NHÂN
QUẢ
Thích
Đức Thắng
Nhân
quả là một định luật tất yếu trong sự hình thành nhân
sinh quan và vũ trụ quan qua liên hệ duyên khởi của cuộc
sống con người, mà qua đó nhân quả được coi như là một
luật tắc không thể thiếu được khi hình thành một xã hội
nhân bản đạo đức. Nhân quả vì thế không chỉ có riêng
của Phật giáo, mà trước đó và ngay trong thời kỳ đức
Phật còn tại thế, các luận sư ngoại đạo cũng đã lập
thành luận thuyết chủ trương rõ ràng rồi, nhưng cũng vì
kiến giải quá nhiều về nhân quả, nên mọi kiến giải trở
thành đa thù sai biệt và chống đối nhau trên quan điểm nảy
sinh ra bốn loại mà đức Phật gọi là tà chấp. Đức Phật,
chỉ kết hợp lại những gì khế cơ khế lý mà thành lập
nhân quả Phật giáo. Nhân quả Phật giáo vì thế đã trở
thành hai hệ thống qua Phật giáo phát triển của các hệ
phái sau này, đó là nhân quả Tiểu thừa và nhân quả Đại
thừa trong việc kết hợp với định thức duyên khởi tùy
thuộc vào thời gian và không gian mà hình thành cơ sở lý
luận cho tất cả mọi quan hệ duyên khởi trong thế giới.
Nhân
quả tiếng Sanskrit goi là hetu-phala, chỉ cho nguyên nhân cùng
kết quả. Cũng chỉ cho luật nhân quả, là thể của giáo
nghĩa Phật giáo, dùng để thuyết minh làm cơ sở lý luận
cho tất mọi quan hệ của thế giới. Bởi vì sự hình thành
của tất cả các pháp, thì Nhân là “Năng sinh” quả là
“Sở sinh”, có nghĩa là pháp nào có khả năng dẫn sinh đến
kết quả, thì pháp ấy là Nhân, và do được nhân sinh ra thì
đó chính là Quả. Nhân quả như thế chỉ có được qua lệ
thuộc thời gian tính có thể quan niệm theo Phật giáo Tiểu
thừa, nhưng không phải vì thế mà nhân quả được nhìn một
cách nhất quán. Ngay đến trong Phật giáo cũng tùy thuộc vào
căn cơ chúng sinh mà đức Phật thuyết về nhân quả của
thời và không cho thích hợp với căn cơ của họ, nên nhân
quả cũng vì thế mà có sự sai khác về quan niệm và giải
thích giữa các nhà Tiểu thừa và Đại thừa về mặt chủ
trương. Và vào lúc bấy giờ nhân quả cũng được nhìn từ
nhiều nhãn quan qua các chủ trương của các nhà luận sư trước
đó và vào lúc bấy giờ tại Ấn Độ khi đức Phật ra đời.
Những chủ trương nhân quả của ngoại đạo vào lúc bấy
giờ và trước đó tại Ấn Độ có thể phân ra làm bốn
loại, và đức Phật liệt họ vào bốn loại tà chấp như
dưới đây :
1.
Số luận (Skt: Sāṃkhya) chủ trương: Tất cả pháp là “một”,
chủ trương tất cả chỉ là một, nhận hai tướng “ngã”
cùng “giác” bất khả phân ly, nhân quả đồng nhau, cũng
là chủ trương của luận sư Tăng Khư ngoại đạo.
2.
Thắng luận (Skt: Vaiśeṣika, Pāli: Vasesika) chủ trương: Tất
cả pháp là “khác”. Chủ trương này cho rằng tất cả pháp
là khác nhau, giữa “ngã” cùng “trí”, “ năng” cùng
“sở” chúng khác nhau, cũng là chủ trương của luận sư
Tuỳ Thế ngoại đạo.
3.
Ni-kiền Tử (Skt: Nirgrantha-jñātapatra, Pāli: Nirgaṇṭha-nātaputta)
chủ trương: Tất cả pháp vừa “một” vừa “khác”. Chủ
trương này cho rằng tất cả các pháp vừa tồn tại trong
một mà cũng vừa tồn tại trong khác, chúng cùng nghĩa với
nhau.
4.
Nhã-đề Tử cùng Tà Mạng ngoại đạo chủ trương: Tất cả
pháp chẳng phải “một” chẳng phải “khác”. Chủ trương
này cho rằng tất cả các pháp không liên hệ với nhau (bất
câu), không cùng tồn tại, mà chỉ có tính tương đối.
Và
chủ trương của các phái ngoại đạo ở Ấn Độ cổ đại
về các vấn đề như một khác, thường vô thường, nhân
quả có không … Theo Tứ tông luận Tiểu thừa, ngoại đạo,
dẫn xuất của Bồ-tát Đề-bà Ấn Độ, và Bồ-đề Lưu
Chi dịch sang Hán thời hậu Ngụy thì, Ngài dùng Tông kính
luận Đại thừa để phá tứ chấp của ngoại đạo cùng
Tiểu thừa.
Theo
các nhà ngọai đạo cổ đại Ấn độ, có thể phân chia làm
bốn lọai luận điểm về quan hệ nhân quả, mà Phật giáo
liệt họ vào bốn loại chấp:
Tà
nhân tà quả: Họ chủ trương đem nguyên nhân sinh khởi ra
vạn vật vũ trụ qui về năng lực do trời Đại tự tại.
Không
nhân, có quả: chủ trương này, họ thừa nhận sự tồn tại
của thế giới hiện tượng là quả, chỉ vì cái nhân của
cái quả này khó mà tham cứu, nên họ phủ nhận nguyên nhân
khởi lên quả này.
Có
nhân, không quả: Chủ trương này, họ thừa nhận sự tồn
tại của thế giới hiện tượng cho là nhân, chỉ vì kết
quả của nhân này khó mà tham cứu, cho nên họ phủ định
kết quả của nhân này.
Không
nhân, không quả: Chủ trương này, họ phủ định cả nhân
lẫn quả.
Ngòai
bốn loại nhân quả trên ra, Phật giáo còn nhận thấy có
hai thứ luận thuyết về nhân quả nữa:
Trong
nhân có quả: Chủ trương này, thừa nhận mọi hiện tượng
trong thế giới đang hiện hữu qua quả chúng đã có sẵn đầy
đủ trong nhân, đây là chủ trương của các nhà tư tưởng
Bà-la-môn giáo cùng học phái Số luận; tức là họ chấp
nhận trong nhân luôn luôn đầy đủ tánh quả, cho nên tính
chất của nhân cùng quả tương đồng.
Trong
nhân không có quả: Chủ trương này cùng với học phái Thắng
luận, họ không chấp nhận chủ trương trong nhân có quả
và đối lập lại chủ trương trên. Họ đề xướng cần
phải kết hợp nhiều yếu tố căn bản độc lập mới có
thể sinh khởi ra thế giới hiện tượng, vì vậy trong nhân
ắt đã không có quả, mà cần phải vay mượn nhiều tướng
nhân để hỗ tương hòa hợp mới có thể sinh ra quả được;
do vậy, tính chất nhân cùng quả không tương đồng. Luận
thuyết này cũng có thể gọi là trong quả đã có nhân.
Còn
nhân quả của Phật giáo đại để phân ra làm hai hệ thống
Tiểu thừa và Đại thừa. Tiểu thừa lấy Câu xá luận 6
(Đ. 29. No: 1558, tr. 30a-36a) làm điển hình đề xuất ra thuyết
tứ duyên, lục nhân, ngũ quả; còn Đại thừa thì lấy Duy
thức tông của Thành Duy Thức luận 8 (Đ. 31, No: 1586, tr. 41b)
làm đại biểu, dùng tứ duyên, thập nhân, ngũ quả làm nội
dung chủ yếu để luận về nhân quả.
Về
Tứ duyên, tức chỉ cho Nhân duyên (Skt. hetu-pratyaya), Đẳng
vô gián duyên (Skt. samanantara-pratyaya), Sở duyên duyên (Skt.
ālambana-pratyaya), Tăng thượng duyên (Skt. adhipati-pratyaya) thì
Đại thừa và Tiểu thừa đều nói về chúng tuy có khác nhau;
nhưng về lục nhân tức là Năng tác nhân, câu hữu nhân, đồng
lọai nhân, tương ưng nhân, biến hành nhân, dị thục nhân,
mà chủ yếu là Phát Trí luận 1, 15, Đại Tỳ Bà Sa luận
10, 11, 16 cùng Câu Xá luận 6 của các bộ luận Tiểu thừa
chủ trương. Theo các nhà Tiểu thừa thì Năng tác nhân gồm
thâu cả Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên, Tăng thượng
duyên trong tứ duyên, còn Nhân duyên thì đem khai diễn xếp
vào hạng đầu của ngũ nhân. Nếu đem ba học thuyết Tứ
duyên,
lục nhân, ngũ quả mà nói thì, đó chính là tư tưởng luận
hòan chỉnh về nhân quả của Phật giáo.
A –
NHÂN QUẢ THEO TIỂU THỪA
I -
Theo chủ trương Tứ duyên thì gồm:
1/
Nhân duyên: tức là nguyên nhân nội tại trực tiếp sản sinh
từ quả có được, như từ hạt giống sinh ra mầm, và như
vậy hạt giống chính là nhân duyên của mầm. Từ “Nhân
duyên” này, thì nhân cũng được hiểu như là duyên. Ở trong
Nhân duyên luận của Phật giáo, thông thường điều kiện
chủ yếu dẫn sanh đến kết quả chính là nhân, còn điều
kiện thứ yếu chính là duyên. Duyên này là điều kiện để
cho các pháp sinh và tồn tại. Nhận thức nguyên nhân là một
trong bốn điều kiện. Có hai từ chỉ cho nhân: karaṇa: nhân
là cái tác thành, tạo tác nên quả. Hetu: là hạt giống cho
sản sinh ra quả. Ở đây, từ nhân là một cưỡng từ, nó
cũng chỉ là một trong nhiều điều kiện, cho nên gọi là
“nhân duyên”, chứ chẳng phải là cái nghĩa tầm thường
của “nhân cùng duyên”. Hơn nữa, duyên này có khả năng
thích nghi ứng dụng cho tất cả mọi hiện tượng đối với
tinh thần lẫn vật chất.
2/
Đẳng vô gián duyên, còn gọi là Thứ đệ duyên: Tương tục
trong tâm, tâm sở, do một sát-na trước mở lối dẫn đường
làm nguyên nhân sinh khởi cho một sát-na sau. Nghĩa là một
sát-na trước quá khứ của tâm, tâm sở diệt đi, lại giúp
cho lực dụng sinh khởi một sát-na sau ở trong hiện tại.
Chữ
‘Đẳng’ ở đây có nghĩa là ý nghĩ (niệm) trước đã
diệt đi, ý nghĩ sau sinh tiếp, thể dụng của hai ý nghĩ này
đồng đẳng (bằng nhau). Ngược lại, nếu một sát-na trước
thuộc nhóm tâm thiện, một sát-na sau thuộc nhóm tâm ác, thì
tướng của sát-na trước và sau khác nhau không phải đồng
đẳng.
Chữ
‘vô gián’ có nghĩa là thời gian của hai ý nghĩ trước
sau từng sinh diệt, sát-na không dừng, nên không có gián cách.
Đối với các hiện tượng tinh thần duyên này ít thích nghi,
vì nhận thức họat động có được phải nhờ có điều
kiện để phát sinh.
3/
Sở duyên duyên: gọi tắt là duyên duyên, là chỉ cho tất
cả mọi đối tượng để cho tâm, tâm sở chỗ duyên vào,
đó chính là tất cả mọi sự vật ngoại tại làm duyên trực
tiếp hay gián tiếp sản sinh ra nội tâm sở. Như sự nhận
thức của mắt (nhãn thức) phải dùng tất cả mọi cảnh
sắc làm Sở duyên duyên, sự nhận thức của tai (nhĩ thức)
phải dùng mọi thứ âm thinh để làm sở duyên duyên, cho đến
sự nhận thức của ý, phải dùng tất cả các pháp trong quá
khứ, hiện tại, vị lai làm sở duyên duyên.
4/
Tăng thượng duyên: Ngoài ba duyên đã kể trên ra, còn tất
cả mọi trợ duyên khác dù là vô ngại mà đã là điều kiện
nguyên nhân phát sinh ra mọi hiện tượng đều thuộc vào Tăng
thượng duyên.
Phật
giáo đem tất cả vạn pháp phân làm năm vị: Tâm pháp, tâm
sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp, sắc pháp, và vô vi
pháp. Nếu đem sự sinh khởi của năm vị cùng với sự quan
hệ của tứ duyên mà nói thì, sự sinh khởi hiện tượng
tinh thần của tâm pháp cùng tâm sở hữu pháp cần phải đầy
đủ toàn bộ tứ duyên; nhưng trong tâm bất tương ưng hành
pháp sự sinh khởi của vô tưởng định cùng diệt tận định
ít cần nhân duyên, đẳng vô gián duyên, tăng thượng duyên.
Còn sở duyên duyên thì không cần thiết, vì nhân này đối
với hai định vô tưởng cùng diệt tận, thuộc về vô tâm
định; hơn nữa, đã không có tác dụng của tâm thức nên
không cần sở duyên duyên. Vì sở duyên duyên cần dùng tâm
thức làm điều kiện tương ưng tác dụng sinh khởi, cho nên
sự sinh khởi của hai định này không cần sở duyên duyên.
Sự sinh khởi của tâm bất tương ưng hành pháp, mười hai
pháp khác kia cùng sắc pháp đều ít cần đến nhân duyên
cùng tăng thượng duyên. Nhân này, sắc pháp cùng mười hai
loại khác kia, tâm bất tương ưng hành pháp đã không có tâm
thức tác dụng, cho nên không có sở duyên duyên, hai tướng
sinh khởi trước sau của chúng cũng chẳng phải đồng đẳng,
hơn nữa không có sự tương tục thứ tự cố định nào,
cho nên không đồng không duyên gián đọan (vô đẳng vô gián
duyên). Vô vi pháp, là chỉ cho thể tánh chân thật các pháp
không có sinh diệt biến hóa, tự nhiên không có điều kiện
nguyên nhân sinh khởi để nói, cho nên nó ở ngoài phạm vi
của tứ duyên này.
Nếu
căn cứ vào thời gian không gian mà nói thì, Đẳng vô gián
duyên thuộc nhân tố thời gian, sở duyên duyên thuộc nhân
tố không gian, còn nhân duyên, tăng thượng duyên thì dành
cho cả hai thời-không.
Theo
các nhà Tiểu thừa ngoài tứ duyên ra, họ còn lập ra thuyết
lục nhân, và sự quan hệ giữa tứ duyên và lục nhân ở
đời sau cũng có sự sai khác.
II
– Theo chủ trương của lục nhân thì:
Các
nhà Tiểu thừa đã đem nhân của tất cả các pháp phân ra
làm sáu loại như sau:
1/
Năng tác nhân (kāraṇa-hetu): Vật nào khi sinh ra, phàm tất
cả sự vật không phải là đối tượng phát sinh ra tác dụng
trở ngại, thì sự vật ấy là năng tác nhân, phạm vi của
nó rất rộng. Gồm có hai loại:
a/
Hữu lực năng tác nhân(cho sức, tăng sức): như nhãn căn sinh
ra nhãn thức, đất cát sinh ra thảo mộc, song đối với pháp
hữu vi, ít giới hạn.
b/
Vô lực năng tác nhân ( không trở ngại): như hư không đối
với vạn vật, dành chung cho tất cả pháp vô vi.
Quả
có được của nhân này là quả tăng thượng.
2/
Câu hữu nhân (sahabhū-hetu): là nhân câu hữu với quả. Gồm
có hai loại:
a/
Nhân câu hữu hỗ tương với quả.
b/
Nhân câu hữu đồng nhất với quả.
Quả
có được của nhân này là quả sĩ dụng.
3/
Đồng lọai nhân (sabhāga-hetu): là tất cả các pháp hữu vi
thuộc phạm vi quá khứ hiện tại mà pháp nào cùng loại hay
tương tợ thì đều là nhân, cho nên gọi là đồng loại nhân.
Như pháp thiện làm nhân cho pháp thiện, cho đến pháp vô ký
làm nhân cho pháp vô ký. Pháp đồng loại này căn cứ vào
tánh thiện ác mà lập. Quả có được của nhân này là quả
đẳng lưu.
4/
Tương ưng nhân (samprayukta-hetu): Lúc nhận thức mới phát sinh,
tâm cùng tâm sở đồng thời phát khởi tương ưng, hỗ tương
nương vào nhau mà tồn tại. Cho nên gọi là tương ưng nhân.
Quả có được của nhân này là quả sĩ dụng.
5/
Biến hành nhân (sarvatraga-hetu): Chỉ cho phiền não có khả
năng biến đi khắp đối với tất cả các pháp nhiễm ô mà
nói. Cùng với đồng lọai nhân ở trên là pháp nhân quả
dị thời trước sau, song vì đồng loại nhân thông đối với
tất cả các pháp, trong khi biến hành nhân thì do mười một
biến hành trong tâm sở biến sinh khắp tất cả các hoặc,
cho nên gọi là biến hành nhân. Mười một biến hành nghịch
lại đối với lý của tứ đế, trong bảy loại phiền não
thuộc khổ đế như thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến
thủ kiến, giới cấm thủ kiến, nghi và vô minh, cùng bốn
loại phiền não của tập đế như tà kiến, kiến thủ kiến,
nghi, vô minh, mười một loại phiền não này tức là nhân
sinh khởi ra tất cả các loại phiền não. Quả có được
của nhân này gọi là đẳng loại quả.
6/
Dị thục nhân (vipāka-hetu): Chỉ cho nhân nghiệp thiện ác
của quả báo khổ vui trong ba đời. Như ác pháp ngũ nghịch
cảm báo địa ngục, thiện hữu lậu của thập thiện chiêu
quả cảm lên trời. Quả địa ngục cùng lên trời kia đều
chẳng phải thiện, chẳng phải ác, mà lại lệ thuộc vào
tánh vô ký. Ở đây, vì nhân thiện nhân ác đều cảm quả
vô ký nhân quả dị lọai mà thuần thục, cho nên nhân này
gọi là nhân dị thục. Quả có được của nhân này gọi
là quả dị thục theo Câu Xá luận.
Như
Câu Xá luận bảo sớ 7 thì, sự nhiếp thâu giữa tứ duyên
và lục nhân giống như trên đã nói là Năng tác nhân bao gồm
cả ba duyên: đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng
duyên, câu hữu nhân cùng năm nhân khác kia thâu nhiếp
chung cả nhân duyên. Theo Câu xá luận Quang ký 7 thì, tứ duyên
bao quát cả phạm vi rộng rãi, còn lục nhân thuộc phạm vi
hẹp, cho nên tứ duyên bao hàm cả lục nhân, ngược lại lục
nhân không thể hàm nhiếp tứ duyên được. Có nghĩa là câu
hữu nhân cùng ngũ nhân và nhân duyên chắc chắn có thể hỗ
tương thông nhiếp lẫn nhau; song năng tác nhân tuy thông với
tăng thượng duyên, nhưng chưa có thể hàm nhiếp hai duyên
đẳng vô gián và sở duyên.
Trên
đây là quan điểm của các nhà Tiểu thừa chủ trương về
tứ duyên và lục nhân.
Theo
thuyết của các nhà Đại thừa thì chủ trương tứ duyên
và thập nhân, chứ không phải là lục nhân như các nhà Tiểu
thừa. Dưới đây là sự hình thành của tứ duyên và thập
nhân, theo cái nhìn của các nhà Đại thừa:
B –
NHÂN QUẢ THEO CÁC NHÀ ĐẠI THỪA
I –
Theo chủ trương của tứ duyên thì gồm có:
1/
Nhân duyên: trong các pháp hữu vi có khả năng tự thân sinh
ra từ quả. Như giống lúa mạch sinh ra lúa mạch, giống lúa
dé sinh ra lúa dé. Thể tánh của nhân duyên này có hai:
a -
Chủng tử (hạt giống), chỉ cho tất cả các pháp thiện,
ác, vô ký hàm tàng trong thức thứ tám A-lại-da chủng tử
này đối với dị thời (một lúc nào đó) có thể dẫn sinh
chủng tử tự loại (chủng tử sinh chủng tử), đối với
đồng thời (cùng lúc) có khả năng sinh khởi hiện hành tự
loại (chủng tử sinh hiện hành).
b -
Hiện hành, chỉ cho hiện hành của bảy chuyển thức mắt,
tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạt-na có khả năng huân tập thành
chủng tử tự loại trong bản thức (đệ bát thức) (hiện
hành huân chủng tử).
2/
Đẳng vô gián duyên: là quan hệ sinh khởi của tâm, tâm sở
do ý nghĩ trước dẫn sinh ý nghĩ sau, từng ý nghĩ, ý nghĩ
tương tục không có gián đọan. Chủ trương này cùng với
Tiểu thừa trên đại thể là tương đồng, duy chỉ có thể
của bát thức là mỗi tự thể có sự sai khác, cho nên mỗi
tự thể sản sinh ra quan hệ tương tục trước sau không gián
đọan; Tiểu thừa chấp nhận sự gián đọan của dị thức
cũng có thể hỗ tương hình thành cùng đồng sự quan hệ
liên tục của vô gián đọan.
3/
Sở duyên duyên: phàm đối tượng của tâm, tâm sở thành
tựu thì đó là nguyên nhân, mà khiến cho tâm, tâm sở lúc
sản sinh ra kết quả, thì đối tượng của tâm, tâm sở gọi
là sở duyên duyên. Theo các nhà Duy thức tông đặc biệt phân
ra làm hai loại thân sở duyên duyên và, sơ sở duyên duyên.
Như trong Thành Duy thức luận 7 (Đ. 31, tr. 40c) đã thuyết:
“Nếu cùng với thể năng duyên không lìa nhau thì, những
gì lo mượn (sở lự thác) trong kiến phần …, nên biết đó
là thân sở duyên duyên; nếu cùng với thể năng duyên lìa
nhau thì, những gì lo mượn trong chất năng khởi, nên biết
đó là sơ sở duyên duyên.” Ở đây, chính là cái nghĩa thâm
sâu mà các nhà Tiểu thừa chưa bàn tới.
4/
Tăng thượng duyên: Cũng như những gì các nhà Tiểu thừa
đã chủ trương, ngoài điều kiện nguyên nhân sinh khởi tất
cả các pháp như ba duyên đã ghi trên, duyên này phạm vi thật
là rộng rãi, như lục nhân của các nhà Tiểu thừa đã nói,
tất cả đều được thu nhiếp vào trong này.
Theo
các nhà Đại thừa, nhất là các nhà Duy thức thì, tứ duyên
y cứ vào mười nhân làm chỗ nương tựa (sở y xứ) mà thuyết
minh về mọi hiện tượng từ tinh thần đến vật chất đều
phát sinh ra từ mười chủng lọai nguyên nhân này mà có được
sự hiện hữu:
II
– Theo chủ trương của thập nhân thì gồm có:
1.
Tùy thuyết nhân: là y cứ vào xứ là ngôn ngữ mà lập, tức
là tùy theo sự thấy nghe hiểu biết về đối tượng vào
lúc bấy giờ mà nói về nghĩa của chúng, thì ngôn ngữ của
người nói (năng thuyết) làm nhân cho những điều nói ra (sở
thuyết).
2.
Quán đãi nhân: y cứ vào xứ là lãnh thọ mà lập, tức là
cần xem xét sự sinh khởi hình thành có được của mọi sự,
và nhờ kết quả của chúng (sở đãi) làm nhân cho năng đãi:
ví như dùng tay là nhân nên có sự tác động của việc cầm
nắm.
3.
Khiên dẫn nhân: y cứ vào xứ là tập khí mà lập, tức
là những chủng tử chưa thuần đượm (vị nhuận: chưa thấm
ướt đủ để nảy mầm) chín muồi cần phải có thời gian
lâu dài dẫn đến kết quả của chính nó.
4.
Sinh khởi nhân: y cứ vào xứ là chủng tử hữu lậu chín
mùi mà lập, tức là những chủng tử đã đượm chín, sẽ
sinh khởi kết quả của chính nó tức thì.
5.
Nhiếp thụ nhân: y cứ vào các y xứ: vô gián diệt, cảnh
giới, (bảy) căn, tác dụng (thức thứ tám), sĩ dụng, chân
thật (chân thật kiến y xứ: y xứ là kiến chân thật) đầy
đủ cả sáu y xứ mà lập. Ngoài chủng tử ra, các duyên nhiếp
thọ nhau mà sinh khởi quả.
6/
Dẫn phát nhân: y vào xứ là tùy thuận mà lập. Các lọai
thiện, ác, vô ký hiện ra các pháp có khả năng dẫn khởi
thắng hạnh đồng loại cùng, nhân pháp vô vi.
7/
Định biệt nhân: còn gọi là định dị nhân, y vào là công
năng sai biệt mà lập. Tất cả các pháp hữu vi tự chúng
dẫn đến chứng đắc từ quả mà không bị tạp lọan.
8/
Đồng sự nhân: y vào xứ là hòa hợp mà lập. Do bảy nhân
trên cùng quả hòa hợp làm một.
9/
Tương vi nhân: y vào xứ là chướng ngại mà lập. Vì trái
duyên là tánh, nên đối với mọi việc sinh, trụ, thành, đắc
của các pháp có sự chướng ngại.
10/
Bất tương vi nhân: y vào xứ là không chướng ngại mà lập.
Đối với sinh … của các pháp không chướng ngại.
Mười
nhân này lấy hạt giống (chủng tử) thành thục của lúa
làm thí dụ mà thuyết minh đối với mọi hiện tượng sinh
khởi của chủng tử A-lại-da thức cùng, tính quyết định
tác dụng mọi họat động của con người, ảnh hưởng đến
tính tất nhiên của nghiệp báo luân hồi.
Nếu
căn cứ vào sự sinh khởi của các pháp cùng sự liên hệ
của tứ duyên mà nói thì, Đại thừa chấp nhận sắc pháp
cùng sự sinh khởi của các chủng tử, ít cần nương vào
nhân duyên cùng tăng thượng duyên, nhân này sắc pháp cùng
chủng tử đều chẳng phải là pháp duyên lự, cho nên không
có sở duyên duyên; lại nữa nhiều loại cùng chuyển biến
mà không có trước sau, bằng nhau, nên không có đẳng vô gián
duyên. Tâm pháp, tâm sở pháp về mặt pháp tướng thì giống
nhau, cần phải có đầy đủ tòan bộ tứ duyên sau mới có
sinh khởi.
C –
QUAN ĐIỂM TỨ DUYÊN NGŨ QUẢ - TIỂU THỪA VÀ ĐẠI THỪA
Đối
với cách giải thích đơn giản riêng rẽ về tứ duyên, ngũ
quả {Đẳng lưu quả (niṣyanda-phala), Dị thục quả (vipāka-phala),
Ly hệ quả (visaṃyoga-phala), Sỹ dụng quả (puruṣakāra-phala)
và, Tăng thượng quả (adhipati-phala)} thì giữa Tiểu thừa
và Đại thừa cũng không đồng quan điểm. Theo các nhà Duy
Thức thì: Khi chúng ta đã thừa nhận vũ trụ vạn hữu đều
do chủng tử hàm tàng trong A-lại-da thức biến hiện ra, vì
do chủng tử biến hiện nên các pháp trở thành sai biệt,
chúng phải kinh qua quan hệ nhân quả hai lớp (nhị trùng) ba
pháp (Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử
và, chủng tử sinh chủng tử: 1. hiện hành sản sinh bởi chủng
tử; 2. chủng tử huân tập bởi hiện hành; 3. chủng tử sản
sinh bởi chủng tử). Đây là ba pháp nhân quả triển
chuyển đồng thời, là dụng ngữ của nhân quả biểu thị
chủng tử cùng hiện hành hỗ tương của tông Duy thức. Tông
Duy thức chấp nhận chủng tử trong đệ bát thức và, chúng
cần các duyên hoà hợp mà khởi lên hiện hành; vả lại pháp
hiện hành này, ngay trong sát-na hiện hành, chủng tử kia cũng
huân tập đối với đệ bát thức (bản thức), nên gọi là
“Chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử.”
Lúc này, chủng tử năng sinh, và hiện hành năng huân cùng,
chủng tử sở huân của sở sinh, cả ba hỗ tương triển chuyển
thành ra tác dụng, mà biến hiện thành sum la vạn tượng,
quan hệ nhân quả này thuộc về sát-na đồng thời, không
phải là dị thời, nên chúng thuộc nhân quả đồng thời.
Ờ đây các pháp quá khứ vị lai, chủng tử của chúng cùng
quan hệ nhân quả của hiện hành đều tương tục cùng lúc,
như bật đèn sinh lửa, ngọn lửa sinh lửa đuốc. Trong đó,
quan hệ chủng tử sinh chủng tử thuộc nhân quả dị thời;
quan hệ chủng tử sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử
thuộc nhân quả đồng thời. Ngoài ra trong lục nhân, ngũ quả
sự quan hệ giữa dị thục nhân cùng dị thục quả cho đến
sự liên hệ của nhân đồng lọai, nhân biến hành cùng đẳng
lưu quả tất cả đều thuộc nhân quả dị thời. Còn sự
quan hệ của câu hữu nhân, tương ưng nhân cùng sĩ dụng quả
(còn gọi là công dụng quả) thì thuộc nhân quả đồng thời.
Trong khi sự quan hệ của năng tác nhân (nhân tạo tác) cùng
tăng thượng quả (quả tăng thượng) thì thuộc sự quan hệ
nhân quả vừa đồng thời vừa dị thời. Hơn nữa, sự quan
hệ của đồng lọai nhân cùng đẳng lưu quả, chúng dùng
pháp tự lọai làm nhân để dẫn sinh đến quả đẳng lưu
đồng lọai, cho nên chúng thuộc nhân quả tự lọai.
Hành
vi của chúng sinh có khả năng dẫn sinh ra nhân quả dị thời,
tức là khi chúng ta tạo nhân nghiệp thiện thì ắt phải nhận
quả báo thiện, tạo nhân nghiệp ác ắt phải chịu qủa báo
ác. Đây gọi là nhân thiện quả thiện, nhân ác quả ác,
hay còn gọi là nhân thiện quả vui, nhân ác quả khổ. Ở
đây, do hai nghiệp thiện ác mà chiêu cảm quả báo thiện
ác hay vui khổ, nhưng nếu chúng ta tạo tác việc phi thiện
phi ác thì chúng thuộc về “tánh vô ký”. Nhân quả dị
thời không những chỉ có giá trị trong hiện tại, mà chúng
còn có giá trị trong tương lai, có thể là trong một đời,
trong hai đời, trong ba đời, tuỳ theo tác nhân tạo ra nghiệp
lực mạnh hay yếu, dày hay mỏng mà chúng ta đã tạo ra thuộc
hành vi thiện hay ác, thì cũng theo đó mà nhận lãnh quả báo
thiện hay ác sau đó nanh hay chậm.
Lý
các loại nhân quả này nghiễm nhiên hiện hữu một cách trật
tự không rối loạn qua nhân quả báo ứng. Chúng luôn luôn
tuỳ thuộc vào sức mạnh của nghiệp thiện ác, mà theo đó
tuần tự đi thọ quả báo tiếp theo từ những tác nhân đã
tạo ra trước đó. Nếu chúng ta không thấy được sự tồn
tại của cái lý nhân quả, thì chúng ta sẽ bị rơi vào trong
tư tưởng kiến giải phủ nhận nhận quả.
Hơn
nữa, nếu chúng ta cũng đứng trên sự quan hệ nhân quả mà
thật hành tu tập theo đạo giáo, phù hợp tuỳ theo từng căn
cơ với chính mình, qua các thừa trong ngũ thừa giáo mà đức
Phật đã để lại, như những lý mà chúng ta đã luận bàn
ở trên, thì sẽ nhờ vào nhân tu hành mà có thể chiêu cảm
quả thành Phật. Ở đây gọi là tu nhân đắc quả, tu nhân
cảm quả, hay thù nhân cảm quả.
Ngoài
những quan hệ trên, do nhân thiện ác mà chiêu cảm quả báo
vui khổ. Ở đây còn có sự quan hệ nhân quả giữa dị thục
nhân và dị thục quả, hoặc do phước đức thiện nghiệp
của thế gian mà chiêu cảm quả vui nhơn thiên, đây gọi là
quan hệ nhân quả của nhân phước cùng quả phước; hay do
tu trập trí tuệ có khả năng chiêu cảm quả báo giác ngộ,
đây gọi là quan hệ nhân quả của trí nhân cùng trí quả.
Ở
trên chúng tôi đã trình bày ba loại quan hệ nhân quả gọi
là tam nhân, tam quả. Nhưng vẫn còn một loại nhân quả khác
nữa, đó là nhân quả ba đời, nhân quả báo ứng v.v… có
rất nhiều hệ thống quan hệ nhân quả chỉ cho dị thục
nhân, cùng dị thục quả. Những nhân quả được quan niệm
như vậy đều lệ thuộc vào thời gian tính, và được đánh
giá như là nền tảng cơ bản cho đạo đức học nhân sinh,
là luật tắc của mọi trật tự trong thế giới vũ trụ này.
Nhân quả được hình thành theo thời gian thì sự quan hệ
của chúng được phân định trước sau, nghĩa là nhân luôn
luôn đi trước và quả xuất hiện sau nhân hòan thành tất
cả mọi chức năng đủ, thì chúng mới xuất hiện, cách hình
thành nhân qua lệ thuộc thời gian, thì nhân quả này được
gọi là nhân quả dị thời. Nhân quả dị thời này là từ
đối lập với nhân quả đồng thời. Các nhà Duy Thức chủ
trương tự lọai của chủng tử tương tục không dứt, nhân
của niệm trước sinh ra quả của niệm sau, hai thời gian trước
và sau là hai thời gian khác nhau, cho nên gọi là dị thời.
Ở đây chỉ cho quan hệ chủng tử sinh chủng tử trong chủ
trương nhân quả trong nhân quả bị lệ thuộc vào thời gian,
nên có trước có sau, có quá khứ, hiện tại, vị lai khác
nhau; nhưng không những chủng tử sinh chủng tử, mà chủng
tử còn sinh hiện hành, hiện hành huân chủng tử, do đó chủng
tử cùng hiện hành trở thành quan hệ nhân quả đồng thời.
Vậy trong một pháp được hình thành có tiền nhân hậu quả
trong liên hệ dị thời, nhưng sự hỗ tương của một pháp,
hai pháp … là nhân quả đồng thời như trường hợp của
tim đèn và, ngọn lửa, lau nương vào nhau thành bó lau hiện
hữu. Thành Duy Thức luận 8 (Đ. 31, No: 1586,) nói: “Hiện hành,
chủng tử tuy khác lọai, nhưng hỗ tương không chống nhau,
một thân cùng lúc sinh ra tác dụng, không như chủng tử đồng
loại sinh ra nhau trước sau mà không chống trái nhau, tất chúng
không cùng hiện hữu.”
Bởi
tất cả pháp đều do lý nhân quả mà sinh thành và hoại diệt,
để thể hiện sự mê ngộ của thập giới, tức là do sự
quan hệ nhân quả này mà hình thành, sản sinh ra các loại
nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian, nhân quả của
cõi mê, nhân quả của cõi ngộ, để phân biệt theo tác nhân
và theo thọ quả của chúng. Nếu căn cứ vào Tứ đế mà
nói, thì hai đế Khổ, Tập là nhân quả thuộc thế gian của
cõi mê thế gian, hai đế Diệt, Đạo là nhân quả của cõi
ngộ xuất thế gian. Điều quan trọng là thật lý của nhân
quả này chính là giáo lý cơ bản trọng yếu của Phật giáo,
ở trong các kinh điển và, nhất là kinh điển Tiểu thừa
hầu hết đức Phật đều lấy luật tắt nhân để xây dựng
luận lý về giáo học của mình, nhằm đáp ứng mọi nhu cầu
căn cơ của chúng sinh mà hoàn thành sự nghiệp hoằng hoá
lợi sanh của mình, trong việc hướng dẫn chúng sanh đạt
đến nơi giải thoát cuối cùng của cõi khổ. Đối với lý
này sau này các bộ phái thường giải thích riêng rẽ thêm,
tùy theo tác nhân mà sinh ra thọ quả theo nhân quả báo ứng
như ảnh theo hình tương tục không dứt của nhân quả thiện
ác, để hướng dẫn khuyến khích mọi người thực hành theo
con đường của đức Phật đã đi qua, là vượt qua cảnh
giới hữu lậu để đạt đến cảnh giới tịch tịnh vô
lậu.
Những
chủ trương trên phân chia nhân quả lưu chuyển và hoàn diệt
của Tứ đế để thành lập Nhị đế của các nhà Tiểu
thừa. Ở đây, như Câu-xá luận chủ trương căn cứ về mặt
hiện tượng để nói lên thuộc tính của chúng. Tuy trên mặt
hiện tượng biểu tượng có thể bị luật vô thường chi
phối, có thể biến đổi và hình thành theo thuộc tính của
sự vật mà nó có tên gọi mới. Nhưng dù tên gọi này có
thể gọi là giả danh là Thế tục đế đi nữa, mà trên mặt
hiện thực bản chất của chúng thì chúng bất biến, luôn
luôn hiện hữu, nên chúng thuộc về Thắng nghĩa đế. Trong
khi, Thành thật luận lấy các pháp sắc, hương, vị cùng Niết-bàn
tức là các pháp hữu vi và vô vi làm Chân đế, vì chính sắc,
hương, vị, và Niết-bàn là những yếu tố cơ bản để hình
thành tất cả các pháp qua nhân duyên để chúng hiện hữu,
nên các pháp kể trên chúng thuộc về Chân đế, và ngược
lại những pháp được các pháp làm yếu tố cơ bản để
các pháp đó hiện hữu qua nhân duyên, thì các pháp này được
gọi là giả danh không có thật thể. Chúng chỉ mang thuộc
tính của các pháp cơ bản trên thôi, và như vậy sự hiện
hữu của biểu tượng có được này chúng thuộc về Tục
đế, giống như con người do năm uẩn hoà hợp mà thành nên
chúng thuộc về Tục đế. Còn, Kinh bộ thì chủ trương lấy
sự chấp nhận thuộc trí hữu lậu về các pháp cho là Thế
tục đế, và lấy trí vô lậu xuất thế gian, cùng hậu đắc
chánh trí thế gian làm Chân đế. Luận Đại Tỳ-ba-sa thì
lấy đạo lý ước định tục thành của thế gian, hay mọi
sự vật được lý giải thông thường của thế gian cho là
Thế tục đế, và lấy lý chân thật, những kiến giải triệt
để của các bậc Thánh vô lậu làm Thắng nghĩa đế. Nói
chung Tất cả đều y cứ vào pháp hữu lậu chỉ Thế đế
và pháp vô lậu chỉ Thắng nghĩa đế để thiết lập Nhị
đế, cho dù pháp đó là sự hay là lý, là tục hay là chân,
là biểu tượng hay là bản thể, là thế gian hay là xuất
thế gian cũng đều được qui về nhân quả của Nhị đế.
Nhưng
nhân quả mà được hình thành theo không gian, thì sự quan
hệ hình thành của chúng như sự nương tựa lẫn nhau của
những cộng lau trong một bó lau mới đứng vững được do
căn và trần tạo ra cái biết không thật, nên chúng chỉ là
một huyễn tướng, chỉ hiện hữu giả tạm không thật có.
Đó là quan hệ nhân quả theo không gian của nhân quả đồng
thời. Theo các nhà Duy Thức chủ trương thì chủng tử là
nhân nên có khả năng sinh khởi quả hiện hành, nhưng hiện
hành này cũng có khả năng làm nhân để huân tập quả chủng
tử. Chủng tử có khả năng sinh ra (năng sinh) cùng hiện hành
những gì được sinh ra (sở sinh) này. Chỗ huân tập của
chủng tử cùng ba pháp lần lượt triển chuyển cùng lúc hỗ
tương làm nhân quả nên gọi là nhân quả đồng thời. Triển
chuyển có hai nghĩa: Hỗ tương chuyển đổi và, lần lượt
chuyển đổi. Ở đây chúng thuộc hỗ tương chuyển đổi.
Thành Duy Thức luận 8 (Đ. 31, No: 1586 tr. ) nói: “Các thức
năng huân từ chủng tử lúc sinh, tức là có khả năng làm
nhân rồi huân lại thành chủng tử. Ba pháp chuyển đổi,
theo nhân quả đồng thời. Như tim đèn sinh ngọn lửa, ngọn
lửa sinh cháy tim đèn; cũng như bó lau cùng nương tựa vào
nhau, nhân quả đồng thời lý không khuynh động.”
Qua
những trình bày trên, các vấn đề nhân quả như là một,
khác, thường, vô thường; nhân quả có, không; tà nhân tà
quả; không nhân có quả; có nhân không quả; không nhân không
quả; trong nhân có quả; trong nhân không có quả. Tất cả
những quan niệm như vậy về nhân quả của các luận sư ngoại
đạo vào lúc bấy giờ đã được đức Phật liệt vào những
loại tà kiến. Tà kiến vì họ đã đứng vào lập trường
có hoặc không lệ thuộc vào nhị nguyên tương đối của
thời gian để thiết lập đạo lý nhân quả. Nhân quả như
thế trở thành cực đoan và thiên kiến trong trói buộc. Dù
biết vậy, nhưng đức Phật vẫn đứng trên lập trường
khế cơ khế lý thuộc thời gian mà tuyên thuyết giáo pháp
của mình, với mục đích là hướng dẫn mọi người biết
được những nguyên nhân đưa đến mọi sự trói buộc và,
chỉ cho họ cách mở những trói buộc đó từ tự trói tự
mở cho mọi người. Đó chính là giáo lý nhân quả dị thời
của ngũ thừa giáo; giáo lý phù hợp với từng căn cơ của
mọi người chúng ta, trong việc cột trói và mở trói, để
đạt đến giải thoát tất cả mọi thứ phiền não trói buộc
của thời gian nhân quả nhị nguyên.
Theo
kinh điển Đại thừa như kinh Niết-bàn thuyết, thì đứng
về mặt tương đối thì có tục, có chân, có hữu thật,
vô thật; chúng là thứ ngôn ngữ biểu tượng cho những thuộc
tính có thề có được quả, mà chúng muốn vươn đến. Những
biểu tượng này cho dù là giả danh, nhưng chính chúng cũng
có bản thể của chính nó, cho dù trên chiều tuyệt đối
ngôn ngữ khó bề tiếp cận. Do đó, sự mâu thuẫn ở đây
giữa Tục đế và Đệ nhất nghĩa đế dù có mâu thuẫn đến
đâu đi nữa trên mặt nhân quả, nhưng trên mặt duyên khởi
chúng cần sự mâu thuẫn này để có thể chúng tiếp cận
chân lý tuyệt đối. Bởi vì chúng không đòi hỏi bất cứ
sự thành công nào nhờ vào ngôn ngữ khi diễn giải về chúng,
nếu không muốn nói là một thất bại của ngôn ngữ. Vì
nếu ngôn ngữ không thất bại trong việc triển khai diễn
giải thì chúng đã đánh đi mất bản chất của duyên khởi
của nhân quả, và như vậy thì con đường Trung đạo cũng
khó mà hiện hữu để đưa đến cảnh giới Niết-bàn tuyệt
đối. Do đó Chân Tục bất nhị (chẳng phải hai) của kinh
Nhân vương Bát-nhã (2, Đ. 8,) chính là con đường Trung đạo
từ Tục đến Chân qua bất nhị, chúng thể hiện được bản
thể duyên khởi nhân quả không hai. Đó chính là con đường
đưa đến tuyệt đối mà chúng không tự đánh mất hiện
tượng biểu tượng của chúng qua ngôn ngữ.
Cũng
theo quan điểm Trung đạo của kinh Nhân vương Bát Nhã, Trung
quán luận (Đ. 30. No. 1565-1567, tr. 1b Mūla- madhyamakakārikā)
của Bồ-tát Long Thọ cũng luận rằng: Chúng ta thường hiểu
quả là từ nhân duyên sanh ra. Như vậy đối với nhân giống
nhau hay khác? Theo quan niệm thông thường thì chúng ta cho rằng
quả không khác nhân, bởi nhân sanh ra quả. "Nhân nào quả
ấy" quan niệm như vậy không phải là sai, nhưng không phải
đúng hoàn toàn. Bởi vì, nếu quả giống nhân, thì nhân và
quả không khác, như vậy người ta đặt danh từ nhân quả
để làm gì? Nhân quả không khác, có nghĩa nhân tức là quả,
quả tức là nhân. Và như thế nhân quả là một. Khi nói trong
nhân ấy đã có quả thì không cần nói quả của nhân, và
trở thành thừa. Hay nếu nói quả khác với nhân. Điều này
cũng không đúng. Nhân khác, quả khác thì cũng như nói hột
xoài (nhân) sanh ra trái mít (quả). Quan niệm trong nhân đã
có quả, trong nhân không có quả, quả chẳng phải là nhân
duyên, hữu quả vô quả, phi nhân, phi quả… là quan niệm
còn trong tư tưởng lẫn quẩn thiếu chính xác. Thấu triệt
chân lý Phật giáo là người phải nhận định phân minh rõ
ràng các nghĩa hẹp, nghĩa rộng, sự-lý và tương đối-tuyệt
đối dung hòa không gian thời gian, tùy duyên bất biến, bất
biến tùy duyên. Đó là chính là quan điểm Trung đạo của
Bồ-tát Long Thọ muốn chúng ta phải nhận chân ra bộ mặt
thật của các pháp từ sự hiện hữu sinh khởi cho đến sự
biến diệt lưu chuyển phải được nhận thức một cách chính
xác là:
“Pháp
do các duyên sanh,
Tôi
nói đó là không,
Cũng
chính là giả danh,
Cũng
là nghĩa Trung đạo.
Chưa
từng có một pháp,
Không
từ nhân duyên sanh.
Cho
nên tất cả pháp,
Không
gì không phải Không.”
(Đ.
30, No. 1564, Trung luận 1, chương Quán Tứ đế đệ
nhị thập tứ; 观 四 谛 品 第 二 十 四 Ārya-satya parīkṣā;
tr. 33b.)
Và
trong Quán nhân quả (Đ. 30, No. 1564, Trung luận 1, chương
Quán nhân quả, 觀 因 果 Sāmagrī-parīkṣā, tr. 26) luận bàn
cũng giống như chương quán nhân duyên, tìm hiểu nhân và quả
hòa hiệp nảy nở ra kết quả như thế nào? Nhân có trước
hay quả có trước, nhân ở trong quả hay quả có sẵn trong
nhân, nhân và quả là một thứ hay không phải, đồng thể
hay khác tánh… Nếu chúng ta quan niệm rằng nhân sanh ra quả,
vậy thì thử hỏi nhân và quả khác nhau hay không khác nhau?
Nếu nhân khác với quả, thì nhân ấy không sinh ra quả được.
Như hạt lúa không thể sanh cây bắp. Còn nhân quả không khác
nhau, không khác tức là nhân và quả là một. Là một thì
không cần phân biệt đây là nhân kia là quả hay nói nhân
sanh ra quả. Nếu nói rằng nhân quả khác nhau, khác nhau mà
có sanh quả, thì quả ấy giống như phi nhân, không nhân mà
có quả. Cái lỗi không phải là có hay không, mà chính nguyên
nhân cố chấp quyết định có-không, nên thành có lỗi. Do
đó chúng ta hãy nhìn sự vật như là chính nó, có nghĩa là
chúng ta không nhìn nó với một chủ quan tính, mà áp đặt
lên sự vật những nhãn hiệu mà tự thân chúng không có.
Các pháp tự chúng xưa nay do các duyên sinh ra, và diệt đi
cũng do các duyên diệt, vì vậy chúng trở thành không tánh.
Vì sự hiện hữu của tướng chúng là huyễn, chỉ là một
giả danh để tạm gọi và phân biệt với cái khác cùng duyên
khởi hiện hữu bên cạnh chúng và, tánh của chúng vì là
không tự hữu, nên tạm gọi tánh của chúng là tánh không.
Nhìn các pháp với tướng huyễn tánh không là một cái nhìn
như thật tri của chúng ta. ◘
T.Đ.T