lại hoan lạc thật, bền, và cho cả thân lẫn tâm, nên gọi
là pháp vị.
B3.
Công đức, có 7C
B3
này có 7C : 1. nói về y chánh trang nghiêm, 2. nói về đại
dụng của danh hiệu, 3. nói về đại dụng của chú, 4. nói
về đại dụng của sự phụng trì, 5. nói là chỗ hiểu biết
sâu xa của Phật(42), 6. nói cách tiêu tai diên thọ, 7. nói
sự hộ vệ của Dạ xoa. Tổng quát thì, bằng 7 cách nói,
C3 này nói về y chánh, danh hiệu và diệu dụng, là 3 đại
yếu công đức của đức Dược sư. Cũng nên nói thêm, công
đức ấy là của đại nguyện, do đại nguyện thành tựu.
C1.
nói về y chánh trang nghiêm
Nhưng
văn này chỉ nói y báo trang nghiêm của đức Dược sư. Mà
nói rất vắn tắt. Còn chánh báo trang nghiêm đã nói trong
B1.
Mạn
thù, những đại nguyện tối thượng của đức thế tôn Dược
sư lưu ly quang như lai đã lập ra khi còn làm hạnh bồ tát,
và những công đức trang nghiêm của thế giới hệ đức Phật
ấy, Như lai diễn tả trong một đại kiếp, hay hơn một đại
kiếp, cũng không thể cùng tận. Thế giới hệ của đức
Phật ấy hoàn toàn thanh tịnh, không có nữ nhân, không có
ác đạo, không có cả đến cái tiếng thống khổ. Ðất làm
bằng ngọc lưu ly. Ðường ngăn bằng giây vàng. Thành, cửa
thành, cung điện, lầu gác, mái hiên, cửa sổ, lưới giăng,
toàn bằng bảy thứ quí báu. Y như thế giới hệ Cực lạc
ở phía tây, công đức trang nghiêm không khác gì cả.
Ðại
kiếp (kiếp), kiếp này là đại kiếp. (TH 28/2326). Kiếp, Phạn
tự là kalpa, âm : kiếp ba, nghĩa : trường thời (thời kỳ
dài). Kiếp có tiểu, trung và đại. Sự sống con người từ
10 tuổi, cứ mỗi trăm năm tăng 1 tuổi, tăng đến 84.000 tuổi
gọi là 1 tăng. Sự sống con người từ 84.000 tuổi, cứ mỗi
trăm năm giảm 1 tuổi, giảm đến 10 tuổi gọi là 1 giảm.
Mỗi 1 tăng hay mỗi 1 giảm gọi là tiểu kiếp ; mỗi 1 tăng
và giảm gọi là trung kiếp (4 thời kỳ thành, trú, hoại,
không, mỗi thời kỳ có 20 trung kiếp) ; 4 thời kỳ (nghĩa
là 80 lần tăng và giảm) là 1 đại kiếp : đó là thuyết
Câu xá luận. Mỗi 1 tăng và giảm mới là tiểu kiếp ; 20
tiểu kiếp (20 lần tăng và giảm) mới là trung kiếp, 4 thời
kỳ thành, trú, hoại, không, mỗi thời kỳ có 1 trung kiếp,
4 thời kỳ (nghĩa là 80 lần tăng và giảm) là 1 đại kiếp
: đó là thuyết Trí độ luận. Cả 2 thuyết đồng nhau về
số lượng của đại kiếp.
Ðường
ngăn bằng giây vàng là chỉ hay lề đường bằng vàng. Lưới
giăng : kể cả các đường xoi hồi văn. Bảy thứ quí báu
: kinh Di đà nói là vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ xích châu,
mã não (suvarna, rupya, vaidurya, sphatika, musara galva, rohita-mukta,
asmagarbha).
Thế
giới hệ ấy có hai vị đại bồ tát, thứ nhất danh hiệu
Nhật quang biến chiếu, thứ hai danh hiệu Nguyệt quang biến
chiếu. Ðó là hai vị đứng đầu chúng bồ tát nhiều vô
số lượng của thế giới hệ ấy, thứ lớp kế vị thành
Phật, và cùng có khả năng nắm giữ kho tàng ngọc báu chánh
pháp của đức thế tôn Dược sư lưu ly quang như lai. Thế
nên, Mạn thù, những thiện nam hay thiện nữ có đức tin hãy
nguyện sanh thế giới hệ của đức Phật ấy.
Thứ
lớp kế vị thành Phật (thứ bổ Phật xứ), nghĩa đen : kế
tiếp bổ vào chỗ Phật. Thứ bổ Phật xứ cũng gọi tắt
là bổ xứ : bổ vào chỗ Phật. Lại hay thêm "nhất sanh bổ
xứ": một đời nữa là bổ vào chỗ Phật. Thêm bớt gì cũng
chỉ một nghĩa : vị bồ tát chỉ còn một đời nữa
là thành Phật, thay vào chỗ đức Phật của mình. Vị
bồ tát như vậy gọi là bổ xứ bồ tát. Vì còn hệ thuộc
một đời nên cũng gọi là nhất sanh sở hệ bồ tát. Như
bổ xứ bồ tát của đức Thích ca là đức Di lạc, của đức
Di đà là đức Quan âm, của đức Dược sư là đức Nhật
quang (và sau đó là đức Nguyệt quang).
Nguyện
sanh thế giới hệ của đức Phật ấy, chú ý : sanh, chứ
không phải vãng sanh. Nói vãng sanh chỉ để dễ hiểu. Mười
phương quốc độ đều duy Tâm sở hiện. Tâm uế thì sanh
uế độ, Tâm tịnh thì sanh tịnh độ. Sanh nghĩa là hiện
khởi, hiện hành.