GIỚI
THIỆU VÀ GIẢI THÍCH VỀ
KINH
KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT
(tiếp
theo từ tập san Nghiên cứu Phật học số 8)
Thích
Thái Hòa
Năm
cách nhìn vạn hữu:
Kinh
Kim Cang Bát Nhã đã nói với chúng ta rằng, Như Lai có năm
cách nhìn đối với mọi sự hiện hữu.
Cách
nhìn thứ nhất là cách nhìn của nhục nhãn, tức là nhìn
theo nghiệp chủng thiện ác xen tạp và điều kiện hiểu biết
của con người hay của những chúng sanh cấp thấp. Ấy là
cách nhìn không xa, không vượt qua khỏi bóng đêm, và các
chướng ngại vật khác. Và cũng như là cách nhìn không
vượt ra khỏi ngoài miếng cơm, manh áo, nhà ở, tranh nhau chức
quyền và những nhu cầu tình cảm trần tục. Đó là cách
nhìn của con người và hết thảy chúng sanh cấp thấp.
Trong
khi làm Nhà giáo dục, Nhà đạo đức, Nhà hướng dẫn đời
sống tâm linh cho con người, Như Lai đã nhìn con người với
mọi sinh hoạt từ cá nhân đến cộng đồng, từ thể tánh
tâm thức đến những hình tướng biểu hiện của chúng bằng
con mắt nầy, để thấy rõ đâu là những nhân duyên, những
khát khao, những lực dụng, những sở đắc và đâu là những
hệ lụy của họ, nhằm có thể thương và đồng sự với
họ để giúp họ tiến lên cách nhìn và cách giải quyết
mọi vấn đề một cách như thực của một bậc Toàn
Giác.
Cách
nhìn thứ hai là cách nhìn của thiên nhãn, tức là cách nhìn
theo thiện nghiệp của phước báo hữu lậu thuộc các loài
chư thiên Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, ấy là cách
nhìn của những chúng sanh có những điều kiện phước báo
và hiểu biết cấp cao.
Đối
với cách nhìn của chư thiên Dục giới, họ thấy phước
báo, mạng sống và quyền lực của con người quá thực nhỏ
nhoi, đi đứng nặng nề chậm chạp, sự hiểu biết không
ra ngoài gang tất, còn đối với họ đi đứng bằng năng lượng
ánh sáng, cái nhìn linh hoạt không bị các vật thể làm trở
ngại, hưởng thụ các dục lạc tùy theo ý muốn, bởi từ
những cái nhìn ấy mà họ sinh tâm kiêu mạn hoặc thương
xót đối với thế giới loài người, nhưng đối với phước
báo và sự hiểu biết thuộc chư thiên Sắc giới và Vô sắc
giới thì họ mù tịt, chẳng thấy và chẳng biết được
gì.
Đối
với chư thiên Sắc giới, thì hình sắc của họ hết sức
vi tế và tâm thức của họ thì hết sức linh hoạt, ái dục
trong tâm thức đã được chế ngự và chuyển hóa bằng thiền
định, nhưng ái kiến còn dày đặc, họ có thể nhìn thấy
phước báo, mạng sống, quyền lực và sự hiểu biết của
loài người và chư thiên ở các cõi trời Dục giới quả
thực là cạn cợt và kém cỏi. Từ cách nhìn ấy, họ sanh
tâm kiêu mạn và nhàm chán đối với những gì mà thế giới
loài người và chư thiên ở các cõi trời Dục giới sở đắc
và tự hào. Và cũng từ cách nhìn ấy mà những hạt giống
ngã kiến, ngã mạn, ngã ái và ngã si từ nơi tâm thức
của họ tăng vọt, khiến cho mọi cách nhìn của họ bị mờ
đục bởi ngã kiến, không thể nhìn thấy được tự thân
của mọi sự hiện hữu, và khiến họ bị mù mịt không thể
nhìn thấy xuyên suốt được những thể tính, nhân duyên,
tác dụng, năng lực, quả báo cũng như thọ mạng của chính
họ, và của chư thiên ở các cõi trời Vô sắc giới.
Đối
với chư thiên Vô Sắc giới, do họ đã chế ngự được ái
kiến ở trong tâm thức bằng các thứ Không-định, nên họ
có thể nhìn thấy xuyên suốt những gì gọi là văn minh của
thế giới loài người, cũng như chư thiên Dục giới và Sắc
giới, và họ có thể thấy rõ tính chất bất thực của những
thế giới nầy, họ có thể thấy Không gian là vô biên; Tâm
thức là vô biên cũng như thấy Không gian và Tâm thức không
còn làm nền tảng cho mọi sự hiện hữu, mà làm nền tảng
cho mọi sự hiện hữu chính là tưởng và không phải tưởng,
từ cách nhìn nầy mà họ sinh khởi tưởng, ái tưởng, ái
cái không phải tưởng và khởi lên ái trước đối với cái
vô sắc, nên họ không còn thấy rõ tính chất bất thực của
tưởng, cũng như tính chất bất thực của cái vô sắc, do
đó họ đã bị tưởng và đối tượng của tưởng làm trở
ngại, nên họ không thể vượt thoát sinh tử và không thể
nhìn thấy tự tính chân như ở nơi mọi sự hiện hữu.
Đức
Như Lai là bậc thầy dạy đạo giải thoát cho chư thiên và
loài người, nên Ngài đã nhìn thế giới của họ bằng con
mắt của chính họ để thông cảm những nỗi đau, những
nỗi lo lắng, những bất lực và bất an của họ, nhằm giúp
họ vượt ra khỏi những ràng buộc thuộc về thân hành hoặc
tâm hành, hay nói cách khác là giúp họ vượt thoát sự chấp
thủ năm uẩn là tự ngã, nhằm hướng tới một đời sống
cao thượng, giải thoát của một bậc Thánh hay là đời sống
của một bậc Giác Ngộ.
Cách
nhìn thứ ba là cách nhìn của tuệ nhãn, nghĩa là nhìn mọi
sự hiện hữu bằng con mắt của tuệ, tức là thấy rõ mọi
sự hiện hữu từ vật thể đến tâm thức, chúng chỉ là
những tập hợp sinh khởi do duyên, chúng là vô thường và
không có tự thể thực hữu cho chính nó. Do có cách nhìn nầy
mà những hạt giống, ngã kiến, ngã ái, ngã mạn và ngã si
ở trong tâm thức của người nhìn, từ từ được chuyển
hóa, khiến cho cách nhìn của họ, càng ngày càng phù hợp
với tự thân bình đẳng của thực tại, hay là tự tính chân
như của vạn hữu. Nếu những hạt giống ngã kiến, ngã ái,
ngã mạn và ngã si nơi tâm thức của người nhìn được tảo
trừ bao nhiêu, thì người ấy có cách nhìn xuyên suốt và
thấy rõ tự tánh bình đẳng nơi vạn hữu bấy nhiêu.
Cách
nhìn nầy là cách nhìn mọi sự hiện hữu của các vị Thánh
giả Thanh văn, các vị Thánh giả Duyên giác và các vị Bồ
tát từ hàng Bát Địa trở xuống. Và do nhìn vạn hữu thường
xuyên với cách nhìn nầy, nên các hàng Thánh giả và Bồ tát
ấy có được tự do và có được chủ quyền trong sự sống
chết có phân kỳ.
Đức
Như Lai đã sử dụng cách nhìn nầy, nhằm đồng sự với
các hàng Thánh giả Thanh văn, Duyên giác và các hàng Bồ tát
Bát Địa trở xuống, để thấy rõ những gì sở đắc và
những gì đang bị mắc kẹt của họ để giúp họ tháo gỡ
và tiếp tục tu tập, nhằm tiến tới cách nhìn vạn hữu
của các bậc Toàn Giác.
Cách
nhìn thứ tư là pháp nhãn, đây là cách nhìn thấy rõ tự
tướng và cọng tướng của vạn pháp hay tự tính vô tính
của vạn hữu. Nghĩa là thấy rõ cọng tướng của vạn hữu
không những không có thực thể mà tự tướng của vạn hữu
cũng không có thực thể; không những thấy rõ nội dung của
pháp mà còn thấy rõ nội dung của cái không phải pháp; không
những thấy rõ pháp tướng mà còn thấy rõ pháp tánh; không
những thấy rõ pháp tu mà còn thấy rõ pháp chứng; không những
thấy rõ nhân tu mà còn thấy rõ duyên tu và quả chứng.Với
cách nhìn nầy không những giúp cho người nhìn đoạn trừ
sạch các lậu hoặc thuộc về phiền não mà còn đoạn trừ
các lậu hoặc thuộc về vô minh nữa, đểø tiến bước vững
chắc đến địa vị Giác Ngộ Hoàn Toàn.
Pháp
nhãn là cách nhìn vạn hữu của các vị Bồ Tát từ Bát Địa
trở lên, với cách nhìn nầy Như Lai đã đồng sự cùng với
các hàng bồ tát ấy để giúp họ vượt thoát mọi ý niệm
về pháp và phi pháp, khiến họ nhập vào cảnh giới tự giác
thánh trí hay tự tính giác ngộ bình đẳng của chư phật.
Cách
nhìn thứ năm là Phật nhãn, ấy là cách nhìn bằng con mắt
của phật. Bằng con mắt nầy, Phật đã thấy hết thực thể,
thực tính, thực tướng, thực dụng, thực lực, thực nhân,
thực duyên, thực quả, thực báo và sự thực về gốc rễ,
ngọn ngành của vạn hữu. Và cũng bằng con mắt nầy, Đức
Phật thấy rõ về xứ và về phi xứ; thấy rõ nhân duyên,
nhân quả, nghiệp báo ba đời của hết thảy chúng sanh; thấy
rõ hết thảy các loại thiền định đưa đến giải thoát;
thấy rõ tâm tánh của hết thảy chúng sanh; thấy rõ mọi
loại lý giải thù thắng; thấy rõ hết thảy cảnh giới của
chư Phật, Bồ Tát, Duyên Giác, Thanh văn và lục đạo chúng
sanh; thấy rõ về đạo và thấy rõ về phi đạo; thấy rõ
sinh mệnh nhiều đời; thấy rõ các loại sinh tử về phân
đoạn và biến dịch; thấy rõ các lậu hoặc đã hết. Do
có con mắt thấy tất cả và biết tất cả mà không bị bất
cứ một cái gì làm ngăn ngại, nên Đức Phật còn gọi là
Như Lai hay là bậc Chánh Biến Tri, là Bậc đã đạt đến
nơi hạnh phúc cao thượng…
Với
năm loại con mắt của Phật ở kinh Kim cang Bát Nhã, Đức
Phật đã hỏi Ngài Tu Bồ Đề như sau:
“Tu
Bồ Đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu nhục nhãn phủ? Như thị
Thế Tôn. Như Lai hữu nhục nhãn. Tu Bồ Đề, ư ý vân hà?
Như Lai hữu thiên nhãn phủ? Như thị Thế Tôn. Như Lai hữu
thiên nhãn. Tu Bồ Đềø ư ý vân hà? Như Lai hữu tuệ nhãn
phủ? Như thị Thế Tôn. Như Lai hữu tuệ nhãn. Tu Bồ Đề,
ư ý vân hà? Như Lai hữu pháp nhãn phủ? Như thị Thế Tôn.
Như Lai hữu pháp nhãn. Tu Bồ Đề, ư ý vân hà? Như Lai hữu
phật nhãn phủ? Như thị Thế Tôn. Như Lai hữu phật nhãn
(Đại Chính Tân Tu 8, tr 751c). Tương đương với Phạn bản
như sau:” Bhagavàn àha -tat kimï manyase Subhùte samïvidyate tathàgatasaya
màmïsacaksïuhï? Subhùtir àha - evam etad bhagavan, samïvidyate tathàgatasya
màmïsacaksïu / Bhagavàn àha - tat kimï manyase Subhùte
samïvidyate tathà-gatasya divyamï caksïuhï? Subhùtir àha - evam
etad bhagavan, samïvidyate tathà-gatasya divyamï caksïuhï/ Bhagavàn
àha - tat kimï manyase Subhùte samï-vidyate tathàgatasya prajnõà-caksïuhï?
Subhùtir àha - evam etad bhagavan, samï-vidyate tathàgatasya prajnõà-caksïuhï
/ Bhagavàn àha - tat kimï manyase Subhùte samïvidyate
tathàgatasya dharmacaksïuhï?Subhùtir àha - evam etad Bhagavan, samï-vidyate
tathàgatasya dharma-caksïuhï/ Bhagàvan àha - tat kimï manyase Subhùte
samïvidyate tathàgatasya buddhacaksïuhïï? Subhùte àha - evam
etad bhagavan, samïvidyate tathàgatasya buddhacaksïuhï//. Nghĩa
là: Đức Thế Tôn nói, hỡi Subhùti, ý Thầy nghĩ như thế
nào, Như Lai hiện có mắt thịt không? Subhùti thưa, bạch
Thế Tôn, đúng như vậy, Như Lai hiện có mắt thịt. Đức
Thế Tôn nói, hỡi Subhùti, ý Thầy nghĩ như thế nào, Như
Lai hiện có mắt chư thiên không? Subhùti thưa, bạch Thế Tôn,
đúng như vậy, Như Lai hiện có mắt chư thiên. Đức Thế
Tôn nói, hỡi Subhùti, ý Thầy nghĩ như thế nào, Như Lai có
mắt tuệ không? Subhùti thưa, bạch Thế Tôn, đúng như vậy,
Như Lai hiện có mắt tuệ. Đức Thế Tôn nói, hỡi Subhùti
, ý Thầy nghĩ như thế nào, Như Lai hiện có mắt pháp
không? Subhùti thưa, bạch Thế Tôn, đúng như vậy, Như Lai
hiện có mắt pháp. Đức Thế Tôn nói, hỡi Subhùti, ý Thầy
nghĩ như thế nào, Như Lai hiện có mắt Phật không? Subhùti
thưa, bạch Thế Tôn, đúng như vậy, Như Lai hiện có mắt
Phật.
Với
năm cách nhìn nầy, kinh Kim Cang Bát Nhã đã giúp cho ta thấy
rõ đâu là phát bồ đề tâm, đâu là chưa phải phát bồ
đề tâm; đâu là bồ tát, đâu chưa phải là bồ tát; đâu
là phước đức, đâu chưa phải là phước đức; đâu là
thân tướng, đâu chưa phải là thân tướng; đâu là thân
lớn, đâu không phải là thân lớn; đâu là pháp tướng, đâu
chưa phải là pháp tướng; đâu là pháp, đâu là phi pháp;
đâu là thuyết pháp, đâu chưa phải là thuyết pháp; ai là
người nhập vào các thánh quả, ai là người chưa nhập vào
các thánh quả; thế nào là sở đắc, thế nào là vô sở
đắc; thế nào là trang nghiêm, thế nào là phi trang nghiêm;
thế nào là thanh tịnh tâm, thế nào là phi thanh tịnh tâm;
thế nào là bát nhã ba la mật, thế nào là không phải bát
nhã ba la mật; thế nào là vi trần, thế nào là phi vi trần;
thế nào là thế giới, thế nào là phi thế giới; thế nào
là thực tướng, thế nào là phi thực tướng; thế nào là
đệ nhất ba la mật, thế nào là không phải đệ nhất ba
la mật; thế nào là nhẫn nhục, thế nào là phi nhẫn nhục;
thế nào là chúng sanh, thế nào là phi chúng sanh; thế nào
là phàm phu, thế nào là phi phàm phu; thế nào là Như Lai, thế
nào phi Như Lai; thế nào là pháp tu và pháp chứng, thế nào
không phải là pháp tu và không phải là pháp chứng…
Chẳng
hạn, trong kinh Kim Cang Bát Nhã nói: “Chư vi trần, Như Lai
thuyết phi vi trần, thị danh vi trần; Như Lai thuyết thế giới,
phi thế giới, thị danh thế giới (Đại Chính Tân tu 8, tr
750a) = Nghĩa là: Các vi trần, Như Lai nói chúng không phải
là vi trần, nên gọi đó là vi trần; Như Lai nói thế giới,
chúng không phải là thế giới, nên gọi đó là thế giới”
Tại
sao kinh Kim Cang Bát Nhã lại có cách nhìn vi trần, thế giới,
phàm phu, thánh nhân, Pháp, Như Lai cũng như các vấn đề khác
với lối biện chứng” Nó, không phải là nó, nên gọi là
nó” một cách độc đáo nầy?
Bởi
cách
nhìn nhục nhãn hay thiên nhãn hoặc cách nhìn của phàm phu,
thì vi trần chỉ là vi trần, thế giới chỉ là thế giới,
con người chỉ là con người, tâm chỉ là tâm, vật chỉ là
vật, pháp chỉ là pháp, chúng sanh hay phàm phu chỉ là chúng
sanh hay phàm phu, Thánh nhân hay Như Lai chỉ là Thánh nhân hay
Như Lai… với cách nhìn nầy chỉ đẩy người nhìn đi
tới cuộc sống với hai cực đoan. Một là đoạn kiến đưa
tới lối sống ăn chơi trác tán, chẳng có gì ngày mai, bất
chấp nhân quả tội phước, biến con người trở thành con
thú, và một con thú biết ăn chơi, có nhiều tham vọng và
biết đam mê quyền lực, nên con thú nầy là một con thú hung
hăng, độc ác, nó tạo ra mọi bất ổn xã hội và có khả
năng tàn hại đến tất cả mọi loài và ngay cả môi trường
sống của chính nó; hai là thường kiến, đưa tới lối sống
ép xác khổ hạnh, sống mà không dám sống, đầy khiếp đảm
và sợ hãi, đầy mặc cảm tội lỗi và yếu đuối, phó thác
thân phận của chính mình cho các thế lực siêu nhiên, với
ngày đêm năn nỉ ơn trên ban phước và tha tội, và tất
cả hành động của nó là chỉ để dành cho ngày mai, một
ngày mai mơ hồ và vô vọng. Với cách nhìn thường kiến như
vậy, nó chỉ tạo nên cho con người và xã hội hèn yếu,
phó mặc cho định mệnh, nô lệ giáo điều và thần linh,
cuồng tín và thụ động.
Nhưng,
đối với cách nhìn của kinh Kim Cang Bát Nhã” nó không phải
là nó, nên gọi nó là nó”, giúp cho ta có cuộc sống không
bị rơi vào hai trường hợp cực đoan như trên. Vì sao? Vì
bởi con người được tạo nên bởi những yếu tố không
phải là con người, như các yếu tố lỏng, rắn, nhiệt, khí
và tâm thức. Như vậy, các yếu tố lỏng, rắn, nhiệt, khí
và tâm thức đâu phải là con người, nhưng chúng lại hòa
điệu với nhau tạo nên con người. Do đó, không có bất cứ
trường hợp nào con người chỉ là con người mà con người
được tạo nên bởi những yếu tố không phải là con người.
Nên con người có thể tiến lên hay thụt lùi do bởi ý chí
hùng tráng hay tâm tư hèn nhược cùng với những điều kiện
tương ứng với nó. Và cũng như vậy, không có trường hợp
nào thế giới chỉ là thế giới mà thế giới được tạo
nên bởi những cái không phải là thế giới, đó là không
gian và thời gian. Và chính không gian được tạo nên bởi
những cái không phải là không gian, đó là các phương và
hướng; và chính thời gian được tạo nên bởi những cái
không phải là thời gian, đó là các lực chuyển động sinh
diệt nơi mọi sự hiện hữu tác động tương quan. Và như
vậy, thời gian không còn là thời gian đơn thuần mà trong
thời gian đã có mặt của không gian, và không gian không còn
là không gian đơn thuần mà trong không gian đã có mặt của
thời gian. Và cũng như vậy,vật chất được tạo nên bởi
những cái không phải vật chất, đó là vi trần và năng lượng…
Tâm được tạo nên bởi những cái không phải là tâm, đó
là những ý niệm, những tập khí và những chủng tử tâm
hành… Phàm phu được tạo nên bởi những yếu tố không
phải là phàm phu như sáu căn, sáu trần, sáu thức cùng tương
ưng với các tâm sở hữu lậu. Thánh nhân được tạo nên
bởi những yếu tố không phải là Thánh nhân cũng gồm sáu
căn, sáu trần, sáu thức cùng với các thiện pháp vô lậu.
Và Như Lai cũng được tạo nên bởi những yếu tố không
phải là Như lai, gồm các yếu tố của tuệ giác, như: Ứng
cúng, Chánh biến tri, Thế gian giải, Minh hành cụ túc…; Biết
về thị xứ về phi xứ; biết về thể tính, tướng dụng,
nhân duyên, quả báo và gốc rễ ngọn ngành của hết thảy
thế giới nhiều như vi trần; và biết rõ hết thảy tâm tánh
của các chủng loại chúng sanh trong hết thảy thế giới nhiều
như vi trần ấy và biết rõ tâm thức của hết thảy chúng
sanh vận hành một cách siêu tốc mà tốc lực của ánh sáng
cũng không thể so sánh và đối chiếu trong muôn một. Chính
những yếu tố nầy tạo nên Như Lai hay bậc Giác Ngộ.
Do
đó, Kinh Kim Cang Bát Nhã đã giúp cho ta cách nhìn vạn hữu
tự nó không phải là nó và mỗi một yếu tố tạo nên vạn
hữu, tự thân của mỗi yếu tố ấy, tự nó cũng không phải
là nó, nó được khẳng định từ những cái không phải nó.
Nhìn và thấy mọi sự hiện hữu như vậy là nhìn và thấy
bằng mắt tuệ hay là bằng mắt pháp hoặc sâu xa, chính xác
và siêu việt hơn là bằng mắt Phật.
Nhìn
và thấy vạn hữu bằng Kim Cang Bát Nhã một cách thường
trực như vậy mỗi ngày sẽ giúp ta mở rộng tầm nhìn,và
giúp ta khám phá, đánh giá sự thực của một vấn đề qua
nhiều cách nhìn khác nhau, khiến cách nhìn, cách đặt vấn
đề và cách giải quyết vấn đề của ta trở nên phong phú
và phóng khoáng, khiến cuộc sống của ta không bị rơi vào
khung trời chật hẹp và làm nô lệ cho một bản ngã phàm
tục mà hư ảo, hay đuổi săn và nắm bắt những danh tướng
phù hư và khiến ta không bàng hoàng và kinh ngạc trước những
thành bại, hơn thua, trước những thay hình đổi dạng, thay
tâm đổi tánh của con người, của vạn loại chúng sanh một
cách nhanh chóng như nuớc bọt đổ dốc, như sao băng, điện
chớp.
Nhìn
và thấy mọi sự hiện hữu bằng Kim Cang Bát Nhã, giúp ta
thấy đâu là thực và hư của chính ta, của những vấn đề
chung quanh ta và vạn hữu. Cái thực của vạn hữu được
phơi bày dưới cách nhìn của nhục nhãn, nó lại trở thành
cái phi thực, cái hư ảo dưới cách nhìn của chư thiên; cái
thực của vạn hữu được phơi bày dưới cách nhìn của
chư thiên, nó lại trở thành cái hư ảo và bất thực dưới
cách nhìn của tuệ nhãn; cái thực của vạn hữu được phơi
bày dưới cách nhìn của tuệ nhãn, nó lại trở thành cái
phi thực và hư ảo dưới cách nhìn của pháp nhãn; cái thực
của vạn hữu được phơi bày dưới cách nhìn của pháp nhãn,
nó lại trở thành cái phi thực và hư ảo dưới cách nhìn
của phật nhãn. Và chỉ có cách nhìn của phật nhãn mới
xuyên suốt tính thể của vạn hữu trong mọi thời gian và
trong mọi không gian, cũng như trong mọi chủng loại. Tại sao
cách nhìn của phật nhãn lại xuyên suốt như vậy? Vì ở
trong cách nhìn ấy, không còn ý niệm về ngã và phi ngã; không
còn ý niệm về con người và phi con người; không còn ý niệm
về chúng sanh và phi chúng sanh; không còn ý niệm về thọ
mạng và phi thọ mạng; không còn ý niệm về pháp và phi pháp;
không còn ý niệm về thực thể và phi thực thể, và về
hư và phi hư.
Bởi
vậy, trong kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật nói: “Tu Bồ Đề,
Như Lai sở đắc pháp, thử pháp vô thực vô hư ( Đại Chính
Tân Tu 8, tr 750b)”. Tương đương với Phạn bản như sau:”Api
tu khalu punahï Subhùte yas Tathàgatena dharmo ‘bhisamïbuddho desùito
nidhyàtah, na tatra satyamï na mrïsa”. Nghĩa là: Lại nữa, hỡi
Subhùti! Pháp được chiêm nghiệm, chứng ngộ và trình bày
bởi Như Lai, Pháp ấy không phải thực, không phải hư.
Cũng
bằng cách thấy “pháp vô thực vô hư”, của Phật nhãn,
một đoạn khác của kinh Kim Cang Bát nhã, Đức Phật lại
tiếp tục dạy như sau: “Nhược hữu nhân ngôn: Như Lai đắc
A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ Đề, thực vô hữu
pháp, Phật đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Tu Bồ
Đề, Như Lai sở đắc A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, ư
thị trung vô thực vô hư ( Đại Chính Tân Tu 8, tr 751b).”
Tương đương với Phạn bản là:” Yahï kasùcit Subhùte evamï
vadet – Tathà-gatenàrhat samyaksamï-buddhena anuttarà
samyak-samïbodhir abhisamïbudd-heti, sa vitatham vadet/ abhyàcaksïìta
màmï sa Subhùte asatodgrïhìtena/ tat kasya hetohï? nàsti Subhùte
sa kasùcid dharmo yas tathàgatena anuttaràmï samyaksamïbodhim abhi-samïbuddhahï/
yasù ca Subhùte tathàgatena dharmo ‘bhisamïbuddho desùito
và tatra na satyamï na mrïsà/. Nghĩa là: Hỡi Subhùti! Nếu có
người nào bảo rằng: Với Như Lai, A la hán, bậc
vô thượng chánh đẳng, chánh giác, có chứng đắc giác ngộ,
thì người ấy nói không đúng. Nầy Subhùti! Do hiểu không
đúng, nên người ấy đã nói lời phỉ báng tôi. Tại sao?
Hỡi Subhùti ! Vì không có pháp giác ngộ nào được chứng
đắc bởi Như lai, bậc Vô thượng chánh đẳng giác. Nầy
hỡi Subhùti! Pháp được chứng ngộ và trình bày bởi Như
lai, pháp ấy không phải là thực, không phải là hư.
Với
Phật nhãn, Đức Như Lai đã thấy rõ các hàng bồ tát từ
bát địa trở lên, sự vướng mắc đối với ngã tưởng
trong năm uẩn đã được chặt đứt, nhưng vẫn còn có thể
vướng mắc đối với những ảnh tượng của ngã trong từng
uẩn, và cũng còn mắc kẹt đối với các pháp hành mà nhất
là mắc kẹt vào pháp lục độ, tức là mắc kẹt vào pháp
tu và pháp chứng hay nhân tu và quả chứng. Và để giúp đỡ
cho hàng bồ tát nầy vượt qua những mắc kẹt ấy, nên ở
Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật đã dạy: “Nếu có người
nào bảo rằng: Với Như Lai, bậc A la hán, bậc Vô thượng
chánh đẳng, chánh giác có chứng đắc giác ngộ, thì người
ấy nói không đúng. Nầy Subhùti! Do hiểu không đúng, nên
người ấy đã nói lời phỉ báng tôi. Tại sao? Vì không có
pháp giác ngộ nào được chứng đắc bởi Như Lai, bậc Vô
thượng chánh đẳng, chánh giác. Nầy hỡi Subhùti! Pháp được
chứng ngộ và trình bày bởi Như lai, pháp ấy không phải
là thực, không phải là hư.” Đây là một trong những lời
dạy tiêu biểu của Đức Phật ở trong kinh Kim Cang Bát Nhã,
không những giúp cho những vị Bồ tát tu tập thoát ra khỏi
những sự mắc kẹt đối với các ý tưởng, về ngã,
về con người, về chúng sanh và về thọ mạng mà còn giúp
cho các vị bồ tát chặt đứt phăng những ý tưởng về pháp
tu và pháp chứng hay là về nhân tu và quả chứng. Hay nói
cách khác, lời dạy nầy của Đức Thế Tôn là gươm báu
tuệ giác chặt đứt phăng những ý niệm về ngã đã được
biến dạng từ ngũ uẩn sang núp kín và trộn lẫn ở trong
pháp phát tâm bồ đề, ở trong pháp hành bồ đề và ngay
cả trong quả chứng bồ đề.
Như
vậy, cách nhìn của phật nhãn theo kinh Kim Cang Bát Nhã, đó
là cách nhìn không còn bị vướng mắc giữa chủ thể và
đối tượng hay giữa đối tượng và chủ thể; và đó cũng
là cách nhìn không bị vướng mắc bởi nhân tu, pháp tu và
quả chứng; và đó cũng là cách nhìn rộng lớn, viên mãn,
tịch lặng và siêu việt nhị nguyên. Bằng cách nhìn này,
kinh Kim Cang Bát Nhã đã chặt đứt mọi hệ lụy phiền toái
đối với vạn hữu trong cuộc sống của hành giả.
6-Vạn
hữu đều là phật pháp:
Trong
kinh Pháp Hoa, phẩm Phương tiện, bản Hán dịch của Ngài Cưu
Ma La Thập, Đại Chính Tân Tu 9, tr 9b, trong phần trùng tụng,
Đức Phật đã nói về pháp cứu cánh và pháp phương tiện
như sau:
“
Chư Phật lưỡng túc tôn,
tri
pháp thường vô tánh,
phật
chủng tùng duyên khởi,
thị
cố thuyết nhất thừa.
Thị
pháp trụ, pháp vị,
Thế
gian tướng thường trú,
Ư
đạo tràng tri dĩ,
Đạo
sư phương tiện thuyết.”
Nghĩa
là:
Chư
Phật đấng Tôn kính
đầy
đủ trí và đức,
thấy
và biết các pháp
vốn
không có tự thể,
hạt
giống của giác ngộ
cũng
khởi từ nhân duyên,
vì
vậy, nói nhất thừa.
Thể
của pháp thường trụ;
tính
của pháp nguyên vị.
Nên,
tướng của thế gian,
cũng
thường trú vắng lặng.
Nơi
đạo tràng Giác ngộ,
các
Đạo sư biết vậy,
mới
phương tiện thuyết pháp.
Bản
thể cứu cánh của vạn hữu là không có tự thể, bản tính
đích thực của vạn hữu là không có tự tính, và thực tướng
của vạn hữu là vô tướng hay là tịch diệt tướng, thấy
và biết như thực về Thể, Tính và Tướng của vạn hữu
như vậy, các Đấng Giác Ngộ mới có thể vận dụng vô số
phương tiện để thuyết pháp độ sinh. Các Ngài nói thuận,
nói nghịch, nói có, nói không, nói không phải có, không phải
không, hay nói uẩn, xứ, giới, hay nói Tứ Thánh Đế, Mười
hai duyên khởi, Lục độ vạn hạnh…, tất cả đều là tùy
theo duyên của chúng sanh mà cởi mở sự trói buộc cho họ,
đưa họ đi về đích điểm duy nhất là Phật đạo. Do đó,
bất cứ phương tiện nào được biểu hiện hay vận dụng
từ sự cứu cánh của giác ngộ, thì các phương tiện ấy,
đều là phương tiện của giác ngộ, hay đều là pháp của
giác ngộ.
Từ
những ý nghĩa ấy mà ở kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật
đã nói rằng:”Nhất thiết pháp giai thị phật pháp ( Đại
Chính Tân Tu 8, tr 751b) = Phạn: “Tasmàt Tathàgato bhàsïate -sarva
dharmà buddhadharmà iti.” Nghĩa là: Do đó, Như Lai nói hết
thảy pháp đều là Phật pháp.
Phật
pháp là pháp Đức Phật hằng chứng ngộ, pháp Đức Phật
hằng sống và pháp Đức Phật hằng giảng dạy. Pháp Niết
bàn, Pháp chân như vô vi, Pháp thân thanh tịnh, ấy là những
pháp Đức Phật hằng chứng ngộ; Pháp vô lậu Giới Định
Tuệ, Pháp Bát Thánh Đạo, Pháp quán chiếu duyên khởi Trung
đạo, Pháp Lục độ vạn hạnh …, là những pháp Đức Phật
hằng sống; Và lẽ đương nhiên, Pháp Đức Phật chứng ngộ
như thế nào, hằng sống như thế nào, thì Ngài sẽ giảng
dạy như thế ấy. Pháp Ngài hằng giảng dạy cho thính chúng
là Pháp Tứ Thánh Đế, đối với pháp nầy, Diệt Thánh Đế
là pháp hằng chứng của Đức Phật, Đạo Thánh Đế là pháp
hằng sống của Đức Phật, Tập Thánh Đế là pháp vĩnh viễn
đoạn trừ ở nơi Đức Phật, và Khổ Thánh Đế là pháp
Đức Phật hằng vĩnh ly. Ở trong pháp Tứ Thánh Đế, Diệt
Thánh Đế thuộc về pháp Niết Bàn vô vi, Đạo Thánh Đế
vừa hữu vi vừa vô vi, vì trong ba mươi bảy pháp trợ đạo,
Bát Thánh Đạo là vô vi, vô lậu, các pháp hành còn lại thuộc
về hữu vi, hữu lậu, do duyên vào sự thực hành các pháp
trợ đạo ở trong Đạo Thánh Đế nầy, mà các thiện pháp
vô lậu từ đó phát sinh. Do đó, Đạo Thánh Đế vừa hữu
lậu, vừa vô lậu, vừa hữu vi, vừa vô vi. Tập Thánh Đế
và Khổ Thánh Đế là hoàn toàn thuộc về pháp hữu vi, hữu
lậu. Cũng từ những ý nghĩa đó, mà pháp Đức Phật thuyết
giảng, pháp ấy không nhất định là pháp hữu lậu hay vô
lậu, pháp hữu vi hay pháp vô vi, không nhất định là pháp
có hay pháp không, vì sao? Vì đối với những ai tu tập bị
mắc kẹt vào pháp hữu lậu, thì Đức Phật dạy cho họ lợi
ích về pháp vô lậu, đối với ai tu tập bị mắc kẹt vào
pháp vô lậu, thì Đức Phật giảng dạy cho họ pháp vô tu,
vô chứng của chư phật, đối với những ai tu tập mà mắc
kẹt vào pháp hữu vi, thì Đức Phật sẽ giảng dạy pháp
vô vi, khiến cho họ liễu ngộ pháp không còn đối đãi sinh
diệt; đối với những người mắc kẹt nơi những ý niệm
vô vi, thì Đức Phật giảng dạy pháp ly niệm hay vô niệm,
khiến cho họ mọi niệm tưởng bặt dứt. Bởi vậy, Pháp
mà Đức Phật trình bày cho thính chúng không nhất định là
hữu vi hay vô vi. Ngài Tăng Triệu là một trong những học
trò xuất chúng của Ngài Cưu Ma La Thập đã có nhận định
về sự thực hành đối với pháp hữu vi và vô vi như sau:
“Hữu
vi tuy ngụy khí chi tắc phật đạo nan thành;
Vô
vi tuy chơn chấp chi tắc tuệ tâm bất lãng”.
Nghĩa
là:
Pháp
hữu vi tuy là hư ngụy, nhưng bỏ nó thì phật đạo khó thành;
Pháp
vô vi tuy là chơn thật, mà kẹt nó thì tuệ tâm không sáng.
Lại
nữa, nếu chúng ta đọc kỹ Kinh Satipatthàrasutta của Pàli,
tức là kinh số mười của Trung bộ Nikàya và Kinh hai mươi
hai của Trường bộ Nikàya thuộc Thượng Tọa bộ ( Theravada)
và Niệm Xứ Kinh (Smrïty’upasthana) thuộc Trung A Hàm của Nhất
Thiết Hữu Bộ( Sarvàstivada), bản Hán dịch của Cù Đàm Tăng
Già Đề Bà, đời Đông Tấn ( 317 - 420 ), Đại Chính Tân Tu
1, tr 582, thì ta thấy Đức Phật dạy rằng, các pháp như:
Đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, nói năng, co, duỗi, thở
vào, thở ra, mặc áo đắp y, cho đến tóc răng, ruột già,
ruột non, lá lách, phèo phổi, tim gan, móng tay da dày, da non,
xương tủy, máu mũ, đàm dãi, xương tay, xương chân, đầu
lâu…, cho đến các cảm giác vui buồn, trung tính, các chủng
tử tâm hành có hiện khởi hay không hiện khởi, các thức
uẩn, các nội pháp như chủng tử và các căn, các ngoại pháp
như hình sắc, âm thanh, mùi vị, hương thơm, xúc tiếp và
ảnh tượng, cho đến xanh, vàng, đỏ, trắng, đen, lá rơi,
chim hót…, các pháp biến động thuộc thế gian, hay pháp bất
động thuộc xuất thế gian đều là những điều kiện hay
đều là những phương tiện để thực hành pháp chánh niệm
tỉnh giác; chúng đều là những điều kiện để thiền quán,
và để thể nhập Toàn Giác. Hay nói theo Kinh Kim Cang Bát Nhã,
tất cả những điều kiện ấy, đều là những điều kiện
để thể chứng Thực tướng Bát Nhã hay là Thanh tịnh pháp
thân.
Bởi
vậy, ở trong Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật dạy:”Nhất
thế pháp giai thị phật pháp”, nghĩa là hết thảy vạn hữu
đều là pháp giác ngộ.
Như
vậy, ở Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đức Phật đã chỉ cho chúng
ta thấy, các pháp đều là pháp để giác ngộ, nên giác ngộ
là giác ngộ ngay giữa cuộc đời, không nên đi tìm kiếm
bất cứ một sự giác ngộ nào ngoài cuộc đời. Chính ngay
ở nơi mọi động tác ăn uống, nằm ngồi, đi đứng, nói
năng, làm việc, mặc áo, kinh hành, buồn vui, thở, cười,
thuận nghịch…, mà giác ngộ đạo. Nghĩa là chính ngay nơi
bản thân, cuộc sống và hoàn cảnh của con người, mà chứng
nghiệm đạo và sống đời sống giải thoát, chứ không phải
từ bỏ con người và từ bỏ cuộc sống của con người để
tầm đạo và có đời sống đạo. Đời sống đạo là chính
ngay giữa cõi đời nầy và chính ngay nơi cuộc sống của
con người mà thánh thiện.
Bởi
vậy, ở trong Pháp Bảo Đàn Kinh, Đại Chính Tân Tu 48, tr 351c,
Lục Tổ Huệ Năng đã có bài kệ nổi tiếng như sau:
Phật
pháp tại thế gian,
Bất
ly thế gian giác,
Ly
thế mích bồ đề,
Kháp
như cầu thố giác.
Nghĩa
là:
Phật
pháp tại cuộc đời,
Rời
đời không giác ngộ;
Bỏ
đời tìm bồ đề,
Giống
như tìm sừng thỏ.
Cũng
bằng tư tưởng tất cả pháp đều là phật pháp, Vua Trần
Nhân Tông đã có bài thi kệ trong Cư trần lạc đạo phú như
sau:
Cư
trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ
tắc xan hề khốn tắc miên;
Gia
trung hữu bửu hưu tầm mích,
Đối
cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Nghĩa
là:
Ở
đời vui đạo thuận theo duyên,
Hễ
đói cứ ăn, mệt ngủ liền;
Trong
nhà có báu, ngưng tìm kiếm,
Đối
cảnh không tâm hỏi chi thiền.
Đạo
ngay giữa cuộc đời, ngay trong lòng cuộc sống, nên ngay giữa
cuộc đời mà nhận ra lẽ đạo và sống với đạo, nghĩa
là ngay nơi Khổ đế mà nhận ra Tập đế; ngay nơi Tập đế
mà thực hành Đạo đế và chứng nhập Diệt đế, đó là
một trong những tư tưởng chủ đạo của kinh Kim Cang Bát
Nhã, mà tư tưởng ấy, đã tạo nên những con người bồ
tát có thực giữa cuộc đời với vô biên hạnh nguyện và
với vô số phương tiện thiện xảo để khai quật Phật tánh
cho hết thảy chúng sanh.
Lại
nữa, Phật pháp là phương tiện để cứu đời, nên mọi
phương tiện đều là phương tiện của phật pháp. Phương
tiện ấy được vận khởi từ đại trí và đại bi.
Mọi
phương tiện được vận khởi từ đại trí, nên phương tiện
ấy, mang theo chất liệu của đại trí và có tác dụng xóa
sạch mọi mê lầm cho chúng sanh; và phương tiện ấy, cũng
được vận khởi từ đại bi, nên nó mang theo chất liệu
của đại bi và có tác dụng xoa dịu mọi nỗi khổ đau cho
hết thảy chúng sanh. Nhưng thực ra trí và bi không phải là
hai thực thể tách biệt ở nơi một con người có nội dung
giác ngộ. Nơi con người giác ngộ trí chính là bi và bi chính
là trí. Nên người có tuệ giác Bát Nhã có thể sử dụng
mọi phương tiện một cách khéo léo và tài tình để cứu
người, giúp đời, khiến cho đời bình an và khiến cho mọi
người đều dự phần vào hạnh phúc tối thượng ở trong
phật đạo.
Do
đó, phương tiện phải có gốc rễ từ Bồ đề tâm hay Bát
Nhã, nếu không có từ Bồ đề tâm hay Bát Nhã, bồ tát sẽ
không có khả năng thi thiết và sử dụng mọi phương tiện
để cứu người, giúp đời và hóa độ hết thảy chúng sanh.
Phương tiện có gốc rễ từ Bồ đề tâm hay Bát Nhã, các
Nhà phật học gọi là phương tiện trí hay quyền trí.
Nên,
ở trong Mười ba la mật của Bồ tát đạo, Phương tiện Ba
la mật (upàya pàramità ) được các Nhà phật học Mật giáo
xếp vào Kim Cang bộ và biểu thị cho trí môn, tức là cửa
ngõ vào và ra của trí tuệ.
Trên
phương diện tu tập, chuyển hóa những hạt giống sai lầm
nhiều đời ở nơi tâm thức, nếu ta nhận ra tất cả các
pháp đều là phật pháp, nghĩa là ta phải nhận ra tất cả
những tập khí sai lầm ở nơi tâm thức ta, đều là những
phương tiện giúp ta quán chiếu để khám phá tự thân thực
tại về mặt khổ đau, về mặt sinh tử, tức là về mặt
Khổ đế và Tập đế hay nói theo Luận Đại Thừa Khởi Tín
là Sinh diệt môn; và nếu ta cũng nhận ra được những hạt
giống tốt đẹp trong tâm thức ta, và biết chúng là những
phương tiện giúp ta quán chiếu để khám phá tự thân thực
tại về mặt giải thoát, về mặt Niết bàn, tức là về
mặt Diệt đế và Đạo đế hay cũng nói theo Luận Đại Thừa
Khởi Tín là Chân như môn.
Và
trên phương diện thiệp thế cũng vậy, với cách nhìn, tất
cả pháp đều là phật pháp, giúp ta có thể sử dụng vô
số phương tiện để hành đạo mà không bị chướng ngại
bởi không gian, thời gian và chủng loại, nghĩa là ở trong
bất cứ không gian nào, thời gian nào và đối với bất cứ
chủng loại thuận nghịch nào, ta đều có thể hành đạo,
để cứu người, giúp đời và hóa độ hết thảy chúng sanh,
khiến cho tất cả đều có thể hội nhập vào cảnh giới
Thánh trí tự chứng.
Như
vậy, với cách nhìn của Kinh Kim Cang Bát Nhã, tất cả pháp
đều là phật pháp đã giúp cho ta một cách nhìn toàn diện
trong sự tu tập và hành đạo, khiến cho ta không bị rơi vào
cục bộ trong cách nhìn, hạn hẹp trong cách sống và nghèo
nàn trong cách ứng xử.
Ở
Việt Nam, những khuôn mặt đã đạt tới tư tưởng và cuộc
sống đạo tầm cở nầy như: Huệ Nghiêm, Thanh Biện, Ngô
Chân Lưu, Vạn Hạnh, Viên Chứng, Trần Thái Tông, Trần Nhân
Tông, Tuệ Trung Thượng Sĩ… và rất nhiều khuôn mặt khác
nữa. (Còn tiếp).
T.H.
* Ban
biên tập chân thành xin lỗi Thượng Tọa Thích Thái Hòa cũng
như quý độc giả, vì lý do kỹ thuật, nên phần Phạn văn
trích dẫn của thượng tọa trong bài Giới Thiệu Và Giải
Thích Đề Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật ở trong Tập San Nghiên
Cứu Phật Học số 8, có những sơ xuất. Vậy, Ban biên tập
kính xin Thượng Tọa và quý độc giả hoan hỷ.