Chương III
Sự
Ra Ðời Của Tánh Không Luận
I.-
Bối Cảnh Nhận Thức
Quan niệm như thế nào về có và
không quả tình là một câu chuyện dài trong tiến trình phát
triển của lịch sử tư tưởng triết học Phật giáo, đó
là khi mà những lời dạy của Phật vốn bình dị, trong sáng,
nay lại được chuyển sang thành các luận đề triết học.
Bấy giờ, môỵi triết gia, bình luận gia bắt đầu tiếp
cận, nhận thức và đánh giá nó theo quan điểm riêng lẻ
của họ. Và như C.Jung nói : "Ðôi mắt của bạn bao giờ cũng
bị giới hạn bởi cái bạn đang là", đây là lý do tại sao
khái niệm "Phân biệt thuyết" (Vabhàsika) hay "Chư môn phân
biệt" (Tất cả đều được phân biệt, biện biệt cụ thể)
ra đời trong một bối cảnh của những luận thuyết chống
đối nhau, mâu thuẫn nhau, mà tất cả hầu hết đều dẫn
chứng lời của Phật.
Một dấu hỏi lớn là tại sao các
triết gia không đi thẳng vào giáo lý của Phật mà phải đặt
ra những luận thuyết mới trên cơ sở của những khái niệm
cũ ? Ðấy là bởi những yếu tố của lịch sử tư tưởng
và thời đại ; và quan trọng hơn hết là ánh sáng - tâm chứng
của môỵi cá thể ngày càng lu mờ, nhường chôỵ lại cho
luận lý và tri thức - một con đường học thuật lê thê.
Chân lý hay pháp (dharma) thay vì cần phải trực nhận (sanditthika),
cần phải tự mình thể nghiệm (ehipassiko), cần phải tự
mình chứng ngộ cho chính mình (paccattam veditabho vinnuhi) (40)
bây giờ lại được soi sáng bằng con đường nhận thức.
Có một điều cần ghi nhận rằng, trong cuộc sống thường
nghiệm của con người, giá trị của nhận thức hầu như
được tôn vinh lên hàng thượng đẳng ; vì chính nó mà con
người nhận biết về sự hiện hữu của mình, cũng như của
thế giới thực tại khách quan. Song, trên bình diện tôn giáo,
mà ở đây xin nói rõ là Phật giáo, thì vai trò của nhận
thức trở thành thứ yếu khi nó cùng tham dự vào tiến trình
giác ngộ. Bởi lẽ, khả thể của nhận thức quá mong manh,
nó không đủ sức mạnh để hủy diệt các dục vọng, tham
cầu, và xa hơn nữa, là sự thủ trước về một bản ngã
(ego) vốn là hiện thân của vô minh (avijjà), một đối thủ
ở bên kia giới tuyến của giác ngộ (bodhi). Do đó, khi nhận
thức càng trở nên quan trọng thì nó càng đẩy con người
xa rời cảnh giới thực tại - như thực ; thực tế cho thấy
rằng càng tư duy thì càng xa rời thực tại. Tất nhiên, khi
đã nói như thế, thay vì buông xả tất cả để "lên thuyền
sang sông", nhận thức chính nó quay trở lại với những đối
tượng trần duyên của nó, đó là thế giới biểu hiện của
muôn ngàn bản sắc dị biệt đa thù, trông có vẻ như độc
lập, cô liêu. Ðây là bối cảnh thực tế của lịch sử-tư
tưởng mà "Tánh Không luận" ra đời.
II.-
Bối Cảnh Lịch sử Tư Tưởng
Như đã trình bày ở phần (II) thời
kỳ Bộ phái, chúng ta thấy rằng sự phân hóa giáo đoàn Phật
giáo được diễn ra suốt hàng thế kỷ một cách tiệm tiến,
và theo sau nó, là sự hình thành các hệ thống giáo lý đặc
thù của từng bộ phái (41). Ở đây, chủ yếu là Thượng
tọa bộ và Ðại chúng bộ, từ hai bộ này tiếp tục phân
hóa thành các tiểu bộ (xem bảng 2). Ðặc biệt trong đó,
tác nhân đầu tiên - tạm gọi là như vậy - làm cho Táánh
Không luận ra đời chính là Ðộc tử bộ (Vàtsiputriyas), một
chi phái thuộc thuyết Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàda),
phân hóa lần thứ II (xem bảng 2) trong tiến trình của Thượng
tọa bộ (Sthaviravàda = Theravàda).
Ðộc Tử (Vàtsiputra) là tên gọi
của vị sáng lập ra bộ phái này nên gọi là Ðộc tử bộ
(42). Ông là đệ tử của ngài La Hô La, và La Hô La là đệ
tử của ngài Xá Lợi Phất.
Về phần giáo thuyết của Ðộc
tử bộ, nó hoàn toàn không tùy thuộc vào giáo lý của Thượng
tọa bộ và Ðại chúng bộ, mà tự sáng lập ra một hệ thống
độc lập, nên cũng có nghĩa là "độc tử" hay "trụ tử".
Họ chủ trương phân bố tất cả pháp thành ba tụ cơ bản
là "Hữu vi tụ", "Vô vi tụ" và "Phi hữu, phi vô tụ" (còn
gọi là "Phi nhị tụ"). Bên cạnh đó, pháp (dharma) cũng được
chia thành năm tạng chính, đó là "quá khứ", "hiện tại",
"vị lai", "vô vi" và "bất khả thuyết". Căn cứ trên năm tạng
này, "pháp" được chia thành hai học thuyết, đó là : học
thuyết về "Tam thế tạng" (ba thời thực tại của hiện hữu)
; và học thuyết về "Phi nhị tụ" (không phải hữu cũng không
phải vô). Và do y cứ trên triết học "Phi hữu phi vô" này
mà có quan điểm "bất khả thuyết". Rổi từ đó, trên cơ
sở của "bất khả thuyết", các nhà Ðộc tử bộ đề xuất
thành học thuyết về "Nhân thể luận" (Pudgalavàda), nhằm
giải thích về sự hiện hữu của một "nhân thể" (Pudgala)
thường tại vĩnh hằng. Và học thuyết này đã bị phê phán
một cách kịch liệt từ phía các nhà Thượng tọa bộ (Theravadim)
và Nhất thiết hữu bộ (Sarvastivadim), cho rằng luận đề
triết học của nó là sự phá hoại giáo lý của Phật và
làm cho giáo lý chính thống trở nên rối rắm. Bởi lẽ, trong
suốt cuộc đời truyền bá chánh pháp, Phật bao giờ cũng
nhấn mạnh về giáo lý "vô ngã" (anatta), trong khi đó, Ðộc
tử bộ lại nôỵ lực đề xuất một "nhân thể" hiện hữu
như là một "ngã tính" vĩnh hằng, bất tử.
Về niên đại, Nhân thể luận được
ra đời vào khoảng 200 năm sau Phật diệt độ, khởi nguyên
từ Ðộc tử bộ, rổi tiếp theo là Pháp thượng bộ (Dharmottariya),
Hiền trụ bộ (Bhadrayàniya), Chính lượng bộ (Sammitiyà) và
Mật sơn lâm bộ (Sandagirika) ; bốn bộ phái này đều kế
thừa tư tưởng của Nhân thể luận. Nhưng về sau, giáo lý
của Chính lượng bộ đã chiếm ưu thế và trở thành một
trong hai bộ phái tiêu biểu của Phật giáo Hinayana, đó là
Hữu bộ và Chính lượng bộ. Tuy nhiên, tư tưởng của các
nhà Nhân thể luận đã tiếp tục phát triển giữa những
đối lập của sự đổng tình và phê bác, mãi cho đến thế
kỷ thứ XII TL, thì nó không còn phát triển nữa. Như thế,
học thuyết của các nhà Nhân thể luận được hình thành
và phát triển trong khoảng thời gian hơn 10 thế kỷ. Ngày
nay, vấn đề "nhân thể" thảng hoặc được nhắc đến, song
nó là đề tài không mấy hứng thú khi con người-thời đại
va chạm phải một "nhân thể" thường nghiệm ngay trong đời
sống hàng ngày, mà "nhân thể" đó chính là cội nguổn của
khủng hoảng, của sợ hãi, của đau khỗ và bất an.
III.-
Sự Thình Hành Nhân Thể Luận" (43)
Chúng ta biết rằng, toàn bộ hệ
thống giáo lý của Phật thời Nguyên thủy đều được xây
dựng trên cơ sở của nguyên lý "Duyên khởi" ; và từ trong
tính chất "tùy thuộc" của nguyên lý này, nó hiển thị rằng
"vạn pháp giai không", gọi là vô tự tính (abhàvasvabhàva)
hay vô ngã tính (anàtta). Ðiều đó được xem như là chân
lý phỗ biến, khách quan, nó là hiện thân của vô biên thế
giới sai biệt đa thù. Nếu Duyên khởi được xem là luận
đề triết học, thì vô ngã tính là hệ quả tất yếu của
mọi luận đề triết học Phật giáo. Nó là một định đề
có giá trị bất biến - hễ vô ngã là duyên sinh, hễ duyên
sinh là vô ngã ; vô ngã là duyên sinh biểu thị ở mặt hiện
tượng và duyên sinh là vô ngã biểu thị ở mặt thể tính.
Sự kiện này được biểu thị bằng mối quan hệ y tha (paratantra),
như sóng là hiện thân của nước, và nước là thể tính
của sóng. Do đó, hiển nhiên rằng vô ngã không phải là sự
rôỵng không của thế giới sự vật hiện tượng, hay thế
giới sự vật hiện tượng là không có, mà ở đây, trên
ý nghĩa cơ bản nhất, nó là sự không có một thực tính
độc lập, bất biến, và thường tại vĩnh hằng đối với
con người, thế giới và vũ trụ mênh mông bao la.
Trên bình diện triết học, đặc
biệt là con đường "nhận thức luận", thông thường, con
người có xu hướng sở hữu hóa mọi tự tính của sự vật
hiện tượng hoặc áp đặt lên nó một thực tính độc lập,
để trong ý thức phân biệt, người ta gọi cái này khác cái
kia ; cái này không phải là cái kia. Ðiều này tưởng như
nguyên lý của Tam đoạn luận : một sự thể nếu được
gọi là A thì phải luôn luôn là A (nguyên lý đổng nhất)
; một sự thể nếu được gọi hoặc là A, hoặc là B, thì
nó phải luôn luôn hoặc là A, hoặc là B, chứ không thể vừa
là A lại vừa là B (nguyên lý cấm mâu thuẫn) ; và, một sự
thể nếu được gọi hoặc là A, hoặc là B, thì nó phải
hoặc là A, hoặc là B, chứ không thể có trường hợp thứ
ba xảy ra (nguyên lý triệt tam). Ðây là ba nguyên lý của tư
duy và nhận thức mà con người với tri thức thường nghiệm
không thể nào thoát ly hay vượt lên trên nó được. Trong
khi đó, thế giới thực tại thì luôn luôn trôi chảy như
hòn đất hòa tan và biệt tích ngay trong lòng đại dương,
đó là sự thật, một sự thật của ngày nay nhưng không thật
với ngày mai. Thế có nghĩa là, căn tính của sự vật mà
con người áp đặt cho môỵi môỵi hiện hữu khác nhau chỉ
là sự giả định của tâm thức, một sự giả định mà
biểu hiện của nó bao giờ cũng là A khác A (A ~ A). Ðây là
sự biểu hiện của nguyên lý vô thường, vô ngã.
Vấn đề sẽ trở nên phiền toái
hơn khi cái mà gọi là ngã thể (self) của con người cũng
được đặt trong nguyên lý vô thường, vô ngã và phải chịu
sự chi phối của nguyên lý này theo nguyên tắc nhân quả.
Nhưng nhân quả ở đây không phải là loại tương quan cơ
giới mà là tương quan sinh học, như hiện tượng luân hổi-tái
sinh. Do đó, trên mặt nhận thức luận, một cách máy móc,
chỉ có thể chấp nhận một trong hai, hoặc là "tương quan
nhân quả", hoặc là "vô ngã, vô thường". Bởi lẽ, nếu chấp
nhận nguyên lý tương quan nhân quả (theo như Phật nói) thì
tất yếu phải có một ngã thể hiện hữu như là một thực
thể bất biến và trường cửu để gánh chịu mọi quả báo
(hoặc thiện, hoặc bất thiện) sau khi chết mà môỵi con người
đã gieo trổng trong kiếp sống quá khứ. Ngược lại, nếu
chấp nhận nguyên lý "vô ngã, vô thường" (cũng theo như Phật
nói) thì ai, cái gì sẽ gánh chịu quả báo sau khi con người
đã chết ? Và cứ như thế, nếu càng đi sâu với cặp song-quan-mâu-thuẫn
luận này thì càng rơi vào rối rắm (44).
Từ đó, Ðộc tử bộ nôỵ lực
xây dựng một nhân thể (pudgala) như là một thực thể vĩnh
cửu, bất biến và không bị chi phối bởi định lý vô thường.
Do đó, sự kiện này được xem như là sự xác định một
bản ngã thực hữu mà nó hoàn toàn trái với lời Phật dạy.
Tuy nhiên, các nhà Ðộc tử bộ cho rằng, phải có một bản
ngã (nhân thể) thường hằng như thế làm tâm mới có thể
nối kết dòng tương tục nhân quả trong ba đời, và nhân
thể (bất biến) đó đóng vai vừa là tác giả, vừa là thọ
giả. Vả lại, họ quan niệm, nếu không có một nhân thể
siêu thời gian, vượt lên trên mọi sự biến hoại của định
luật vô thường, thì lấy gì để điều động cái cơ cấu
tương quan của tâm lý và vật lý này ; cũng như để truy
niệm về một quá khứ liên tiếp xa xôi hay hoài vọng về
một tương lai bất định của vòng sinh tử trầm luân trong
kiếp người ? Suy diễn như thế, họ đi đến kết luận :
Nếu nguyên lý nhân quả có giá trị thì buộc lòng phải thừa
nhận một Nhân thể ; và, nếu Nhân thể đó không hiện hữu
như một thực thể bất biến, thì tác dụng của nhân quả
chẳng có giá trị gì (45). Từ những quan điểm trên, các
nhà Nhân thể học (Personalists) đi đến những kết luận cơ
bản như sau :
* Luận cứ 1
Nếu như yếu tính của quan hệ
nhân quả là sự tương tục, thì phải có một chủ thể làm
chủ dòng tương tục đó. Vì vậy, đối với năm uẩn, phải
có một cái gì đó siêu việt mọi khả tính của sắc, thọ,
tưởng, hành, thức ; đổng thời làm điểm nối kết chủ
động cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Và, yếu tố siêu
việt đó được gọi là Pudgala - Nhân thể.
* Luận cứ 2
Nếu như giá trị của định luật
nhân quả là có thực, thì phải thừa nhận một cái gì đó
thường tại bất biến, để có thể nối kết và chịu đựng
(thọ giả) dòng tương tục của nhân quả qua ba thời quá
khứ, hiện tại và vị lai của con người (tác giả). Và,
yếu tố thường tại, bất biến đó được gọi là Pudgala
- Nhân thể ; nó là "lý do hiện hữu" (raison d'être) của các
thiện hạnh.
* Luận cứ 3
Nếu như chấp nhận năm uẩn là
vô thường, vô ngã, thì khi năm uẩn tan hoại - theo ý nghĩa
tịch diệt - phải có một cái gì đó hiện hữu như là sự
cứu cánh, giác ngộ, giải thoát của chư Phật và A La Hán.
Và, cái hiện hữu cứu cánh đó được gọi là Pudgala - Nhân
thể, con người của tối thượng (Uttamapuriso).
Ba luận cứ trên là lý do xác định
sự hiện hữu của một Nhân thể thường tại, vĩnh cửu
trong môỵi con người (46).
IV.-
Sự Hình Thành Tánh Không Luận
Bàn về chủ thuyết của Ðộc tử
bộ, cốt là để đánh dấu một sự đột phá táo bạo trong
lịch sử phân hóa tư tưởng và các bộ phái Phật giáo ;
đổng thời đây cũng là điểm khởi nguyên cho quá trình hình
thành lịch sử-tư tưởng và triết học Táánh Không, mặc
dầu mãi đến thời vua Kaniska, tức khoảng sau kỷ nguyên Tây
lịch, thì triết học Táánh Không mới chính thức hình thành
qua hệ thống kinh tạng Bát Nhã. Tuy nhiên, bắt nguổn từ
Ðộc tử bộ và những học thuyết phản kháng, nó đã mầm
mống khai sinh Táánh Không luận. Từ học thuyết "Ngã không
pháp hữu" của Hữu bộ, cho đến học thuyết "Quá vị vô
thể, hiện tại hữu thể" của Ðại chúng bộ đã cho thấy
sự tiến bộ của tư tưởng, thông qua việc loại trừ các
khái niệm về "hữu". Ở đây, thay vì ba thời đều hữu (có),
giờ chỉ còn hiện tại là hữu. Ðến khi Nhất thuyết bộ
hình thành, họ giải phóng luôn cả cái "hiện tại hữu thể"
qua học thuyết "Tam thế chư pháp giả danh vô thể" (Tất cả
pháp trong ba thời đều là giả danh, không thực có tự tính).
Tiếp sau đó, có lẽ là thời điểm
dung hòa theo khuynh hướng tiến bộ, các bộ phái đều có
học thuyết mang tính cách trung dung, như học thuyết "Chân
giả tịnh hữu" (trong chân có giả, trong giả có chân) - ở
đây, hiện hữu được nhìn trên hai chiều tương đối và
tuyệt đối ; nó gần giống như học thuyết "Trung đạo" sau
này. Rổi kế đó là hàng loạt các học thuyết (rất gần
giống với tư tưởng Ðại thừa) như "Vô lậu chủng tử",
"Thắng nghĩa ngã"... phát sinh.
Sau thời đại của Phật giáo Bộ
phái là một khoảng trống kéo dài cho đến khoảng thế kỷ
thứ III TL, tức sau Phật diệt độ khoảng 700-800 năm. Lúc
bấy giờ, hàng loạt các triết gia xuất sắc của Phật giáo
ra đời, như ngài Thế Hữu (Vasumitra), Na Tiên (Nàgasena), Mã
Minh (Asvaghosa) - sinh vào khoảng nửa sau thế kỷ thứ II TL,
và Long Thọ (Nàgarjuna), Ðề Bà (Deva) sinh vào khoảng nửa
sau thế kỷ thứ III TL.
Trong khoảng thời gian này có những
học thuyết nỗi bật như : "Chư pháp thực tướng", "Vạn
hữu Duyên khởi", "Vạn pháp duy tâm" v.v... (47). Tất cả đều
là tư tưởng của Bổ Tát Mã Minh. Ðặc biệt tư tưởng "vạn
pháp duy tâm" được xem như là phần giáo cơ bản trong tác
phẩm nỗi tiếng "Ðại thừa khởi tín luận" (48) cũng trong
thời đại này, kinh tạng Ðại thừa xuất hiện, mà khởi
đầu là Ðại thừa - Bát Nhã, và chủ đề trung tâm của
nó là "Táánh Không".