A
TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN (Q.5)
阿
毘 達 磨 俱 舍
AbhidharmakośabhāṢayām
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
II : PHÂN BIỆT CĂN 3.
Như vậy đã nói xong về hành tướng của đắc và phi đắc;
tiếp đến, đồng phần là gì ?
3.
Đồng phần (sabhāgata).
Văn
Tụng.
Hán:
同
分 有 情 等[1]
Việt
dịch:
Đồng
phần[2] là thể loại đồng đẳng[3] trong hữu tình[4]
/86a/
Luận
giải thích:
i.Hữu
bộ.
a.Lược
thích:
Đồng
phần: Thật sự có một pháp riêng biệt[5] gọi là đồng
phần; đó là thể loại đồng đẳng vận hành trong các
loài hữu tình[6].
b.
Dị danh:
Bổn
luận[7] nói, đó là chúng đồng phần[8](nikāyasabhāga)[9].
c.Biệt
thích:
ci.Hữu
tình đồng phần (sattva-sabhāgatā):
Pháp
nầy lại có hai: một, không sai biệt; hai, có sai biệt. Không
sai biệt[10]: đó là thể loại (hữu tình) đồng đẳng trong
tất cả các loài hữu tình mà mỗi mỗi hữu tình đều có
giống nhau. Có sai biệt[11]: đó là thể loại đồng đẳng
riêng biệt của từng loại (nhóm) hữu tình trong ba cõi, chín
địa, năm đường, bốn loại sanh, của cận sự nam, cận
sự nữ, bí sô, hữu học, vô học, v.v.. mà ( mỗi một
hữu tình) trong mỗi loại đều có như nhau.
cii.Pháp
đồng phần (dharma-sabhāgatā):
Lại
có pháp đồng phần; đó là tuỳ thuộc vào uẩn, xứ, giới[12].
d.Chứng
thật hữu thể.
(Hữu
bộ) Nếu thật sự không có một pháp không có tướng sai
biệt gọi là đồng phần ấy[13](thì) các loài hữu tình (trong
ba cõi, chín địa,...) với những chuyển biến khác nhau, lẽ
ra không thể có sự tri nhận[14] và tên gọi[15] giống nhau
nơi mỗi một hữu tình. Cũng như vậy, với uẩn, xứ v.v...,
có sự tri nhận và tên gọi giống nhau, theo lý mà biết.
e.Đắc
và xả:
Vả
lại, khi sanh, khi chết, hữu tình đồng phần có không xả,
có không đắc; nên lập bốn câu (để hiểu rõ hơn) :
1.Câu
thứ nhất: chết ở cõi nầy lại sanh về cõi nầy (không
xả không đắc).
2.Câu
thứ hai: khi vào địa vị chánh tánh ly sanh, xả dị sanh đồng
phần, đắc thánh giả đồng phần (có xả có đắc).
3.Câu
thứ ba: chết ở cõi nầy sanh đến các cõi khác (cũng xả
cũng đắc).
4.Câu
thứ tư: đó là trừ các hành tướng như trước (vừa mới
nêu).
ii.
Vấn đáp xác định.
a.Năm
vấn nạn của Kinh bộ:
ai.Vô
dị sanh tánh nạn.
Hỏi:
Nếu thật sự có một pháp riêng biệt gọi là dị sanh đồng
phần, cần gì lại lập nên dị sanh tánh; cũng giống như
ngoài nhơn đồng phần, không có một nhơn tánh vậy[16]?
aii.
Phi kiến vô dụng nạn.
Lại
nữa, đồng phần chẳng được thấy bằng hiện lượng của
thế gian, vì nó chẳng phải là sắc; cũng chẳng phải là
đối tượng liễu tri của giác huệ, vì không có công năng
tác dụng nào; cho nên người thế gian tuy không hiểu
(thể của) hữu tình đồng phần, nhưng ở nơi hữu tình vẫn
thấy có cái không sai biệt, do đó dù có thể cũng chẳng
có công dụng (vyāpāra) gì[17].
a.iii.
Phi tình đồng phần nạn.
Lại
nữa, vì lý do gì lại không chấp nhận có vô tình đồng
phần; các loại lúa mạch, lúa mì, đậu, vàng, thiết, xoài
(am la), sa kê (bán na bà), v.v... cũng có các tự loại tương
tợ[18] ?
a.iv.
Biệt hữu đồng phần nạn.
Lại
nữa, các đồng phần sai biệt chuyển biến khác nhau, làm
sao ở trong đó vốn không có (chung) đồng phần mà lại khởi
lên giác huệ, danh ngôn không khác nhau ư[19] ?
a.v.Ưng
đồng Thắng luận[20] nạn.
Lại
nữa, nếu như vậy tức trở thành xiển dương kiến chấp
của Thắng luận;Tông phái kia cho rằng có tổng đồng cú
nghĩa (Sāmānya-padārtha)[21] (tức là), ở trong tất cả các
pháp, có cùng chung ngôn ngữ, cùng chung giác huệ (tổng đồng
ngôn trí) do đó phát sanh tổng đồng cú nghĩa; Tông kia lại
cho rằng, có đồng dị cú nghĩa[22]; tức ở trong phẩm loại
khác nhau, có ngôn ngữ, có giác huệ giống nhau (đồng ngôn
trí); cũng có ngôn ngữ, giác huệ không giống nhau (dị ngôn
trí), do đó phát sinh đồng dị cú nghĩa.
b.Tỳ
Bà Sa Sư nói rằng, quan điểm của Thắng Luận cùng với nghĩa
loại của Hữu bộ không giống nhau; vì (Thắng Luận) nói
một vật chuyển biến trong nhiều vật[23]. Lại nữa, dù đối
với Thắng Luận hoặc xiển dương hoặc không xiển dương,
song đồng phần nầy nhất định là pháp có thật, vì khế
kinh nói như vậy; như Thế tôn nói, nếu trở lại đây, ắt
có nhơn đồng phần ... cho đến nói rộng ra[24].
c.(Kinh
bộ)Tuy Kinh có nói như vậy nhưng không nói rằng thật sự
có một pháp gọi là đồng phần.
d.(Tỳ
bà sa)Nếu vậy, đồng phần được(Kinh bộ) nói là thế nào
?
e.(Kinh
bộ)Tức khi các hành sinh khởi với những phẩm loại (tương
tự) như vậy, ở trong đó, giả lập nhơn đồng phần, v.v...
; cũng giống như các đồng phần của lúa, lúa mì, đậu,
v.v...(là giả, chẳng phải thật).
f.(Tỳ
bà sa) Đây chẳng phải là cách nói hợp lý (thiện thuyết),
trái ngược với tông phái của tôi[25].
Như
vậy, nói xong về đồng phần. Tiếp đến,
3.Vô
Tưởng:
Văn
Tụng .
Hán
:
無
想 無 想 中
心
心 所 法 滅
異
熟 居 廣 果
Việt
dịch :
Vô
tưởng trong vô tưởng
Pháp
khiến tâm tâm sở đều mất
Dị
thục ở Quảng quả /86bcd/.
Luận
giải thích :
i.
Minh thể.
Vô
tưởng[26] trong vô tưởng[27], pháp khiến tâm tâm sở đều
mất: nếu sanh vào cõi trời vô tưởng hữu tình, có một
pháp có khả năng khiến tâm và tâm sở biến mất gọi là
vô tưởng; đó là pháp có thật, nó hay ngăn chận các pháp
tâm tâm sở trong vị lai khiến tạm thời không khởi lên,
giống như đập ngăn nước sông ngòi[28].
ii.Nhị
môn phân biệt.
iia.Dị
thục tính.
Dị
thục: pháp nầy hoàn toàn là quả dị thục.
Dị
thục của pháp nào ?
Của
Vô tưởng định[29].
iib.Xứ
sở.
iibi.Sở
cư xứ.
Vô
tưởng hữu tình ở tại chỗ nào ?
Ở
Quảng quả: nghĩa là trong Quảng quả thiên, có chỗ cao tốt
nhất, giống như ở Trung gian tịnh lự, gọi là Vô tưởng
thiên[30].
Ở
Vô tưởng thiên, chúng sanh luôn luôn vô tưởng hay cũng có
lúc là hữu tưởng ?
Ở
sanh tử vị, phần nhiều hữu tưởng; nhưng nói vô tưởng
nghĩa là, các hữu tình ở cõi kia, trong khoảng thời gian trung
gian (từ khi sanh đến khi chết) rất lâu dài, tưởng không
khởi lên[31]. Như Khế kinh nói, các hữu tình ở cõi kia do
tưởng khởi lên nên từ cõi đó chết đi, song, các hữu tình
kia như ngủ lâu nay bỗng tỉnh thức, trở lại khởi tưởng.
iibii.Thối
sanh xứ.
Từ
cõi trời Quảng quả, sau khi chết (tức sau khi khởi tưởng),
tất sanh cõi Dục, chẳng phải là chỗ nào khác do vì công
phu tu tập thiền định lúc trước đến nay, định lực đã
hết; và ở cõi Dục, không có khả năng tu tập lại được.
Giống như, mũi tên bắn ra giữa hư không, khi lực hết, tất
rơi xuống[32]. Các hữu tình sanh về Quảng quả thiên tất
phải có Dục giới thuận hậu thọ nghiệp. Cũng giống như
sanh về Bắc cu lô châu, nhất định phải có sanh thiên thuận
hậu thọ nghiệp[33].
Đã
nói xong về Vô tưởng quả.
4.
Hai định.
Hai
định là gì ?
Đó
là định vô tưởng và định diệt tận.
i.Định
vô tưởng.
Hành
tướng của định vô tưởng là thế nào ?
Văn
Tụng.
Hán
:
如
是 無 想 定
後 靜 慮 求 脫
善
唯 順 受 生
非 聖 得 一 世
Việt
dịch :
Như
vậy, định vô tưởng
Hậu tịnh lự, cầu thoát,
Thiện,
chỉ thuận sanh thọ; Chẳng phải
thánh, đắc một đời /87/
Luận
giải thích :
ia.
Minh thể.
Như
vậy, định vô tưởng: Như trước đã nói, có một pháp có
khả năng khiến tâm, tâm sở không khởi, gọi là vô tưởng
(quả). Cũng như vậy, lại có một pháp khác có khả năng
khiến tâm, tâm sở không khởi, gọi là định vô tưởng[34].
ib.
Thích danh.
Vô
tưởng ấy là định nên gọi là định vô tưởng (y chủ
thích); hoặc định là vô tưởng nên gọi là định vô
tưởng (trì nghiệp thích).
Như
vậy: chữ “như vậy” nhằm hiển bày cho thấy định nầy
có khả năng khiến cho tâm tâm sở không khởi lên được,
cũng giống với vô tưởng (quả) vậy[35].
ic.
Y địa.
.Hậu
tịnh lự: định này ở cõi nào? Ở hậu tịnh lự
tức là đệ tứ tịnh lự (tứ thiền), chẳng phải chỗ nào
khác[36].
id.Tác
ý.
Cầu
thoát: tu tập định vô tưởng với mục đích gì ? Tìm cầu
giải thoát.Có Ngoại đạo cho rằng vô tưởng là chơn giải
thoát; vì muốn cầu chứng được quả đó nên họ đã tu
tập pháp định vô tưởng[37].
ie.Nhiếp
thuộc tánh nào.
Thiện,
Ở
trước nói vô tưởng là dị thục cho nên nhiếp thuộc tánh
vô ký; đó là điều hiển nhiên. Nay, định vô tưởng hoàn
toàn là thiện; vì là thiện nên chiêu cảm ngũ uẩn dị thục
ở cõi trời vô tưởng hữu tình[38].
if.Chiêu
quả.
Đã
là thiện tánh, thuận với thọ nào ?
Chỉ
thuận với sanh thọ; không thuận với hiện thọ, hậu thọ
và bất định thọ[39]. Như khi khởi lên định nầy, sau đó
tuy thối thất, theo truyền thuyết, hiện thân ắt có khả
năng sanh khởi trở lại, sẽ sanh vào cõi trời vô tưởng
hữu tình, do có được định nầy nên không thể nhập vào
chánh tánh ly sanh[40].
ig.Người
tu.
Chẳng
phải thánh,: Lại nữa, cho rằng định nầy chỉ có hàng dị
sanh chứng đắc, chẳng phải là các bậc thánh; bởi lẽ,
các bậc thánh đối với định vô tưởng, như nhìn thấy
hầm sâu, không ưa nhập vào vậy. Chỉ (những người) cho
rằng vô tưởng là chơn giải thoát mới khởi lên tưởng
xuất ly, tu tập định nầy. Tất cả các bậc thánh không
cho (vô tưởng) hữu lậu là chơn giải thoát và là chơn xuất
ly[41], cho nên đối với định nầy không tu tập.
ih.
Thành tựu.
Như
các bậc thánh khi tu tập chứng được định thứ tư, có
giống như định nầy, cũng chứng được định vô tưởng
quá khứ và vị lai chăng[42]?
Các
hàng phàm phu, cũng không thể chứng được[43].
Vì
sao như vậy ?
đắc
một đời: định vô tưởng dù đã từng tu tập nhưng do vì
vô tâm, cần phải nỗ lực rất nhiều mới chứng được;
cho nên, khi mới chứng được, chỉ chứng được một đời;
đó là chứng được trong hiện tại. Giống như khi mới thọ
đắc biệt giải thoát giới. Khi chứng được định nầy
rồi, ở đệ nhị niệm, v.v... cho đến chưa xả, cũng đều
trở thành quá khứ. Vì là vô tâm, vì không có vị lai tu[44].
ii.Định
diệt tận.
Tiếp
đến, định diệt tận có hành tướng thế nào ?
Văn
Tụng.
Hán
:
滅
盡 定 滅 然
為 靜 住 有 頂
善
二 受 不 定
聖 由 加 行 得
成
佛 得 非 前
三 十 四 念 故
Việt
dịch :
Định
diệt tận cũng vậy
Vì yên, trú hữu đảnh
Thiện,
hai thọ, bất định,
Thánh, do da hạnh đắc /88/.
Thành
Phật, đắc phi tiền
Ba mươi bốn niệm vậy /89ab/
Luận
giải thích :
iia.
Minh thể.
.Định
diệt tận cũng vậy: nghĩa là như định vô tưởng, định
diệt tận cũng vậy.
Chữ
“cũng vậy” nầy, là ví cho nghĩa nào?
Ví
như định vô tưởng khiến tâm, tâm sở diệt mất. Như nói,
lại có một pháp khác có khả năng khiến cho tâm, tâm sở
mất đi, gọi là định vô tưởng. Cũng như vậy, lại có
một pháp khác có khả năng khiến cho tâm, tâm sở mất đi,
gọi là định diệt tận.
Như
vậy hành tướng hai định nầy khác nhau thế nào[45]?
iib.
Tác ý.
Vì
yên,: Thứ nhất, định vô tưởng vì muốn cầu giải thoát
nên trước hết phải tác tưởng xuất ly. Định diệt tận
nầy vì muốn cầu an trú cho nên trước tiên là phải
tác tưởng chỉ tức[46].
iic.Y
địa.
trú
hữu đảnh:Lại nữa, định vô tưởng vị trí ở tại hậu
tịnh lự; định diệt tận nầy vị trí chỉ ở hữu đảnh
tức là phi tưởng phi phi tưởng xứ[47].
iid.Tánh
nhiếp.
Thiện,:định
nầy giống với định trước là cùng tánh thiện, thiện đẳng
khởi; chẳng phải là tánh nhiễm hoặc vô ký[48].
iie.
Chiêu quả.
iiei
.Thời gian.
hai
thọ, bất định: định vô tưởng ở trước chỉ thuận sanh
thọ; định diệt tận nầy thông thuận với cả sanh, hậu
và bất định thọ hoặc toàn bất thọ nghĩa là ở hạ địa
đạt được niết bàn[49]
iieii.
Không gian.
Định
nầy chiêu cảm bao nhiêu uẩn, ở địa nào ?
Chỉ
chiêu cảm bốn uẩn dị thục ở hữu đảnh[50].
iif.
Người tu.
Thánh,:
Định vô tưởng chỉ có dị sanh chứng đắc. Định
diệt tận nầy chỉ bậc thánh mới chứng đắc. Hàng dị
sanh không thể khởi lên được, bởi vì sợ sự đoạn diệt;
chỉ có đạo lực bậc thánh mới có thể khởi lên vì định
nầy được nhập vào bằng thắng giải tưởng hiện pháp
niết bàn[51].
iig.
Thành tựu.
iigi.
Mới tu.
do
da hạnh đắc: định nầy cũng như định vô tưởng ở trước,
chẳng phải do ly nhiễm chứng đắc. Do gì chứng đắc ?
Do da hạnh chứng đắc; cần phải do da hạnh mới có thể
chứng đắc.
Lại
nữa, khi mới đắc, chỉ đắc hiện tại; không đắc được
quá khứ và cũng không tu tập vị lai vì cần phải do tâm
lực mới có thể tu tập và sang đệ nhị niệm cho đến chưa
xả cũng đã thành quá khứ[52].
iigii.
Thành phật.
Thành
Phật đắc, phi tiền[53]; ba mươi bốn
niệm tâm vậy :
Đức
Thế tôn cũng do da hạnh chứng đắc (định diệt tận) ư
?
Không
phải vậy.
Tại
sao ?
Vì
đắc (định diệt tận) khi thành Phật có nghĩa là đắc khi
Phật Thế tôn khởi tận trí[54]; Phật không có một đức
nào do da hạnh đắc. Khi tạm khởi lên dục lạc hiện tiền,
tất cả viên đức đều tuỳ theo lạc mà khởi sinh. Các đức
của Phật đều do ly nhiễm chứng đắc.
Đức
Thế tôn chưa từng khởi định diệt tận, thế thì khi đắc
tận trí, sao lại nói là đắc thành câu phần giải thoát
được[55]?
Vì
đối với định diệt tận, đức Phật khởi lên một
cách tự tại như người đã khởi rồi do đó thành tựu câu
giải thoát[56].
Dị
thuyết.
Các
Sư phương Tây[57] nói: bồ tát ở hữu học vị, trước hết
khởi lên định nầy, sau đó chứng được bồ đề[58].
Tại
sao trong đây lại không chấp nhận luận thuyết của các Sư
Phương Tây[59] ?
(Luận
Chủ) Nếu chấp nhận thuyết kia thì trùng hợp với Lý
mục túc luận[60] của tôn giả Ô ba cúc đa[61]. Luận kia nói
rằng, nên nói đức Như lai trước tiên khởi định diệt
tận, sau mới sanh khởi tận trí (tức thành bồ đề).
Luận
Sư Tỳ Bà Sa nói, chẳng phải trước tiên khởi lên định
diệt tận, sau mới sanh khởi tận trí. Lý do vì sao ? Truyền
thuyết (tức Bà sa) nói Bồ tát do ba mươi bốn niệm mà chứng
đắc bồ đề. Trong hiện quán đế lý[62] có 16 niệm tâm[63].
Lìa hữu đảnh tham có có 18 niệm tâm; đó là đoạn trừ
9 phẩm phiền não ở hữu đảnh, khởi lên 9 vô gián đạo
và 9 giải thoát đạo; như vậy là 18. Cọng trước 16 thành
ra 34. Tất cả các vị bồ tát quyết định, trước hết ở
vô sở hữu xứ, phải lìa tham mới nhập kiến đạo, không
trở lại tu tập đoạn trừ phiền não hạ địa. Ở khoảng
trung gian nầy, không thể cùng khởi lên bất đồng loại tâm[64].
Cho nên các bồ tát ở hữu học vị, không thể khởi định
diệt tận.
Các
Sư ngoại quốc (chỉ cho các Luận sư Ấn Độ ngoài Ca Thấp
Di La) nói: Nếu trung gian khởi lên bất đồng loại tâm, điều
nầy có lỗi gì ?
Nếu
vậy, thì phạm lỗi vượt kỳ tâm (期心), nhưng bồ tát thì
không vượt kỳ tâm.
(Ngoại
quốc... ) Thật sự bồ tát không vượt kỳ tâm, nhưng vượt
vô lậu thánh đạo.
Nếu
vậy, kỳ tâm như thế nào mà nói là không vượt ?
Đó
là, nếu ta chưa đoạn trừ vĩnh viễn các lậu thì không
bao giờ rời khỏi chỗ (thiền định) nầy, quyết định không
vượt kỳ tâm như vậy. Phải trong một lần toạ thiền,
các việc đều xong xuôi.
Thuyết
đầu hợp lý, phù hợp với tôn chỉ của tôi.
Tuy
đã nói về những hành tướng đồng dị của hai định, nhưng
ở trong đó, lại có đồng dị.
iii.
Sở y thân.
Văn
Tụng.
Hán
:
二
定 依 欲 色
滅 定 初 人 中
Việt
dịch :
Hai
định ở Dục, Sắc Diệt định ban đầu ở nơi
người /89cd/
Luận
giải thích :
Hai
định,: nói hai định đó là định vô tưởng và định diệt
tận.
Ở
Dục, Sắc: tức là hai định nầy đều nương vào hai cõi
Dục và Sắc mà hiện khởi[65]. Nếu có người (tự bộ sư)
không chấp nhận cũng nương vào cõi Vô sắc, khởi định
vô tưởng là trái với văn nầy tức Phát trí, Bổn luận
nói, hoặc hữu là hữu tình cõi Sắc; hữu tình nầy không
đủ năm hành[66]; đó là các hữu tình hệ thuộc cõi sắc,
hoặc sanh cõi trời hữu tưởng, trú bất đồng loại tâm,
hoặc nhập định vô tưởng, hoặc sanh cõi trời vô tưởng
đã nhập vô tưởng đó gọi là hữu tình cõi Sắc; hữu
tình nầy không đủ năm hành[67]. Như vậy biết rằng hai định
đều nương vào Dục Sắc mà hiện khởi; đó gọi là đồng
tướng.
Nói
dị tướng: nghĩa là định vô tưởng đầu tiên có thể khởi
lên ở nơi cả hai cõi Dục, Sắc[68].
Diệt
định ban đầu ở loài người: định diệt tận, ban đầu
chỉ khởi lên ở loài người. Định nầy, đầu tiên, ở
nơi loài người tu tập khởi lên; tiếp đến, phải thối,
mới sanh về cõi Sắc; dựa vào thân cõi sắc, lại tu tập
khởi lên[69].
Định
diệt tận nầy cũng có thối thất ư ?
Nên
nói, cũng có. Bởi lẽ, nếu không như vậy tức trái với
kinh Ô đà di[70], Kinh nói, Cụ thọ[71]! có các tỳ kheo, trước
hết, ở trong chánh pháp[72], giới hạnh trang nghiêm[73], đầy
đủ thiền định[74], đầy đủ trí tuệ[75], luôn luôn nhập,
xuất định diệt thọ tưởng; đây là sự thật, nên biết
như vậy. Những tỳ kheo đó trong hiện pháp[76]hoặc trong khi
lâm chung, không thể tinh tấn tu tập để liễu giải quả
vô học (mãn túc)[77]; khi thân bị hoại diệt, vượt qua cõi
trời đoàn thực[78], thọ nhận lấy một thân ở cõi ý thành
thiên. Khi sanh về cõi Ý thành thiên, lại thường xuất nhập
định diệt thọ tưởng; cũng có việc như vậy, nên như thật
mà biết. Ý thành thiên nầy, Phật nói là ở cõi Sắc, định
diệt thọ tưởng chỉ ở tại Hữu đảnh; nếu như chứng
được định nầy, quyết định không bị thối thất thì
làm sao sanh về cõi Sắc?
Quan
điểm của các bộ phái khác cho rằng, đệ tứ tịnh lự
cũng có định diệt tận; theo đó, định diệt tận không
bị thối thất.
Nghĩa
nầy cũng thành tựu vậy.
(Hữu
bộ) Đệ tứ tịnh lự có định diệt tận, nghĩa nầy không
thể thành tựu.
Lý
do vì sao ?
Do
Khế kinh nói rằng, chín định theo thứ tự[79].
(Đại
chúng bộ) Nếu chín định theo thứ tự là tất nhiên, làm
sao có nghĩa thiền định vượt thứ tự ?
Thiền
định theo thứ tự là nói cho hàng mới học, khi đã được
tự tại rồi thì tuỳ theo ý muốn mà (siêu) nhập.
Sự
khác nhau giữa hai định.
Như
vậy, hai định có rất nhiều tính chất khác nhau; đó là
:
Cõi
khác nhau: đệ tứ tịnh lự và hữu đảnh.
Da
hạnh khác nhau: đó là tác ý hoặc xuất ly hoặc chỉ tức.
Tương
tục khác nhau: khởi lên ở dị sanh tương tục và ở thánh
giả tương tục.
Dị
thục khác nhau: vô tưởng dị thục quả và hữu đảnh dị
thục quả.
Thuận
thọ khác nhau: định thọ, bất định thọ; sanh thọ và hai
thọ (hiện và hậu).
Sơ
khởi khác nhau: tối sơ khởi hoặc ở hai cõi hoặc loài người.
Hai
định đều lấy việc diệt trừ tâm, tâm sở làm tự tánh,
vì duyên có gì chỉ nói vô tưởng và diệt thọ tưởng ?
Hai
định, trong da hạnh, chỉ nhàm chán với pháp (thử, hữu tưởng)
ngược lại với nó. Cũng giống như biết thọ, v.v...
nhưng chỉ gọi là tha tâm trí[80].
Nay,
trong hai định, tâm đã bị đoạn trừ trong một thời gian
lâu, làm sao sau đó, có thể sanh khởi trở lại ?
Luận
sư Bà sa cho rằng có tâm trước (tiền tâm) trong quá khứ
làm đẳng vô gián duyên cho các tâm sau.(Trả lời thứ nhất)
Có
các Luận Sư khác (Kinh Bộ ) nói, như sanh về cõi Vô
sắc, sắc đã được đoạn trừ lâu ngày, như thế nào
mà vào lúc sau, sắc lại sanh khởi được? Sắc kia sanh
khởi là do tâm chứ chẳng phải do sắc; cũng như vậy, khi
xuất định, tâm cũng thế do có căn thân chứ không phải
do tâm khởi lên[81].(trả lời thứ hai).
Cho
nên các vị Quỷ phạm sư các thời trước đều nói
hai pháp nầy hỗ tương làm chủng tử. Hai pháp là gì ? đó
là tâm và thân căn.
Tôn
giả Thế Hữu[82] trong Vấn luận[83] nói, nếu cho rằng định
diệt tận hoàn toàn không có tâm có thể phạm vào lỗi nầy
(vô tâm sinh hữu tâm); tôi nói định diệt tận còn có tâm
trong dạng vi tế(tế tâm) nên không có lỗi[84].
Tôn
giả Diệu âm[85] nói, điều đó phi lý[86].
Lý
do vì sao ?
Bởi
lẽ, nếu trong định nầy còn có thức tức ba pháp hoà hợp,
tất phải sanh xúc; do xúc làm duyên nên có thọ và tưởng.
Như đức Thế tôn nói, ý và pháp làm duyên, sanh khởi ý thức;
ba pháp hoà hiệp sanh xúc; đồng thời thọ, tưởng và tư
cùng khởi lên. Thế thì, trong định nầy, các pháp thọ, tưởng,
v.v.. cũng không bị diệt.
(Thế
hữu) Nếu bảo như kinh nói, thọ (làm) duyên (sanh) ái; song,
A la hán tuy có các thọ nhưng không sinh ái. Xúc cũng như vậy;
chẳng phải tất cả các xúc đều là duyên của thọ, v.v...[87]
(Hữu
bộ)Ví dụ nầy không thể được vì có sự khác nhau vậy.
Trong Kinh phân biệt rằng, như các thọ sinh khởi do duyên với
vô minh xúc là duyên sinh ái; không có chỗ nào nói chỉ có
xúc sinh thọ; cho nên có sự khác nhau[88]. Do ý nghĩa nầy,
các Luận sư Tỳ bà sa nói, trong định diệt tận, các tâm
đều diệt.
(Thế
hữu) Nếu hoàn toàn không có tâm, làm sao được gọi là định?
(Hữu
bộ) Ở đây, khiến cho đại chủng bình đẳng trú nên gọi
là định; hoặc do tâm lực bình đẳng cho đến định nầy
nên gọi là định[89].
Như
vậy, hai định nầy là thật có hay giả có ?
(Hữu
Bộ) Nên nói, thật có. Bởi lẽ nó làm chướng ngại khiến
các tâm (tâm sở) không sanh khởi được[90].
Có
thuyết (Kinh Bộ) nói , chứng lý nầy không thuyết phục. Thật
sự, do tâm trước định (tiền định tâm) làm chướng ngại
nghĩa là tâm trước định cùng với các tâm còn lại khác
sinh khởi trái ngược nhau; (tức là) do tâm (trước định)
nầy khởi khiến cho các tâm khác tạm thời không chuyển khởi;
tâm trước định nầy có khả năng dẫn phát thân sở y trái
ngược với tâm, khiến nó tương tục vậy. Căn cứ vào bất
chuyển vị, giả lập làm định, (là vô tâm,) không có thật
thể riêng biệt[91]. Chính bất chuyển phần vị giả lập
làm định nầy, trước khi nhập định, sau xuất định,
cả hai giai đoạn đều không có thật, cho nên giả nói nó
nhiếp thuộc hữu vi[92]. Hoặc chính thân sở y do định tâm
dẫn dắt khiến khởi lên như vậy; giả lập làm định[93].
Nên
biết, vô tưởng cũng lại như vậy; nghĩa là do tâm trước
cùng với các tâm khác còn lại, trái ngược nhau mà khởi
lên. Do tâm nầy khởi khiến các tâm khác tạm thời không
chuyển khởi; ở nơi không chuyển vị đó giả lập vô tưởng.
Các thuyết khác cũng như trước.
Thuyết
nầy không hợp lý, trái với chủ trương của tôi (ngã tông).
Như
vậy đã nói xong về hai định. ◘ (còn tiếp)
Việt
dịch: Thích Phước Viên
[1]
Ht. 同 分 有 情 等. Cđ. 同 分 眾 生 等.
[2]
Đồng phần, 同 分 . Quang ký q.5,tr.92c10, “Có thể loại như
nhau gọi là đồng (khác với kinh bộ cho rằng, thể của đồng
phần là giả); Phần có nghĩa là riêng biệt; tuy thể loại
giống nhau nhưng thể tính riêng biệt (khác với Thắng luận
cho rằng, có một cú nghĩa chung, tức có một vật xuyên suốt
nhiều pháp). Chính phần gọi là đồng cho nên gọi là đồng
phần (trì nghiệp thích). Hữu tình là pháp sở y; khác
với phi tình; đẳng là thể của pháp đồng phần năng y;
khác với bất đẳng. Lại có giải thích, thân hình như nhau
nên gọi là đồng (chỉ quả sở sanh); phần có nghĩa là nhơn
(chỉ năng sanh nhơn). Nhân của đồng (đồng chi phần) nên
gọi là đồng phần (y chủ thích). Chánh lý q.12,tr.400a 27 nói,
“trong đó, thân hình, nghiệp dụng, lạc dục chuyển biến
giống nhau cho nên gọi là đồng. Phần có nghĩa là nhơn, có
một pháp riêng biệt tức pháp đồng nhơn nầy nên gọi là
đồng phần”.
[3]
Đẳng 等, đẳng đồng 等 同: ngang bằng, ngang nhau. Skt.
Sama, saṃnibha. Quang ký q.5,tr.92c14, nói, chữ đẳng được
dùng để phân biệt với bất đẳng, 不 等. Skt. Asamāna.
[4]
Ht. 有 情. Cđ. 眾 生. Skt. Sattva, pudgala. Quang ký q.5,tr.92c13
nói, chữ hữu tình được dùng để phân biệt với phi tình
非 情. Skt. Asattva.
[5]
Ht.biệt thật vật, 別 實 物. Skt. Dravyântara.
[6]Ht.
Đó là thể loại đồng đẳng vận hành trong các loài hữu
tình. Quang ký q.5,tr.92c25, 謂 諸 有 情: chỉ cho pháp sở
y; 展 轉 類 等: chỉ cho pháp đồng phần năng y. 或 謂
諸 有 情 展 轉 類 等: theo cách nói nầy tức là nêu quả
để hiển bày nhơn (hữu tình là quả; loại đẳng là nhơn).
Bà sa q.27, tr.138a 09, Thế nào gọi là chúng đồng phần? -đó
là hữu tình đồng phần, cũng giống như mạng căn, thể là
một pháp nương tựa vào tất cả các thân phần. Pháp
nầy nhiếp thuộc bất tương ưng hành pháp.
[7]
Ht. Bổn luận, 本 論 tức luận Phát trí, 發 智
( Jñānaprasthāna). Cđ. A tỳ đạt ma tạng, 阿 毘 達 磨 藏.
[8]
Quang ký q.5,tr.93a02, nhiều thể loại như nhau nên gọi là chúng
đồng; riêng biệt gọi là phần. Một giải thích khác, nhiều
pháp có nhơn giống nhau (tương tợ) nên gọi là chúng đồng
phần. Lại có giải thích, nhiều loại hữu tình chuyển
biến bởi nhơn giống nhau nên gọi là chúng đồng phần.
[9]
Phát trí q.1, tr.921c 25, 答 依 命 根 眾 同 分,及 餘 如 是
類,心 不 相 應 行
[10]
Ht. Không sai biệt, 無 差 別; Cđ. 不 異. Skt. Abhinna.
[11]
Ht. Có sai biệt, 有 差 別 ; Cđ. 異. Skt. bhinna
[12]
Quang ký q.5,tṛ93a25, Ở trong đồng phần, lại có pháp đồng
phần. Tuỳ uẩn, xứ, giới nghĩa là, ở đây nêu pháp đồng
phần sở y (uẩn, xứ, giới) để hiển bày pháp năng y đồng
phần. Chính do năng y đồng phần nầy đã khiến cho các pháp
trong năm uẩn, trong 12 xứ, trong 18 giới, mỗi mỗi đều chuyển
biến giống nhau.
[13]
Quang ký q.5,tr.93b24, Đây là Hữu bộ căn cứ vào đồng phần
hữu tình không sai biệt mà đặt ra câu hỏi đối với Kinh
bộ, để chứng minh là phải có thực thể đồng phần. Hữu
tình chẳng phải chỉ có một nên nói là hữu tình hữu tình;
đồng là hữu tình nên nói đẳng vô sai biệt. Nếu không
có một thật pháp không có tướng sai biệt gọi là hữu tình
đồng phần thì trong các loài hữu tình với những chuyển
biến khác nhau ở các cõi Dục, cõi Sắc, v.v..., lẽ ra không
thể có sự tri nhận giống nhau nơi từng cá thể hữu tình;
cũng không thể có sự thi thiết danh ngôn giống nhau nơi mỗi
một hữu tình. Bởi lẽ, tri nhận tất phải duyên cảnh, có
cảnh làm đối tượng; danh ngôn (là năng thuyên) tất phải
chuyển tải, truyền đạt giáo pháp . Do đó, đã khởi lên
tri nhận (tức có thể), danh ngôn (tức có dụng) chứng
tỏ là phải có thật thể.
[14]
Ht. Tri nhận, 覺 . Cđ. 智. Skt. pra-jñā; trong đó, động từ
căn jñā: có nghĩa là biết, hiểu biết
[15]
Ht. Tên gọi, 施 設 . Cđ. 言 說. Skt. Prajñapti: tin
tức, thông tin, chỉ dẫn. Quang ký q.5,tr.93b22, nói là thi thiết
danh ngôn (tức là các từ, danh từ được dùng làm tên gọi
cho sự việc, sự vật,...) .
[16]
Quang ký q.5,tr.93c16, (i. y văn thuật nạn) dị sanh đồng phần
(tức đồng phần của phàm phu) vốn đã khác với bậc thánh,
cần gì lại lập thêm dị sanh tánh ( vì dị sanh tánh cũng
là phàm phu); cũng giống như, ngoài nhơn đồng phần không
lập riêng một nhơn tánh. Tại sao, ngoài dị sanh đồng phần
lại lập thêm một dị sanh tánh? (ii.Luận Chánh Lý cứu) q.12,
tr.400b 04 nói, há không phải dị sanh tánh tức là dị sanh
đồng phần sao? Không phải. Sở tác của chúng khác nhau; nghĩa
là, thân hình nghiệp dụng, lạc dục hỗ tương lẩn nhau làm
tương tợ nhân gọi đó là đồng phần. Nếu trái ngược
với sự thành tựu thánh đạo là dị sanh nhân; đó là dị
sanh tánh. Khi bước vào thánh tánh ly sanh, đối với đồng
phần, có xả, có đắc; đối với dị sanh tánh, có xả, không
có đắc. Quang ký q.5,tr.93c23, Ý của Luận Chánh Lý nói rằng,
tác dụng của dị sanh tánh và dị sanh đồng phần không giống
nhau nên ngoài dị sanh đồng phần, lập dị sanh tánh; ngoài
nhơn đồng phần không lập nhơn tánh vì sở tác giống nhau;
hơn nữa, khi bước vào bậc thánh, đối với đồng phần
thì xả dị sanh đồng phần, thành tựu thánh giả đồng phần;
đối với dị sanh tánh, chỉ xả dị sanh tánh mà không thành
tựu dị sanh tánh; không thể nói rằng, không thành tựu thánh
tánh, bởi lẽ, chính thánh pháp là thánh tánh vậy. (iii. Cu
xá sư bác), khi trở thành bậc thánh không xả đồng phần
thì có thể lập riêng dị sanh tánh; bước vào thánh đã xả
đồng phần, cần gì lập riêng dị sanh tánh. Nếu nói rằng,
sở tác khác nhau nên cần lập riêng thì nhơn đồng phần
và nhơn tánh, sở tác cũng khác nhau, sao lại không lập tự
loại tương tợ gọi là nhơn đồng phần; trái với phi nhơn
gọi là nhơn tánh.
[17]
(ii.Chánh Lý cứu) q.12, tr.400b 08, đồng phần chẳng phải là
sắc làm sao biết được là có công năng sanh khởi một thể
loại giống nhau?- do thấy kết quả của nó mà biết là có.
Chẳng hạn như, thấy kết quả hiện tại mà biết rằng đời
trước đã từng tạo nghiệp. Lại nữa, người tu tập thiền
quán chứng tri bằng hiện lượng vậy. (Quang ký q.5, tr.94a12)
Giải thích, đồng phần chẳng phải là sắc ... thể loại
giống nhau, đó là Chánh Lý nêu lên nạn ý của Câu xá. Do
thấy kết quả của nó trở xuống, là phần giải thích của
Chánh Lý nhằm đã thông. (Quang ký,q.5,tr.94a 14, iii. Câu Xá
Sư bác) Nếu nhân duyên không thể sanh quả đồng loại của
nó, thì mới cần đồng phần sanh; (đàng nầy) nhân duyên
đã tự sanh quả, cần gì phải có đồng phần sanh. Còn như
ngoại đạo tu tập thiền định cũng nói chứng đắc được
ngã, há ta lại tin có một bản ngã có thật thể ư!
[18]
Quang ký q.5,tr. 94a 20, (i.y văn thuật nạn), các loại vô tình
như ngũ cốc, v.v..., cũng hỗ tương làm tương tợ nhân,
tại sao lại không lập đồng phần? (ii. Chánh lý q.12, tr.400b
11, cứu) Tại sao lại không chấp nhận có vô tình đồng phần
là một vấn nạn không nên nêu ra, phạm lỗi thái quá. (bởi
lẽ) Các ông cũng chấp nhận có loài người, loài trời, v.v...,
từ thai, từ trứng sinh ra, sao lại không chấp nhận có giống
xoài, v.v... duyên đậu sinh ra. .....Hơn nữa, do các loại
thảo mộc v.v... kia không có các nghiệp dụng, lạc dục hỗ
tương vận chuyển làm tương tợ nhân cho nhau cho nên không
nói có đồng phần. (Quang ký q.5,tr.94a28, Câu Xá bác bỏ) Thú
là năm thú, sanh là bốn sanh; vô tình chẳng phải những thứ
đó nên có thể chẳng phải là thú, là sanh; nhưng, vô tình
vẫn có thể loại tương tợ cho nên nên có đồng phần. Lại
nữa, có lạc dục v.v..., giống nhau nên cần lập riêng đồng
phần; thế thì, duyên đậu, v.v... cũng giống nhau, sao lại
không lập đồng phần?
[19]
Quang ký q.5,tr.94b04, (i.y văn luận nạn) Thể của các pháp
sở đồng phần mỗi mỗi khác nhau, do cùng có một thể loại
đồng đẳng cho nên mới có sự giống nhau. Pháp năng đồng
phần trong tương quan cũng khác nhau; thế thì làm sao từ chỗ
không có chung đồng phần lại có thể khởi lên giác huệ
năng duyên không sai biệt, sự thi thiết danh ngôn không sai
biệt. Nếu có chung đồng phần thì sự chuyển biến
sẽ mắc lỗi vô cùng. (ii. Chánh lý cứu) q.12, tr.400b 28, do
các đồng phần sai biệt kia chính là nhân tánh (因 性)
của các pháp đồng loại (đồng loại sự), v.v... tức là
nhân khiến các pháp đồng loại như giác huệ, danh ngôn vận
chuyển giống nhau. Như mắt, tai,v.v... do đại chủng tạo mới
thành tánh chất của sắc; đại chủng tuy không do các đại
chủng khác tạo nên nhưng tánh chất của sắc vẫn thành tựu.
(iii. Quang ký q.5,tr.94b11, Câu Xá bác) Nếu nói rằng do cùng
chung nhân nên thể cũng cùng chung thì, đồng phần của
mỗi tự loại, v.v... vốn không có chung đồng phần không
sai biệt tức là nhân của giác huệ, danh ngôn cũng là nhân
của sở đồng phần tự loại, v.v..., thì không cần có đồng
phần đồng làm nhân của giác huệ, danh ngôn. Lại nữa, ví
dụ được đưa ra phạm vào lỗi trái ngược với tôn chỉ.
Sắc tánh của mắt, v.v..., trong ba đời vốn cố định, làm
sao lại nói, do đại chủng tạo mới thành sắc tánh; chỉ
nên nói, do đại chủng tạo, không nên nói, do đại chủng
tạo mới thành sắc tánh.
[20]
Ht.Thắng luận 勝 論 師. Quang ký q.5,tr.94b18, tiếng Phạn gọi
là Phệ thế sư (吠 世 師) Trung quốc gọi là Thắng luận
sư; xưa gọi là Tì (Bệ) thế sư (鞞 世 師); hoặc gọi
là Vệ thế sư (衛 世 師 ) , cách gọi nầy sai.
[21]
Quang ký q.5,tr.94b21, xuyên suốt tất cả các pháp gọi là tổng
đồng(總 同; ngôn ngữ xuyên suốt tất cả các pháp (tổng
đồng ngôn 總 同 言), trí giác xuyên suốt tất cả các pháp
(tổng đồng trí 總 同 智); do đó phát sinh cú nghĩa xuyên
suốt các pháp (tổng đồng cú nghĩa 總 同 句 義)
[22]
Quang ký q.5,tr.94b24, ở trong nhiều phẩm loại khác nhau, cùng
loại với nhau (đồng loại tương vọng) gọi là đồng; không
cùng loại với nhau (dị loại thương vọng) gọi là dị. Đồng
thì biến khắp đồng pháp; dị thì biến khắp dị pháp. Ở
trên nhiều phẩm loại pháp khác nhau, có đồng dị ngôn ngữ,
đồng dị trí giác, theo đó phát sinh đồng dị cú nghĩa.
[23]
Quang ký q.5,tr.95b07, (Bà sa sư cứu) trong năm vấn nạn, bốn
vấn nạn trước, không thể cứu, chỉ được vấn nạn thứ
năm, đồng Thắng luận nạn. Rằng, hai cú nghĩa (tổng đồng
cú nghĩa và đồng dị cú nghĩa 同 異 句 義) của Thắng luận
không giống với đồng phần của Hữu bộ. Bởi lẽ Thắng
luận cho rằng có một pháp chuyển biến xuyên suốt trong tất
cả các pháp; Hữu bộ lại cho rằng, ở trong các pháp, thể
của đồng phần khác nhau. Một thể, nhiều thể khác nhau,
làm sao nói Hữu bộ xiển dương Thắng luận được.
[24]
Madhyama,24,3.
[25]
Quang ký q.5,tr.95b22,(đây là ý của Quang ký) Các Luận sư Tỳ
bà sa nói như vậy vì lý tận ngôn cùng.
[26]
Ht. Vô tưởng 無 想: vô tưởng dị thục 無 想 異 熟. Skt.āsaṃjñka.
[27]
Ht. Vô tưởng 無 想: vô tưởng thiên 無 想 天. Skt.
[28]
Quang ký q.5,tr.95b 27, nếu sanh vào cõi trời Vô tưởng hữu
tình tất có một quả pháp dị thục thuộc pháp bất tương
ưng có khả năng khiến cho tất cả các tâm, tâm sở trong
vị lai không khởi lên được, gọi là vô tưởng. Thể tánh
của pháp nầy là một thật hữu, do đó, có khả năng ngăn
chận các tâm, tâm sở vị lai không khởi lên trong 500 kiếp,
như con đê ngăn nước các sông. Cho nên biết là thật hữu.
Sợ lẩn lộn với thảo mộc v.v... nên nói là hữu tình.
[29]Bà
sa q.118,tr.615a 05, hoặc có thuyết nói, Vô tưởng định chiêu
cảm vô tưởng dị thục và sắc dị thục; mạng căn và chúng
đồng phần là hữu tâm tịnh lự dị thục của nó. Các uẩn
còn lại gồm cả hai loại dị thục. Lại có Thuyết cho rằng,
Vô tưởng định chiêu cảm vô tưởng dị thục và sắc dị
thục; mạng căn là hữu tâm tịnh lự dị thục của nó; các
uẩn còn lại gồm cả hai loại dị thục. Lại có Thuyết
cho rằng, nếu khi hữu tâm cũng chiêu cảm vô tâm chư uẩn
dị thục; nếu khi vô tâm cũng chiêu cảm hữu tâm chư uẩn
dị thục... (Bà sa) bình gia, nói rằng, nên nói thế nầy,
vô tưởng dị thục chỉ có vô tưởng định chiêu cảm. Tất
cả các pháp như mạng căn, chúng đồng phần, các sắc căn
mắt, tai,v.v... đều được chiêu cảm bởi nghiệp; các uẩn
còn lại được chiêu cảm bởi cả hai. Chánh lý q.12, tr.400c13,
giống quan điểm của vị sư thứ nhất trong Bà sa, không chánh
nghĩa. Quang ký q.5,tr.95c 14, Luận nầy đồng quan điểm với
Bình gia. Hỏi: Luận nầy như đồng quan điểm với Bình gia
thì, mạng căn và sắc căn chẳng phải được chiêu từ Vô
tưởng định, thế thì tại sao, trong văn sau, phần dẫn, mãn
nghiệp, chỉ nói, hai định và đắc không thể chiêu cảm
chúng đồng phần mà không nói không chiêu cảm mạng căn và
sắc căn? Giải thích-trong văn ở phần sau nói chiêu cảm hai
loại dẫn nghiệp, mãn nghiệp, chỉ nói hai định và đắc
không thể chiêu cảm dẫn nghiệp, có thể chiêu cảm mãn nghiệp;
chẳng phải trong chiêu cảm mãn nghiệp là có thể chiêu cảm
tất cả.
[30]Quang
ký q.5,tr.95c22, trong cõi trời Quảng quả (quảng quả là cõi
thứ ba trong chín cõi của đệ tứ thiền), có chỗ cao đẹp
nhất, vô tưởng hữu tình sống ở trên đó; cũng giống như
Trung gian tịnh lự (ở giữa sơ thiền và nhị thiền, có tứ,
không có tầm)Phạm thiên, ở trong cõi trời Phạm phụ (cõi
thứ hai trong ba cõi của sơ thiền),xây dựng một cái đài
để ở riêng vậy.
[31]
Bảo sớ q.5,tr542b 15, Khi mới sanh vào cõi vô tưởng, phần
nhiều là hữu tưởng; vào lúc sắp lâm chung cũng vậy. Chỉ
ở khoảng giữa hai giai đoạn đó là một thời gian dài không
khởi tưởng; theo nghĩa nầy nên nói là vô tưởng, chẳng
phải ở cõi kia hoàn toàn không có tưởng. Bà sa q.154, tr.784c16,
việc đó bất định, hoặc trước nhiều sau ít; hoặc trước
ít sau nhiều, có sự khác biệt tuỳ theo ý thích. ...Lại có
nhà bình giải của Bà sa nói rằng, ra khỏi tâm vô tưởng
thông hiệp với sanh đắc thiện, hữu phú vô ký, vô phú vô
ký; thông hiệp với ngũ bộ sở đoạn. Và có bao nhiêu tuỳ
miên tuỳ tăng?-sắc giới hữu lậu duyên nghĩa là đệ tứ
định hữu lậu duyên tuỳ miên. Hỏi:vì sao vô lậu duyên
tuỳ miên đối với vô tưởng kia không tùy tăng? Đáp: người
tu vô tưởng định cho rằng, vô tưởng là niết bàn, vô tưởng
định là chơn đạo; cho đến sanh về đó hoặc từ đó chết
đi cũng chỉ chấp như vậy, theo đó mà tuỳ chuyển. Đối
với chơn diệt đạo, không báng bổ cho là không cho nên vô
lậu duyên, bấy giờ không khởi.
[32]
Quang ký q.5,tr.96a 21 (vị sư thích nhất của Bà sa giải thích)
Thế lực tu tập vô tưởng định trước kia, nay đã hết;
hoặc lực tu nhân hữu tâm định, hay vô tâm định đã hết,
không còn khả năng chiêu cảm kết quả (tức không duy trì
được cuộc sống ở cõi vô tưởng), nên từ cõi đó, khi
mạng chung, sanh trở lại cõi Dục;ở cõi Dục, lại không
có khả năng tu tập vô tưởng định, hoặc tu hữu tâm định
hoặc vô tâm định cho nên chẳng thể sanh về cõi vô tưởng
được. Cũng giống như mũi tên bắn ra giữa hư không, khi
hết lực, tất phải rơi xuống đất.
[33]
Quang ký q.5,tr. 96a 28 Do có Dục giới thuận hậu thọ nghiệp
nên chỉ sanh về Dục giới, chứ không sanh về một cõi nào
khác. Bà sa q.154, tr. 784a 07 có Thuyết, nếu đã tạo vô tưởng
thiên thuận thứ sanh thọ nghiệp, thì tất yếu (pháp nhĩ)
cũng đã tạo Dục giới thuận hậu thứ thọ nghiệp; cũng
giống như đã tạo Bắc cu lô châu thuận thứ sanh thọ nghiệp,
tất yếu, cũng đã tạo Dục giới thiên thuận hậu thứ thọ
nghiệp. (Thuận sanh, thuận thứ sanh là nói về sanh báo tức
tạo nghiệp trong đời hiện tại, kết quả chỉ xảy ra hay
nhận lấy vào đời kế tiếp; đời nầy gọi là kim sanh,
đời kế tiếp gọi là thứ sanh. Thuận hậu hay thuận hậu
thứ thọ nghiệp tức nói về hậu báo, nghĩa là tạo nghiệp
nhân trong đời hiện tại, phải nhận lấy kết quả vào đời
kế tiếp sau sanh báo; sau gọi là hậu , kế tiếp sau đời
sau (tức sau sanh báo) gọi là hậu thứ. Thuận hiện thọ nghiệp
tức hiện báo, nghĩa là, tạo nghiệp trong đời nầy, kết
quả xảy ra ngay đời nầy. Đây là nói về ba thời thọ báo.)
[34]
Quang ký q.5,tr.96b 29, như trước đã nói, có một pháp vô tưởng
dị thục có khả năng khiến tâm, tâm sở không thể khởi
lên được; pháp đó được gọi là vô tưởng; cũng giống
như vậy, lại có một pháp tâm bất tương ưng hành có khả
năng khiến tâm, tâm sở không khởi lên được gọi là
định vô tưởng. Bà sa q.151,tr.772c 28, do đó, tôn giả Thế
hữu nói rằng, thế nào là định vô tưởng? đã xa lìa biến
tịnh nhiễm, chưa lìa được thượng nhiễm; đầu tiên phải
tác ý khởi tưởng xuất ly; các pháp tâm, tâm sở không khởi
lên, đó gọi là định vô tưởng.
[35]
Quang ký q.5,tr.96c 04, Trong văn Tụng, hai chữ như vậy
chỉ có nghĩa là nhằm hiển bày rằng, định nầy có khả
năng ngăn chận không cho tâm, tâm sở khởi lên giống với
vô tưởng dị thục ở trước; nhưng chẳng phải giống nhau
hoàn toàn.
[36]Bà
sa q.151,tr.773b11, Hỏi: Định vô tưởng nầy, ở chỗ nào,
có thể khởi lên? Có Thuyết cho rằng, chỉ khởi lên ở cõi
dục vì cõi nầy tâm thức mạnh mẽ. Có Thuyết, do lực khởi
lên vậy. Có Thuyết, ở cõi dục và cả ba cõi thiền đầu,
đều có thể khởi lên; do tâm có lực đã từng cố gắng
tu tập cũng có thể khởi lên. Lại có Thuyết nói, ở cõi
thiền thứ tư cũng có khả năng hiện khởi, trừ ở cõi trời
vô tưởng, vì không thể quả và nhân bức ép lẩn nhau. Bà
sa q.151,tr.773b04, lại nữa, các cõi dưới có cảm thọ về
hỷ quá mạnh, hành tướng thô động, khó trừ diệt;ở đệ
tứ tịnh lự chỉ có cảm thọ về xả (xử trung thọ), hành
tướng nhỏ nhiệm, dễ đoạn trừ. Đó là lý do khiến ở
các cõi dưới không có định vô tưởng. Hỏi: thế thì vì
sao ở cõi vô sắc lại không có định vô tưởng? -đáp: chỉ
có phàm phu mới cho rằng, tu tập định nầy có khả năng
chứng được vô tưởng niết bàn; ở vô sắc không có vô
tưởng dị thục để chấp cho nên ở đó cũng không có định
vô tưởng. Thêm vào đó, hàng phàm phu rất sợ đoạn diệt,
ở cõi kia vốn là vô sắc, nếu lại diệt luôn cả tâm, tức
là đoạn diệt là điều mà phàm phu rất sợ, do đó,
ở cõi vô sắc, không có định vô tưởng.
[37]
Chánh lý q.12,tr.401a18, vì sao định vô tưởng lại gọi là
định của phàm phu? Vì muốn tìm cầu giải thoát, tu tập
định nầy; phàm phu chấp rằng vô tưởng là chơn giải thoát,
lại chấp vô tưởng định là còn đường để thoát khỏi
sanh tử;vì muốn chứng được quả vô tưởng mà tu tập định
nầy vậy. Quang ký q.5,tr. 96c 19, người tu tập định vô tưởng
nhằm mục đích đạt được giải thoát niết bàn. Họ cho
rằng, vô tưởng dị thục là chơn giải thoát niết bàn; và
vì muốn cầu chứng quả, họ tu tập định vô tưởng, tác
ý xuất ly.
[38]
Quang ký q.5, tr. 96c 24 định nầy chỉ nhiếp thuộc thiện tánh,
có khả năng chiêu cảm ngũ uẩn dị thục trong cõi trời vô
tưởng hữu tình; lúc đầu mới sanh, sau cùng khi chết, đều
có tâm, tâm sở cho nên đầy đủ năm uẩn.
[39]
Chánh lý q.12,tr.401a 29, có thuyết giống với Luận nầy. Lại
có thuyết (ibid, tr.401b01,một số Luận sư Chánh lý) cho rằng,
định nầy thuận với sanh thọ và bất định thọ . Lý do
vì sao? -đáp: người thành tựu định nầy cũng có thể dự
nhập hàng thánh; vào rồi tất không còn hiện khởi định
nầy. Như vậy, do căn cứ vào hiện hành mà nói định vô
tưởng là định của phàm phu; chẳng phải căn cứ vào thành
tựu
[40]
Bà sa q.152,tr.773b17,Hỏi: khởi lên định nầy rồi, về sau
có thể nhập kiến đạo được không? Có Thuyết trả lời,
không thể bởi vì định nầy là định của phàm phu. Nếu
khởi định nầy, sau vẫn có thể nhập kiến đạo có
nghĩa là bậc thánh cũng thành tựu định nầy , thì không
thể gọi là định của phàm phu. Có Thuyết nói, Khởi định
nầy rồi, về sau cũng có thể nhập kiến đạo; hỏi, nếu
vậy sao lại gọi là định của phàm phu? Đáp, bậc thánh
tuy thành tựu nhưng không hiện hành. Định kia, căn cứ vào
hiện hành cho nên gọi là định của phàm phu. Do đó, tôn
giả Diệu Âm nói rằng, thành tựu định nầy, bổ đặc già
la vẫn có khả năng nhập vào chánh tánh ly sanh ấy, tức nên
nói, từ định nầy thối lui, đối với nó rất chán nên
không hiện hành; khi mạng chung sanh về cõi thiền thứ tư,
ở đó, các thọ đều cùng có vậy (tức chứng a la hán có
11 căn).
[41]
Ht. ...不 執 有 漏 為 真 解 脫 及 真 出 離 ... trong đó,chữ
hữu lậu chỉ cho vô tưởng quả, vô tưởng dị thục hay
vô tưởng thiên vì nó thuộc hữu lậu pháp; nó không phải
là chỗ, là nơi hay là địa vị giải thoát cứu cánh, không
phải là giải thoát đích thật tức không phải là chơn giải
thoát; chữ hữu lậu cũng chỉ cho định vô tưởng vì định
nầy thuộc hữu lậu; và không cho rằng, định vô tưởng
là phương pháp thực sự đưa đến sự xuất ly sanh tử
.
[42]
Ht. 若 諸 聖 者 修 得 第 四 靜 慮 定 時 為如 靜 慮 亦
得 去 來 無 想 定 否?Quang ký q.5,tr.97a 11, như các
bậc thánh, khi chứng được định thứ tư, thì chứng được
tất cả các định hữu tâm trong quá khứ vô thỉ và cũng
chứng được tất cả các định hữu tâm trong vị lai. Có
giống như vậy không, tức là (khi chứng được
định thứ tư,) cũng chứng đắc tất cả các định vô tưởng
đã từng tu tập trong quá khứ cũng như trong vị lai ? Tụng
sớ Viên Huy q.5,tr.849a 10, như các bậc thánh, khi tu tập
mới chứng được thiền định thứ tư thì đối với tịnh
lự quá khứ đã mất, và tịnh lự vi lai chưa khởi, do vì
đã từng tu tập cho nên lúc đó đều chứng được tất cả;
bởi lẽ, tịnh lự hữu tâm thông với đắc cả ba đời.
Các vị thánh nhân nầy, cũng giống như (việc chứng được)
tịnh lự thứ tư, cũng chứng được định vô tưởng đã
từng tu tập trong quá khứ và định vô tưởng chưa khởi
trong vị lai chăng? Vô tưởng định thuộc thiền định thứ
tư. Mà thánh nhân khi chứng được thiền thứ tư tức đã
chứng được thiền định hữu tâm trong quá khứ và vị lai.
Thế thì đối với, vô tưởng định trong quá khứ cũng như
vị lai cũng nên như vậy.
[43]
Ht. 餘 亦 不 得. Quang ký q.5,tr.97a 14, đáp-các hàng phàm phu
khi tu tập chứng được định thứ tư cũng không thể chứng
được định vô tưởng trong quá khứ cũng như vị lai, huống
là bậc thánh (bậc thánh không bao giờ tu định nầy).
[44]
Bà sa q.152, tr.773c 01, Định vô tưởng nầy cũng chứng được
luôn cả trong quá khứ và tu tập trong vị lai không? Có Thuyết
nói, không thể; chỉ có định hữu tâm mới có thể như vậy;
trong vô tâm, không có ý nghĩa của chữ tu. Hoặc có Thuyết,
định nầy trong sát na đầu tiên chỉ thành tựu hiện tại;
các sát na khác, thành tựu cả quá khứ và hiện tại; đã
ra khỏi định nầy, chỉ thành tựu quá khứ. Có Thuyết, định
nầy vẫn có tu tập ở vị lai. Bởi lẽ, một pháp do da hạnh
mà thành tựu hẳn phải có trong sự tu tập ở vị lai. Định
nầy do da hạnh rất mạnh mẽ mới chứng được, làm sao lại
không có ở trong sự tu tập ở vị lai?
[45]
Bà sa q.152,tr.775c23, hỏi: định vô tưởng và định diệt
tận khác nhau thế nào? Đáp: Tên gọi khác nhau. Cõi khác nhau-vô
tưởng hệ thuộc sắc giới, diệt tận hệ thuộc vô sắc
giới. Địa khác nhau-vô tưởng tại đệ tứ tịnh lự địa,
diệt tận tại phi tưởng phi phi tưởng địa. Tương tục
khác nhau-vô tưởng định tại dị sanh tương tục, diệt tận
định tại thánh giả tương tục. Nhập vô tưởng định,
tác tưởng xuất ly, nhập diệt tận định, tác tưởng chỉ
tức. Nhập vô tưởng định chỉ chán ngán về tưởng, nhập
diệt tận định chán ngán cả tưởng và thọ. Nhập vô tưởng
định chỉ diệt muốn diệt tưởng, nhập diệt tận định
muốn diệt cả thọ và tưởng. Nhập vô tưởng định, chỉ
diệt các pháp tâm và tâm sở hệ thuộc sắc giới, nhập
diệt tận định diệt trừ các pháp tâm và tâm sở hệ thuộc
vô sắc giới.... Nhập vô tưởng định chiêu cảm sắc giới
dị thục, nhập diệt tận định, chiêu cảm vô sắc giới
dị thục.....
[46]
Ht. 止 息, dừng lại, chấm dứt. Chánh lý q.12, tr.401b22, nay
định diệt tận,vì muốn tìm cầu chỗ yên tĩnh, chán ngán
và muốn chấm dứt sự tản mạn, lăng xăng nên trước phải
lấy sự khởi ý chấm dứt để đi vào
[47]
Chánh lý q.12,tr401b23, ở trước, định vô tưởng khởi lên
ở trên cùng của cõi sắc; nay định diệt tận khởi lên
ở trên cùng cõi vô sắc, bởi lẽ, sanh thân có được ở
phi tưởng phi phi tưởng xứ do nghiệp tối thượng đưa đến
cho nên nói là hữu đảnh; hoặc có biên tế nên gọi là hữu
đảnh, như biên tế của cây gọi là thọ đảnh. Chỉ
ở trong địa nầy mới có định diệt tận, vì sao ở các
địa dưới lại không có? bởi lẽ, chán ngán, xoay lưng lại
với tất cả các tâm và đoạn trừ biên tế tâm mới thành
tựu được giải thoát thù thắng nầy; nghĩa là do hai duyên
mà thành lập giải thoát nầy. Một là chánh ngán, xoay lưng
lại với tất cả các tâm; hai là tạm thời đoạn trừ biên
tế tâm. Nếu ở các cõi dưới có định nầy, thì không còn
nghĩa yểm bối tất cả các loại tâm vì ở đó, chưa đoạn
trừ các tâm ở cõi trên, cũng không thể gọi là đoạn trừ
biên tế tâm vì tâm ở các cõi trên chưa được đoạn trừ;
nên gọi là yểm bối một phần các tâm; cũng có thể nên
gọi là đoạn trừ tâm ở trung tế. Bà sa q.152tr.774b10, hỏi:
vì sao ở các cõi dưới lại không có định nầy? đáp:...,
lại nữa, định diệt tận do diệt trừ được các tâm,tâm
sở rất vi tế mới thành tựu; ở các cõi dưới không thuận
lợi cho việc đoạn trừ các tâm, tâm sở rất vi tế kia.
... Lại nữa, các cõi dưới đều được gọi là hữu tưởng,
hành tướng còn thô tháp, loạn động, rất khó chấm dứt.
Địa nầy gọi là phi tưởng phi phi tưởng, hành tướng vi
tế, rất dễ đoạn trừ. Do đó, ở các cõi dưới không có
định nầy.
[48]
Quang ký q.5,tr. 97c22, trong bốn loại thiện, định nầy thuộc
loại thiện đẳng khởi. Lại nữa tánh nhiễm ô, tánh vô
ký chẳng phải là trong sạch, vắng lặng.
[49]
Quang ký q.5tr.97c 24, ở trước, định vô tưởng chỉ thuận
với sanh thọ. Định diệt tận nầy thông với sanh, hậu và
bất định; căn cứ vào quả dị thục mà nói thì có thuận
với sanh thọ, thuận hậu thọ; trong bất định thọ lại
có hai: hoặc bất định thọ là dị thục trong bất định,
thời gian của nó không nhất định. Hoặc hoàn toàn bất thọ
nghĩa là nếu ở cõi dưới sau khi khởi lên định nầy, không
sanh lên cõi trên, đoạn trừ phiền não tức ở tại cõi dưới
mà thành tựu quả vị niết bàn; đó là trong bất định,
cả thời và dị thục đều bất định.
[50]
Chánh lý q.12tr.401c 10, Định diệt tận nầy chiêu cảm quả
dị thục của bốn uẩn ở cõi hữu đảnh. Bà sa q.19tr.97a
19, định diệt tận chiêu cảm quả dị thục nào? Đáp: chiêu
cảm dị thục của bốn uẩn ở cõi phi tưởng phi phi tưởng;
trừ mạng căn và chúng đồng phần vì chúng chỉ là nghiệp
quả.
[51]Quang
ký q.5tr.98a08, định diệt tận ở hữu đảnh; tại đó không
có sắc chất, nếu huỷ diệt luôn cả tâm thức thì sợ trở
thành đoạn diệt hoàn toàn cho nên không thể khởi lên định
nầy. Lại nữa, chỉ có lực của thánh đạo mới có khả
năng khởi lên cho nên chỉ có thánh, chẳng thể là phàm. Lại
nữa, thánh nhân khi sắp nhập định nầy, lấy nó làm tưởng
thắng giải về hiện pháp niết bàn để vào. Do khởi tâm
tưởng niết bàn nên phàm phu không thể nhập vào vì sợ đoạn
diệt. Chánh lý q.12, tr.401c11 Định diệt tận chỉ có bậc
thánh mới thành tựu. Phàm phu không thể khởi lên định nầy
được bởi vì còn chướng ngại của tự địa chưa đoạn
trừ; chưa đoạn trừ các phiền não ở kiến đạo nơi hữu
đảnh thì đối với việc khởi lên định diệt tận là hoàn
toàn không thể.... các Luận sư khác nói, vì hàng phàm phu
sợ sự đoạn diệt hoàn toàn, vì hàng thánh đối với định
nầy, khởi tưởng thắng giải về hiện pháp niết bàn để
nhập vào, cho nên chỉ có thánh mới chứng đắc, phàm phu
thì không thể. Thuyết đó phi lý, ở định vô tưởng và
định nầy hoàn toàn giống nhau, đó là vô tâm và niết bàn
thắng giải cũng không sai khác. Quang ký q.5 tr.98a 18, Luận
sư Câu Xá bênh vực, căn cứ vào nghĩa trên tuy không khác
nhau, nhưng sở y địa lại khác nhau, sắc và vô sắc; sợ
và không sợ khác nhau. Cho nên không thể so sánh ví dụ.
[52]
Bà sa q.153tr778b 17, Hỏi: định diệt tận có thành tựu được
cả trong quá khứ và tu tập được trong vị lai không? Có
Thuyết nói, định nầy không thể thành tựu ở quá khứ và
không thể tu tập ở vị lai; như thành tựu thiên nhãn,thiên
nhĩ vậy.... hoặc, sát na đầu tiên chỉ thành tựu định
nầy ở hiện tại; các sát na khác,thành tựu quá khứ và
hiện tại. Đã xuất định chỉ thành tựu quá khứ. Có Thuyết
nói, định nầy cũng đắc được trong quá khứ và cũng tu
tập được trong vị lai; như tha tâm trí và túc trú trí, v.v...
hoặc, sát na đầu tiên thành tựu được cả ở vị lai và
hiện tại; các sát na khác, thành tựu cả ba đời. Đã xuất
định rồi thì thành tựu quá khứ và vị lai. Nói như vậy
là giống với Thuyết thứ nhất.
[53]
Tụng sớ Viên Huy q.5,tr.849b27, chữ thành phật đắc có
nghĩa là đắc định diệt tận khi thành phật. Chữ phi
tiền tức chẳng phải da hạnh đắc ở trước. Chữ thành
phật đắc chỉ cho thấy đó chính là ly nhiễm đắc; nghĩa
là Phật thế tôn khi khởi lên tận trí tức thành phật vị.
Lúc đó, do ly nhiễm mà chứng đắc định diệt tận, chẳng
phải là do da hạnh.
[54]
Chánh lý q.12, tr.401c29, há không phải rằng khởi lên tận
trí khi thành phật cũng không gọi là đắc, huống là định
diệt tận? Do khi các vị bồ tát trú ở kim cang dụ tam ma
địa gọi là đắc tận trí; khi đắc thể sanh gọi là đắc
vậy.... ; như vậy làm sao có thể nói, đắc tận trí khi thành
phật là đắc định diệt tận? do khi các vị bồ tát vĩnh
viễn xa lìa tất cả các nhiễm phiền não vậy.... (lại nói),
Tuỳ nghi mà giải thích: có nghĩa là, từ nơi việc gần, nói
chuyện xa như khi ở kim cang dụ định, nhất định sẽ thành
phật cho nên gọi là thành phật. Quang ký q.5, tr.98b05, giải
thích, Chánh lý luận chủ bênh vực Câu Xá nói rằng, thật
sự, đắc ở nơi bồ tát vị. Nay dựa trên việc gần, thành
tựu quả phật mà nói việc xa, sơ đắc nơi bồ tát vị.
Do đó, ở phật vị, nói đắc cũng không sai. Câu Xá sư nói,
nói thành phật ấy là dựa vào nhân mà đặt tên cho quả;
nói đắc khi khởi tận trí ấy là nói tận trí ở nơi sanh
tướng.
[55]Chánh
lý q.12tr.402a 11 ĐứcThế tôn chưa từng khởi định diệt
tận, thế thì, khi đắc tận trí, làm sao nói rằng, thành
tựu câu phần giải thoát tối thượng viên mãn?-Do vĩnh viễn
xa lìa định chướng, do xả và không thành tựu vâỵ, do đối
với việc khởi định diệt tận hoàn toàn tự tại như người
đã khởi nên thành tựu câu phần giải thoát. Bà sa q.153 tr.780b
26, Hỏi:như thế nào (để biết) khi tận trí đã khởi, gọi
là câu giải thoát? Đáp: đã thành tựu tâm nhập định cũng
như xuất định kia (một cách tự tại) cho nên gọi là
câu giải thoát; chẳng phải thành tựu định thể.
[56]
Ht. 俱 分 解 脫 . Cđ. 俱 解 脫 人. Tụng sớ Viên Huy q.5,tr.849c09,
câu phần giải thoát: đoạn trừ được định chướng và
huệ chướng vậy.
[57]
Ht. 西 方 師. Cđ. 西 國 諸 師. Skt. Pāscātyāḥ. Quang
ký q.5.tr. 98c 02, Các sư phương tây tức là các Sư nước Kiền
đà la nằm phía Tây nước Ca thấp di la.
[58]
Quang ký q.5, tr.98c 03, “bồ tát ở hữu học vị, trước hết
khởi lên định nầy” có nghĩa là bồ tát trước hết phải
đoạn trừ các hoặc của vô sở hữu xứ mới vào được
kiến đạo. Từ kiến đạo xuất ra rồi mới nhập vào định
diệt tận. Từ định diệt tận xuất, đoạn trừ các
hoặc ở hữu đảnh, sau đó mới chứng đắc quả bồ đề;
khi khởi tận trí, dịnh diệt tận đã trở thành quá khứ;
tại sao trong nầy không chấp nhận thuyết của các Sư Phương
Tây?
[59].Tụng
sớ Viên Huy q.5,tr.849c22, Giải thích, Luận chủ Câu Xá đồng
ý với cách giải thích của các Luận sư Phương Tây cho nên
nêu lên câu hỏi như vậy.
[60]
Ht. 理 目 足 論 Cđ. 道 理 足 論. Skt. Netrīpada.
[61]
Ht. 鄔 波 鞠 多. Cđ. 優 波 掘 多. Skt. Upagupta:
Trung Hoa dịch là cận tạng, ra đời sau khi đức Phật nhập
niết bàn 100 năm, là môn sư của vua A Dục.
[62]
Ht. 諦 現 觀. Cđ. 四 諦 觀. Skt. Satyâbhisamaya.
[63]
Ht. 十 六 念: tám nhẫn, tám trí; 15 tâm đầu thuộc kiến
đạo, một tâm sau thuộc tu đạo.
[64]
Tụng sớ Viên Huy q.5,tr.850a02, Giải thích, bồ tát trước
hết, phải đoạn trừ tham ở vô sở hữu xứ, sau đó,
nương vào cõi thiền thứ tư, khởi lên 34 niệm. Ba mươi bốn
niệm nầy chỉ thuộc tâm vô lậu, cho nên không thể nói rằng,
từ kiến đạo xuất, khởi lên định diệt tận bởi lẽ
nhập định diệt tận thuộc tâm hữu lậu vậy. Tâm hữu
lậu của định diệt tận đối chiếu với 34 niệm gọi là
không đồng loại. Quang ký q.5,tr98c15, ở trong khoảng 34 niệm
nầy, không thể cùng khởi lên một loại tâm hữu lậu khác
của phi tưởng xứ địa; cho nên các bồ tát ở hữu học
vị, không thể khởi định diệt tận.
[65]
Bà sa q.152 nói, Hỏi: định vô tưởng nầy khởi lên ở cõi
nào? Nói rằng, chỉ khởi lên ở cõi Dục, vì ở cõi nầy
có lực của ngôn thuyết nên có tâm rất mạnh. Có các Luận
sư khác nói, khởi lên ở cả cõi Dục và cõi Thiền thứ
ba; cõi Thiền thứ ba do thế lực da hạnh từng đã tu tập
về niệm nên cũng có thể khởi lên. Lại có Thuyết nói,
ở cõi Thiền thứ tư cũng có thể khởi lên, trừ cõi trời
Vô tưởng vì không có thể quả và nhân bức ép lẩn nhau.
Quang ký q.5,tr.99a09 giải thích, trong ba thuyết nầy, hai thuyết
sau có lý; thuyết đầu không đúng như Bà sa q.153 nói, Hỏi:
lý do vì sao chúng sanh sanh ở cõi Dục, cõi Sắc có thể khởi
lên định diệt tận mà ở cõi Vô sắc lại không? Đáp: Mạng
căn nương vào hai pháp để chuyển động- một là sắc, hai
là tâm; định nầy là định vô tâm, phải đoạn trừ tâm
niệm mơí khởi lên được. Sanh ở cõi Dục, cõi Sắc khi
khởi định nầy, tâm tuy bị đoạn nhưng mạng căn nương
vào sắc mà chuyển; sanh ở cõi Vô sắc, tuy sắc đoạn
nhưng mạng căn nương vào tâm chuyển. Nếu sanh ở Vô sắc
mà khởi lên định diệt tận nầy, sắc tâm đều không, mạng
căn không biết nương đâu tức cũng có nghĩa là bị đoạn,
là chết, chẳng thể gọi là nhập định. Do đó, sanh ở cõi
Vô sắc, định diệt tận không thể khởi lên.
[66]
Quang ký q.5,tr.99a22, 五 蘊 名 五 行; 無 常 名 行. Cho nên
Bà sa q.192,tr. Nói, trong đây, các uẩn được dùng chữ hành
để nói; các đức Như lai ứng chánh đẳng giác trong quá
khứ nói uẩn là hành; nay đức Thích ca mâu ni như lai
ứng chánh đẳng giác nói hành là uẩn; trong Luận nầy nói
năm hành ý nhằm hiển bày năm uẩn mà đức Thích ca nói cũng
chính là năm hành mà đức Phật trong quá khứ nói.
[67]
Phát Trí q.19,tr.1024a (đoạn văn trên lấy ý trong Phát Trí).
[68]
Quang ký q.5,tr.99b07, định vô tưởng mới khởi lên đều có
thể khởi lên ở cả hai cõi Dục và Sắc; trong quá khứ lâu
xa đã từng tu tập nên khi khởi lên được dễ dàng, do đó
thông cả hai cõi khi mới khởi. ... Lại có giải thích, định
vô tưởng nhơn nhờ có thiên nhãn thông kiến vô tưởng hữu
tình kia cho đó là niết bàn nên tu tập, cho nên ở trong cõi
Sắc thành tựu được sơ khởi. Lại có giải thích, định
vô tưởng tuy ban đầu cũng có thể khởi lên ở cõi Sắc,
nhưng trước chắc chắn trước hết ở cõi Dục phải có
da hạnh để khởi lên lần đầu tmới sanh về cõi Sắc, tạo
thuận hậu thọ nghiệp ở trong cõi Dục rồi khởi túc
trú thông để biết trước kia chưa thành tựu nay phải tu
tập trở lại cho nên lần đầu mới khởi lên có thể thành
tựu.
[69]
Quang ký q.5,tr.99b09, định diệt tận khi mới khởi chỉ khởi
lên được ở loài người; do từ vô thỉ đến nay chưa từng
tu tập nên khởi lên rất khó. Khi mới khởi, cần có lực
của ngôn thuyết, của da hạnh mới sanh khởi được. Cho nên
Luận Chánh lý q. chỉ có ở loài người mới có người nói,
người giải thích và có lực da hạnh mạnh mẽ.
[70]
Ht. 鄔 陀 夷 經。 Cđ. 優 陀 夷 經。 Skt. Udāyi-sūtra.
[71]
Ht. 具 壽。Cđ. 淨 命。 Skt. āyuṣmat, āyuṣamat
[72]
Ht. 此 處。 Cđ. 正 法 內。
[73]
Ht. 淨 尸 儸. Cđ. 清 淨 戒. Skt. Śīla.
[74]
Ht. 三 摩 地。Cđ. 清 淨 定。Skt. Samādhi, samādhāna
[75]
Ht. 般 羅 若。Cđ. 清 淨 慧。Skt. Prajñā.
[76]
Ht.現 法, Quang ký q.5,tr. 99b24, các duyên khiến không thể tu
tập như bệnh dài ngày,v.v.. gọi là hiện pháp. Cđ. bất đắc
Tri dĩ căn.
[77]
Ht. 滿 足。Quang ký q.5,tr.99b24, mãn túc là quả vô học (tức
quả A la hán); Skt. arhattva
[78]
Quang ký q.5,tr.99b 24, cõi trời đoàn thực tức là cõi trời
lục dục vậy, chúng sanh ở đây sống bằng thức ăn đoàn
thực. Ý thành thiên thân thuộc cõi Sắc, không do tinh huyết
của cha mẹ sinh ra, tuỳ ý thọ sanh nên gọi là ý thành thiên
thân.
[79]
Ht. 九 次 第 定。 Cđ. 九 種 次 第 定, Quang ký q.5,tr.99c20,
bốn tịnh lự và bốn vô sắc là tám dịnh hữu tâm; sau đó
mới nói định diệt tận là chín. Do đó biết rằng, sau phi
tưởng mới vào định nầy; nếu nói định nầy ở tịnh
lự thứ tư, thế thì khởi lên sau định thứ tư phải nói
là thứ năm. Skt. Navânupūrva-samāpattayaḥ, anupūrva-vihāra-samāpatti.
[80]
Quang ký q.5,tr.100a14, từ nơi da hạnh mà lập danh. Các hàng
ngoại đạo v.v... cho rằng khổ, lạc đều là sanh tử ; vì
muốn ra khỏi sanh tử họ tu tập định vô tưởng; họ cho
rằng ở cõi Dục có khổ thọ, ở sơ thiền, nhị thiền,
tam thiền có hỷ mà không biết tứ thiền có xả niệm và
các pháp tâm sở khác nên nói, ở trong định thứ tư tuy ra
khỏi khổ, lạc nhưng còn có tưởng nên chưa chứng được
niết bàn; nay ta cần phải diệt (tưởng); do đó, trong da hạnh
chú trọng về (diệt) tưởng nên gọi là định vô tưởng.
Định diệt thọ tưởng, trong lúc da hạnh cũng chỉ nhàm chán
thọ và tưởng nghĩa là thánh nhơn (ư = xuất) vì muốn thoát
khỏi khổ thọ, vì muốn ra khỏi các định hữu tưởng, ở
nơi cõi Vô sắc, chán ngán thọ, tưởng nầy, tạm thời muốn
chấm dứt cho nên ở trong da hạnh chỉ chán ngán thọ và tưởng.
Do đó, hai định nầy từ da hạnh lập danh. Giống như tha
tâm trí (biết tâm người khác) đồng thời cũng biết các
tâm sở thọ, v.v... nhưng trong da hạnh chỉ muốn biết tâm
người khác thôi vậy. Từ da hạnh lập danh. Hai định
cũng vậy.
[81]
Quang ký q.5,tr.100a29, Các luận sư ( Kinh bộ) khác nói, như
sanh vào cõi Vô sắc, khi sắc đã bị đoạn lâu ngày, làm
sao sau đó, sắc sanh khởi lại được? Sắc sanh khởi lại
là do chủng tử sắc ở trong tâm, chứ chẳng phải do sắc
trong quá khứ sanh khởi; đây là ví dụ. Khi xuất định tâm
cũng giống như vậy, do chủng tử tâm của ngũ căn thân trong
định, sanh ra tâm sau khi xuất định, chẳng phải do tâm trước
định trong quá khứ sanh khởi.
[82]
Ht. 世 有。 Cđ. 婆 須 蜜 多 羅。Tiếng Phạn gọi
là Đại tô mật đa la, xưa gọi là Hoà tu mật là không đúng.
Ở Ấn độ, tên Thế hữu không phải chỉ có một; đây không
phải là Thế hữu trong hội Bà sa. Skt. Vasumitra
[83]
Ht. 問 論。Skt. Paripṛcchā.
[84]
Quang ký q.5,tr.100b07, Thế Hữu thuộc Kinh bộ, trong Vấn Luận
của ông nói, nếu như hai thuyết trước cho rằng định diệt
tận hoàn toàn vô tâm thì mới có lỗi vô tâm sinh hữu tâm
nầy, tôi nói định diệt tận còn có tâm trong trạng thái
vi tế (tế tâm) sinh khởi tâm mới sau khi xuất định, nên
không có lỗi. Chánh lý q.13 nói, luận sư Thí dụ bộ nói
rằng, trong định diệt tận chỉ diệt thọ và tưởng vì
ở trong định không có vô tâm hữu tình. Giải thích, đây
nói về giải thích của các môn đồ của Cưu ma la đa, Tôn
kia cho rằng, chỉ có duy nhất một tâm, là tâm vương, tuỳ
theo công năng khác nhau mà lập nên các tên gọi khác. Không
có tâm sở nào cả, chỉ khi tâm duyên cảnh ở sát na đầu
tiên, mới liểu giải gọi là thức; ở sát na thứ hai, nắm
bắt đối tượng gọi là tưởng; sát na thứ ba, lãnh nạp
đối tượng gọi là thọ; sát na thứ tư về sau, tạo tác
gọi là tư. Các tâm sở khác đều là sự khác của tư mà
thôi. Ba loại thức, tưởng và thọ thuộc tính vô ký; từ
tư tâm sở về sau mới bắt đầu thông với cả ba tính. Người
nhập định diệt tận diệt trừ hai tâm thọ, tưởng vì chúng
thuộc loại thô, là đối tượng đáng chán. Thức tuy không
chán nhưng trong định nầy cũng không thể khởi lên, vì là
vô ký. Ở trong hành vị, tư với những sai biệt của nó,
là thể của định diệt tận. Từ thật tính mà nói là tâm;
từ công năng mà nói là tâm sở. Cho nên trong định kia nhất
định có thể của tâm (tâm thể), chỉ không có (hai công
năng) thọ, tưởng. Làm sao biết như vậy? Với tên gọi là
định diệt thọ, tưởng nên biết là không có thọ tưởng;
chắc hẳn, trong định không có hữu tình vô tâm; đã là hữu
tình nên biết là có tâm. Bà sa q.153, các Phân biệt luận
sư trong bộ phái Thí dụ cho rằng, định diệt tận vẫn có
tâm trong trạng thái vi tế; họ nói, không có hữu tình không
có sắc chất, cũng không có người nhập định mà lại không
có tâm; nếu ở trong định không có tâm thì mạng căn lẽ
ra đã bị đoạn, khi đó gọi là chết chứ không thể gọi
là định. Theo đây thì, quan điểm Thế hữu giốngvơí các
Phân biệt luận sư của Thí dụ bộ.
[85]
Ht. 妙 音。Cđ. 瞿 沙。Skt. Bhadanta-ghoṣaka.
[86]
Quang ký q.5,tr.100c03, điều đó Thế hữu nói không hợp lý,
nếu ở trong định nầy còn có thức (tế tâm) tức ba pháp
căn, cảnh, thức hoà hợp nên nhất định phải có xúc; do
xúc làm duyên khiến sanh thọ, tưởng; như vậy, trong định
nầy các pháp thọ, tưởng,v.v... cũng không bị mất .
[87]Cđ.
Q.4,tr.184b07, Như Ông nói, Phât thế tôn dạy rằng, duyên thọ
sinh ái; nay ở nơi các vị a la hán có thọ nhưng không sinh
ái. Cũng như vậy, ở trong định vô tâm tuy có xúc nhưng không
sinh khởi thọ, tưởng, v.v...
[88]Cđ.q.4,tr.184b10,
duyên với vô minh xúc khiến sinh khởi các thọ thì, tham ái
(cũng duyên với các thọ mà) sinh khởi; trong việc sinh khởi
thọ, không phải chỉ riêng xúc; cho nên nghĩa (ví dụ) nầy
không tương thích.
[89]Quang
ký q.5,tr.100c17, do chứng được định nầy nên đối với
thân (ở nơi thân) có khả năng khiến cho các đại chủng
tĩnh lặng, an trú trong bình đẳng (tức) thuỷ, hoả, phong,
v.v.. không bị tổn hoại. Các đại chủng đã bình đẳng
trú thì sở tạo sắc tất cũng bình đẳng trú, cho nên lượt
bớt không nêu lên; đây là từ quả mà đặt tên; hoặc do
tâm trước định không còn hôn, trạo, tiến đến định nầy
một cách bình đẳng, do đó gọi là định; đây là từ nhân
đặt tên. Bà sa q. nói, đẳng chí có hai: một, khiến tâm
bình đẳng; hai, khiến đại chủng bình đẳng.
[90]Quang
ký q.5,tr.100c24, nên nói hai định nầy thực sự là có vì
chúng có công năng chướng ngại khiến các tâm sở trong vị
lai không thể khởi lên; do đó biết rằng chúng thật sự
có thể tính.
[91]Quang
ký q.5,tr.100c28, (Kinh bộ nói)Hữu bộ cho rằng định diệt
tận hoàn toàn không có tâm. Thật sự do tâm ở trước định
làm chướng ngại, tức là nó sinh khởi trái ngược với các
tâm ở sau nó; do tâm ở trước định nầy khởi lên khiến
cho các tâm khác (sẽ) khởi lên sau đó tạm thời không khởi
lên; tâm ở trước định nầy lại có khả năng dẫn khởi
thân sở y trái ngược với tâm khiến nó tương tục khởi
lên. Cho nên căn cứ vào giai đoạn tâm không khởi lên giả
lập làm định, là vô tâm, không phải là một thật thể
riêng biệt.
[92]Quang
ký q.5,tr.101a05, đây chỉ là (căn cứ vào) giai đoạn tạm
thời không khởi lên (bất chuyển phần vị) mà giả lập
(làm định), thật sự vào lúc trước khi nhập định
vốn không có, sau khi xuất định cũng không có, in tuồng như
có sinh diệt cho nên tạm thời nói rằng, nó nhiếp thuộc
hữu vi.
[93]Quang
ký q.5,tr.101a08, hoặc chính thân sở y do tâm (thức) ở trước
định dẫn khởi, trái ngược với tâm, chính thân sở y nầy
tạm thời lập làm định diệt tận.