Chương IV
Học
Thuyết Phân Kỳ
Và
Hệ Thống Phân Giáo
Học thuyết Phân kỳ và hệ
thống Phán giáo (của nền Phật học Trung
Hoa) có thể nói là một phương
pháp tiếp cận lịch sử-tư tưởng có hệ thống và rất
bao quát. Các giai đoạn trong lịch sử Phân kỳ và Phán giáo,
ở đó phần lớn các tư tưởng đã được hệ thống hóa
hoàn chỉnh. Một cách tương đối, nó giúp chúng ta nắm bắt
và xác định các học thuyết cơ bản của các giai đoạn
đáng chú ý trong tiến trình lịch sử tư tưởng triết học
Phật giáo. Vì lẽ đó, ngày nay khi nghiên cứu
Phật học, phần lớn đều
dựa vào phương pháp tiếp cận này.
I.- Học
Thuyết Phân Kỳ Và Lịch Sử Tư Tưởng
Một trong những học thuyết
Phân kỳ nỗi tiếng được các nhà Phật
học chuyên môn, đặc biệt
là về Tánh Không luận như T.R.V.Murti, Ed.Conze, J.May... đánh
giá rất cao, đó là học thuyết của Stcherbatsky, một nhà
luận lý học Phật giáo (49).Trong những trang đầu của tác
phẩm “Logic học Phật giáo”, cũng như trong quyển “The
Conception of Buddhist Nirvana” (Khái niệm về Niết bàn Phật
giáo), ông đã có những nhận định chính xác và toàn diện
về bối cảnh lịch sử-tư tưởng của Phật giáo tại Ấn
Độ. Và theo Stcherbatsky, lịch sử phát triển của Phật giáo
Ấn Độ có thể được chia thành 3 thời kỳ chính cộng với
một số tư tưởng trung tâm của môỡi thời kỳ. Các giai
đoạn của lịch sử được bắt đầu và kết thúc trong vòng
1.500 năm, kể từ 500 năm trước Tây lịch. Và môỡi 500 năm
là một thời kỳ, gổm có : sơ kỳ, trung kỳ và hậu kỳ.
1- Thời kỳ thứ nhất (500
năm tr.TL)
Sơ kỳ - Thời kỳ này, triết
học Phật giáo được gọi chung là “Đa
nguyên luận” - phủ định
về Ngã thể. Ở đây, khi nói đến từ Đa nguyên luận là
nhằm chỉ đến cách thức phân tích các “pháp” hiện hữu
trên cơ sở của 5 uẩn, 12 xứ và 18 giới. Và cũng trên cơ
sở của các uẩn, xứ, giới này, Phật giáo hoàn toàn phủ
nhận về Ngã thể bất biến - (Unreality of the Ego).
2- Thời kỳ thứ hai (500
năm sau TL)
Trung kỳ - Thời kỳ này, triết
học Phật giáo được gọi chung là
“Nhất nguyên luận” - phủ
định về pháp - pháp vô ngã (Unreality of the Elements of existence).
Triết gia xuất sắc trong thời kỳ này là Luận sư Long Thọ,
người xiển dương về tánh Không luận - tất cả pháp vốn
không có tự tính.
3- Thời kỳ thứ ba (500 năm
kế tiếp)
Hậu kỳ - Thời kỳ của “Quan
niệm luận”, do hai Luận sư Vô Trước
(Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu)
xiển dương triết học Duy thức - tất cả pháp đều được
xem như là sự biểu hiện của tâm thức, chúng không có tự
ngã, và do đó, sự hiện hữu của chúng là không thực (Unreality
of the External world).
Bảng 5 Học
Thuyết Phân Kỳ
Sơ kỳ(500 năm tr.TL)
| Dòng triết học |
Đa nguyên luận |
| "Nhân Không" |
phủ định Ngã thể (Ego) |
|
Trung kỳ(500 năm sau TL)
| Dòng triết học |
Nhất nguyên luận |
| "Pháp Không" |
phủ định về pháp - pháp
vô ngã |
|
|
Triết Gia đầu tiên - Luận
sư Long Thọ
|
Hậu kỳ(500 năm kế
tiếp)
| Dòng triết học |
Duy thức |
| Triết Gia Xuất Sắc |
Vô Trước và Thế Thân |
| Chủ Trương |
Tam giới duy thức |
(Tất cả pháp đều là
biệu hiện của Tàng Thức Alaya)
|
Trên cơ sở này, chúng ta thấy
được bối cảnh phân kỳ tư tưởng của Phật giáo Ấn Độ
khá rõ ràng. Tuy nhiên, giữa thời kỳ thứ hai (trung kỳ) và
thứ ba (hậu kỳ) còn có những mốc lịch sử tư tưởng quan
trọng, do đó Stcherbatsky tiếp tục phân chia thêm một bản
phân kỳ dành cho sự phát triển của tư tưởng Đại thừa
Phật giáo.
Bảng 6
| Thế Kỷ I - Hưng Khởi Của
Đại Thừa
Dòng triết học : A lại
da và Chân như Duyên khởi của Mã Minh
|
Thế Kỷ
II
Dòng triết học : Tánh Không,
Duyên khởi luận do Long Thọ và Đề Bà (còn gọi Thánh Thiên)
thành lập |
Thế Kỷ III & IV
Một khoảng trống |
Thế kỷ
V
Dòng triết học : Duy thức
luận (Vijnànavàda) của Vô Trước và Thế Thân |
Thế Kỷ VI
Sự phân hóa giữa phái
Duy thức và tánh Không - An Huệ (Sthiramati và Trần Na (Dingnàga)
đại diện cho phái Duy thức; Phật Hộ (Buddhapalita) và Thanh
Biện (Bhàvaviveka) đại diện cho phái Khôngluận |
Thế Kỷ
VII
Hệ thống Trung quán do Nguyệt
Xứng (Candrakirti) xiển dương và hoàn thành. |
Bảng phân kỳ (số 6)
trên, theo học giả J.Takakusu, trong “The Essentials of Buddhism
Philosophy” (50), khoảng trống của thế kỷ thứ III và thứ
IV, có thể điền vào bằng Kiên Huệ (Saramati) và Di Lạc (Maitreya).
Di Lạc và thầy trực tiếp hoặc gián tiếp dạy Duy thức
cho Vô Trước. Tuy nhiên, có lẽ do Di Lạc được truyền tụng
bởi quá nhiều huyền thoại - có thuyết nói Ngài là vị Bổ
Tát trên cung trời Đâu Suất, xuống trần gian dạy Duy thức
cho Vô Trước... - nên về mặt lịch sử, Stcherbatsky đã không
đề cập đến.
Từ các hệ thống phân kỳ
lịch sử trên, Giáo sư Takakusu đề xuất thêm một bảng phân
kỳ mới, khác hơn, bao gổm 4 thời kỳ : Thực tại luận,
Hư vô luận, Quan niệm luận và Phủ định luận.
Bảng 7
1- Thực tại luận
Thuộc Tiểu thừa Hữu tông,
đại biểu : thuyết Nhất thiết hữu bộ, xác định tất
cả pháp đều có.
Phủ định về ngã tính (Nhân
Không - Pudgala Sùnyata). Kết luận : Đây là thuyết về Hữu
(Ens).
2- Hư vô luận
Thuộc Tiểu thừa Không tông,
chủ trương “Nhất thiết pháp không” - phủ định thực
tính của tâm và vật. Kết luận : Đây là thuyết về Không
(Non-ens). Harivarman (Ha Lê Bạt Man) (kh. 250-350 tr.TL). ? đây,
Hư vô luận đối lập với Thực tại luận.
3- Quan niệm luận
Thuộc Đại thừa Bán giáo,
chủ trương Duy thức luận, phủ định thực tính của tất
cả pháp, chỉ có sự biểu hiện của thức. Kết luận : Đây
là giáo lý về Hữu (Ens) và Phi hữu (Non-ens).
4- Phủ định luận
Thuộc Đại thừa Không luận,
chủ trương Trung quán luận (Madhyamika), cho rằng thực tại
có thể nhận thức bằng phủ định tỗng hợp (synthetic negation)
- phủ định cái phủ định. Đại biểu là Long Thọ, giáo
thuyết cơ bản là “Bát bất Trung đạo”. Kết luận : Đây
là giáo lý về phi hữu - phi phi hữu.
|
Trong bảng (số 7) phân kỳ
này, mục đích của Giáo sư Takakusu là đưa Không luận của
Harivarman (51) lên trước Long
Thọ (xem bảng số 8 tiếp
sau).
Trên đây là một số nét cơ
bản của sự phân kỳ trong tiến trình phát triển của lịch
sử-tư tưởng Phật giáo?n Độ. Như thế, trong suốt 1.500
năm này là thời kỳ phát triển hưng thịnh của Phật giáo?n
Độ. Và từ đó, kéo dài cho đến thế kỷ thứ XI TL thì
Phật giáo?n Độ rơi vào suy vong. Có điều, chúng ta nên nhớ
rằng, trước khi Phật giáo Ấn Độ đi vào thời kỳ suy vong,
thì mọi sự phát triển của nó đã được truyền sang các
nước (theo hai hướng Nam truyền và Bắc truyền) khác. Và
tất nhiên, trong sự truyền thừa đó, có cả những phát triển
khác biệt mà nó được nảy sinh từ?n Độ. Trong trường
hợp này, có thể nói tại Trung Hoa là nơi có những bước
phát triển mới làm cho nền Phật học trở nên hoàn thiện,
đặc biệt là quá trình
hệ thống hóa các tư tưởng
dị đổng được du nhập từ Phật giáo ẤnĐộ. Điều này
được trình bày cụ thể trong hệ thống Phán
giáo của Phật học Trung Hoa.
II.- Hệ
Thống Phân Giáo Phật Học Trung Hoa
Phán giáo cũng có nội dung
và tính chất như phân kỳ, nhưng phần lớn nó được tập
trung vào hệ thống giáo lý, kinh điển. Nếu, nói một cách
chính xác thì lịch sử Phán giáo bắt nguổn từ?n Độ vào
thời đại của ngài Giới Hiền và Trí Quang, hai vị Luận
sư này đều phân chia giáo lý Phật giáo theo ba thời giáo
khác nh?au, như được tìm thấy trong Pháp tướng tông (của
ngài Giới Hiền) và Tam luận tông (của ngài Trí Quang) (52).
Tuy nhiên, khi Phật giáo truyền sang Trung Hoa, thì phần lớn
đều được hình thành qua hình thức tông phái, và trên cơ
sở của môỡi tông phái mà hệ thống Phán giáo được tỗ
chức
khác nhau, theo hình thức khởi
nguyên từ?n Độ.
Hệ thống Phán giáo Phật học
Trung Hoa, như đã đề cập, bắt đầu từ thời đại Nam Bắc
triều (53) (cũng gọi là thời đại Lục triều), các nhà Phật
học đã tỗ chức hệ thống Phán giáo mà đời sau gọi là
“Nam tam - Bắc thất” (ba hệ thống Phán giáo ở phương
Nam và bảy hệ ở phương Bắc).
Bảng 8
Hệ Truyền Thừa Của Long
Thọ ở Ấn Độ và Trung Hoa
Bổ Tát Long Thọ - Bổ
Tát Đề Bà - La Hầu La Đa
|
Thanh Mục
|
Thanh Biện - Trí Quang...
(Ấn Độ) |
| Địa Bà Ha La Hiền Thủ. |
| Con Vua Sa Xa (Ấn Độ) - Cưu
Ma La Thập |
|
Đạo Dung
Tăng Triệu
Tăng Duệ
Đạo Sinh-Đàm Tế-Đạo
Lãng-Tăng Thuyên-Pháp Lãng
Cát Tạng (hoằng truyền
Tam luận ở phương Nam)
Minh Thắng (hoằng truyền
Tứ luận ở phương Bắc)
|
|
- Ba hệ Thống Phán Giáo? Giang
Nam
a)- Hệ thống một (do Pháp
sư Hỗ Khưu Sơn Cập lập thành - có ba pháp luân :
1- Đốn giáo : Kinh Hoa Nghiêm
2- Tiệm giáo :
Hữu tướng giáo : (11
năm thuyết giáo của Phật sau thời Hoa Nghiêm)
Vô tướng giáo : (12 năm
sau cho đến thời Pháp Hoa)
Thường trụ giáo : (thời
Niết Bàn)
3- Bất định giáo : Các kinh
điển ngoài đốn, tiệm như kinh Thắng Man, Giải Thâm Mật...
b)- Hệ thống hai (do Pháp sư
Tăng Ai lập thành) - có ba pháp luân :
1- Đốn giáo : (như hệ thống
một)
2- Tiệm giáo :
Hữu tướng giáo : (như
hệ thống một)
Vô tướng giáo : (12 năm
sau Phương Đẳng và Bát Nhã)
Đổng qui giáo : (thời
Pháp Hoa)
Thường trụ giáo : (thời
Niết Bàn)
3- Bất định giáo : (như hệ
thống một)
c)- Hệ thống ba (do Tăng Nhu,
Huệ Thứ, Huệ Quán lập thành) - có ba pháp luân :
1- Đốn giáo : (như hệ thống
một)
2- Tiệm giáo :
Hữu tướng giáo : (như
hệ thống một)
Vô tướng giáo : (Bát
Nhã)
Ức dương giáo : (Phương
Đẳng)
Đổng qui giáo : (như
hệ thống một)
Thường trụ giáo : (như
hệ thống một)
3- Bất định giáo : (như hệ
thống một)
B/- Bẩy hệ Thống Phán Giáo?
Giang Bắc
a)- Hệ thống một (Hoặc Sư
lập) - có năm pháp luân :
1- Nhân thiên giáo : (Đề-vị-bà-lợi)
2- Vô tướng giáo : (Tịnh độ)
3- Đốn giáo : (Hoa Nghiêm)
4- Tiệm giáo : (Phương Đẳng)
5- Bất định giáo : (như trước)
b)- Hệ thống hai (Bổ Đề
Lưu Chi lập) - có hai pháp luân :
1- Tiên giáo bán tự : (12 năm
trước - Tiểu thừa giáo)
2- Hậu giáo mãn tự : (12 năm
sau - Đại thừa giáo)
Bán tự và mãn tự - dụ cho
trẻ con khi mới học thì trước hết dạy nửa chữ (tiên
giáo bán tự), rổi sau đó mới dạy tiếp nguyên
chữ (hậu giáo mãn tự).
c)- Hệ thống ba (Quang Thống
lập)
Hệ thống này do ngài Giác
Hiền, Huệ Quang đề xuất, có 4 tông :
1- Nhân duyên tông : (thuộc
Tiểu thừa - Hữu bộ, chủ thuyết Tứ nhân lục duyên)
2- Giả danh tông : (thuộc Thành
Thật tông, chủ thuyết Thành Thật luận : giảng về Tam giả
- Nhân thành giả, Tương tục
giả, Tương đãi giả)
3- Cuống tướng tông : (học
thuyết Tam luận - Nhất thiết pháp không - Tính Không luận)
4- Thường tông : (giáo lý Hoa
Nghiêm và Niết Bàn)
d)- Hệ thống bốn (Hoặc Sư
lập) - có năm tông :
1- Nhân duyên tông : (A Tỳ Đàm)
2- Giả danh tông : (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông : (Tam
luận)
4- Thường trụ tông : (Niết
Bàn)
5- Pháp giới tông : (Hoa Nghiêm)
e)- Hệ thống năm (Pháp Sư
ở Kỳ Xà) - có sáu tông :
1- Nhân duyên tông : (A Tỳ Đàm)
2- Giả danh tông : (Thành Thật)
3- Cuống tướng tông : (Tam
luận)
4- Thường trụ tông : (Hoa Nghiêm
- Niết Bàn)
5- Chân tông : (Pháp Hoa)
6- Viên tông : (Đại Tập)
f)- Hệ thống sáu (Hoặc Sư
lập) - có hai tông :
1- Hữu tướng Đại thừa
2- Vô tướng Đại thừa
g)- Hệ thống bảy (Hoặc Sư
lập) - có một tông :
Nhất âm giáo : (Phật dùng
một âm thanh thuyết pháp, chúng sanh tùy theo đó mà hiểu biết
về giáo pháp khác nhau).
Trên đây là phần trình bày
đại cương về “Nam tam - Bắc thất” - sự khái lược hóa
về các hệ thống phán giáo Phật học
Trung Hoa.
C/- Hệ Thống Phán Giáo Của
Các Tông Phái Đại thừa
Khi các tông phái Đại thừa
Phật giáo hình thành tại Trung Hoa, thì môỡi tông phái lại
tỗ chức hệ thống phán giáo đặc thù
theo tư tưởng của từng tông
phái. Theo truyền thống lịch sử Phật giáo Trung Hoa, các tông
phái chính có hệ thống phán
giáo được thành lập như
sau
1- Pháp Tướng Tông
Tông phái này y cứ trên cơ
sở của kinh Giải Thâm Mật rổi đem giáo pháp của Phật
chia làm ba pháp luân (ba lần chuyển
pháp luân của Phật).
a)- Pháp luân I : Phật nói về
Hữu (Hữu giáo)
b)- Pháp luân II : Phật nói
về Vô (Không giáo)
c)- Pháp luân III : Phật nói
về Trung đạo (Trung giáo)
- Hữu giáo là giáo lý thời
Nguyên thủy và Bộ phái
- Không giáo là giáo lý tiền
Đại thừa và Đại thừa
- Trung giáo là giáo lý Đại
thừa và hậu Đại thừa
* Pháp luân I : Giáo lý cơ bản
là 4 thánh đế và 12 nhân duyên
* Pháp luân II : Giáo lý cơ
bản là “Nhất thiết pháp không”
* Pháp luân III : Giáo lý cơ
bản là “Trung đạo đế”
Hai pháp luân đầu, Phật nói
về pháp phương tiện và bất liễu nghĩa (khế lý, khế cơ).
Pháp luân thứ ba, Phật nói về pháp liễu
nghĩa - chân thật tối thượng
- Chủ đề cơ bản là Trung đạo : - 3 tự tính và 3 vô tính
(tam tính và tam vô tính).
Về kinh điển, người đời
sau đối chiếu như vầy :
* Pháp luân I : Gổm 4 bộ A
Hàm Ạ 4 bộ Nikàya
* Pháp luân II : Gổm kinh Bát
Nhã (Không tông)
* Pháp luân III : Gổm kinh Giải
Thâm Mật, Hoa Nghiêm...
2- Tam Luận Tông
Tông phái này phân chia giáo
pháp của Phật làm hai tạng và ba pháp luân :
Thinh Văn tạng
Bổ Tát tạng
Pháp luân gốc
Pháp luân ngọn
Pháp luân ngọn về gốc
- Thinh Văn tạng : gổm các
kinh A Hàm và Nikàya.
- Bổ Tát tạng : gổm các kinh
Đại thừa.
* Pháp luân gốc : Phật nói
kinh Hoa Nghiêm
* Pháp luân ngọn : Phật nói
kinh A Hàm đến Phương Đẳng
* Pháp luân ngọn về gốc :
Phật nói kinh Pháp Hoa
Hệ thống phán giáo này do
Cát Tạng đề xuất (xem bảng số 8 và mục chú số 62)
3- Thiên Thai Tông
Tông này chia giáo pháp cüa Ph§t thành
Ngû th¶i, Bát giáo.
|
Ngũ thời
|
- Hoa Nghiêm
- A Hàm
- Phương Đẳng (Duy Ma, Lăng
Già...)
- Bát Nhã
- Pháp Hoa, Niết Bàn |
Năm thời tương ưng với năm
vị (của kinh Niết Bàn)
|
Năm vị
|
- Sữa tươi (ngưu nhũ)
- Váng sữa (lạc)
- Váng bơ (sinh tô)
- Bơ kết (thục tô)
- Bơ lỏng (đề hổ) |
- Đề hổ là tối thượng
trong 5 vị, và kinh Pháp Hoa, Niết Bàn được ví như đề hổ
- tối thượng trong các kinh.
Tám Giáo (Bát Giáo)
| 4 hóa nghi (Hóa nghi tứ giáo)
[4 phương pháp giáo hóa]
1- Đốn
2- Tiệm
3- Bí mật
4- Bất định |
4 hóa pháp (Hóa pháp 4 giáo)
[4 nội dung giáo lý cơ bản]
1 - Tạng giáo
2 - Thông giáo
3 - Biệt giáo
4 - Viên giáo |
Tứ giáo
- Tạng giáo : hệ thống kinh
điển A Hàm và Nikàya
- Thông giáo : hệ thống kinh
điển xuyên thông cả Tam thừa
- Biệt giáo : giáo lý đặc
biệt dành cho đối tượng đặc biệt, như hàng Bổ Tát, Lục
độ, Nhị đế v.v...
- Viên giáo : giáo lý viên dung
- nhất thừa, chỉ cho kinh Hoa Nghiêm, Niết Bàn, Pháp Hoa
Tứ nghi
- Đốn giáo : giáo lý đốn
ngộ, dành cho hàng trí giả - Đại thừa
- Tiệm giáo : giáo lý được
giảng tùy theo trình độ, căn cơ (các kinh A Hàm, Phương Đẳng)
- Bí mật : giáo lý đặc thù
dành cho đối tượng đặc thù (không phải ai cũng được
nghe và hiểu được)
- Bất định : cùng một giáo
lý, cùng một pháp hội nhưng chôỡ này là đốn giáo, chôỡ
kia là tiệm giáo - tùy theo trình độ mà
nói.
? đây, có một vấn đề. Tương
truyền, ngũ thời bát giáo là do ngài Trí Khải (54), đệ tử
của Huệ Tư, sáng lập. Nhưng học
giả Sekiguchi Shindai trong bài
viết “Khởi nguyên ngũ thời bát giáo” (Goji hakkyo kyohanron
no kigen) (xem Taisho
daigaku kiyo, tr.1-15 (1975) cho
rằng chính Trạm Nhiên (711-782) là người hệ thống hóa phán
giáo này?
4- Hoa Nghiêm Tông
Tông phái này do sư Đỗ Thuận,
Trí Nghiễm và Pháp Tạng thành lập. Giáo pháp được chia
thành 5 giáo, 10 tông.
* Năm giáo
1- Tiểu thừa giáo : giáo lý
cho hàng Thanh Văn, như A Hàm, A Tỳ Đàm luận, Thành Thật luận;
2- Đại thừa sơ giáo : giáo
lý cho hàng Đại thừa sơ cấp, như Trung Quán luận, Du Già
Sư Địa luận... ;
3- Đại thừa chung giáo : giáo
lý cho hàng Đại thừa cao cấp, như kinh Lăng Già, Thắng Man...
;
4- Đại thừa đốn giáo :
giáo lý cho hàng Đại thừa ưu tú, như Thiền tông... ;
5- Nhất thừa viên giáo : giáo
lý viên dung, tối thượng, như kinh Hoa Nghiêm..., Nhất thừa
viên giáo có hai loại :
a)- Nhất thừa đổng giáo :
tương ứng với Tam thừa (kinh Pháp Hoa)
b)- Nhất thừa biệt giáo :
khác với Tam thừa (kinh Hoa Nghiêm)
|
Thanh
|
- Loa Khê
- Nghĩa Tịch |
- Bửu Vân
- Nghĩa Thông |
- Từ Vân Tuân Thức
- Tứ Minh Trí Lễ |
- Từ quang
- Chí Nhân |
- Từ Quang
- Ngộ Ấn |
- Trí Viên
- Khánh Chiêu |
|
* Mười tông (10 học thuyết
cơ bản của Phật giáo Bộ phái và Đại thừa)
Sáu học thuyết của Tiểu
thừa :
1- Tông Ngã pháp đều có :
thuộc giáo lý của Độc tử bộ, Pháp thượng bộ, Hiền
vị bộ, Chính lượng bộ, Mật lâm sơn bộ, Kê dân bộ trong
thời kỳ Phật giáo Bộ phái.
2- Tông Ngã không pháp có :
thuộc giáo lý của Nhất thiết hữu bộ, Tuyết sơn bộ,?n
quang bộ, Kinh lượng bộ.
3- Tông Pháp không khứ lai :
thuộc quan niệm “Hiện tại hữu thể, quá vị vô thể”
của Hóa địa bộ, Pháp tạng bộ, Đại chúng bộ, Đa văn
bộ, Chế đa sơn bộ, Tây sơn trụ bộ, Bắc sơn trụ bộ.
4- Tông Hiện thông giả thật
: thuộc quan niệm “Chân giả tịnh hữu” của Thuyết giả
bộ.
5- Tông Tục vọng chân thật
: Quan niệm của thuyết Xuất thế bộ.
6- Tông Chư pháp giả danh :
Quan niệm “Tam thế chư pháp giả danh vô thể” của Nhất
thuyết bộ.
Bốn học thuyết của Đại
thừa
7- Tông “Nhất thiết pháp
không” : thuộc Đại thừa thỉ giáo.
8- Tông “Chư pháp thực tướng”
: thuộc Đại thừa chung giáo.
9- Tông “Tướng và Tưởng
đều không” : thuộc Đại thừa đốn giáo.
10- Tông “Như thị - viên mãn”
: thuộc Nhất thừa viên giáo (55).
Trên đây là các tông phái
có hệ thống phán giáo cụ thể. Còn Thiền tông, Tịnh độ
tông và Mật tông (Chân ngôn tông) thì hệ thống phán giáo
không cụ thể và cũng khá đa diện. Tuy nhiên, với ba tông
này, chủ yếu là đi vào tu tập thực tiễn. Do đó, nếu lập
phán giáo thì phải lập theo một thể cách đặc thù của
nó.
Riêng về phần phán giáo như
vừa trình bày trên đây, chúng ta thấy lộ rõ một điều
ở các hệ thống phán giáo, đó là sự tương quan thống thiết
giữa nhận thức của con người và chân lý thực tại. Bởi
lẽ, nhận thức của con người thì bất khả thuyết - có
bao nhiêu người thì có bấy nhiêu nhận thức khác nhau. ? đây,
sẽ không bao giờ có bất kỳ một khuôn mẫu tư duy nào có
thể dùng cho mọi người; cũng như, tất cả mọi người đều
mang giày, nhưng không thể có một đôi giày nào khả dĩ được
dùng cho tất cả mọi người. Vả lại, chân lý thực tại
cũng chỉ có Một, Đông phương hay Tây phương, đều chỉ
có Một và
chỉ Một mà thôi. Vì lẽ
đó, vấn đề được đặt ra ở đây là : chân lý luôn luôn,
lúc nào, và ở đâu, cũng bình đẳng trước mọi người;
và, làm thế nào để mọi người có thể trực nhận được
chân lý? Đây là lý do tại sao Phật tử Trung Hoa đề xuất
và tỗ chức các hệ thống phán giáo. Nó xuất hiện như là
sự nối kết các nhịp cầu phương tiện để giúp người
sang sông. Từ đó, ba thừa phân đốn, tiệm, quyền, thật
tất cả đều viên dung. Đây là phương tiện thiện xảo để
môỡi người với căn tánh và trình độ khác nhau đều có
thể tu tập Phật giáo. Có thể tóm tắt ý nghĩa trên qua phát
biểu của Long Thọ như sau : “Nếu không nương tục đế,
thì không thể đạt đến chân lý. Nếu không đạt đến chân
lý, thì không thể hiểu được Phật pháp” (56).