HỮU
THỂ VỀ THỜI GIAN (I)
Hồng
Dương
Một
đóa mai.
Trong
bài Vật bất thiên của Triệu Luận, một tuyệt tác rất
nổi tiếng của ngài Tăng Triệu, Thích Duy Lực dịch, có những
đoạn liên hệ đến vấn đề hữu thể và thời gian như
sau.
“Sự
sanh tử luân hồi, mùa đông mùa hè thay phiên biến đổi,
hình như có vật lưu động, ấy là sự hiểu biết của người
thường, nhưng tôi thời nói chẳng phải vậy. Tại sao? Kinh
Phóng Quang Bát Nhã có nói: 'Các pháp chẳng có khứ lai, chẳng
có pháp nào động chuyển cả.'”
“Người
thường cho là động vì vật xưa không đến nay, nên nói là
động mà chẳng phải tịnh [mặt trẻ lúc xưa nay biến thành
già, có biến đổi tức là động rồi, chẳng phải tịnh].
Còn tôi cho là tịnh, cũng là vật xưa không đến nay, nên
nói tịnh mà chẳng động [mặt trẻ trụ lúc xưa chưa từng
dời đến nay, nên nói tịnh mà chẳng động]. Người chấp
động mà chẳng tịnh vì nó chẳng đến [vì mặt trẻ chẳng
đến, nhưng biến thành già nên cho là động]. Sự thật, tịnh
mà chẳng động vì nó không đi [vì mặt trẻ ở lúc xưa không
đến nay cũng như mặt già hiện nay không đến xưa, nên gọi
là tịnh]. Vậy hiện tượng chưa từng khác, mà sự thấy
bất đồng [cùng “vật xưa không đến nay” mà thấy có
sự động tịnh chẳng đồng].
Người
mê lấy tình nghịch lý nên bị bế tắc, người ngộ thời
từ lý đạt sự nên được thông suốt. Nếu ngộ đạo chân
thường thời đâu còn tướng nào có thể chướng ngại được.
Tịnh thức của con người bị mê hoặc đã lâu, nên đối
với cảnh chân thật trước mắt mà chẳng biết, thật đáng
thương xót! Đã biết vật xưa chẳng đến nay mà lại nói
vật nay có đi, vật xưa đã chẳng đến mà vật nay làm sao
đi được? Tại sao vậy? Tìm vật xưa ở nơi xưa, xưa chưa
từng không; tìm vật xưa ở nơi nay, nay chưa từng có. Nay
chưa từng có thời rõ ràng là vật không đến; xưa chưa từng
không nên biết vật chẳng đi.”
“Kinh
Lăng Già nói: 'Tất cả pháp chẳng sanh, đó là nghĩa sát na,
mới sanh liền có diệt, chẳng vì kẻ ngu thuyết.' Ngài Hiền
Thủ giải rằng: 'Vì sát na lưu chuyển nên không có tự tánh.
Nếu vật có tự tánh thời vĩnh viễn cố định, không có
sanh diệt biến đổi. Vì không có tự tánh nên không sanh.
Nếu không sanh thời không lưu chuyển, vì thế người khế
ngộ pháp vô sanh mới thấy được nghĩa sát na'. Kinh Duy Ma
Cật nói: 'Không sanh không diệt là nghĩa vô thường'.
Đã
không có một chút triệu chứng qua lại thời làm sao có vật
gì để lưu động biến đổi? Kỳ thật, về không gian thời
vật không khứ lai, về thời gian thời không có cổ kim. Cũng
như trong chiêm bao thấy trải qua nhiều năm, nhưng tỉnh gíấc
thời biết chỉ có chốc lát thôi. Nếu lấy chiêm bao để
quán các pháp thời thời vô cổ kim, pháp vô khứ lai đã rõ
ràng trước mắt. Nếu tác ý phân biệt thời liền lọt vào
lưu chuyển, chỗ này chẳng phải phàm tình có thể đến được.
Gió
bão bay núi mà thường tịnh
Nước
sông đổ gấp mà chẳng trôi
Bụi
trần lăng xăng mà chẳng động
Trăng
qua bầu trời mà chẳng đi
Bốn
câu kệ này đâu còn kỳ lạ gì nữa.”
Khi
lược giải đoạn luận này, Đại sư Hám Sơn cho biết: "Ngày
xưa về sự nghi câu 'Thế gian tướng thường trú' của kinh
Pháp Hoa liền nhờ đây mà tan rã." Ngài giải thích: “Kinh
Thánh Cụ nói: ‘Bồ tát ở trong chỗ phàm phu chấp thường
mà nói vô thường để phá chấp ấy, chẳng phải thật có
tướng sanh tử, ý là muốn người ngay trong vô thường mà
ngộ chân thường.’ Như Đại thừa luận nói: ‘Các pháp
trạm nhiên thường trụ chẳng động, vốn không khứ lai.’
Ý muốn cho người ngay khi náo động mà ngộ ‘Bất thiên’,
lời nói thường và vô thường đều là tùy cơ để giáo
hóa chúng sanh, lời tuy khác mà ý là một, đâu phải vì văn
khác mà đối chọi nhau. Vậy thời người chấp theo ngôn ngữ
để tranh biện, chẳng phải là mê hoặc ư?”
Với
ý muốn cho người ngay trong vô thường mà ngộ được "thị
pháp trụ pháp vị, thế gian tướng thường trú", Thiền sư
Mãn Giác để lại bài kệ cáo bệnh dạy chúng với ẩn dụ
của một đóa mai:
“Xuân
đi trăm hoa rụng,
Xuân
đến trăm hoa cười.
Việc
đời qua trước mắt,
Già
đến trên đầu rồi!
Chớ
bảo xuân tàn hoa rụng hết,
Ngoài
sân đêm trước một đóa mai.”
Việc
đến đi của mùa xuân tùy thuộc vào vô thường, nếu không
có vô thường thời sẽ không có đến đi, và không có đến
đi thời không có mùa xuân. Vậy “Xuân đi trăm hoa rụng,
Xuân đến trăm hoa cười” chỉ là hiện tượng biến dịch
(vô thường) thường chứ không gì khác. Ở đây, chúng biểu
trưng cho sự sống chết của con người mà lý vô thường
luôn được hiện hữu một cách thường xuyên, để thể hiện
luật tắc Duyên khởi trong hiện tướng tức trong sát na khởi
diệt của các pháp. Chỉ vì không nhận ra được cái lý ẩn
của “Việc đời qua trước mắt, Già đến trên đầu rồi”
nên từ sự vô thường bất toàn của các pháp, con người
hoảng hốt đâm ra ham sống sợ chết. Chính vì sự sợ hãi
trước cuộc sống chết của chính mình, qua những biến động
đổi thay của vô thường luôn luôn hiện hữu bên cạnh, nên
lòng mê tín dị đoan nổi dậy tin chấp tà kiến vào những
thế lực bên ngoài, để rồi bị chúng cuốn hút luôn, không
làm chủ được mình. Do đó, thiền sư Mãn Giác mới cảnh
giác “Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết”, phủ định những
xác quyết mà người đời coi như một thứ chân lý cho rằng
“Xuân đi trăm hoa rụng, Xuân đến trăm hoa cười” là theo
tiến trình thời gian, phân bố đều trong một năm qua bốn
mùa xuân, hạ, thu, đông. Thật ra, sự hiện thành của trăm
hoa không lệ thuộc vào sự xuân đến hay xuân đi. Theo luật
tắc Duyên khởi thời chúng hiện thành vào bất cứ lúc nào,
bất cứ ở đâu khi mọi duyên hội đủ và gặp hoàn cảnh
môi trường thuận lợi. Cuối cùng, câu “Ngoài sân đêm trước
một đóa mai” xác định thời gian và nơi chốn hiện thành
của đóa mai. Đêm trước là đêm nào? Thuộc mùa nào trong
năm? Thầy Tuệ Sỹ cho biết rõ ngày qua đời của Thiền sư
là ngày 30 tháng 11 năm Hội Phong thứ 5 (1096). Như thế, đóa
mai trong bài kệ có thể hiện thành vào mùa đông, và do đó
đánh đổ đi được những lệ thuộc ước lệ thời gian
từ ngàn xưa để lại mà mọi người trong chúng ta chấp nhận
như là một chân lý. Sự hiện thành của đóa mai không nhất
thiết phải vào xuân, mà có thể xảy ra vào bất cứ lúc
nào, bất cứ ở đâu miễn có đầy đủ mọi duyên cùng hoàn
cảnh môi trường thích ứng.
Đứng
về mặt ẩn dụ một đóa mai, Thiền sư nhằm trao cho những
người đi sau đức vô úy trước việc sống chết của đời
người và nói lên lý pháp tánh khởi, do đó mà thấy được
sự xuất sanh cái tướng trạng sinh diệt của thế giới luân
hồi từ cái Chân tánh thanh tịnh và thường trụ của thế
giới giải thoát. Trên lộ trình tu chứng, pháp tắc tánh khởi
được dùng để chinh phục hiện thực giới và phát kiến
giải thoát giới. Đây chính là giáo pháp về quán tưởng
lý sự vô ngại của Nhất thừa hiển tánh giáo. Giáo lý Nhất
thừa hiển tánh giáo là giáo lý trực hiển chân nguyên, tức
chân tâm bản giác: “Nhất thừa nói: tất cả chúng sinh đều
có cái chân tâm bổn giác. Từ vô thỉ lại nay, cái chân tâm
ấy thường còn trong sạch, rõ rõ chẳng tối, làu làu thường
biết. Cũng tên Phật tánh, cũng tên Như Lai tạng. Từ kiếp
vô thỉ, bị vọng tưởng che đi, nên chẳng tự xét biết,
vì chỉ nhận lầm xác phàm, đâm mắc kết nghiệp, chịu khổ
sanh tử! Đức Đại giác là Phật, Ngài thương xót thuyết
pháp rằng: tất cả bốn đại, sáu trần đều không; lại
mở chỉ ra cho cái chân tâm rất sáng suốt thanh tịnh, vì
toàn thể nó vẫn đồng chư Phật.” (Hoa nghiêm nguyên nhân
luận. HT Thích Khánh Anh dịch)
Như
vậy có nghĩa là tất cả các pháp sở tri đều là biểu tượng
được hiển lộ của tánh Không. Kinh Kim Cang nói: “Thế nên
Như Lai thuyết tất cả pháp đều là Phật pháp.” Phật là
Phật tánh, là tánh Không, cảnh giới của tuyệt đối bình
đẳng; pháp là nhân và duyên, là sắc giới, thế giới của
tuyệt đối sai biệt. Vậy Phật pháp nói theo Tâm kinh là “Sắc
tức thị Không, Không tức thị Sắc”, hay nói theo quan điểm
“đồng thời thành Đạo” của Đạo Nguyên, “Tất hữu
là Phật tánh”.
Mũi
tên thời gian: Tiến hóa về Chết.
Một
câu hỏi được nêu ra: Các nhà khoa học hiện nay mô tả sự
hiện thành và tồn tại của các pháp như thế nào? Nên nhớ
rằng ngôn ngữ và luận lý khoa học dùng mô tả sự vật,
hiện tượng, hay biến cố đều luôn luôn được đóng khung
trong một lý thuyết, tức một phương cách quán chiếu thực
tại. Như vậy, ngôn từ danh tự dùng phô diễn lý thuyết
thật ra chỉ để giải thích một lối nhìn sự hữu chứ
không mô tả một thực tại nào tương ứng với sự hữu.
Một số khoa học gia tìm cách giải thích sự vật là những
mẫu hình phát hiện từ những biến chuyển của một mạng
lưới các tiến trình tương liên tương tục rộng lớn bao
la mà Phật giáo gọi là pháp giới. Đối với họ, hữu thể
hiện thành và tồn tại giống như một xoáy nước xuất hiện
trong một dòng nước chảy xiết, hay như một trật tự tạm
thời bền vững phát khởi từ một dòng năng lượng lưu chú
dao động mạnh trong trạng thái rất xa thế cân bằng.
Một
trong những khoa học gia đó là nhà hóa học lý thuyết Bỉ
gốc Nga Ilya Prigogine, giải Nobel năm 1977. Thuyết cấu trúc
tiêu tán (Dissipative structures) của ông thành công giải quyết
nghịch lý giữa hai quan điểm mâu thuẫn về sự tiến hóa,
một của khoa học vật lý về sự chết, thường được gọi
là khoa nhiệt động học (Thermodynamics), và một của thuyết
tiến hóa Darwin về sự sống. Nguyên nhân phát minh thuyết
cấu trúc tiêu tán là do Prigogine nêu ra thắc mắc: “Có một
câu hỏi quấy rầy chúng ta hơn một thế kỷ: Sự tiến hóa
của một sinh vật có ý nghĩa gì trong thế giới nhiệt động
học, một thế giới không ngừng gia tăng hỗn loạn?”
Nhiệt
động học là gì? Thế nào là sự gia tăng hỗn loạn? Các
thuyết nhiệt động học được phát minh vào thế kỷ 19,
thời Cách mạng Kỹ nghệ (Industrial Revolution) tại nước Anh,
nhằm khảo sát quan hệ giữa hai dạng của năng lượng, công
và nhiệt, trong sự vận hành của các máy nhiệt hầu tìm
cách làm tăng hiệu suất của các máy này. Một hệ thống
gọi là hệ thống kín khi bao gồm cả môi trường chung quanh
nó (hệ thống + môi trường). Thí dụ: Vũ trụ là một hệ
thống kín vì không tiếp xúc với hệ thống nào khác. Sự
trao đổi năng lượng giữa hệ thống nhiệt với môi trường
chung quanh được mô tả trong hai định luật của nhiệt động
học.
Định
luật Một là nguyên lý bảo toàn năng lượng: “Mặc dầu
có những tiến trình biến đổi năng lượng từ dạng này
sang dạng khác, tổng năng lượng trong một hệ thống kín
luôn luôn được bảo toàn.”
Định
luật này cần được Định luật Hai bổ túc vì không phân
biệt tiến trình không thể đảo nghịch và tiến trình có
thể đảo nghịch, còn gọi là tiến trình thuận nghịch. Tiến
trình được gọi là không thể đảo nghịch nếu dùng đủ
mọi cách mà nó không thể trở lại đúng trạng thái ban đầu
khi nó sinh khởi. Tiến trình biến chuyển năng lượng trong
máy xe ô tô là một thí dụ về tiến trình không thể đảo
nghịch. Tất cả năng lượng của máy không hoàn toàn góp
sức đẩy pít tông, mà có một phần bị tiêu tán thành nhiệt
và ma sát. Trong thực tế, tất cả tiến trình biến nhiệt
đều không thể đảo nghịch. Tuy nhiên, muốn khảo sát chúng,
nhiệt động học áp dụng phương pháp toán vi tích phân xem
chúng như là tích phân của những biến đổi thuận nghịch
vô cùng bé.
Để
đo sự tiêu tán năng lượng thành nhiệt và ma sát, các nhà
nhiệt động học phát minh một đại lượng biến đổi đặt
tên là entropy. Entropy của một hệ thống kín không thay đổi
trong các tiến trình thuận nghịch, nhưng trong các tiến trình
không thể đảo nghịch, entropy của một hệ thống kín không
ngừng gia tăng với sự tiêu tán và đạt mức tối đa khi
không còn năng lượng để biến ra công. Do đó, Định luật
Hai nhiệt động học phát biểu như sau: “Entropy của một
hệ thống nhiệt kín (hệ thống + môi trường) luôn luôn gia
tăng trong mọi tiến trình không thể đảo nghịch; entropy không
thay đổi trong trường hợp các tiến trình thuận nghịch."
Năng lượng bị tiêu tán giảm cấp thành nhiệt và ma sát,
không dùng lại được, sa thải ra bên ngoài, nguyên nhân gây
ô nhiễm môi trường. Sự mất năng lượng do tiêu tán là
một tiến trình không thể đảo nghịch. Thời gian thường
được nhận thức như lưu chuyển theo chiều một mũi tên.
Định luật Hai cho thấy hướng gia tăng entropy là mũi tên
thời gian.
Một
ứng dụng đáng kể của Định luật Hai là giải đáp thắc
mắc: "Căn cứ vào tiêu chuẩn nào để quyết định trong vũ
trụ một tiến trình có thể tự sinh hay không?" Tiến trình
tự sinh, là tiến trình sinh khởi không do ngoại duyên mà duy
nhất do bản chất của hệ thống đang vận chuyển theo tiến
trình đó. Thí dụ: Sự tự phát ánh sáng của mặt trời không
do ngoại duyên mà do bản chất của mặt trời là những phản
ứng nhiệt hạch.
Câu
hỏi làm liên tưởng đến một điều thường được chấp
nhận không chút thắc mắc là theo Duy thức, tám thức dựa
vào nội thức triển chuyển làm duyên cho nhau sinh khởi mà
không có ngoại duyên. Đáng lý phải tự hỏi: có thể nào
một sự sinh khởi như vậy xảy ra hay không?
Trở
lại vấn đề khả năng xảy ra những tiến trình tự sinh
trong vũ trụ, Định luật Hai nhiệt động học cho thấy điều
kiện để có khả năng xảy ra là phải gia tăng entropy của
vũ trụ.
Sự
tiêu tán năng lượng thành nhiệt và ma sát là kinh nghiệm
thông thường, nhưng nguyên nhân nào đã phát sinh tánh không
thể đảo nghịch của hướng gia tăng entropy? Để trả lời
câu hỏi đó, Ludwig Boltzmann tìm cách định nghĩa lại khái
niệm entropy và liên kết entropy với khái niệm trật tự.
Ông sắp đặt một thí nghiệm bằng tưởng tượng (thought
experiment) để khảo sát khái niệm entropy ở mức phân tử.
Giả sử có một cái hộp ngăn chia bằng tưởng tượng ra
hai phần bằng nhau và tám phân tử riêng biệt ghi số từ
1 đến 8. Có bao nhiêu cách phân phối chúng bên trong hộp,
một số hạt ở ngăn trái và số còn lại ở ngăn phải?
Đầu
tiên, đặt tất cả tám hạt vào ngăn trái. Chỉ có một cách
phân phối như vậy. Bây giờ đặt bảy hạt vào ngăn trái
và một còn lại vào ngăn phải; tính ra có 8 cách phân phối
như thế, bởi vì hạt đơn độc bên phải có thể là một
trong tám phân tử. Tám cách phân phối đó kể như những cách
bố trí khác nhau của tám phân tử. Cứ như vậy, sẽ có 28
cách bố trí khác nhau khi đặt sáu hạt bên trái và hai hạt
bên phải. Dùng công thức phép hoán vị để tính, sẽ thấy
số cách bố trí tăng trong khi hiệu số giữa số hạt hai
bên giảm. Cuối cùng, số cách bố trí đạt trị tối đa
là 70 khi số hạt hai bên bằng nhau, mỗi bên bốn hạt.
Boltzmann
gọi các cách bố trí phân tử khác nhau đó là những khả
năng diện sắc (possible complexions) và liên hợp chúng với
khái niệm trật tự: số khả năng diện sắc càng thấp thời
trạng thái càng có trật tự. Trong thí nghiệm tưởng tượng
trên, trạng thái đầu với tất cả tám hạt ở về một
phía biểu tượng mức độ trật tự cao nhất vì số khả
năng diện sắc bé nhất. Trái lại, trạng thái cuối với
sự phân phối hạt đồng đều hai bên với bốn hạt mỗi
bên biểu tượng sự hỗn loạn tối đa vì số khả năng diện
sắc lớn nhất.
Nên
biết khái niệm trật tự Boltzmann đề xướng là một khái
niệm nhiệt động học liên can các phân tử luôn luôn chuyển
động. Trong thí nghiệm tưởng tượng trên, các phân tử chuyển
động liên miên và không ngừng qua lại bức tường ngăn chia
tưởng tượng. Hệ thống mỗi lúc mỗi đổi trạng thái,
nghĩa là số hạt trong hai ngăn đổi khác, và với mỗi trạng
thái, số khả năng diện sắc được kết hợp với trật
tự của nó.
Thay
vì tưởng tượng một thí nghiệm như vậy, hãy lấy một
túi vải, đổ đầy hai thứ cát, nửa dưới cát đen, nửa
trên cát trắng. Theo Boltzmann, đó là trạng thái có mức độ
trật tự cao nhất vì chỉ có một khả năng diện sắc. Bây
giờ xóc túi để trộn lẫn hai thứ cát ấy. Cát càng trộn
lẫn với nhau bao nhiêu thời số khả năng diện sắc cũng
như sự hỗn loạn càng gia tăng bấy nhiêu. Cuối cùng, đến
lúc hai thứ cát phân bố đều và đồng màu xám thời sự
hỗn loạn đạt mức tối đa.
Dùng
phương pháp thống kê và áp dụng định nghĩa trật tự nói
trên, Boltzmann khảo sát chuyển động phân tử của một khối
khí. Ông nhận thấy số khả năng diện sắc của bất kỳ
trạng thái nào chính là xác suất để khối khí ở trong trạng
thái ấy. Trạng thái có số khả năng diện sắc lớn thời
có xác suất xảy ra lớn. Như vậy đối với một trạng thái,
số khả năng diện sắc có công dụng vừa là độ đo mức
độ trật tự, vừa là độ đo xác suất xảy ra của trạng
thái ấy. Số khả năng diện sắc càng lớn, hỗn loạn càng
tăng, thời khối khí càng chắc sẽ ở vào trạng thái đó.
Boltzmann kết luận rằng biến chuyển một chiều từ trật
tự đến hỗn loạn là biến chuyển từ một trạng thái không
chắc đến một trạng thái chắc xảy ra.
Trên
mộ bi ông, có khắc phương trình S = k log P do ông
tìm ra, thiết lập quan hệ giữa một đại lượng ở thế
giới vĩ mô là entropy S với một đại lượng ở thế giới
vi mô là số diện sắc P của hệ thống; k là một hằng số
nay gọi là hằng số Boltzmann. Vì P quá lớn nên phải dùng
hàm log để biểu diễn P bằng một số vừa phải là log P.
Áp
dụng thuyết xác suất để tính các trị trung bình theo cơ
học thống kê, ông thu nhiếp một số vô lượng thông tin
về sự vận hành của vô số hạt vào đại lượng tổng
tướng nhiệt động học entropy, từ đó suy ra mũi tên thời
gian hướng mọi trạng thái biến chuyển luôn luôn theo chiều
từ có trật tự đến hỗn loạn. Theo Boltzmann, không có định
luật vật lý nào ngăn cấm trạng thái biến chuyển ngược
chiều từ hỗn loạn đến có trật tự, nhưng hướng biến
chuyển ngược chiều như thế không chắc xảy ra, tại vì
chuyển động của các phân tử là chuyển động ngẫu nhiên
(random motion). Số va chạm vô cùng lớn giữa các phân tử
chuyển động không tùy thuộc mũi tên thời gian và làm tăng
xác suất xảy ra những trạng thái càng lúc càng hỗn loạn.
Bởi thế mũi tên thời gian không quy định một hướng lưu
chuyển ưu tiên của thời gian mà thật ra là biểu tượng
sự chắc có thể xảy ra những trạng thái càng lúc càng hỗn
loạn sinh xuất từ chuyển động ngẫu nhiên của các phân
tử. Số phân tử càng nhiều, xác suất xảy ra trạng thái
biến chuyển theo chiều từ có trật tự đến hỗn loạn càng
lớn, và với một số vô lượng phân tử trong khối khí,
sự có thể xảy ra trở thành sự chắc có thể xảy ra. Do
đó, sự đảo chiều tự phát của một tiến trình không thể
đảo nghịch không đáng quan tâm, vì tuy có thể xảy ra nhưng
không chắc lắm. Dụ như các mảnh vụn của một cái chén
vỡ tập hợp trở lại nguyên hình rồi nhảy lên bàn ở vào
vị trí cũ, theo phép tính xác suất và các định luật cơ
học, một tiến trình từ hỗn loạn đến trật tự như thế
tuy có thể xảy ra nhưng phải đợi một thời gian rất lâu
dài, có thể hằng chục thế kỷ.
Nên
lưu ý ở đây chữ hỗn loạn được dùng với mục đích
mô tả các trạng thái hợp với kinh nghiệm thông thường.
Chẳng hạn, căn nhà sụp đổ với thời gian, chiếc xe cũ
kỹ phải vứt bỏ vì lâu ngày tan rã máy, hay cơ thể con người
hóa đất bụi sau khi chết, ai cũng thấy đó là những tiến
trình biến chuyển trạng thái từ trật tự đến hỗn loạn.
Tuy
nhiên, danh từ hỗn loạn không có nghĩa là vô trật tự, vì
khoa học gia quan niệm mọi hữu luôn luôn hiện thành theo một
trật tự nào đó. Hiện khởi do duyên sinh theo lý duyên khởi
của Phật giáo là một trật tự. Nhưng thế nào là trật
tự? Khái niệm trật tự phát xuất từ vọng tưởng phân
biệt, nhìn thấy điểm tương đồng của các sự vật sai
khác và điểm sai khác của các sự vật tương đồng. Chẳng
hạn, thi thiết trật tự bằng cách phân chia sự vật thành
phạm trù, sắp xếp vào chung một loại các sự vật sai khác
có điểm tương đồng. Mỗi loại cứ như thế mà chia thành
nhiều loại khác nữa. Phương pháp này dẫn đến khái niệm
trật tự với nhiều bậc khác nhau. Thí dụ: Trong trường
hợp chuyển động ngẫu nhiên (random motion) của các phân tử
trong một hệ thống, vì không biết được tất cả dữ kiện
cần thiết để tính quỹ đạo nên trật tự của chuyển
động ngẫu nhiên được xếp vào bậc vô hạn. Trong trường
hợp chuyển động hỗn độn (chaotic motion) là chuyển động
gây ra bởi không đo được chính xác các điều kiện đầu,
bậc trật tự cũng vô hạn. Trái lại, chuyển động đơn
giản của viên bi lăn trên một mặt phẳng lì có trật tự
bậc hai, vì do một phương trình vi phân bậc hai quyết định.
Với trật tự định nghĩa như vậy, trạng thái cân bằng
nhiệt bền vững của vũ trụ có trật tự bậc vô hạn vì
hết thảy mọi trạng thái của vũ trụ đều bình đẳng,
xác suất xảy ra đồng nhau, nên không thể quyết định trạng
thái nào hiện khởi. Cùng một lý do, các lỗ đen (black holes)
trong vũ trụ học cũng đều có trật tự bậc vô hạn.
Nhiều
vật lý gia cho rằng sử dụng những phép tính gần đúng để
mô tả tập tính của một hệ thống nhiệt là do ta không
đủ khả năng theo dõi hết thảy mọi chuyển động của vô
số phân tử của hệ thống. Nhà vật lý học Ed Jaynes nói
rằng: “Không phải tiến trình vật lý mà chính khả năng
quan sát tiến trình của ta là không thể đảo nghịch,” Nghĩa
là, nếu giác quan khá sắc bén thời ta có thể quan sát chuyển
động của từng phân tử và nhận thấy ngay tính thuận nghịch
của tất cả mọi tiến trình trong thế giới vi mô. Như vậy,
entropy là một đại lượng dùng để đo sự ngu dốt của
ta trong sự diễn tả với đầy đủ chi tiết các tiến trình
vật lý. Nói theo ngôn ngữ Phật giáo, entropy biểu tượng
vô minh.
Luận
Đại thừa khởi tín nói tất cả chúng sinh từ hồi nào đến
giờ vì chưa từng xa lìa vọng niệm nên bốn tướng, sanh,
trụ, dị, diệt của tâm đồng thời nương nhau tương tục
khởi hiện. Vọng niệm tương tục mãi làm cho chúng sinh không
ngộ được chân tâm nên gọi là vô thỉ vô minh. Vì vô minh
sinh ra tâm thức hư vọng, nên tâm thức không rời vô minh.
Song vô minh lại không thật thể, nương tánh giác mà có, chỉ
lấy Phật tánh làm thể, nên không rời Phật tánh (bản giác)
được.
Từ
vô minh vọng động sanh ra thức a lại da. Từ thức a lại
da lại tiếp tục sanh ra bảy thức trước, rồi cùng nhau làm
nhân làm duyên, tạo thành một dòng sóng thức, sinh diệt tương
tục vô tận. Lưu chuyển thuận dòng sinh diệt như vậy tạo
ra các pháp tạp nhiễm, nuôi lớn vô minh. Đó là nhìn Định
luật Hai nhiệt động học dưới nhãn quan Phật giáo.
Một
thuyết toán học khác liên can đến khái niệm entropy xem như
biểu tượng vô minh, ngu dốt không thể miêu tả các tiến
trình với đầy đủ chi tiết là thuyết thông tin (information
theory). Thuyết này do Claude Shannon phát minh vào năm 1948 nhằm
định nghĩa cách đo lường, mã hóa các khối tin truyền, và
mô tả khả năng thu phát và xử lý thông tin của các hệ
thống truyền thông như tivi, máy tính, máy ghi dữ liệu,
thiết bị hi-fi, hay điện thoại. Trong mọi hệ thống truyền
thông luôn luôn có tác dụng của giao thoa ngẫu nhiên thường
gọi là tiếng ồn (noise) làm biến dạng khối tin truyền phát
đi, tạo ra một số khối tin truyền sai khác.
Shannon
đề xướng một công thức toán học thiết lập quan hệ giữa
khối tin truyền và xác suất được chọn lọc giữa tất
cả các tiếng ồn. Vì có sự tương tợ giữa công thức này
với phương trình Boltzmann nối kết entropy và xác suất xảy
ra của một trạng thái hệ thống, cho nên khái niệm entropy
được dùng trong thuyết thông tin với nghĩa như sau: entropy
của một khối tin truyền là trị trung bình tất cả xác suất
của các khối tin truyền có thể thu nhận. Entropy của khối
tin truyền càng cao, thời khối ấy càng không chắc được
thu nhận. Do đó, Ed Jaynes giải thích entropy của thông tin là
độ đo sự ngu dốt trong sự diễn tả với đầy đủ chi
tiết các tiến trình không thể quan sát. Trường hợp vô minh
không theo dõi được sự biến dạng thông tin do tiếng ồn
giống trường hợp vô minh không nhận ra được tánh thuận
nghịch ở mức phân tử.
Có
thể dùng cơ học cổ điển, cơ học tương đối, hay cơ học
lượng tử để mô tả thế giới vi mô của vô lượng phân
tử và nguyên tử. Nhưng dẫu mô tả với cách nào đi nữa
cũng vẫn không cần đến mũi tên thời gian vì thế giới
vi mô là thế giới phi thời gian, trong đó mọi tiến trình
đều thuận nghịch. Kết quả là không bao giờ có thể xảy
ra trạng thái cân bằng nhiệt bền vững trong thế giới vi
mô, vì lẽ thời gian không lưu chuyển một chiều để cuối
cùng chấm dứt mọi chuyển động đưa đến một trạng thái
cân bằng đặc biệt đã tận dụng hết thảy mọi khả năng
gây biến đổi.
Lại
nữa, theo một định lý động lực học của toán học gia
Pháp Henri Poincaré, cứ sau từng khoảng thời gian lâu dài,
bất kỳ tiến trình biến chuyển nào trong một hệ thống
kín cũng quay trở lại trạng thái đầu. Tánh tái diễn Poincaré
(Poincaré’s recurrence) phủ nhận sự lưu chuyển tuyến tính
của thời gian, tạo ra một ý niệm về sự biến chuyển theo
chu kỳ, do đó, sự phân biệt ba thời, quá khứ, hiện tại,
và vị lai trở nên vô nghĩa. Đối với người học Phật,
tánh tái diễn Poincaré giúp hiểu phần nào nguyên nhân của
nghiệp và của thực trạng phần đoạn sinh tử: với thực
trạng này, sống và chết là sự tụ tập và tan rã giai đoạn
của các thủ uẩn, của những tập tính ô nhiễm, và dòng
sinh mạng tiếp nối nương vào đó mà hoạt động.
Sự
mâu thuẫn giữa những tiến trình vi mô thuận nghịch và những
tiến trình vĩ mô không thể đảo nghịch được các nhà vật
lý đặt tên là nghịch lý về tánh không thể đảo nghịch
(irreversibility paradox). Boltzmann giải quyết phần nào nghịch
lý ấy khi ông phối hợp nhiệt động học với cơ học chứng
minh tánh không thể đảo nghịch của thế giới vĩ mô có
thể suy ra từ tánh thuận nghịch của thế giới vi mô.
Điều
này làm liên tưởng đến thuyết tánh khởi của Tông Mật:
“Vì tất cả pháp thế gian và xuất thế gian đều câu khởi
từ tánh, nên ngoài tánh hẳn không còn pháp gì riêng. Bởi
vậy chư Phật và chúng sinh quan hệ mật thiết sâu sắc, thế
giới Tịnh độ và thế giới tạp nhiễm hỗ tương giao thiệp
không trở ngại nhau.” Tánh tức tánh thể của Pháp giới
thanh tịnh, phi thời gian, phi không gian, bất biến, bất khả
thuyết. Nếu có thuyết tức là khởi. Khởi, không khởi từ
đâu mà khởi ngay từ tánh. Cái được hiện khởi là các
tiến trình không thể đảo nghịch, sinh tử, khởi diệt, có
không, tạo nên thế giới sum la vạn tượng.
Theo
Định luật Hai, vũ trụ là một hệ thống kín cho nên khi
entropy của vũ trụ đạt mức tối đa, không tiến trình tự
sinh nào phát khởi, không biến đổi tự phát nào xảy ra,
mọi chuyển động phân tử và nguyên tử đều chấm dứt.
Đó là trạng thái cân bằng nhiệt bền vững mà các nhà vật
lý gọi là "Nhiệt Chết" (Heat Death). Vũ trụ ở trong trạng
thái hỗn loạn cùng cực khi entropy cực đại.
Vì
nhiệt độ là động năng trung bình của các nguyên tử và
phân tử, nên nhiệt độ của Nhiệt Chết là "zero tuyệt đối"
hay 0 K (đọc là zero Kelvin; tuyệt đối vì không có nhiệt
độ thấp dưới zero trong thang Kelvin). Nhiệt độ 0 K tương
ứng với nhiệt độ -273,16o trong thang bách phân. Đến
nay chưa có phòng thí nghiệm nào thực hiện được nhiệt
độ 0 K. Nhiệt độ 2,735 K của nền vi ba của vũ trụ (cosmic
microwave background) là nhiệt độ thấp nhất hiện nay tìm thấy
được trong vũ trụ. Đây là nhiệt độ của trạng thái vũ
trụ vô cùng nóng khoảng một trăm ngàn năm sau khi bùng nổ,
nay nguội giảm sau 13 tỉ năm bùng dãn. Nhiệt độ 2,735 K là
bằng chứng entropy của vũ trụ rất thấp lúc mới sinh.
Tánh
khởi và thuyết vũ trụ Hawking.
Hiện
nay các thiên hà đang chuyển động theo chiều hướng mỗi
lúc mỗi xa nhau, nghĩa là vũ trụ đang bùng dãn cùng một chiều
với mũi tên thời gian. Vậy đến khi nào Nhiệt Chết xảy
ra? Trong hiện tại, không một nhà vũ trụ học nào đủ khả
năng và dữ kiện để trả lời câu hỏi đó. Họ chỉ có
thể dự đoán hoặc vũ trụ sẽ bùng dãn mãi mãi, hoặc có
lúc ngưng bùng dãn và chuyển qua co giảm thu nhiếp vào trong
một dị điểm. Vin vào đâu mà dự đoán như vậy?
Các
nhà khoa học không thể tiên đoán một điều gì về vũ trụ
mà không đặt giả thiết về những điều kiện đầu. Hãy
lấy trường hợp thuyết Bùng Nổ (Big Bang theory) làm thí dụ.
Theo thuyết này, vũ trụ bùng dãn từ một dị điểm bùng
nổ. Dị điểm là một điểm toán học biểu tượng một
cảnh giới bất khả ngôn thuyết, nghĩa là không thể mô tả
được với bất kỳ định luật khoa học nào hiện có. Điều
trớ trêu là Stephen Hawking, nhà vũ trụ học đã từng cọng
tác với nhà toán vật lý học Roger Penrose tìm ra định lý
toán học xác nhận thuyết Bùng Nổ căn cứ trên thuyết tương
đối rộng, nay chính ông lại nhận thấy thuyết tương đối
rộng không hoàn toàn. Mặc dầu tiên đoán vũ trụ sinh khởi
từ một dị điểm bùng nổ và khi sụp đổ co giảm lại
sẽ thu nhiếp tan biến trong một dị điểm, thuyết tương
đối rộng cũng như hết thảy mọi định luật khoa học hiện
có đều vô hiệu dụng, không tiên đoán được gì phát hiện
từ dị điểm. Bởi vậy, sự bùng nổ cùng với các biến
cố trước đó bị cắt bỏ ra ngoài thuyết Bùng Nổ, vì không
ảnh hưởng gì đến những hiện tượng quan trắc. Trong trường
hợp này, có thể xem như không có điều kiện đầu, hay nói
cách khác, có thể giả thiết bất cứ điều kiện đầu nào.
Do đó, thuyết Bùng Nổ không giải thích thỏa đáng nhiều
kết quả quan trắc, chẳng hạn trong những trường hợp sau
đây.
(1)
Tại sao nhiệt độ của vũ trụ vô cùng cao trong thời kỳ
mới sinh khởi?
(2)
Tại sao nền vi ba của vũ trụ tỏa xuống từ khắp mọi hướng
mà tần số đồng đều như nhau dù đến từ bất cứ hướng
nào? Nói cách khác, tại sao khi vũ trụ mới sinh khởi mọi
vùng có cùng một nhiệt độ?
(3)
Tại sao tốc độ bùng dãn ban đầu gần bằng tốc độ tới
hạn (critical rate of expansion) tức là tốc độ phát sinh hai
đường biến chuyển khác nhau, sụp đổ thu nhiếp trở lại
hay tiếp tục bùng dãn không ngưng? Đến nay, vũ trụ vẫn
bùng dãn với tốc độ gần bằng tốc độ tới hạn. Chỉ
cần giảm tốc độ bùng dãn ban đầu một phần trăm ngàn
triệu triệu thôi thời vũ trụ đã sụp đổ từ lâu không
đạt được kích thước hiện tại.
(4)
Mặc dầu đồng đều và thuần nhất trong phạm vi rộng lớn,
vũ trụ bao gồm những vùng bất quy tắc (irregularities), như
sao và thiên hà chẳng hạn. Cho rằng chúng khởi lên là do
những sai khác mật độ giữa vùng này vùng kia của vũ trụ
lúc mới sinh, thử hỏi do đâu mà có sự dao động mật độ
như vậy lúc ban đầu?
Theo
Hawking, một lý thuyết vật lý chỉ là một mô hình toán học,
bởi thế chớ nên hỏi vớ vẩn nó có diễn tả đúng thực
tại hay không. Tất cả những gì có thể đòi hỏi nơi một
lý thuyết là những gì nó dự đoán phải phù hợp với những
kết quả quan trắc.
Để
thành lập một thuyết vũ trụ mới, Hawking nhận thấy cần
phối hợp một số đặc tính của cơ học lượng tử với
thuyết tương đối rộng, giả thiết điều kiện đầu là
vũ trụ hiện khởi từ một thế giới nguyên thủy không có
dị điểm.
Theo
thuyết tương đối rộng, vũ trụ sinh khởi từ một dị điểm
và tận diệt tại một dị điểm, những dị điểm đầu
và cuối này tạo thành biên giới của vũ trụ và nơi đó
mọi định luật khoa học đều mất hết tác dụng. Vậy thế
giới không có dị điểm là thế giới không có biên giới,
vận hành theo luật tắc của cơ học lượng tử. Để mô
tả toán học một thế giới không biên giới, ảo số được
sử dụng thay thế thực số để đo thời gian. Với thời
gian ảo, không còn có sự phân biệt giữa thời gian và không
gian, hướng thời gian và hướng không gian không sai khác. Ngoài
ra, dị điểm tạo thành biên giới không có điều kiện hiện
hữu trong thời gian ảo.
Thế
giới nguyên thủy không có biên giới tất không có trong ngoài.
Do đó, không có tiền tế, không có hậu tế, vô thỉ, vô
chung. Trong tập Một, Sử lược của thời gian (A brief history
of time), Hawking viết: “Nó đơn giản là như vậy. Thế thời
còn chỗ nào dành cho một đấng sáng tạo? (It would simply be.
What place, then, for a creator?)”
Bởi
các dị điểm như lỗ đen là những vật thể suy diễn từ
lý thuyết, và chưa có nhà thiên văn học nào thấy chúng tận
mắt qua những kính viễn vọng tối tân nhất, nên Hawking đề
nghị nên xem cái thế giới với thời gian thực trong đó có
dị điểm là thế giới ảo và thế giới nguyên thủy với
thời gian ảo là thế giới chân thật. Có lẽ nào Hawking đã
bị ảnh hưởng Phật giáo xem mọi sự vật trong thế giới
thường nghiệm đều duyên sinh như huyễn? Có lẽ nào Hawking
đã tham học thuyết Tánh Khởi chủ trương vạn hữu hiện
thành từ Nhất chân pháp giới?
Nhưng
vũ trụ hiện khởi như thế nào từ thế giới nguyên thủy
không biên giới? Hawking viện dẫn nguyên lý bất định Heisenberg
để giải thích sự vật hiện khởi là do Thực tại tự tánh
sai biệt, bất biến tùy duyên mà thăng giáng năng lượng phát
khởi, phá hủy tánh đối xứng nguyên thủy. Thực tại ở
đây là thế giới nguyên thủy không biên giới của các trường
(fields) như trường hấp dẫn (gravitational field) và trường
điện từ (electromagnetic field). Khi thế giới nguyên thủy ở
trong trạng thái chân không thời tất cả trường đều có
đúng trị số zero. Tuy nhiên, trị số của một trường và
tốc độ thay đổi của nó với thời gian giống như vị trí
và vận tốc của một hạt: nguyên lý bất định xác quyết
không thể đo lường chính xác hai phẩm tính bổ sung ấy cùng
một lúc. Vậy đo lường tạo điều kiện (duyên) để trường
không thể xác định đúng là zero trong chân không. Tại vì
nếu đúng là zero, nghĩa là cả trị số lẫn tốc độ thay
đổi của nó đo bằng zero, thời hai phẩm tính bổ sung ấy
đồng thời được xác định, trái nghịch nguyên lý bất
định.
Vì
lý do vừa trình bày, trường phải có một số lượng bất
định, gọi là dao động lượng tử. Dao động lượng tử
có thể là những cặp hạt quang tử (photon) hay trọng tử
(graviton) đồng thời phát hiện vào lúc nào đó, chuyển động
xa nhau ra, rồi trở lại va chạm nhau, hỗ tương nhiếp nhập
biến mất trong chớp nhoáng.
Dao
động lượng tử cũng có thể là những cặp hạt vật chất
như electron hay quark (quark là hạt cơ bản, cấu tử của proton
và neutron). Trong trường hợp này, theo luật bảo toàn năng
lượng, một trong hai phần tử của cặp phải có năng lượng
dương và phần tử kia có năng lượng âm. Nếu gọi phần
tử có năng lượng dương là hạt và phần tử có năng lượng
âm là phản hạt, thời phản hạt phải ảo, nghĩa là không
thể quan sát trực tiếp với thiết bị phát hiện, vì những
hạt thật thường thí nghiệm đều có năng lượng dương.
Phản hạt không tồn tại quá một sát na vì nó phải va chạm
tương tác hủy diệt với một hạt trong khoảnh khắc cho phép
bởi nguyên lý bất định Heisenberg.
Nói
theo thuật ngữ Phật giáo, thế giới nguyên thủy không biên
giới từ nơi đây mà vũ trụ hiện thành có thể gọi là
Pháp giới hay Chân như. Nếu thêm nguyên lý bất định Heisenberg
vào điều kiện đầu, thời có thể giải thích nguyên nhân
sinh ra dao động lượng tử, tức sự khởi diệt của những
cặp hạt đối đãi trong sát na gọi là sát na sinh diệt. Do
đó, ta có thể gọi nguyên lý bất định là nguyên lý thực
trạng biến dịch sinh tử. Ngoài ra, dựa theo luận Đại thừa
khởi tín, có thể nói rằng "do Chân như (Như Lai tạng) mà
có tâm sinh diệt, nghĩa là Chơn (không sinh diệt) Vọng (sinh
diệt) hòa hiệp, không phải một không phải khác gọi là
thức a lại da (tâm sinh diệt). Thức này tóm thâu tất cả
các pháp và xuất sanh tất cả các pháp." Vậy thế giới nguyên
thủy không biên giới với tác dụng của nguyên lý bất định
có thể gọi là thức a lại da.
Theo
Hawking, cơ cấu phát hiện vũ trụ chính là dao động lượng
tử của các trường năng lượng trong thế giới nguyên thủy
ở mức độ giới hạn bởi nguyên lý bất định. Thoạt tiên
trong một thời khoảng vô cùng ngắn, vũ trụ sơ sinh trương
bùng rất nhanh, khuếch đại mọi vùng hình thể không đều
thành cơ sở phát sinh các cấu trúc thiên văn học hiện tại.
Trong thời kỳ bùng dãn, do mật độ vật chất các vùng sai
khác nhau, tánh hấp dẫn (gravity) khiến những vùng có mật
độ lớn trương bùng chậm lại và khởi sự thu súc. Kết
quả là sự hiện thành các thiên hà, tinh tú, hành tinh, và
các loài hữu tình.
Tóm
lại, giả thiết thế giới nguyên thủy không biên giới với
các dao động lượng tử giới hạn bởi nguyên lý bất định
Heisenberg, thuyết vũ trụ Hawking có thể giải thích hầu hết
những kết quả quan trắc hiện nay. Thuyết này có thể xem
như là một mô hình toán học của thuyết Tánh khởi. ◘
H.D
Đọc thêm
Triệu
Luận Lược Giải, Hám Sơn Ðại Sư