Lời
Dẫn
Có thể nói rằng "Tánh Không luận"
là một hệ thống triết học đặc thù của Phật giáo trong
thời kỳ phát triển. Sự xuất hiện của nó như là một
dấu ngoặc vĩ đại, mở ra trang sử-tư tưởng mới cho các
hệ thống triết học Phật giáo Ðại thừa, mà khúc dạo
đầu chính là hệ thống kinh tạng Bát Nhã ; rồi sau đó,
Long Thọ, qua triết học Trung Quán, đã dệt nên chương "khải
hoàn" cho tiến trình lịch sử tư tưởng và triết học Tánh
Không. Ðây chính là một bước chuyển y (Paràvrtti) kỳ vĩ
và hết sức táo bạo trong lịch sử tư tưởng Phật giáo
Ấn Ðộ, kể từ thế kỷ thứ II. TL sau Phật diệt độ mãi
cho đến thế kỷ thứ VII, khi Nguyệt Xứng (Candrakìrti) hoàn
thành hệ thống triết học Trung Quán.
Sự ra đời của Tánh Không luận
đã đánh đỗ mọi học thuyết đương thời qua tiền đề
"Nhất thiết pháp không" (Sarvadharma Sùnyatà) của nó, một
thứ tiền đề được mang tên là Phủ định biện chứng,
Phủ định liên hổi, Phủ định cái phủ định ; và cuối
cùng, là phủ định luôn cả sự hiện hữu của chính nó.
Ðối diện với Tánh Không luận,
độc giả hoặc là bị cuốn hút vào thế giới của hư vô
không tận, nơi mà mỗi mỗi hiện hữu đều là không, tất
cả đều là không, cái không bao trùm lên tất cả từ thế
giới ý niệm cho đến thế giới hiện thực, như một miền
vĩnh tịch cô liêu ; hoặc là sẽ một phen thể nhập vào dòng
trôi chảy của thực tại, một thứ thực tại bất khả thuyết
bởi ngôn ngữ, đang nở nụ trưng bày giữa lòng hiện hữu
- đấy là "thực tại-Tánh Không".
Nhưng trái lại, cái kỳ vĩ của
Tánh Không luận không phải là động lực đẩy đưa đến
một sự diệt tận hay phủ quyết sạch trơn, mà là khả tính
năng động, vô biên và nhiệm mầu của nó. Nói theo ngôn ngữ
của Long Thọ : "Tất cả đều hợp lý vì hợp lý với Tánh
Không, tất cả không hợp lý vì không hợp lý với Tánh Không".
Cái "hợp lý" ở đây chính là lý do hiện hữu (raison d'être)
của nhất thiết pháp. Nếu không có nó, thì mọi thứ cơ
đổ của trần gian này từ các loài vô tình cho đến hữu
tình đều trở nên trơ lì, thụ động và không còn khả năng
vận hành, như sự trôi chảy tương tục của dòng sông. Như
thế, nếu phủ nhận Tánh Không, là phủ nhận khả tính sinh
khởi và vận hành của thế giới thực tại khách quan-hiện
hữu với/giữa muôn ngàn sai biệt đa thù. Nhưng nếu thừa
nhận Tánh Không như một định tính cố hữu, đích thực,
thì thế giới tương quan duyên khởi này bỗng phút chốc hóa
thành lầu đài xây trên bãi cát. Và như thế, sẽ không có
bất kỳ một khả thể nào có thể được hình thành, cho
đến mọi vấn đề thiện ác, nhân quả cũng băng tiêu, và
không còn được bàn đến nữa.
Vậy, "Tánh Không luận" sẽ xuất
hiện như thế nào để khả dĩ được chấp nhận trong một
bối cảnh đa đoan lý luận mà không hề chối từ mọi đức
lý thiện ác trong cái cơ cấu tương quan của tri thức thường
nghiệm, để rồi sau đó, nó vực dậy và làm cho sống động
mọi tư tưởng-triết học đang bị héo hắt và phai tàn theo
thời gian sau Phật diệt độ cả nghìn năm ? Một câu hỏi
như thế có thể được đặt ra không những trên bình diện
lịch sử của hiện thực, mà còn trên cả bình diện giả
thiết của lịch sử tư tưởng triết học và tôn giáo.
Khoảng những năm cuối thập niên
80 của thế kỷ này, tôi đã lần đầu nghiên cứu về Tánh
Không luận qua tác phẩm "Thiền luận" của Ðại sư Daisetz
Teitaro Suzuki, rổi kế đó là một số tác phẩm viết về
Tánh Không luận của các học giả có thẩm quyền chuyên môn
như : T.R.V.Murti, Ed.Conze, J.May, Stcherbatsky, J.Takakusu... Tôi đã
nhận được sự nhiệt tình khích lệ của bạn bè, song tôi
luôn luôn ngần ngại viết về Tánh Không luận, mặc dù trong
tác phẩm "Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo", tôi có đề
cập khái quát về Táánh Không thông qua kinh Bát Nhã. Mãi cho
đến gần mười năm sau, các bạn bè của tôi ở Ðại học
Temple, bang Philadelphia, đã gửi cho tôi một số tài liệu về
Tánh Không luận, đặc biệt là tác phẩm "Trung Quán luận"
của Long Thọ với nhiều bản dịch và chú giải khác nhau.
Từ đó, tôi bắt đầu khởi sự nghiên cứu về triết học
Trung Quán một cách nghiêm túc, mà khởi đầu là sự đối
chiếu, so sánh và dịch lại "Trung luận". Và sau đó, tôi làm
một vài nghiên cứu nhỏ có liên hệ trực tiếp đến Trung
luận qua chủ đề lịch sử-tư tưởng và triết họcTáánh
Không. Công việc này được hoàn tất vào tháng đầu mùa
Thu năm 1998 với sự giúp đỡ chân thành của các cộng sự
trong việc đối chiếu và hiệu đính lại bản dịch Trung
luận của tôi.
Trong quá trình nghiên cứu và phiên
dịch, tôi luôn tự nhủ rằng với tri thức nông cạn, lại
còn bị buộc chặt bởi các phiền não, nghiệp chướng thì
làm sao có thể thông đạt trọn vẹn giáo huấn của các vị
luận sư, huống nữa là diễn đạt lại ý nghĩa thâm sâu
và uyên áo của nó. Vì thế, nội dung của tập sách này ắt
hẳn không thể tránh khỏi những lỗi lầm, sai sót. Nơi đây,
tôi xin thành kính được đón nhận sự chỉ giáo của các
bậc thượng nhân, quý độc giả và bằng hữu, và xin chân
thành giới thiệu tác phẩm này cùng quý vị.
Sài Gòn, mùa Thu '98
Tác giả
.
[Mục
Lục][01][02][03][04][05][06][07][08][Next]