TRIẾT
HỌC THẾ THÂN
Lê
Mạnh Thát
Chương
II: ThẾ Thân và Tác PhẨm[1]
Đã
hơn một thế kỷ qua kể từ khi Wassiliew cố gắng xác định
ngày tháng của Thế Thân,[2] vấn đề vị luận sư này đã
sống vào thời nào vẫn không ngừng gây tranh cãi. Sau đó
đã có rất nhiều nỗ lực giải quyết vấn đề này nhưng
vẫn không có kết quả rõ ràng. Vào khi Péri tiến hành cuộc
nghiên cứu chính yếu của mình nhằm tìm ra một giải đáp
qua việc tra cứu toàn bộ các dữ liệu có được vào thời
ông,[3] mọi người có khi đã vui mừng thấy rằng dường
như ông đã có thể giải quyết được vấn đề. Nhưng buồn
thay cho những người nghiên cứu tư tưởng Thế Thân, giải
đáp của Péri vẫn không hoàn toàn thỏa đáng như sự tin
tưởng ban đầu. Thật vậy, nó không thỏa đáng ở điểm
đã đòi hỏi một giải pháp căn bản theo dạng giả thuyết
hai-Thế-Thân được Frauwallner đề ra.[4] Vì thế, giờ đây
ngoài vấn đề Thế Thân sống vào thời nào, chúng ta còn
phải đối mặt với vấn đề đã có bao nhiêu nhân vật Thế
Thân trong lịch sử triết học Ấn độ.
Nguyên
nhân tình cảnh rắc rối này không khó tìm, vì qua các dữ
liệu lịch sử Trung quốc Péri đã nhận ra có ít nhất ba
thời điểm khác nhau về sự xuất hiện của Thế Thân: có
thể ông đã ra đời sau Phật Niết bàn 900 năm, 1000 năm hoặc
1100 năm. Péri còn thấy rằng các số liệu này đã được
rất nhiều học trò của Huyền Tráng tra cứu kỹ nhưng vẫn
không có kết quả chung quyết nào. Đến lượt Péri, ông đã
thử giải quyết vấn đề bằng thuyết riêng của mình, mặc
dù không thành công. Tuy nhiên, thất bại lớn nhất của Péri
là ông đã tưởng rằng hai thời điểm 900 và 1100 P.N. được
gán cho cùng một người đều xuất phát từ cùng một tài
liệu. Vì thế, không những chúng ta phải giải thích tại
sao có đến hai thời điểm khác nhau của cùng một nhân vật
mà còn giải thích tại sao hai thời điểm khác nhau lại do
cùng một tài liệu đưa ra. Ý kiến vừa nêu của Péri là
thất bại lớn nhất của ông vì nó đặt nền tảng cho sự
phát khởi tất cả những ngộ nhận về sau, cuối cùng đã
dẫn đến giả thuyết hai-Thế-Thân của Frauwallner.
Có
thể nói giả thuyết của Frauwallner hoàn toàn dựa vào giả
định rằng Chân Đế đã đưa ra hai thời điểm về người
hay những người mang tên Thế Thân. Tuy nhiên, chỉ xem qua tất
cả tác phẩm kể cả các dịch bản mang tên Chân Đế còn
giữ được, chúng ta sẽ không thấy bất cứ thông tin nào
cho phép khẳng định hoặc giả định rằng Chân Đế đã
đưa ra hai thời điểm khác nhau về Thế Thân. Trái lại, theo
Chân Đế, tất cả những gì chúng ta biết được là Thế
Thân sinh sau Phật Niết bàn 900 năm; tức ông chỉ đưa ra một
thời điểm nhất định cho Thế Thân chứ không phải hai.
Nếu vậy, ý kiến cho rằng Chân Đế đã đưa ra hai thời
điểm khác nhau về Thế Thân bắt nguồn từ đâu? Câu trả
lời bây giờ đã rõ. Nó bắt nguồn cùng với Péri. Chính
Péri là người đầu tiên đã chỉ ra một đoạn trong Thành
Duy Thức Luận Liễu Nghĩa Đăng của Huệ Chiểu như sau:
“Theo
Thiên Thân Bồ Tát Truyện, sau Phật Niết bàn hơn một ngàn
một trăm năm, có ngoại đạo tên Dĩnh Xà Ha Bà Sa (Vindhyavāsin).
Dĩnh Xà là tên một ngọn núi; Bà Sa nghĩa là ở. Vì ngoại
đạo này ở tại núi này nên gọi tên như thế.”[5]
Và
rồi Péri kết luận:
“À
la date près, c’est presque littéralement le texte de Paramārtha,
que nous connaissons.”[6] (Ngoài ngày tháng ra, hầu như đây chính
là bản của Chân Đế mà chúng ta biết.)
Như
vậy, theo Péri, Huệ Chiểu đã chép lại đoạn văn trên của
mình từ truyện ký về Thế Thân do Chân Đế viết hoặc dịch.
Tuy nhiên thật không may là kết luận này dường như quá non
nớt. Thứ nhất, những thông tin về các thời điểm và niên
đại được dẫn trong các bài viết của Huệ Chiểu hầu
như không đáng tin cậy; thứ hai, nhan đề truyện ký do Huệ
Chiểu dẫn không giống với nhan đề do Chân đế viết hoặc
dịch; thứ ba, vào thời Huệ Chiểu ta biết rằng ít nhất
có trên một truyện ký về Thế Thân được lưu hành. Do tác
động lớn của việc Péri suy đoán Chân Đế có đưa ra hai
thời điểm khác nhau về Thế Thân đối với các bài viết
sau đó của các nhà nghiên cứu khác, đặc biệt là Frauwallner,
mà ba lý do trên phải được nghiên cứu tường tận.
Về
lý do thứ nhất: các ngày tháng và niên đại được đưa
ra trong các bài viết của Huệ Chiểu hầu như đều thiếu
sót. Ta có thể dễ dàng chứng minh điều này bằng cách trưng
dẫn một thí dụ: phát biểu của ông cho rằng “Long Thọ
ra đời vào 200 năm sau Phật Niết bàn”[7] là hoàn toàn không
thể chấp nhận dù xét theo tiêu chuẩn hay cách diễn giải
nào. Vì thế, bất cứ khi nào Chiểu đưa ra một ngày tháng
nào, chúng ta đều phải xem xét cẩn thận. Trường hợp này
cũng thế. Niên đại về Dĩnh Xà Ha Bà Sa có lẽ đã được
Chiểu dẫn trực tiếp từ Thiên Thân Bồ Tát Truyện hoặc
có thể chỉ nghe nói hoặc từ một bản chép tay đã được
sửa đổi hoặc sửa sai bởi những người trước đó. Dù
tạm thời cho rằng khả năng đầu là đúng, điều này vẫn
không cho phép Péri kết luận như trên, vì nhan đề tài liệu
Chiểu trích dẫn không giống với Chân Đế viết hoặc dịch.
Như
ta đã thấy, nhan đề Chiểu dẫn là Thiên Thân Bồ Tát Truyện,
trong khi truyện ký về Thế Thân do Chân Đế viết hoặc dịch
có tên là Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện.[8] Vậy thì hoàn
toàn rõ ràng hai cuốn này không đồng nhất ở bất cứ mặt
nào, về kết cấu cũng như hình thức. Tuy nhiên Péri cứ cho
rằng trích dẫn của Huệ Chiểu từ Thiên Thân Bồ Tát Truyện
là “gần như chính là bản của Chân Đế mà chúng ta biết
ngày nay”. Péri đã làm thế, hình như còn với lý do là ngôn
ngữ của hai bản này hoàn toàn tương tự. Thế nhưng sự
giống nhau về ngôn ngữ trong các tác phẩm khác nhau của các
tác giả khác nhau về cùng chủ đề như sử ký hay truyện
ký không phải là hiếm trong các tác phẩm Trung quốc, cả
Phật giáo cũng như không phải Phật giáo. Các trường hợp
của loại đầu có thể dễ dàng tìm thấy nếu so sánh phần
còn giữ được của cuốn Thần Tăng Truyện của Bảo Xướng
với phần tương đương trong cuốn Cao Tăng Truyện của Huệ
Kiểu.[9] Về các trường hợp của loại sau ta có thể dẫn
chứng các tài liệu đời Hậu Hán, như Đông Quan Hán Ký,
Hậu Hán Ký và Hậu Hán Thư. Như vậy, sự tương tự về
ngôn ngữ giữa hai tác phẩm không thể dùng làm tiêu chuẩn
để nhận dạng chúng có cùng một tác giả, nhất là khi chúng
có nhan đề khác nhau như trong trường hợp này.
Hơn
nữa, sau khi nói rằng ngoại đạo Dĩnh Xà Ha Bà Sa sống vào
năm 1100 sau P.N. và viết Thất Thập Luận, tác phẩm đã dẫn
đến việc Thế Thân phải viết cuốn Kim Thất Thập Luận
để phản bác, Huệ Chiểu đã thêm vào đoạn sau:
“Nhưng
Pháp Sư Truyện nói rằng một ngàn một trăm năm sau Phật
Niết bàn, ngoại đạo này ra đời và viết Thất Thập Luận,
và khi Thế Thân ra đời thì ngoại đạo này đã mất rồi.
Như vậy, cho thấy Thế Thân cũng sinh vào một ngàn một trăm
năm hoặc còn lâu hơn sau Phật Niết bàn. Tuy nhiên điều này
hình như không đúng. Tại sao vậy? Bởi vì trong bản Trung
Biên Phân biệt Luận của mình, Tam Tạng Pháp Sư Chân Đế
nói rằng Thế Thân sinh vào chín trăm năm sau Phật Niết bàn.
Vì thế, ngoại đạo này chắc hẳn cũng đã sinh trước chín
trăm năm sau Phật Niết bàn.”
Bây
giờ đã rõ rằng Chiểu không nói Chân Đế ấn định thời
gian 1100 năm cho Thế Thân; ngoài ra Chiểu còn dẫn chứng Chân
Đế để bác rằng thời gian nói trên là sai. Vì thế, chừng
nào Chân Đế được trích dẫn một cách minh nhiên thì sẽ
không có thắc mắc về ngày tháng mà ông đưa ra rõ ràng về
Thế Thân. Vì thế điều nan giải nhất của toàn bộ vấn
đề ông có thật sự đưa ra hai thời điểm khác nhau về
Thế Thân hay không nằm ở câu hỏi liệu nhan đề Thiên Thân
Bồ Tát Truyện do Chiểu dẫn có thể được xem như đồng
nhất với Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện do Chân Đế viết
hoặc dịch hay không. Chúng ta đã thấy rằng Péri xem chúng
là một. Tuy nhiên, trường hợp như thế không thể xảy ra,
không chỉ vì sự tương đồng về ngôn ngữ sẽ không, và
không thể, bảo đảm cho một phỏng đoán, như đã nói ở
trên, mà còn vì đã có trên một truyện ký về Thế Thân
lưu truyền vào thời của Chiểu. Giả sử như chúng ta chỉ
biết đến một cuốn thì chúng ta có thể có lý khi nghĩ rằng
hai nhan đề khác nhau được dẫn bởi hai tác giả khác nhau
chỉ là một. Nhưng vì đã có trên một truyện ký về Thế
Thân vào thời của Chiểu, cho nên thật khinh suất để nghĩ
ngay rằng những gì Chiểu đã dẫn trong Thiên Thân Bồ Tát
Truyện đương nhiên đến từ Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện
của Chân Đế, bởi vì cũng có thể Chân Đế đã trích dẫn
từ một số tài liệu khác. Sự tương tự về ngôn ngữ không
thể được chấp nhận làm chứng cứ, huống hồ là một
chứng cứ quyết định. Vậy, tình trạng các bản văn về
cuộc đời Thế Thân vào thời Chiểu là gì?
Khi
Chân Đế còn hoạt động ở Quảng Châu, một trong những
cộng sự chính của ông là Huệ Khải có đề cập đến một
truyện ký về Thế Thân có nhan đề Biệt Truyện [10]. Sau
đó một trăm năm, Pháp Tạng (640-710) xác nhận có truyện
ký này và thêm rằng có thêm một cuốn nữa tên là Bổn Truyện.[11]
Ngoài ra, Tỉnh Mại, trong Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỷ viết năm
664 sdl, có liệt kê một truyện ký khác về Thế Thân mang
tên Bà Tẩu Bàn Đậu Truyện và ghi rằng do Cưu Ma La Thập
dịch.[12] Với tất cả các cuốn này, bây giờ chúng ta biết
rõ rằng vào cuối thế kỷ thứ VII đã có ít nhất năm truyện
ký về Thế Thân được giới văn học của thế kỷ đó biết
đến. Đó là:
1.
Bà Tẩu Bàn Đậu Truyện của Cưu Ma La Thập dịch.
2.
Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện của Chân Đế dịch.
3.
Biệt Truyện được Huệ Khải và Pháp Tạng đề cập.
4.
Bổn Truyện được Pháp Tạng dẫn.
5.
Thiên Thân Bồ Tát Truyện được Huệ Chiểu dẫn.
Tất
cả các truyện ký này ngày nay đều không còn ngoài cuốn
số 2. Thật không dễ trả lời câu hỏi cuốn nào trong số
năm cuốn này có thể nhận ra là chỉ có tên mà không có
thật và, vì thế, có thể xem như là một với một trong bốn
cuốn còn lại hay không. Péri đã tập trung giải quyết câu
hỏi này và đã do dự đề nghị rằng các cuốn số 1 và
4 là một, trong khi các cuốn số 2, 3 và có thể cả cuốn
5 chắc chắn là giống nhau. Một lần nữa, tiêu chuẩn cho
sự nhận dạng này lại là sự tương tự về văn từ của
chúng. Kết quả là sự nhận dạng vẫn dựa trên một nền
tảng không chắc chắn, như chúng ta đã bàn về các sử truyện
Trung quốc.
Trong
trường hợp này, các trích dẫn từ Bổn Truyện của Pháp
Tạng thật sự có đặc điểm của các truyện ký được
cho là của La Thập về phương diện chúng có đầy các chuyện
thần dị. Nhưng những mô tả theo cách thần thoại như thế
không liên quan gì đến khả năng Bổn Truyện phải tương
đồng với Bà Tẩu Bàn Đậu Truyện được xem là do La Thập
dịch, bởi vì hai cuốn này có thể lấy thông tin từ cùng
một nguồn, và trong trường hợp này nguồn tài liệu đó
thường là từ Ấn độ. Và dù sao đi nữa thì một truyện
ký Ấn độ vẫn luôn luôn có khuynh hướng có nhiều điều
thần dị. Thật ra Péri đã chú ý đến sự kiện Huệ Tường,
trong Pháp Hoa Kinh Truyện Ký [13] của mình, đã nhiều lần
nói đến phát biểu của Chân Đế về sự xuất hiện của
một Tây Vức Truyện Ký nào đó. Kết quả là chỉ một mình
sự kiện có tương đồng về ngôn ngữ trong hơn một bản
văn thì không phải là chứng cứ cụ thể để kết luận
rằng chúng giống nhau và được viết hoặc dịch bởi cùng
một người. Ta cũng có thể nói như vậy về phần còn lại
của sự xác minh về chúng do Péri đưa ra.
Thật
ra giờ đây vấn đề trở nên hoàn toàn sáng tỏ khi mà giả
định của Péri không được chứng minh là đúng. Cho dù đúng,
đó vẫn là giả định chứ không phải sự thật. Sự thật
là trong tất cả các bản dịch cũng như các bản còn giữ
được hoặc được dẫn bởi Chân Đế không có chỗ nào
cho thấy ông đã ấn định thời điểm 1100 năm cho Thế Thân,
và trong tất cả các trích dẫn của nhiều người viết sau
đó cũng không có chỗ nào nói rõ hay hàm ý Chân Đế có ý
đó. Ngược lại, ông đã được dẫn như là người bác bỏ
điều đó, như chúng ta đã biết. Vì thế, chúng ta có thể
hoàn toàn tin chắc rằng Chân Đế không đưa ra hai thời điểm
khác nhau về Thế Thân, và theo ông thì Thế Thân sinh vào năm
900 sau P.N. Mọi khẳng định của các học giả như Frauwallner
chỉ là tưởng tượng riêng của họ.
Một
tình huống gây nhiều ngạc nhiên hơn khi những người chống
lại giả thuyết hai-Thế-Thân của Frauwallner dường như mặc
nhiên thừa nhận sự chính xác trong giả định của Péri cũng
như khẳng định của Frauwallner cho rằng có hai thời điểm
về Thế Thân. Trong một bài phê bình dài về cuốn On the Date
of the Buddhist Master of the Law Vasubandhu của Frauwallner, Sakurabe
không hề nhắc đến giả định của Péri và khẳng định
của Frauwallner.[14] Jaini thì khẳng định thẳng thừng rằng
“Chân Đế có đưa ra hai thời điểm về Thế Thân” nhưng
lại không chịu khó kiểm tra xem điều đó có thật hay không.[15]
Wayman, mặc dù bác bỏ giả thuyết hai-Thế-Thân do Frauwallner
suy đoán, đã hoàn toàn im lặng về nền tảng thiết lập
giả thuyết này.[16] Đó là chưa kể đến sự kiện ông tự
gánh lấy thuyết hai-Thế-Thân của riêng ông, một thuyết
chắc chắn không có gì khả quan hơn thuyết của Frauwallner,
nếu không phải là tệ hơn, do việc ông đã sử dụng các
chứng cứ non nớt của các sử gia Tây Tạng ở đời sau.
Vấn đề này cuối cùng đã được Lê Mạnh Thát giải quyết
dứt khoát khi ông phát hiện việc “Chân Đế đưa ra hai thời
điểm về Thế Thân” chỉ là một phát biểu sai lạc.[17]
Bây
giờ, nếu giả định của Péri là sai thì chúng ta phải tìm
ra ai là người đầu tiên ghi lại các thời điểm này mà
không cần phải dựa vào bất kỳ giả định nào cả. Chúng
ta biết rằng:
1.
Chân Đế đề cập đến thời điểm 900 P.N. về Thế Thân.
2.
Huyền Tráng mô tả thời điểm 1000 P.N.
3.
Huệ Khải đưa ra thời điểm 1100 P.N.
Đây
là ba thời điểm và những người ghi lại chúng sớm nhất,
và người ta có thể tự mình nhận ra đã có sự sai lệch
lớn về thời gian giữa các thời điểm này. Để giải quyết,
tôi đề nghị trước hết hãy bàn đến hai thời điểm sớm
hơn ở đây, bởi vì các thời điểm do Chân Đế và Huyền
Tráng đưa ra thì dễ dàng phối hợp hơn thời điểm của
Huệ Khải.
Theo
Chân Đế, Thế Thân sinh vào năm 900 P.N. Phổ Quang, trong Câu
Xá Luận Ký, cho chúng ta thông tin: “Chân Đế nói,[18] ‘Một
ngàn hai trăm sáu mươi lăm năm đã trôi qua kể từ khi Đức
Phật qua đời đến nay’”. Chúng ta biết đích xác Chân
Đế và Phổ Quang sống vào năm nào. Vì thế, để biết được
thời điểm 900 P.N. dành cho Thế Thân chính xác chỉ cho năm
nào, chúng ta phải biết Đức Phật qua đời năm nào; và để
biết được Đức Phật qua đời năm nào, chúng ta phải xác
định được nhóm từ “đến nay” của Phổ Quang chính xác
có nghĩa là gì. Frauwallner đã diễn dịch là “đến thời
Chân Đế”, tức khoảng 564 sdl khi Chân Đế bắt đầu dịch
Câu Xá Luận ở Quảng Châu. Do điều này mà Sakurake đã chỉ
ngay ra rằng trong trường hợp đó nhân vật được gọi là
Thế-Thân-lớn-tuổi-hơn có lẽ sinh vào thế kỷ thứ III sdl
đúng hơn là năm 320 sdl như Frauwallner đề nghị. Tuy nhiên,
diễn dịch của Frauwallner sai lầm không phải về điểm này
mặc dù một tính toán sai lầm như thế thật là đáng thương.
Diễn dịch này sai bởi vì dường như nó đã dựa vào một
kiến thức nghèo nàn về Hán ngữ của người diễn dịch.
Nhóm
từ “đến nay” (chí kim), khi được dùng bởi một tác giả,
ngay cả trong trường hợp tác giả này dẫn thông tin từ một
tác giả khác, luôn luôn chỉ cho cái “nay” của tác giả
trích dẫn chứ không phải của tác giả được trích dẫn.
Thí dụ, trong Nhị Giáo Luận, Đạo An viết:
“Theo
Pháp Sư Cưu Ma La Thập Niên Kỷ và Thạch Trụ Minh, phù hợp
với Xuân Thu, thì Như Lai sinh vào năm thứ 5 của Chu Hoàn Vương,
tức năm Ất sửu, [...], và Ngài nhập diệt vào năm thứ 15
của Tương Vương, tức năm Giáp thân. Từ đó đến nay đã
một ngàn hai trăm linh năm năm”.[19]
Chúng
ta biết rằng Đạo An viết Nhị Giáo Luận năm 568 sdl và năm
thứ 15 của Chu Hoàn vương tương đương với năm 687 tdl. Chỉ
tính nhẫm từ năm 687 tdl xuống đến năm 568 sdl sẽ cho ta
con số 1205 năm. Vì thế, không còn nghi ngờ gì nữa về năm
mà nhóm từ “đến nay” trong đoạn văn trên nói đến. Nó
chỉ cho năm 568 sdl của Đạo An chứ không phải năm của La
Thập, người được Đạo An trích dẫn. Kết quả, đối với
những gì Phổ Quang đã đề cập về lời của Chân Đế,
ta phải hiểu rằng hai chữ “đến nay” trong đó nhằm chỉ
cho thời điểm của Phổ Quang chứ không phải của Chân Đế
như Frauwalner diễn giải.
Nếu
nhóm từ này chỉ cho thời của Phổ Quang, vậy Quang đã sống
khi nào? Ta biết rằng Quang là học trò và cũng là đồng sự
thân cận của Huyền Tráng. Tuy nhiên, điều chúng ta không
biết là thời điểm ông viết Câu Xá Luận Ký, tức tác phẩm
mà trong đó ta tìm thấy câu nói vừa được dẫn. Thật may
là chúng ta biết rằng Huyền Tráng dịch Câu Xá Luận trong
khoảng thời gian 651-654.[20] Vậy thì đương nhiên Phổ Quang
phải viết Câu Xá Luận Ký sau năm 654 sdl, thời điểm Huyền
Tráng hoàn tất việc dịch và giảng Câu Xá Luận cho những
đồng sự của ông. Rất có khả năng Câu Xá Luận Ký đã
được viết sau năm 664 sdl, khi Tráng chết và Phổ Quang phải
tự lo liệu lấy và có thời gian cho riêng mình. Trong bất
cứ trường hợp nào, ta có thể chắc chắn rằng câu nói
trên của Phổ Quang hẳn phải được đưa ra sau 654 sdl, thời
điểm mà Huyền Tráng chính thức hoàn tất việc dịch Câu
Xá Luận. Như vậy, nếu ta chọn năm 664 sdl làm thời điểm
Quang bắt đầu viết Câu Xá Luận Ký, ta có thể thấy rằng
năm đó thật sự là những gì được Phổ Quang diễn tả
qua hai chữ “đến nay”. Nói cách khác, cho đến năm 664 sdl
thì một ngàn hai trăm sáu mươi năm đã trôi qua kể từ khi
Phật Niết bàn. Vì thế, ta có thể nói năm 664 sdl tương ứng
với năm 1265 P.N. Một khi điều này đã được xác quyết,
việc tìm ra Thế Thân sinh vào thời nào đương nhiên sẽ trở
thành đơn giản.
Chân
Đế nói rằng Thế Thân sinh năm 900 sau P.N. Qua đó ông muốn
nói rằng Thế Thân ra đời trong thế kỷ thứ IV sdl bởi vì
nếu 664 sdl tương đương với năm 1265 P.N. và nếu ta bắt
đầu tính ngược lên, ta sẽ có năm 900 P.N. rơi đúng vào
năm 300 sdl.
Năm
T.L. 664
600 500 400
300
Năm
P.N. 1265 1200
1100 1000 900
Bảng
1
Như
vậy, Thế Thân đã sinh vào thế kỷ thứ IV sdl. Từ kết luận
này, hiển nhiên là ta đã thoát khỏi tất cả những cạm
bẩy mà Frauwallner và những người khác đã mắc phải, những
gì Sakurabe đã chỉ ra và chúng ta đã đề cập đến trước
đây. Ngoài ra phải thêm rằng Hán ngữ không hoàn toàn tối
nghĩa như người ta muốn nghĩ nếu được diễn giải đúng.
Bây
giờ, nếu năm 900 P.N. do Chân Đế đề ra tương ứng với
thế kỷ thứ IV sdl, thì năm 1000 sau Phật Niết bàn của Huyền
Tráng nhằm chỉ cho thế kỷ nào? Để trả lời câu hỏi này,
ta phải chú ý rằng nhóm từ “năm 1000 sau Phật Niết bàn”
được dùng khá rời rạc và vì thế có thể làm hiểu sai.
Điều Huyền Tráng thật sự muốn nói là Vô Trước (Asaṅga)
sinh “trong vòng 1000 năm sau Phật Niết bàn”.[21] Nhưng vì
Huyền Tráng cũng nói rõ rằng Thế Thân là anh em cùng mẹ
với Vô Trước cho nên ta có thể đoán định một cách chính
xác là Thế Thân chắc hẳn cũng sinh “trong vòng 1000 năm P.N.”
hoặc không lâu sau đó mới có thể đến thăm Vô Trước khi
người anh đang hấp hối.
Thế
nhưng, nhóm từ “trong vòng 1000 năm P.N.” đã đặt thành
một vấn đề nào đó trong cách diễn giải nó. Có người
hiểu rằng nó chỉ cho số năm từ 1000 đến 1100. Ít ra đó
là cách diễn giải của Takakusu và Frauwallner. Tuy nhiên, đối
với chúng ta một lối diễn giải như thế hình như không
đúng, nếu không muốn nói là sai hoàn toàn. Một thời gian
dài trước khi Frauwallner công bố nghiên cứu của mình, Péri
đã lưu ý rằng mặc dù nhóm từ “trong vòng 1000 năm P.N”
có thể được diễn dịch theo hai cách hoàn toàn khác nhau,
tức giữa những năm 1000 và 1100 hoặc 900 và 1000, nhưng ông
vẫn chọn cách thứ hai hơn.[22] Bởi vì nếu chọn cách thứ
nhất, người ta sẽ không tìm ra nhóm từ nào để chỉ thời
khoảng giữa năm 1 và năm 100. Lý do Péri đưa ra đã chứng
tỏ khả năng biện biệt của ông đối với cách dùng Hán
ngữ. Thật vậy, nay ta buộc phải hiểu nhóm từ “trong vòng
1000 năm” đích thực nhằm chỉ cho những năm giữa năm 900
và 1000, bất kể chúng ta có thích hay không. Tại sao? Đúng
hệt như Péri đã nói. Thật ra, khi người Trung quốc nói “trong
vòng 100 năm của đời người” thì cái mà anh ta ám chỉ
không phải là khoảng thời gian sau năm 100, mà là thời khoảng
trước đó và kết thúc vào năm đó. Vì vậy, người ta không
có cách nào để diễn giải “trong vòng 1000 năm” là chỉ
cho số năm giữa năm 1000 và 1100, như Takakusu và Frauwallner
đã làm. Trái lại, phải hiểu là khoảng thời gian giữa các
năm 900 và 1000.
Khi
được hiểu như thế, câu nói này sẽ tương đương với
câu nói “sau 900 năm”. Thật ra khi Huyền Tráng nói Thế Thân
sinh trong khoảng 1000 năm sau Phật Niết bàn, ông thật sự
muốn nói rằng Thế Thân sinh sau Phật Niết bàn 900 năm. Một
khi được hiểu như thế, người ta có thể nhìn vào bảng
1 ở trên mà nhận ra rằng Huyền Tráng đã đưa ra một thời
điểm giống như Chân Đế về Thế Thân. Tuy nhiên, vì bảng
1 được thiết lập nhờ vào các dữ liệu Chân Đế cung cấp
nên câu hỏi đặt ra ở đây là bảng này có thể được
dùng để xác định thời điểm Huyền Tráng đưa ra không.
Thật may là chúng ta không cần phải trả lời vì kết luận
vừa đạt được có thể được chứng minh độc lập bằng
các tài liệu do chính Huyền Tráng cung cấp, và chúng không
gì khác hơn các tài liệu Tráng đã viết về Pháp Hộ.
Trong
Đại Đường Tây Vức Ký Huyền Tráng cho chúng ta một bản
tường thuật chi tiết đầy đủ các thông tin về Pháp Hộ,
và nhờ các thông tin này mà ta đã có được một thời điểm
hợp lý về Pháp Hộ, đó là những năm giữa 531-560 sdl.[23]
Nay, theo Huyền Tráng, người ta cho rằng Pháp Hộ sống “sau
1100 năm sau Phật Niết bàn”. Như vậy thời khoảng giữa
các năm 1100 và 1200 tương ứng với thế kỷ thứ VI sdl. Từ
kết luận này, thật dễ thấy rằng thời điểm 1000 P.N. của
Huyền Tráng về Thế Thân nhằm chỉ cho thế kỷ thứ IV sdl
và như vậy sẽ tương đương với thời điểm 900 P.N. của
Chân Đế.[24]
Tóm
lại, không thể nào phủ nhận được hai thời điểm về
Thế Thân do Huyền Tráng và Chân Đế đưa ra đều cùng chỉ
cho thế kỷ thứ IV sdl. Nay chỉ còn lại thời điểm 1100 P.N
của Huệ Khải. Đây là vấn đề khá đặc biệt mà Huệ
Khải đã đặt ra cho chúng ta. Trước hết, mặc dù ít ra có
đến bốn trong số các tác phẩm của ông còn giữ được
và truyền đến tay chúng ta ngày nay,[25] nhưng trong thực tế
ta không biết được gì chính xác về cuộc đời và hoạt
động của ông suốt thời gian trước khi ông gặp Chân Đế
vào năm 562 sdl. Thời gian đó là một khoảng thời gian dài
bởi vì sáu năm sau lần gặp này thì ông mất, tức năm 568,
trước cả Chân Đế. Chân Đế mất vào năm sau đó, ở tuổi
71.[26] Kế đến, chúng ta không biết gì về nguồn tài liệu
có thể Khải đã dùng đến khi viết về Thế Thân. Do thiếu
tư liệu nên liên hệ giữa ông và Chân Đế là sự kiện
duy nhất các học giả dùng đến để chống đỡ lập luận
của họ khi cho rằng Chân Đế có đưa ra thời điểm 1100
P.N về Thế Thân. Họ khẳng định bất kỳ điều gì Khải
viết về Thế Thân phải đến từ không ai khác ngoài Chân
Đế vì Khải là “học trò cưng” của ông.[27] Như vậy,
thời điểm Khải đưa ra chắc hẳn là thời điểm mà Chân
Đế đưa ra trong tác phẩm nào đó của ông. Do lối lý luận
này, chúng ta đề nghị hãy khảo sát vấn đề có phải Khải
đích thực là “học trò cưng và cộng sự thân cận” của
Chân Đế hay không, trước khi giải thích và xác định thời
điểm 1100 P.N. là chỉ cho thế kỷ nào.
Đạo
Tuyên (593-667) đã không quá xem trọng Khải đến độ phải
bàn riêng đến ông trong tác phẩm nổi tiếng Tục Cao Tăng
Truyện của mình; mà chỉ nhân tiện nhắc đến Khải khi viết
về tiểu sử của Chân Đế [28]. Vì thế những gì chúng ta
biết về Khải hầu như đều được rút ra từ chính các
tác phẩm của ông. Bốn tác phẩm trong số này vẫn còn, trong
đó hai bài tựa ông viết cho hai bản dịch Nhiếp Đại Thừa
Luận (Mahāyānasaṃgraha) và Câu Xá Luận là có nhiều thông
tin nhất.[29] Trong bài tựa Nhiếp Đại Thừa Luận, Khải nói:
“Bao
năm qua Khải tôi [. . .] đã vân du và trú ngụ nhiều pháp
đường khác nhau ở nhiều nơi, đã có nhiều dịp tham vấn
các danh sư và thiện hữu . . . Thế nhưng nhìn chung hiểu biết
của tôi vẫn còn nông cạn [ . . .] tôi mới hay rằng có nhiều
điều vẫn chưa thấu tỏ. Càng nghĩ về điều này tôi lại
càng buồn hơn [ . . . cho đến khi] tôi gặp được Tam tạng
Pháp sư.”[30]
Tiếp
đó, Khải đã kể lại việc Chân Đế đối đãi ông như
thế nào:
“Khải
tôi trước đây đã từng học đạo [với Ngài], đã gột
rửa được phần nào những điều trầm trệ. Trong lòng kính
ngưỡng chẳng được bao lâu thì lại xa cách. Nay được gặp
lại, lòng càng vui sướng, mong cùng chia sẻ đức hạnh [của
Ngài], mong được hỏi đạo, bày tỏ chỗ nghi. Nhưng dù ân
cần thưa thỉnh, mà vẫn không được thỏa nguyện, bàng hoàng
mất cả chí hướng; tâm trí chẳng biết phải nương vào
đâu”.[31]
Qua
những lời trên rõ ràng Chân Đế đã không đối đãi tốt
với Khải, huống hồ là “một học trò cưng và cộng sự
thân thiết” của ông. Thật vậy, chỉ sau khi Âu Dương Hột
chính thức mời Chân Đế dịch Nhiếp Đại Thừa Luận, Khải
mới trở thành người “bút thọ” của ông như chính Khải
cho biết.[32] Ta thấy lại điều này trong bài tựa của ông
cho bản dịch Câu Xá Luận.[33] Vì thế, nói rằng Khải là
học trò cưng và cộng sự thân thiết của Chân đế như Frauwallner
đã làm là trái với chính lời của Khải và như thế sẽ
tạo nên một biện giải sai lạc về quan hệ của họ. Quả
thật, Khải đã tự nhận là rất chính xác khi ghi lại những
gì Chân Đế nói như chính ông đã nhiều lần xác nhận. Ông
làm vậy, chỉ vì sợ rằng “nếu thay một chữ thì nghĩa
sẽ khác hoàn toàn”. Cuối cùng, mặc dù có lẽ Khải đã
làm việc với tất cả nhiệt huyết của mình nhưng dường
như Chân Đế đã chưa từng tỏ ra thân thiết với ông. Ta
có thể nói Chân Đế ít ảnh hưởng đến Khải trong suốt
quan hệ ngắn ngủi của họ. Vì thế khẳng định rằng bất
kỳ những gì Khải viết trong các tác phẩm của ông đều
phải đến từ Chân Đế có thể được loại bỏ một cách
dễ dàng và dứt khoát. Những gì ông đã viết là của riêng
ông, từ học vấn và suy nghĩ của chính ông. Như vậy, thời
điểm 1100 P.N ông đã ghi về Thế Thân không nhất thiết,
hoặc ngay cả tình cờ, xuất phát từ kiến thức hay các tác
phẩm của Chân Đế, vì chúng ta biết chắc rằng Chân Đế
không bao giờ định ra thời điểm đó về Thế Thân. Nhưng
nếu năm 1100 P.N không đến từ Chân Đế thì Khải lấy ở
đâu ra?
Trả
lời câu hỏi này mà không biết đến cuộc đời của Khải
một cách chi tiết thật là việc không dễ dàng. Ta biết rằng
Khải mất năm 568 sdl. Trong ghi chép của mình về đời Khải,
Yen K’o-Chun (1762-1843) nói rằng Khải đã “nổi tiếng trong
đời nhà Lương”.[34] Nhà Lương trị vì từ năm 502 đến
557 sdl. Vì thế, nếu Khải đã nổi tiếng dưới đời nhà
Lương và mất năm 568 thì chúng ta có thể đoán không sai rằng
ông phải sinh khoảng 501-510 sdl. Từ năm 500 sdl xuống đến
khi Khải mất, Phật giáo ở miền nam Trung quốc có hai điểm
nổi bật. Thứ nhất, các nghiên cứu tinh thâm văn hệ Bát
nhã và các luận thư Trung luận[35] đang diễn ra và được
học hỏi một cách sôi nổi bởi các nhân vật tiếng tăm
như Lương Võ đế và nhiều người khác. Chúng ta còn nghĩ
rằng Khải đã có mặt trong số những người này vì chính
Khải thú nhận rằng “ông đã vân du đến nhiều pháp đường”.
Sau
khi nghiên cứu các luận thư về Trung luận và văn hệ Bát
nhã, chắc chắn Khải sẽ nhận ra rằng tất cả những người
có thẩm quyền về Trung luận ở Trung quốc cho đến thời
ông đều đồng ý là Long Thọ ra đời sau Phật Niết bàn
chín thế kỷ.[36] Vì thế nếu Long Thọ sinh vào thời điểm
đó, dĩ nhiên Khải sẽ không ấn định thời điểm đó cho
Thế Thân, ngay cả khi điều này do Chân Đế nói ra.
Thứ
hai, đã có một khuynh hướng tái lập hệ truyền thừa Phật
giáo rập theo phổ hệ Trung quốc, dẫn đến sự xuất hiện
khắp nơi[37] nhiều hệ thống niên đại về các tổ sư Ấn
độ,[38] trong đó phổ biến nhất là Phó Pháp Tạng Nhân Duyên
Truyện.[39] Bản này có lẽ là một ngụy thư “được tạo
ra ở Trung quốc vào giữa hoặc cuối thế kỷ thứ sáu bằng
cách sưu tập các phần còn sót lại của các tác phẩm đời
trước”, trong đó “danh sách hai mươi bốn vị tổ là sản
phẩm của cùng ngụy thư trên” như Maspéro đã chứng minh.[40]
Danh sách các vị tổ này chỉ là “một trong số nhiều dòng
truyền thừa của các luận sư Phật giáo được quảng bá
ở Trung quốc vào thời kỳ đó”. Dù ta có thể bác bỏ khẳng
định truyền thống cho rằng Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện
là do Cát Ca Dạ (Kikeya) dịch năm 472 sdl và đồng ý với Maspéro
rằng nó chỉ là một tác phẩm ngụy tạo, ta vẫn phải thừa
nhận danh sách hai mươi bốn hoặc hai mươi ba vị tổ đã
lưu truyền vào thời Huệ Khải dưới dạng này hay dạng khác.
Bản
này liệt kê tên các tổ, gồm cả Long Thọ và Thế Thân,
cách nhau bởi sáu vị khác là Ca Na Đề Bà (Kanadeva), La Hầu
La (Rahūlatā), Tăng Già Nan Đề (Sanghanandi), Tăng Già Da xá
(Gayasata), Cưu Ma La Đà (Kumārāta), và Xà Dạ Đa (Jayata). Tóm
lại, từ Long Thọ xuống đến Thế Thân có tất cả tám vị
tổ. Xét thời gian làm việc của mỗi vị trung bình khoảng
hai mươi lăm năm thì tất cả mất khoảng 200 năm. Đó có
lẽ là lý do Huệ Khải đề nghị “Thế Thân sinh vào một
ngàn một trăm năm hoặc nhiều hơn sau Phật Niết bàn”, chỉ
vì “Long Thọ sinh năm 900 P.N.”, tức sớm hơn 200 năm.
Nhưng
có thật sự Khải đưa ra năm sinh của Thế Thân là vì lý
do đó không? Ta không thể trả lời đầy đủ và chính xác
như ý muốn. Khải chỉ nói rằng ông dẫn từ một Biệt Truyện
nào đó. Péri lại đoán rằng đó chính là Bà Tẩu Bàn Đậu
Pháp Sư Truyện do Chân Đế viết hoặc dịch, vì các lý do
sau. Thứ nhất, nhan đề Biệt Truyện thường chỉ cho một
truyện ký được viết tiếp theo sau một truyện ký tiêu chuẩn
có sẵn, thường gọi là Bổn Truyện. Pháp Tạng thực sự
có đề cập một cuốn Bổn Truyện trong Hoa Nghiêm Kinh Truyện
Ký của ông. Vì thế Biệt Truyện của Khải phải được
viết sau Bổn Truyện. Thứ hai, Bổn Truyện trong trường hợp
này có nhiều chuyện kỳ lạ, một điểm đặc trưng của
tất cả các truyện ký khác thuộc La Thập, như truyện ký
về Long Thọ, Mã Minh (Aśvaghoṣa) và Thánh Thiên (Āryadeva),
v.v.. Vì thế, cuốn Bổn Truyện chắc hẳn đã được La Thập
viết và có thể đồng nhất với Bà Tẩu Bàn Đậu Truyện
mà Tỉnh Mại thuật lại là một truyện ký về Thế Thân.
Cuốn này cũng do La Thập dịch. Péri kết luận rằng nếu
Biệt Truyện rập khuôn theo Bổn Truyện thuộc La Thập thế
thì chắc chắn Biệt Truyện phải là Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp
Sư Truyện của Chân Đế. Tuy nhiên, kết luận này không giá
trị.
Trước
hết, chúng ta không thể tìm thấy chứng cứ nào trong tài
liệu Trung quốc ủng hộ thuyết của Péri cho rằng Bổn Truyện
được viết trước Biệt Truyện. Thật ra các sử gia Trung
quốc chưa bao giờ dùng đến chữ “Bổn Truyện”, và trong
nhiều phân loại khác nhau về thể văn truyện chưa có ai nhắc
đến từ ngữ “Bổn Truyện”.[41] Mặt khác, mọi người
đều biết từ “Biệt Truyện” được dùng để chỉ cho
một tuyển tập các huyền ký về cuộc đời của một người
và vì thế thường được xem như đồng nghĩa với truyền
kỳ tiểu thuyết.[42] Kết quả, ý kiến Péri cho rằng Biệt
Truyện phải được viết sau Bổn Truyện là không thể chấp
nhận. Và như vậy, lý do thứ hai ông đưa ra trở thành một
lập luận không nhất quán vì cuốn Bổn truyện Pháp Tạng
dẫn, mặc dù có đủ chuyện huyền thoại, không đòi hỏi
bản gốc Bổn truyện phải nhất thiết như thế. Trong vài
trường hợp có thể còn ngược lại. Hai truyện ký sau sẽ
minh chứng trường hợp này.
Truyện
ký thứ nhất kể về cuộc đời một vị sư tên Đàm Hoằng
(khoảng 425-454), đã đến Việt Nam và đã nỗ lực tu tập
pháp môn niệm Phật A Di Đà. Hơn hai mươi năm sau, một cuộc
tranh cãi dữ dội đã nổ ra giữa các vị cao tăng Huệ Lâm,
Đạo Cao, Pháp Minh và vua Lý Miễu về lý do tại sao những
người tu theo đạo Phật không thể tận mắt nhìn thấy đức
Phật. Để chứng minh cách tu Niệm Danh Hiệu Phật có thể
đem lại kết quả cụ thể cho những ai thành tâm, Đàm Hoằng
đã tự thiêu và “người ta nhìn thấy thân thể ông chiếu
sáng vàng rực trên không, cỡi con nai vàng đi nhanh về hướng
tây”.[43] Đó là cách cuộc đời của Hoằng được mô tả
trong Cao Tăng Truyện của Huệ Kiểu với câu kết là “dân
chúng đã thu thập di thể của Hoằng để gìn giữ trong một
cái tháp”. Khi câu chuyện này được Giới Chu kể lại trong
Tịnh Độ Vãng Sinh Truyện, vì không vừa ý với câu chuyện
li kì này ông đã thêm rằng “sau khi tìm kiếm trong đống
tro tàn, các đệ tử của ngài đã nhặt được hàng trăm
xá lợi (śārirās) và đã lập đền để thờ”,[44] một
chi tiết không thể tin được cũng như toàn thể câu chuyện.
Truyện
ký thứ hai liên quan đến một nhà sư Việt Nam tên Khuy Xung,
người đã đi chiêm bái ở Ấn vào khoảng năm 680 sdl và đã
gặp Nghĩa Tịnh ở đó. Tài liệu về cuộc đời ông được
tìm thấy trong Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện
của Nghĩa Tịnh. Năm trăm năm sau trong cuốn Tam Bảo Cảm Ứng
Yếu Lược Lục của mình,[45] Phi Trược đã viết lại tiểu
sử Khuy Xung với nhiều chi tiết li kì không thấy Nghĩa Tịnh
nói đến trước đây, như lòng thành tín của Xung đối với
vị thánh giả đã tán trợ mình là Phổ Hiền (Samantabhadra).
Thế nhưng ông lại nói rằng ông đã lấy tài liệu từ Nghĩa
Tịnh. Qua các thí dụ này, ta có thể thấy Pháp Tạng có lẽ
đã trần thuật tường tận về cuộc đời của Thế Thân,
được rút từ Bổn Truyện. Trong bất cứ trường hợp nào
đi nữa, ta thấy không thể có bất cứ liên hệ nào giữa
Bổn Truyện và Biệt Truyện, cũng như giữa chúng và Bà Tẩu
Bàn Đậu Truyện của La Thập và Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư
Truyện của Chân Đế. Tất cả những gì ta có thể nói là
Biệt Truyện chắc chắn phải được lưu truyền trước thời
của Huệ Khải cho nên ông mới có thể dùng nó như một trong
các nguồn tài liệu. Trong sự kết nối này có thể Biệt
truyện không gì khác hơn chính là tiểu sử của Thế Thân
ở trong Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện, mặc dù nếu đúng
như vậy, ta cũng không thể giải thích tại sao trong bản Phó
Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện hiện nay không tìm thấy ngày
tháng của Thế Thân. Tuy thế ta có thể chắc chắn rằng thời
điểm 1100 P.N. về Thế Thân có nguồn gốc ở Biệt truyện.
Rất có khả năng, thời điểm này sẽ được biết khi liên
kết với thời điểm 900 P.N. về Long Thọ, bởi vì dường
như đây là đề nghị có vẻ hợp lý nhất vào lúc này.
Vấn
đề về ngày tháng của Long Thọ cũng rắc rối và phức tạp
không kém trường hợp của Thế Thân. Mặc dù chính La Thập
không đưa ra bất kỳ thời điểm riêng biệt nào về Long
Thọ nhưng những gì những đồng sự của ông đã viết lại
cho chúng ta một cái nhìn khá rõ về thời điểm Long Thọ
ra đời. Trong bài tựa cuốn Đại Trí Độ Luận, Huệ Viễn
nói:
“Có
vị Bồ tát Đại thừa, tên là Long Thọ, sinh ở Ấn độ,
xuất thân từ chủng tộc Bà la môn; sau nhiều đời tích tập
công đức, tâm ngài khế hợp với cõi này, đón nhận vận
mệnh chín trăm [năm], an ủy thời kỳ suy bạc ...”[46]
Tăng
Triệu (383-414) có cùng ý kiến khi ông viết về Thánh Thiên
như sau:
“Hơn
tám trăm năm sau Phật Niết bàn có một Bồ tát tăng tên Đề
Bà”.[47]
Tăng
Duệ (352-436) cũng diễn tả ý tương tự trong bài tựa của
ông cho Đại Trí Độ Luận:
“Vì
thế, Mã Minh khởi vào thời gian còn lại của thời kỳ Chánh
pháp; Long Thọ sinh vào thời gian cuối của thời kỳ Tượng
pháp”.[48]
Vì
thế, theo lời kể của chính họ, tất cả những người đồng
sự của La Thập đều đồng ý Long Thọ ra đời hoặc “trong
thế kỷ thứ chín P.N.” hoặc “cuối thời kỳ Tượng pháp”.
Tất cả những người này đều sống và làm việc rất lâu
trước khi Huệ Khải ra đời.
Tuy
nhiên, khoảng hai mươi năm sau khi Khải mất, Cát Tạng (549-622)
viết Bách Luận Tự Sớ, trong đó có đoạn như sau:
“Thành
Thực Luận Tự của Sư Duệ, được viết sau khi Sư Thập
mất, có dẫn lời của Sư Thập nói rằng ba trăm năm mươi
năm sau Phật nhập diệt Mã Minh ra đời và năm trăm ba mươi
năm Long Thọ ra đời. Mã Minh hưng thịnh vào cuối thời kỳ
Chánh Pháp và Long Thọ khởi vào đầu thời kỳ Tượng pháp.”[49]
Trong
Trung Quán Luận Sớ, Tạng nhắc lại ý trên với cách hành
văn hơi khác:
“Thành
Thực Luận Tự của Sư Duệ dẫn lời Sư Thập nói rằng Mã
Minh sinh năm 350, và Long Thọ năm 530.”[50]
Như
vậy, theo Cát Tạng, cả Tăng Duệ và La Thập đều được
cho là đồng ý với nhau về việc Long Thọ “khởi vào đầu
thời kỳ Tượng pháp” hoặc “sinh vào năm 530 P.N.”, hoàn
toàn ngược lại với khẳng định của chính Tăng Duệ là
“Long Thọ sinh vào cuối thời kỳ Tượng pháp”. Quan điểm
trái ngược này có thể giải quyết ổn thỏa bằng cách loại
bỏ lời của Cát Tạng vì các tài liệu của ông có nguồn
gốc về sau. Tuy nhiên vì mới đây chúng đã được Lamotte
dùng để định ngày tháng của Long Thọ, ngay cả đến độ
không lý đến lời của Tăng Duệ,[51] cho nên sẽ có nhiều
điều hữu ích hơn nếu ta bàn qua về hiệu quả của những
gì mà cách dùng các tài liệu có ý nghĩa không rõ ràng có
thể mang lại.
Lamotte
cho rằng lời của Cát Tạng có thể diễn giải theo hai cách.
Nó có thể có nghĩa rằng Mã Minh sinh năm 350 P.N. và Long Thọ
năm 530 P.N.; hoặc nó cũng có thể có nghĩa rằng Mã Minh sinh
năm 350 P.N. và Long Thọ sinh sau Mã Minh 530 năm. Nếu chấp nhận
cách hiểu đầu và dùng thời điểm của La Thập về Phật
Niết bàn năm 637 tdl, chúng ta sẽ có Long Thọ sinh khoảng 107
tdl. Nếu hiểu theo cách sau, năm sinh của ông sẽ là 243 sdl.
Rồi Lamotte kết luận: “Rõ ràng chính thời điểm sau đã
được La Thập, các học trò của ông là Tăng Triệu và Tăng
Duệ, cũng như người cùng thời với ông là Huệ Viễn thừa
nhận”.[52]
Tuy
nhiên, kết luận này không giá trị vì trong bài tựa cho Thành
Thực Luận Tăng Duệ đã nói rằng “Mã Minh hưng thịnh vào
cuối thời Chánh pháp và Long Thọ khởi vào đầu thời Tượng
pháp”; như vậy, ta thấy rõ rằng Mã Minh và Long Thọ đã
nối tiếp nhau xuất hiện trên thế gian và không thể cách
nhau trong khoảng 530 năm như đã tưởng. Kết quả là khi phát
biểu trên nói rằng “vào năm trăm ba mươi năm Long Thọ đã
xuất hiện ở thế gian”, ta phải hiểu là chính năm trăm
ba mươi năm sau Phật Niết bàn, chứ không phải sau Mã Minh,
mà Long Thọ đã ra đời. Vì vậy, khi xem lời thuật của Cát
Tạng dẫn từ bài tựa Thành Thực Luận, ta phải chấp nhận
hay bác bỏ hẳn, chứ không phải chỉ một phần nào đó.
Nói
cách khác, hoặc chúng ta chấp nhận Long Thọ sinh năm 107 tdl
hoặc phải bác bỏ hoàn toàn, cho dù Robinson đã gọi kết
luận của Lamotte là một “đề nghị rất hợp lý khi cho
rằng con số 530 có nghĩa là 530 năm sau Mã Minh đúng hơn là
sau Phật Niết bàn”.[53] Thật ra, Robinson muốn nói rằng việc
truyền bá Thành Thực Luận đã gây ra một số vấn đề khó
khăn đáng kể.[54] Ngoài ra, trong bản Chú Duy Ma Cật Kinh của
mình,[55] Tăng Triệu có nhắc rằng Pārśva, thầy của Mã Minh,
có thể sinh năm 37 tdl nếu ta chấp nhận năm 637 tdl là thời
gian Phật Niết bàn. Hơn nữa, trong Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật
Đa Thích Luận Tự nay vẫn còn của Tăng Duệ, ông đã nói
rõ rằng “Mã Minh khởi trong thời Chánh pháp và Long Thọ
sinh cuối thời Tượng pháp”,[56] hoàn toàn trái với những
gì mà người ta nói là của ông do Cát Tạng trích dẫn. Vì
những lý do này, chúng ta nghĩ rằng không chỉ thứ tự thời
gian dựa trên tường thuật của Cát Tạng do Lamotte đề nghị
phải bị bác bỏ mà ngay cả tường thuật của Cát Tạng
cũng thế.
Như
vậy, vấn đề còn lại là các thông tin từ Huệ Viễn, Tăng
Triệu và Tăng Duệ. Viễn nói Long Thọ “đón nhận vận mệnh
vào chín trăm” năm (tiếp cửu bách chi vận) sau Phật Niết
bàn. Duệ nói “Long Thọ sinh cuối thời Tượng pháp”. Triệu
thuật “tám trăm năm hay hơn nữa sau Phật Niết bàn có một
Bồ tát tăng tên Đề Bà” mà người ta nói là học trò của
Long Thọ.[57] Tuy nhiên nếu Đề Bà ra đời và sống tám trăm
năm hoặc nhiều hơn sau Phật Niết bàn thì ta có thể khẳng
định rằng điều Huệ Viễn ám chỉ khi nói Long Thọ “đón
nhận vận mệnh vào chín trăm” là khoảng thời gian Long Thọ
đã trải qua hết đời ông sẽ kết thúc vào năm 900 P.N. Nói
cách khác, Long Thọ phải sống khoảng 750-850 P.N. như Ui đã
giả thiết.[58] Vì thế, nếu ta chấp nhận thời điểm Phật
Niết bàn là năm 637 tdl như La Thập đã định và chấp nhận
truyền thống Tây tạng cho rằng Long Thọ mất lúc 60 tuổi,
thì năm ra đời của ông vào “thế kỷ thứ chín” P.N sẽ
tương ứng sít sao với thời khoảng 113-173 sdl. Và việc ông
“đón nhận vận mệnh vào chín trăm” có nghĩa rằng ông
đã sống đến năm 173 sdl. Vì lý do đó, Long Thọ đã sống
và mất trong thế kỷ thứ II sdl và thời điểm 900 P.N không
chỉ cho cái gì khác hơn thế kỷ đó.
Nay
nếu thời điểm 900 P.N. tương ứng với thế kỷ thứ II sdl
thì đương nhiên thời điểm 1100 B.N dành cho Thế Thân sẽ
tương ứng với thế kỷ thứ IV sdl. Kết quả, ngay cả thời
điểm này, được Huệ Khải ấn định về Thế Thân, cũng
vẫn phù hợp với các thời điểm của Chân Đế và Huyền
Tráng. Vì thế, mặc dù tất cả đều thuật lại các thời
điểm khác nhau đối với Thế Thân, điều đã khiến cho cuộc
đời ông tưởng như trải dài hơn ba thế kỷ, nhưng trong
thực tế tất cả đều đồng ý Thế Thân đã sống vào thế
kỷ thứ IV sdl, khi mà tất cả các sự kiện đều đã được
mang ra ánh sáng và tách rời khỏi mọi giả định và giả
thiết không chắc chắn.
Với
kết luận này, rõ ràng Chân Đế đã không đưa ra hai thời
điểm khác nhau về Thế Thân, thời điểm ông đưa ra và của
Huệ Khải thuộc cùng một thế kỷ, và thời điểm của Huyền
Tráng không khớp với thế kỷ thứ V như Frauwallner đã nhận
sai,[59] mà lại khớp với thế kỷ thứ IV như Chân Đế và
Huệ Khải đã đồng ý. Từ đó, thuyết về hai Thế Thân
do Frauwallner giải thích bị bác bỏ. Không có bất kỳ chỉ
dẫn có thật nào nói rằng Chân Đế có đưa ra hai thời điểm
về Thế Thân, cũng như không có hai mà chỉ là một Thế Thân,
vị triết gia vĩ đại mà chúng ta biết đến.
Nhưng
mười năm sau, Frauwallner lại nhấn mạnh đến chứng cứ Yaśomitra
đề ra để hỗ trợ thêm giả thuyết của ông về hai Thế
Thân.[60] Những sự kiện liên quan đến Thế Thân trong văn
học Sanskrit không có tầm quan trọng đầy đủ so với văn
học Trung quốc. Hai sự kiện đáng chú ý nhất liên quan đến
việc Yaśomitra có đề cập một Vṛddhācārya Vasubandhu nào
đó và các vị vua triều Gupta, những người mà Thế Thân,
theo lời thuật của Chân Đế, đã có quan hệ. Những sự
kiện này đã được Lê Mạnh Thát[61] và sau đó là Anacker[62]
tra cứu và giải quyết một cách triệt để. Dưới đây là
tóm tắt những kết luận có sửa đổi chút ít của họ.
Thứ
nhất, cái tên Vṛddhācārya Vasubandhu hay Sthavira Vasubandhu chỉ
được nhắc đến ba lần trong tác phẩm của Yaśomitra: trong
Vyākhyā ad I 13-14c; ad III 27; và ad IV 2b-3b.[63]
1/
Vyākhyā ad I 13-14c, p 40:
aśrayabhutarūpanād
ity apara iti vṛddhācārya-vasubandhuḥ/ bhutagrahanam aśrayabhutapradarśanārtham/
ataś cetaraḥ prasanjayati/ evaṃ tarhi cakṣurvijñānādinam apīti
vistaraḥ/ cakṣurady-aśrayarūpanāt tadvijñāna-nām api rūpatvaprasaṅgaḥ/
visamo’yam upanyasa iti/ vṛddhācāryavasubandhudeśiyaḥ kaścit
pariharati/ avijñaptir hīti vistaraḥ/ chāya vṛkṣam upaslastāśritya
vartate/ prabhāpi maniṃ tathaiva/ utpattinimittamatraṃ tani teṣam
iti nopaslastaniti bhavaḥ/ tam itaraḥ pratyaha/ idaṃ tavad avaibhaṣikiyam
iti vistaraḥ/ naitad vaibhāṣikamatam/ vaibhāṣikamataṃ tu chāyavarņaparamanuḥ
svabhutacatuṣkam aśritya vartate/ . . .
2/
Vyākhyā ad III 27, p 43:
yoniśomanaskarahetuka’vidyokta
sūtrāntara iti/ (...)/ avidyāhetukaś cāyoniśomanaskara iti/ (...)
sa cehāpy upadanāntarbhutatvād ukto bhavatīti/ (...) apara iti/ sthaviravasubandhor
acāryo manorāthopadhyāya evam āha/ acārya āha/ katham iti vistaraḥ/
katham ayoniśomanaskarasyopadane’ntarhavaḥ/...
3/
Vyākhyā ad IV 2b-3b:
avasthānahetvabhavāt
(...)/ sthaviravasubandhu-prabhṛtibhir ayaṃ hetur uktaḥ/...
Đó
là ba đoạn trong Vyākhyā nơi Yaśomitra có nhắc đến Vṛddhācārya
hay Sthavira Vasubandhu. Đoạn thứ nhất nói rõ chính ý kiến
của Vṛddhācārya Vasubandhu cho rằng vô biểu nghiệp thuộc
sắc pháp vì nương vào sắc thân. Ý kiến này đã được
diễn tả trong Đại Tỳ Bà Sa (Mahāvibhāṣa)[64] và hiển nhiên
là được Câu Xá Luận thừa nhận.[65] Đoạn thứ hai đã
bị de la Vallée Poussin hiểu lầm khi cho rằng đoạn này muốn
nói Sthavira Vasubandhu chủ trương vô minh khởi từ phi lý tác
ý và rằng ông là thầy của Manorātha.[66] Thật ra hoàn toàn
ngược lại: chính Manorātha chủ trương thuyết trên và là
thầy của Sthavira Vasubandhu. Điều này loại bỏ một cách
hiển nhiên khả năng đã có một Vṛddhācārya Vasubandhu là
thầy của Manorātha, và vì thế cũng loại bỏ luôn khả năng
đã có hai Vasubandhu, một người là thầy và người kia là
trò của Manorātha, như de la Vallée Poussin và sau này là Wayman,
với chút thay đổi, đã đề nghị.[67] Hiểu lầm của de la
Vallée Poussin có lẽ xuất phát từ chính bản chép tay, trong
đó ghi: “sthaviro vasubandhur acāryo manorāthopādhyāya evam āha”,
câu văn mà N. N. Law đã sửa lại chính xác như đã trích ở
trên.
Người
ta có thể chống lại sự sửa văn này bằng cách chỉ ra rằng
Phổ Quang,[68] khi sớ giải cùng đoạn văn trên, đã thuật
rằng thuyết được đề cập ở trên là thuyết của một
“Thế Thân Trưởng Lão” nào đó. Tuy nhiên điều này không
thành vấn đề bởi lẽ nó không nói lên điều gì có thể
xem là mâu thuẩn với thuyết do Manorātha thành lập. Như vậy,
nó còn có thể được xem như chính là thuyết của Thế Thân.
Vì thế “Thế Thân Trưởng Lão” được Quang nói đến không
chỉ cho ai khác ngoài Thế Thân của Câu Xá Luận. Đoạn cuối
có nghĩa Sthavira Vasubandhu và những người khác nói rằng một
ngọn lửa diệt là vì không có trụ làm nhân (trụ vô vi nhân).
Đây lại chính là quan điểm của Thế Thân, và điều phản
bác lại “‘không có’ không thể làm nhân” (vô phi nhân)
thuộc về Tỳ Bà Sa.[69]
Trong
mỗi một trường hợp trên, rõ ràng thuyết được cho là
thuộc về Vṛddhācārya Vasubandhu hay Sthavira Vasubandhu thật
sự là thuyết được chính Vasubandhu của Câu Xá Luận chấp
nhận. Nhưng tại sao Yaśomitra lại có ý gợi lên tên của
Thế Thân trong những trường hợp này mà không có trong tất
cả các trường hợp khác trong tác phẩm ông. Và tại sao ông
lại gắn cho Vasubandhu sau một hình dung từ gây nhiều nghi
ngờ là “Vṛddhācārya”? Thật vậy, hình như khá kỳ lạ
khi tên của Thế Thân được gợi lên chỉ ba lần trong cả
cuốn Vyākhyā dài, trong khi ở những trường hợp khác tác
giả chỉ gọi ông là “Sư” mà không phải từ nào khác.
Tuy nhiên điều kỳ cục này sẽ dễ dàng tan biến nếu chúng
ta có thể nhớ rằng trong mỗi ba đoạn văn này đều chứa
đựng một vài ý kiến khác, và điều này sẽ dẫn đến
tình trạng tối nghĩa nếu cứ dùng mãi một từ “Sư”.
Về hình dung từ gây nghi ngờ “Vṛddhācārya”, chữ “vṛddha”
trong từ kép này không nhất thiết có nghĩa là “xưa cũ”,
như chúng ta thường nghĩ để rồi tiếp tục diễn giải rằng
cụm từ này chỉ cho một vị sư nào đó vào thời xưa, giống
như Frauwallner và Wayman đã làm. Bởi vì nó cũng có nghĩa là
“cao cả”. Trong trường hợp này “vṛddhācārya”
đồng nghĩa với “sthavira”, “trưởng lão”. Trong sự nối
kết này, một khi Thế Thân được xưng là vṛddhācārya thì
Vô Trước sẽ được Yaśomitra xưng là “pūrvācārya”, có
nghĩa là “cổ đức” hay “tiên sư”. Vô Trước là bậc
“cổ đức” đối với Yaśomitra và chắc chắn là bậc “tiên
sư” đối với ông và Thế Thân, vốn là một trong những
người đi theo ông. Tóm lại, việc Yaśomitra có đề cập đến
Vṛddhācārya Vasubandhu không cho thấy một chút chứng cứ nào
để chống đỡ giả thuyết hai-Thế Thân.
Thứ
hai, Chân Đế thuật rằng Thế Thân sống dưới triều vua
có tên là Vikramāditya và đã dạy cho con trai nhà vua cho đến
khi vị thái tử này lên ngôi và được biết đến dưới
danh hiệu Bālāditya.[70] Nói cách khác, Thế Thân là thần dân
của hai vị vua này. Một số vua của triều đại Gupta mang
tên Vikramāditya và Bālāditya. Thí dụ như Candragupta được
gọi là Candragupta Vikramāditya, giống hệt như Skandhagupta được
gọi là Skandhagupta Vikramāditya. Tương tự, Govindagupta và Narasimhagupta
đều kèm theo danh hiệu Bālāditya. Ngoài ra, khi bình về câu
thơ “soyaṃ samprati Candraguptanayaś candraprakāśo yuvā/ jāto
bhūpatir āśrayaḥ kṛta-dhiyām distyā kṛtārthaśramaḥ//
(Chính người con trai này của Candragupta, trẻ tuổi, chiếu
sáng như mặt trăng, người tán trợ các văn nhân lỗi lạc,
bây giờ đã trở thành chủ và xứng đáng với lời chúc
tụng về những nỗ lực thành công của người)”, Vāmana
đã viết trong Kāvyālankārasūtravṛtti rằng trong bài thơ trên
“‘người tán trợ các văn nhân lỗi lạc’ hàm chứa một
đề cập đến sự giáo huấn của Thế Thân”[71] (Āśrayaḥ
kṛta-dhiyām ity asya Vasubanhu-sācivyopakśepa-paratvāt sābhiprāyatvam).
Như vậy, nếu thông tin của Vāmana đáng tin cậy thì Thế
Thân phải là thần dân của Candragupta Vikramāditya, được
cho là trị vì khoảng từ 375 đến 415 sdl. Vì vậy, nếu Thế
Thân thực sự sống trong thế kỷ thứ IV, ông không thể là
thần dân của vua Bālāditya như Chân Đế nói, vị vua đã
nối ngôi Candragupta vào đúng hoặc ngay sau năm 415 sdl. Thật
ra, Frauwallner đã dựa vào sự sai lệch này để thuyết phục
người khác về sự chính xác của giả thuyết ông đưa ra.
Ông lập luận rằng trong tất cả các vua triều Gupta mang hiệu
Vikramāditya và Bālāditya, chỉ có hai người được biết là
nối ngôi nhau: đó là Skandhagupta Vikramāditya (tại vị: 455-467)
và Narasimghagupta Bālāditya (tại vị: 467-473). Vì thế họ phải
là các đời vua mà Vasubandhu đã sống, như Chân Đế thuật
lại. Vì lý do đó, Frauwallner lập luận, tiểu sử về Thế
Thân do Chân Đế dịch phải bao gồm hai cuộc đời khác nhau
của hai Thế Thân khác nhau, một người sống vào thế kỷ
thứ IV và một người vào thế kỷ thứ V. Thế nhưng luận
chứng của ông không có nền tảng. Thứ nhất, có một vua
khác tên là Prakaragupta không kèm theo danh hiệu Bālāditya đã
trị vì một thời gian ngắn ngay sau Skandhagupta và trước khi
Narasimhagupta lên ngôi. Thứ hai, Chân Đế thuật rằng liên
hệ giữa Vikramāditya và Bālāditya là liên hệ cha con, trong
khi Narasimhagupta không phải là con của Skandhagupta; điều này
rõ ràng mâu thuẩn với việc Frauwallner đã đồng nhất Narasimhagupta
và Skandhagupta với Bālāditya và Vikramāditya. Vậy thì, phải
giải quyết như thế nào vấn đề được nêu ra ở trên?
Nhờ khám phá được một loạt các bản khắc, tìm thấy ở
Vaiśālī, ta biết được rằng sau vua Candragupta Vikramāditya
còn có một Vua Trẻ tên Govindagupta mang hiệu Bālāditya.[72]
Các bản khắc này được ban bố nhân danh vị Vua Trẻ. Bản
thứ nhất, kết hợp với mẹ của vua, ghi:
“Mahārājādhirāja
Śrīcandraguptapatnī mahārāja-srīgovindagupta-mātā mahādevī śrīdhṛuvasvaminī
śrīyuvarājabhattārakapadīya-kumārāmātyādhikāranasya”.
Điều
này cho thấy một cách rõ ràng liên hệ gì Govindagupta đã
có với Candragupta. Bản khắc ghi:
“Vợ
của Srī Candragupta, Hoàng Đế, Đại Vương của các Vua, mẹ
của Đại Vương Govindagupta, Māhādevī Srī Dhṛuvasvaminī (ban
bố điều này) từ cung Thái tử-đại thần đến đấng Tối
Cao, Vua Trẻ”.
Vì
thế, vua Candragupta Vikramāditya là cha của Govindagupta; Dhruvadevī
là mẹ của Govinda và là vợ của nhà vua. Bản khắc thứ
hai được ban bố kết hợp với các đại thần dưới quyền
ông:
“Mahārāja-Govindagupta-Bālādityo
yuvarājabhattārakapadāyablādhikāraņasya”.
Điều
này cho chúng ta biết danh hiệu của Vua Trẻ và Đại Vương
Govindagupta là gì. Bản khắc ghi:
“Đại
Vương Govindagupta Bālāditya (ban bố điều này) từ Phủ Quân
vụ của Đấng Tối Cao, Vua Trẻ”.
Vì
thế, Govindagupta, con trai của Candragupta Vikramāditya, đã có
hiệu là Bālāditya. Như vậy, chúng ta có hai vua thuộc triều
Gupta có liên hệ cha con mang hiệu Vikramaditya và Bàlàditya mà
Chân Đế đã nói đến. Vậy thì có phải chính họ là Vikramāditya
và Bālāditya mà Chân Đế nói đến?
Để
trả lời câu hỏi này, ta gặp ngay hai khó khăn. Thứ nhất,
Candragupta Vikramāditya được cho là trị vì giữa các năm 375-415
sdl và vì vậy loại trừ bất cứ khả năng nào cho rằng Thế
Thân có thể đã sống dưới đời vua kế vị có hiệu là
Bālāditya, như Chân Đế thuật, nếu chấp nhận Thế Thân
sống vào thế kỷ thứ IV. Thứ hai, không thể chứng minh rằng
Govindagupta thật sự nối ngôi Candragupta. Trước hai khó khăn
này, Lê Mạnh Thát đã đề nghị định lại niên đại của
các vua triều Gupta, giả thiết rằng họ đã trị vì khoảng
hai mươi năm trước thời điểm được định lâu nay.[73]
Hướng giải quyết này không phải không làm được, cho dù
điều này có thể dẫn đến việc tái ấn định thời gian
toàn bộ lịch sử Ấn độ. Tuy nhiên mới đây Anacker đã
lưu ý rằng danh hiệu Yuvarājan được gắn cho Govindagupta[74]
và được chứng thực qua các bản khắc ông ban bố có thể
xem như chỉ ra rằng Govinda đã lên ngôi làm “Vua Trẻ”,
khi Candragupta vẫn còn sống. Thật ra, từ yuvaràjan thường
được dịch là “Hoàng Thái Tử”, nhưng như Anacker nhận
ra, nó phải dịch là “Vua Trẻ”, để đối lại với “Vua
Già”. Vậy thì, trong trường hợp đó Vua Trẻ Govindagupta
đã ban bố các bản khắc được phát kiến ở Vaiśàlì vào
khi nào?
Do
các bản khắc được tìm thấy ở Vaiśālì (Besarh), ta có
thể giả định một cách chính xác khả năng sau đây. Thứ
nhất, khi Pháp Hiển đến Ấn vào những năm 399-412 sdl, ông
đã thuật lại rằng Pātaliputra là kinh đô của dòng họ Gupta.[75]
Thứ hai, từ các nguồn tài liệu khác ta còn biết rằng Candragupta
có thời đã xây dựng Ujjain làm kinh đô trong chiến dịch
chống lại người Tây Kṣātrapa của Gujerat.[76] Thứ ba, dù
không có bi ký chứng minh, một số tài liệu đời sau có nói
rằng Dhṛuvadevī nguyên là vợ của người anh của Candragupta
II là Rāmagupta, người đã giao nạp bà cho Sakasatrap vì bị
đe dọa. Tuy nhiên nhờ lòng can đảm của Candragupta II, bà
đã được giành lại, và chẳng bao lâu sau khi Candragupta lật
đổ Rāmagupta, để đền ơn, bà đã làm vợ Candragupta. Sử
ghi Candragupta lên ngôi năm 375 sdl.[77] Vì thế, Dhṛuvadevī hẳn
phải trở thành vợ của ông không lâu sau thời điểm này,
và một năm sau đó, có lẽ năm 376 sdl thì sinh ra Govindagupta.
Với tất cả những chứng cứ gián tiếp này, ta có thể đi
đến các kết luận sau.
Về
Govindagupta, chắc chắn ông đã được phong hiệu “Vua Trẻ”
vào khoảng năm 390 sdl bởi vì mười sáu tuổi là độ tuổi
thông thường đối với một thái tử lên ngôi làm Vua Trẻ.
Vào khoảng 390 sdl, Candragupta mở chiến dịch chống lại người
Tây Kṣātrapa và đã chọn Ujjain làm kinh đô trong một thời
gian. Vì Pātaliputra từng là kinh đô trong những năm 399-412
cho nên Govindagupta Bālāditya, sau khi được phong làm Vua Trẻ,
phải là vị thái tử nhiếp chính khi cha mình vắng mặt trong
suốt chiến dịch đó. Chiến dịch này có lẽ đã kéo dài
hơn hai năm ở thung lũng trung lưu sông Hằng, bao gồm cả Ayodhya
và Vaiśālī cũng như các thành phố khác. Vì vậy, các bản
khắc Vaiśālī do ông ban bố chắc hẳn nằm trong thời gian
này, tức những năm 390-395 sdl.
Vì
vậy, sự thực là Candragupta và Govindagupta đã có liên hệ
cha con và mang các hiệu Vikramāditya và Bālāditya, và Thế Thân
đã sống dưới hai đời vua nối tiếp nhau này như Chân Đế
thuật. Candragupta và Govindagupta là hai vị vua Gupta duy nhất
có điểm đăc biệt trên, một điểm mà không có vua nào có,
ngay cả Skandhagupta và Narasimghagupta. Như vậy trong kết cấu
này, Thế Thân đã hoạt động trong suốt phần còn lại của
đời ông, qua hết khoảng thời gian những năm 380-390 sdl, trong
đó ông là người giáo huấn cho Govindagupta trẻ tuổi và đã
qua đời chẳng bao lâu sau khi Govindagupta trở thành Bālāditya.
Govindagupta tự phong cho mình tước hiệu Bālāditya và tự xưng
là “Vua Trẻ” và “Vua Lớn” lúc cha mẹ ông vẫn còn sống.
Thật vậy, như ta đã thấy, mẹ ông đã nói về ông là vị
Vua Trẻ khi bà ban bố bản khắc có liên quan đến ông. Vì
vậy, thật lâu trước khi triều đại Candragupta chấm dứt
năm 415, đã có một Govindagupta Bālāditya nắm quyền cai trị
ở Vaiśālī và vùng phụ cận. Từ điều này, ta còn có thể
kết luận rằng Vasubandhu hẳn đã mất khi cả Vikramàditya
và Bālāditya vẫn còn sống, tức khoảng 395 sdl.
Một
điều vô tình và hoàn toàn bất ngờ là sự cộng tác chung
giữa họ còn có thể giúp ta lập lại chính xác một thời
điểm cuối cùng về Thế Thân, một thời điểm trong trường
hợp này không gì khác hơn năm 395 sdl và là thời điểm mà
các sử liệu Trung quốc đã không đưa ra được. Kết quả,
việc Chân Đế đề cập đến Vikramāditya và Bālāditya không
đặt ra vấn đề nan giải nghiêm trọng nào; trái lại, nó
còn có ích một khi một số khó khăn liên quan đến điều
này được giải quyết đúng.
Như
vậy, các dữ liệu của cả Trung quốc và Ấn độ đều cho
chúng ta một hình ảnh rõ ràng và sắc nét về Thế Thân.
Ông đã mất khoảng 395 sdl, ở tuổi 80. Vì vậy, ông ra đời
khoảng năm 315 sdl ở Puruṣapura trong một gia đình Bà la môn.
Ông có một người anh nổi tiếng là Vô Trước, và một người
em tên Virincivatsa. Vì Puruṣapura, cũng giống như toàn bộ Vương
quốc Gandhāra, vẫn là căn cứ địa của Phật giáo Hữu bộ
(Sarvāstivāda), cả Vô Trước và Thế Thân đều xuất gia theo
bộ phái này. Chẳng lâu sau đó, Vô Trước không vừa lòng
với giáo lý bộ phái này nên quay sang nghiên cứu với Di Lặc
(Maitreya) và kết quả là rất nhiều tác phẩm đã ra đời
từ sự hợp tác này, trong đó tác phẩm nổi tiếng và đồ
sộ nhất chắc chắn là Du Già Sư Địa Luận (Yogācārabhūmiśāstra).
Chẳng
bao lâu Thế Thân cũng không hài lòng với bộ phái đó. Nhưng
trước khi ra đi, ông đã viết bộ Câu Xá Luận nổi tiếng,
là một bản tóm tắt có phê phán về học thuyết của bộ
phái này.
Trong
tác phẩm này, lần đầu tiên ông đặt ra những vấn đề
đã chiếm hết nỗ lực suy tư của ông và công khai phá hủy
tất cả các vấn đề ngụy tạo mà Hữu bộ đã gán cho Phật
giáo. Có lẽ ông chỉ mới ba mươi tuổi khi viết xong bộ
luận này, tức khoảng năm 345 sdl. Từ năm 345 đến khoảng
năm 355 sdl ta không biết rõ những gì Thế Thân đã làm. Có
lẽ, nhiều tác phẩm luận lý được cho là của ông đã được
viết ra suốt thời gian đó. Vào năm 355 sdl, có lẽ Thế Thân
hoàn toàn bất mãn với luận lý và tất cả các vấn đề
liên quan. Vào lúc đó, Vô Trước ngã bệnh và cho người gọi
Thế Thân. Trong lần hội ngộ này, chắc hẳn Thế Thân đã
bàn luận với Vô Trước về nhiều vấn đề ông cưu mang
bấy lâu và kết quả là một loạt các tác phẩm mới ra đời,
những tác phẩm sau đó đã lập thành những gì thường được
gọi là tư tưởng về Thức (Vijñānavāda). Từ 355 sdl cho đến
khi ông mất năm 395 sdl, ông đã viết nhiều tác phẩm, gồm
Viṃśatikā, Triṃśikà, Trisvabhāvanirdeśa, Karmasiddhiprakaraṇa,
Vyākhyāyukti, v.v. cùng các sớ giải về nhiều bộ kinh cũng
như về các tác phẩm của Vô Trước và Di Lặc; đồng thời
ông cũng sáng tác một số kệ tán như Sambharaparikatha, Śīlaparikatha,
v.v. Trong suốt thời gian này, rất có thể là ông đã sáng
tác bộ luận Paramārthasaptati, được lưu truyền sau khi ông
mất, để bác bỏ Sāṃkhya Vindhyavāsa, và ông đã từ chối
tranh biện với các luận sư Phật giáo khác của thời ông,
nhất là với vị luận sư nổi tiếng Chúng Hiền, lấy cớ
là ông đã già.
Qua
các tác phẩm của ông, có lẽ ông đã chịu nhiều ảnh hưởng
của tư tưởng và nhân cách người anh của mình cũng như
Di Lặc, mặc dù không phải là toàn bộ. Ông cũng đã viết
một sớ giải về Bách Luận của Thánh Thiên, một sớ giải
mà La Thập, theo lời thuật lại sau này của học trò ông
là Tăng Triệu, đã nói rằng đó là tác phẩm duy nhất mà
ông đánh giá cao nhất.[78] Vào năm 375 sdl, có lẽ Thế Thân
vẫn đang sống ở Ayodhyā, vốn là “kinh đô định cư”
của Candragupta trong một thời gian, nơi ông được nhà vua
mời dạy cho con trai mình. Chính ở Ayodhyā, không xa với Vaiśālī
nơi học trò ông, Govindagupta Bālāditya, cư ngụ, mà Thế Thân
đã sống hết những ngày cuối cùng của đời ông. Ông mất
đi, ở tuổi tám mươi, vào năm 395 sdl, kết thúc sự nghiệp
hoàn bị của một người cầm bút, đối với bản thân cũng
như xã hội.
Trên
đây là một trần thuật sơ thảo về cuộc đời của Thế
Thân được hình thành từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau
của Chân Đế, Huyền Tráng và Bu-sTon.[79] Chúng ta cũng đã
đề cập đến nhan đề một số tác phẩm của ông. Lamotte
đã nói: “Thế Thân đã viết quá nhiều”.[80] Ở Trung quốc
người ta còn gọi ông là Thiên Luận Sư.[81] Thật vậy, từ
những gì chúng ta có ngày nay, Thế Thân chắc chắn là một
người cầm bút quá phong phú. Mặc dù Chân Đế và Bu-sTon
đều cho chúng ta một bảng liệt kê tổng quát và sơ lược
về các tác phẩm của ông hiện còn đọc được, chúng ta
có thể căn cứ vào các tường thuật và các danh mục khác
của các bản dịch Trung quốc và Tây tạng để tái lập tạm
thời một danh sách các tác phẩm của ông, đã mất hay vẫn
còn nguyên hoặc từng phần mà chúng ta biết.
Trong
danh sách dưới đây, chúng tôi không có ý bàn đến tính xác
thực của mỗi tác phẩm được các tường thuật và danh
mục này cho là của Thế Thân. Chúng tôi chỉ lấy thông tin
từ giá trị bề mặt của chúng, ngoại trừ trường hợp
chỗ nào mà những thông tin như thế được biết rõ là ngụy
tạo, bởi vì một bàn luận thuộc loại đó thì không hợp
lý trong một nghiên cứu dành cho tư tưởng Thế Thân như nghiên
cứu này. Hơn nữa, vấn đề chân ngụy hình như phần lớn
chỉ xoay quanh các tác phẩm thuộc về danh mục sớ giải,
vốn không quan trọng bằng các tác phẩm độc lập của chính
Thế Thân, như đã nói. Vì thế, cốt để cho rõ ràng, tác
phẩm của ông sẽ được chia làm ba loại với các tiêu đề
Tác Phẩm Độc Lập, Sớ Giải, và Kệ Tán. Đối với mỗi
tác phẩm, nếu nhan đề Phạn ngữ vẫn còn thì nó vẫn được
giữ nguyên; nếu không, nhan đề Hán ngữ hoặc Tạng ngữ
sẽ được dùng tùy theo trường hợp. Các tác phẩm không
được tìm thấy ở đâu cả sẽ ghi là “Mất”. Các tác
phẩm hiện chỉ còn rời rạc sẽ ghi là “Phần”. Bất cứ
nhan đề nào vẫn còn nguyên chữ Phạn sẽ ghi là “Phạn”.
Những nhan đề nào vẫn còn qua các bản dịch Hán ngữ hoặc
Tạng ngữ hoặc cả hai sẽ ghi là “ĐTK X” (Đại Tạng Kinh)
hoặc “TT X” (Tam Tạng Tây Tạng), trong đó X thay cho số
thứ tự trong ấn bản hiện nay của Tam Tạng Trung quốc hoặc
trong ấn bản Suzuki hiện nay của Tam Tạng Tây Tạng.
I.
Tác phẩm Độc lập:
1.
Abhidharmakośa (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận): Phạn; ĐTK 1588,
1559 & 1560; TT 5590 & 5591.
2.
Vādavidhi : Phần.
3.
Vādavidhāna: Phần.
4.
Vādahṛdaya: Mất.
5.
Viṃśatikā (Nhị Thập Luận Tụng): Phạn; ĐTK 1588, 1589 &
1590; TT 5557 & 5558.
6.
Triṃśikā: (Tam Thập Luận Tụng): Phạn; ĐTK 1586 & 1587;
TT 5556.
7.
Trisvabhāvanirdeśa: Phạn; TT 5559.
8.
Pratītyasamutpādavyākhyā: Phần Phạn; TT 5560.
9.
Pañcaskandhaprakarana (Đại Thừa Ngũ Uẩn Luận): ĐTK 1612;
TT 5560.
10.
Đại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận: ĐTK 1614; TT 5564.
11.
Vyākhyāyukti: TT 5562.
12.
Vyākhyāyuktisūtrakhandaśata: TT 5561.
13.
Karmasiddhiprakaraṇa (Nghiệp Thành Tựu Luận): ĐTK 1608 &
1609; TT 5563.
14.
Triniḥsvabhāvaśāstra (Tam Vô Tánh Luận): ĐTK 1617.
15.
Buddhatāśāstra (Phật Tánh Luận): ĐTK 1610.
16.
Tarkaśāstra (Như Thực Luận): Phần; ĐTK 1633.
17.
Chuyển Thức Luận: ĐTK 1587.
18.
Hiển Thức Luận: ĐTK 1618.
19.
Vivṛtagūhyārthapindavyākhyā: TT 5553.
20.
Nirvāṇaśāstra (Niết Bàn Luận): ĐTK 1527.
21.
Aṣṭādaśaśūnyatāśāstra (Thập Bát Không Luận): Phần Phạn;
ĐTK 1616.
22.
Lục Môn Giáo Thọ Tập Định Luận: ĐTK 1607.
23.
Chỉ Quán Môn Luận Tụng: ĐTK 1655.
24.
Vajrasuciśāstra (Kim Cang Tiên Luận): ĐTK 1512.
25.
Pañcakamaguṇopalambhanirdeśa: TT 5680.
II.
Sớ Giải:
26.
Viśeṣacintabrāhmanaparipṛcchāsūtraṭīkā (Thắng Tư Duy Phạm
Thiên Sở Vấn Kinh Luận): ĐTK 1532.
27.
Āryākṣayamatinirdeśaṭīkā: TT 5495.
28.
Āryabhadracāryāpraṇidhānaṭīkā: TT 5516.
29.
Āryacaturdharmakavyākhyāna: TT 5490.
30.
Āryagayāśirsasūtraṭīkā (Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Vấn Bồ
Đề Kinh Luận): ĐTK 1532; TT 5492.
31.
Daśabhūmikasūtraṭīkā (Thập Địa Kinh Luận): ĐTK 1522; TT
5494.
32.
Saddharmapuṇḍarīìkasūtropadeśa (Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Ưu
Ba Đề Xá): ĐTK 1519 & 1520.
33.
Āryabhagavatīprajñāpāramitāvajracchedikāsaptārthaṭīkā (Kim
Cang Bát Nhã Luận; Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh Luận; Năng
Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Luận Thích): ĐTK 1510,
1511 & 1513; TT 5216.
34.
Amitāyursūtropadeśa
(Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá): ĐTK 1524.
35.
Dharmacakraparavṛttisūtropadeśa (Chuyển Pháp Luân Kinh Ưu Ba Đề
Xá): ĐTK 1533.
36.
Bodhicittotpādasūtraśāstra (Phát Bồ Đề Tâm Kinh Luận): ĐTK
1659.
37.
Āryasammukhidhāranivyākhyāna (Đại Môn Đà La Ni Kinh Luận):
ĐTK 1361; TT 5489.
38.
Buddhānusmṛtiṭīkā: TT 5487.
39.
Caturdharmakaratnoṣṇīsasūtropadeśa (Bảo Kế Kinh Tứ Pháp Ưu
Bà Đề Xá): ĐTK 1526.
40.
Niết Bàn Kinh Bổn Hữu Kim Vô Kệ Luận: ĐTK 1528.
41.
Di Giáo Kinh Luận: ĐTK 1529.
42.
Śataśāstravṛtti (Bách Luận): ĐTK 1569.
43.
Āryanirdeśaprakaraṇa (Hiển Dương Thánh Giáo Luận): ĐTK 1602.
44.
Mahāyānasaṃgrahabhāṣya (Nhiếp Đại Thừa Luận Thích): ĐTK
1595, 1596 & 1597; TT 5551.
45.
Mahāyānasūtrālamkaravyākhyāna (Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận):
Phạn; ĐTK 1604; TT 5527.
46.
Madhyāntavibhāgaṭīkā (Trung Biên Phân Biệt Luận): Phạn; ĐTK
1599, 1600; TT 5528.
47.
Dharmadharmatāvibhāgavṛtti; Phần Phạn; TTT 5529.
48.
Tryupasampadasūtropadeśa (Tam Cụ Túc Kinh Ưu Ba Đề Xá): ĐTK
1534.
III.
Kệ Tán và Kệ Tán Luận:
49.
Triratnastotra: TT 2057.
50.
Śīlaparikatha: TT 5421 & 5664.
51.
Sambharaparikatha: TT 5422 & 5666.
52.
Saptaguṇaparivadanakatha: TT 5420 & 5663.
53.
Ekagāthabhāṣya: TT 5488.
54.
Gāthāsaṃgrahaśāstra: TT 5603.
55.
Gāthāsaṃgrahaśāstrārtha: TT 5604.
IV.
Tạp phẩm:
56.
Paramārthasaptatī: Mất.
Như
vậy, có ít nhất năm mươi sáu tác phẩm của Thế Thân vẫn
còn biết đến và phần lớn còn giữ được qua các bản
dịch Hán văn và Tạng văn. Nhờ sự làm việc miệt mài của
nhiều học giả, đặc biệt là Frauwallner,[82] nhiều tác phẩm
lý luận của Thế Thân, trong đó Vādavidhi là tác phẩm gây
hứng thú đặc biệt nhất, đã được tái lập. Những gì
chúng ta biết về sự khám phá và những thành tựu của Thế
Thân trong lãnh vực luận lý sẽ xuất phát chính yếu từ
những dữ liệu được tái lập này. Mặc dù Tucci không tin
tưởng Như Thực Luận là tác phẩm của Thế Thân,[83] nhưng
do sự kiện tác phẩm này nói về biểu-đồ-suy-luận-năm-chi
và đã được trích dẫn trong Pramānasamuccaya của Trần Na,
giờ đây chúng ta không cần phải hoài nghi như thế, nhất
là sau các kết quả tra cứu được Takemura trình bày trong
tác phẩm thú vị của ông.[84] Vì thế, Như Thực Luận cùng
với các tác phẩm luận lý được tái lập khác của ông
sẽ có thể cho chúng ta một hình ảnh rõ ràng về luận lý
học Thế Thân là gì.
Trong
mối quan hệ này, cần phải chỉ ra rằng có thể Thế Thân
đã viết hai bản khác nhau của cùng một tác phẩm có nhan
đề Như Thực Luận. Bản thứ nhất mà những phần của nó
là bản dịch Hán văn chúng ta có được ngày nay có lẽ đã
được viết khi ông vẫn còn nghiên cứu về Chánh Lý Kinh
(Nyāyasūtra) và các bản kinh khác nói về thuật tranh biện.
Thật vậy, sự khác biệt chính tạo ra điểm đặc trưng của
nó là việc giới thiệu ba điều kiện cho sự thiết lập
giá trị loại suy thuộc kiểu Nyāyika đề ra.[85] Rất có khả
năng, Thế Thân đã viết nó trong khoảng những năm 335-340
sdl. và chắc chắn trước khi viết Câu Xá Luận. Bản thứ
hai là bản Trần Na đã dẫn trong Pramāṇasamuccaya của ông
liên quan đến thuyết cho rằng một loại suy có luận lý chỉ
cần hai chi chứ không phải ba hay năm.[86] Thuyết này, như
chúng ta sẽ thấy, được chính Thế Thân sử dụng để trình
bày tư tưởng của ông, trong Nghiệp Thành Tựu Luận chẳng
hạn. Vì thế bản này là một bản sao có duyệt lại của
bản đầu và được viết vào những năm sau này của đời
ông, có lẽ khoảng 370 sdl. Vấn đề liên quan đến việc Thế
Thân thay đổi quan điểm về luận lý sẽ được bàn đến
sau. Những điều trên cũng đủ để nói ngay lúc này rằng
việc chúng tôi liệt kê Như Thực Luận vào danh sách các tác
phẩm của ông không phải là việc làm không có lý do và chứng
cứ.
Cũng
nhờ vào công việc ấn hành của nhiều nhà nghiên cứu mà
các bản gốc và các phần còn lại bằng tiếng Phạn của
nhiều tác phẩm của Thế Thân đã dược xuất bản, đặc
biệt là Abhidharmakośa,[87] Viṃśatikā và Triṃśikā,[88] Trisvabhā-vanirdeśa,[89]
Pratīyasamutpāda-vyākhyā,[90] Dharmadhar-matāvibhāgavṛtti,[91]
Mahāyānasūtralamkara- vyākhyāna[92] và Madhyāntavibhāgabhāṣya.[93]
Và chúng sẽ được sử dụng thường xuyên ở các chương
sau trong khi nghiên cứu về tư tưởng ông, dù rằng các bản
dịch và luận giải hiện nay của chúng vẫn không bị gạt
qua, nhất là các bản dịch Kośa, Viṃśatikā và Trisvabhāvanirdeśa
của de la Vallée Poussin,[94] bản dịch Viṃśatikā và Triṃśikā
của Lévi, và các luận giải của Ui về hai tác phẩm này.
◘
bản
dịch Việt: Đạo Sinh
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Nguyên tác Anh ngữ, The Philosophy of Vasubandhu. Tiếp theo tập
san 8.
[2]
Wassiljew, Der Buddhismus, St. Petersburg, 1860: 235 ff.
[3]
Péri, A Propos de la Date de Vasubandhu, BE FEO X (1911): 339-390.
[4]
Frauwallner, On the Date of the Buddhist Master of the Law Vasubandhu,
Roma, 1951.
[5]
Huệ Chiểu, Thành Duy Thức Luận Liễu Nghĩa đăng, ĐTK 1832:
658b3-28.
[6]
Péri, op. cit.: 257.
[7]
Huệ Chiểu, sđd., tr. 659c8-12; Lê Mạnh Thát, Sơ Thảo Lịch
Sử Hình Thành Văn Hệ Bát Nhã, Sài Gòn, 1986: 210.
[8]
Chân Đế, Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện, ĐTK 2049: 188a6-191a17.
[9]
Arthur F. Wright, “Biography and Hagiography: Hui-Chiao’s Lives of
Eminent Monks”, Silver Jubilee Volume of the Zinbun Kagaku Kenkyusho,
Kyoto University, Kyoto: Kyoto University Press: 408-412.
[10]
Huệ Khải, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Thích Luận Tự, ĐTK 1559:161a16-20:
Phật
diệt độ hậu thiên nhất bách dư niên, hữu xuất gia Bồ
tát danh Bà Tẩu Bàn Đậu . . . tạo đại tiểu thừa luận,
phàm số thập bộ . . . thạnh tuyên hành, mi bất tôn học.
Pháp sư đức nghiệp, cụ như biệt truyện.
[11]
Pháp Tạng, Hoa Nghiêm Kinh Truyện Ký, ĐTK 2073: 156b27-c10:
Bà
Tẩu Bàn Đậu Bồ tát, thử vân Thiên Thân, ư sơn trung thích
Thập Địa phẩm, điệp bổn kinh văn, y thứ tiêu giải. Bồ
tát sơ tạo luận thành, cảm kinh phóng quang minh sơn chấn
địa động. Kỳ quốc chủ thần dân, câu lai khánh hạ, thán
vi hy hữu thụy dã, quảng như bổn truyện . . . Hựu biệt
truyện vân, Thiên Thân tạo Hoa Nghiêm Kinh Luận ký vị hoạch
cụ bổn; thử Thập Địa hoặc thị.
[12]
Tĩnh Mại, Cổ Kim Dịch Kinh Đồ Kỷ, ĐTK 2151: 359b29.
[13]
Huệ Tường, Pháp Hoa Kinh Truyện Ký, ĐTK 2068: 49b13, 49c29; Cf.
Péri, op. cit.: 351-352.
[14]
Jaini, Fu ra wa li no shi no Se shin nendai ron ni tsuite, IBK I (1952):
202-208.
[15]
Jaini, On the Theory of Two Vasubandhus, BSOA S XXI (1958): 48-53.
[16]
Wayman, Analysis of the Śrāvakabhūmi Manuscript, Berkeley: University
of California Press, 1961: 19-24.
[17]
Lê Mạnh Thát, “Đưa Vào Việc Nghiên Cứu Triết Học Thế
Thân”, Tư Tưởng I (2), 1967: 211-258.
[18]
Phổ Quang, Câu Xá Luận Ký, ĐTK 1821; cf. Frauwallner,op. cit.;
Sakurabe, op. cit. p. 208.
[19]
Đạo An, Nhị Giáo Luận, trong Quảng Hoằng Minh Tập, ĐTK 2103:
142a18-20:
Hựu
y Thập pháp sư niên kỷ cập Thạch Trụ Minh tịnh dữ Xuân
Thu phù đồng, Như lai Chu Hoàn Vương ngũ niên tuế thứ Ất
sửu sinh, Hoàn Vương nhị thập niên tuế thứ Quý mùi xuất
gia, Trang Vương thập niên tuế tại Giáp ngọ thành Phật,
Tương Vương thập ngũ niên tuế tại Giáp thân diệt độ.
Chí kim nhất thiên nhị bách ngũ niên.
[20]
Thích Minh Châu, Hsuan Tsang the Pilgrim and Scholar, Saigon: Viện
Đại Học Vạn Hạnh xuất bản, 1966: 162.
[21]
Huyền Tráng, Đại Đường Tây Vức Ký, ĐTK 2087: 896b27-29:
Am-một-la
lâm tây bắc bách dư bộ hữu Như Lai phát trảo tốt-đổ-ba.
Kỳ trắc cố cơ thị Thế Thân bồ tát tòng Đổ sử đa thiên
hạ kiến Vô Trước bồ tát xứ. Vô Trước bồ tát Kiện-đà-la
quốc nhân dã; Phật khứ thế hậu nhất thiên niên trung đản.
[22]
Péri, op. cit., p.256; Frauwallner, op. cit.; Takakusu, A Study of Paramārtha’s
life of Vasubandhu and the Date of Vasubandhu, JRAS (1905): 51, note 1.
[23]
Ui, “Genjo izen no Indo sho ronshi no nendai”, trong Indo tetsugaku
kenkyu V, Tokyo, 1929: 134; Kajiyama, Bhāvaviveka, Sthiramati and Dharmapāla,
WZKSOA XII_XIII (1968/1969): 193-203.
[24]
Lê Mạnh Thát, sđd.
[25]
Ui, “Shintai sanzô den no kenkyu”, trong Indo tetsugaku kenkyu VI,
Tokyo, 1930: 6.
[26]
Ui, op. cit.: 122-128.
[27]
Frauwallner, op. cit.; Péri, op. cit.: 257.
[28]
Đạo Tuyên, Tục Cao Tăng Truyện, ĐTK 2060:430a19.
[29]
Huệ Khải, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích Tự, ĐTK 1595: 152c3-153b26;
sđd, A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận Sớ, ĐTK 1559, 161a3-b28.
[30]
Huệ Khải, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích Tự, ĐTK 1595, 152c16-21:
Huệ
Khải chí tàm phụ nang, cần quý tụ huỳnh, mậu đắc xỉ
tích học đồ, bẩm thừa huấn nghĩa, du ngụ giảng tứ, đa
lịch niên sở, danh sư thắng hữu, bị đắc tư tuân, đản
tông thiệp sơ thiển, toản ngưỡng vô thuật, tầm ba thảo
nguyên, đa sở vị ngộ, thử cái lự cùng ư văn tự, tư mê
ư hoằng chỉ, minh phát hưng sai, phụ tâm phi nhất, mỗi dục
thuận phong vấn đạo, nhi vị tri quyết lộ, hữu, Tạng Pháp
sư.
[31]
Huệ Khải, sđd: 153a1417:
Khải
tích thường thọ nghiệp, dĩ thiểu địch trầm tệ, phục
ưng vị cửu, tiện trí khuê vi. Kim trùng phụng trị, bội
hoài đạo vũ, phục dục san hòa bẩm đức, phỏng đạo trần
nghi, tuy ân cần thỉnh, nhi bất mông doãn toại, hoảng nhiên
thất đồ, tâm hồn mi thác.
[32]
Huệ Khải, sđd: 153a18-64:
Hành
châu Thích sử Dương sơn công Thế tử Âu Dương Hột, phong
nghiệp tuấn chỉnh, uy võ trinh bạt, cai duyệt văn sử, thâm
đạt trị yếu, sùng lan nội trạm, thanh huy ngoại ích, khâm
hiền vị đạo, đốc tín ái kỳ, cung vi thỉnh chủ, kiêm
thân lễ sự, pháp sư nãi hân nhiên thọ thỉnh, hứa vi phiên
dịch.
[33]
Huệ Khải, sđd.: 161b8-16.
[34]
Yen K’o Chun, Ch’uan shang ku san tai Ch’in Han San kuo liu ch’ao
wen, IV, Peking: Chung hua shu chu, 1958: 3501; Ch’uan Ch’en wen, ch.
18, f2b3.
[35]
Robinson, Early Mādhyamika in India and China, Madison: University of
Wisconsin, 1967: 165.
[36]
Huệ Viễn, Đại Trí Luận Sao Tự trong Xuất Tam Tạng
Ký Tập, ĐTK 2145, 75b 27-29; Cf. Robinson, op. cit. p. 211.
[37]
Ch’en, Buddhism in China, Princeton: Princeton University Press, 1964:
450; Lamotte, Histoire du Bouddhisme Indien, Louvain, 1958: 210-222.
[38]
Robinson, op. cit.: 21-25.
[39]
Phó Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện, ĐTK 2058: 321b22-29.
[40]
Maspéro, “Sur la Date et l’Authenticité du Fou fa tsang yin yuan
tchouan”, Mélanges Sylvain Lévi, Paris, 1911: 129-149. Cuốn này
không đề cập đến ý kiến của Kikeya về bản dịch của
nó vào khoảng 472 sdl, có lẽ vì còn nghi ngờ; Phó Pháp tạng
Nhân Duyên Truyên chắc hẳn đã tồn tại dưới dạng nào
đó trước năm 519 sdl vì Tăng Hựu, mất năm 519 sdl, đã biết
đến tác phẩm này. Để có thêm thông tin, xem Lê Mạnh Thát,
Nghiên Cứu Về Phú Pháp Tạng Nhân Duyên Truyện, bản đánh
máy, Sài Gòn, 1967.
[41]
Tetsuji Morohashi, Dai Kan Wa Jitan I: 881c-882b.
[42]
Tetsuji Morohashi, op. cit., II: 23c-240b.
[43]
Huệ Kiểu, Cao Tăng Truyện, ĐTK 2059: 405c19-28; cf. Lê Mạnh
Thát, Góp Vào Việc Nghiên Cứu Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam
Kể Từ Thế Kỷ Thứ Năm, Tư Tưởng I (1972): 69-88 & II
(1972): 55-80.
[44]
Giới Chu, Tịnh Độ Vãng Sinh Truyện, ĐTK 2071: 112a22-b7; Lê
Mạnh Thát, Nghiên Cứu Về Đàm Hoằng, bản đánh máy, Sài
Gòn, 1973.
[45]
Nghĩa Tịnh, Đại Đường Tây Vức Cầu Pháp Cao Tăng Truyện,
ĐTK 2066: 4b1-6; Phi Trược, Tam Bảo Cảm Ứng Yếu Lược Lục,
ĐTK 2084: 850a11-24; Lê Mạnh Thát, Về Pháp Sư Khuy Xung, sẽ
xuất bản.
[46]
Huệ Viễn, Đại Trí Luận Sao Tự, trong Xuất Tam Tạng Ký
Tập, ĐTK 2145: 75b27-29:
Hữu
Đại thừa cao sỹ, quyết hiệu Long Thọ, sinh vu Thiên Trúc,
xuất tự Phạm chủng, tích thành nẵng đại khế tâm tại
tư, tiếp cửu bách chi vận, phủ đồi bạc chi hội.
[47]
Tăng Triệu, Bách Luận Tự, ĐTK 1569: 167c13-14:
Phật
nê hoàn hậu bát bách dư niên, hữu xuất gia đại sỹ, quyết
danh Đề Bà.
[48]
Tăng Duệ, Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Kinh Thích Luận Tự, ĐTK
1509: 57a12-13 & 57b13-14: Thị dĩ Mã Minh khởi ư chánh pháp
chi dư; Long Thọ sinh ư tượng pháp chi mạt. Chánh dư dị hoằng
. . . truyện vân: tượng chánh chi mạt, vi Mã Minh Long Thọ;
đạo học chi môn, kỳ luân tư nịch táng hỹ.
[49]
Cát Tạng, Bách Luận Tự Sớ, ĐTK 1827: 233a8-11:
Duệ
sư Thành Thực Luận Tự thị Thập sư khứ thế hậu tác chi,
thuật Thập sư ngữ vân, Phật diệt hậu tam bách ngũ thập
niên Mã Minh xuất thế... Mã Minh hưng Chánh pháp chi mạt, Long
Thọ khởi Tượng pháp chi sơ.
[50]
Cát Tạng, Trung Quán Luận Sớ, ĐTK 1827, 233b23-25: Vấn: Long
Thọ ư Tượng pháp trung hà thời xuất da? Đáp: Duệ sư Thành
Thực Luận Tự thuật La Thập ngữ vân Mã Minh thị tam bách
ngũ thập niên xuất, Long Thọ thị ngũ bách tam thập niên
xuất.
[51]
Lamotte, L’Enseignement de Vimalakīrti, Louvain, 1962: 70-77; Lamotte,
Le Traité de la Grande Vertu de Sagesse, III, Louvain: Université de
Louvain, 1970: 51-55.
[52]
Lamotte, L’Enseignement de Vimalakīrti: 75-76: “C’est évidemment
cette dernière date qui fut adoptée par Kumārajīva, ses disciples Seng-tchao
et Seng-jouei et son contemporain Houei-Yuan. (...) Deux indices, relevés
par M. R. Hikata, permettent de controler l’exactitude de la date 243
P.C. proposée pour la naissance de Nāgārjuna”.
[53]
Robinson, op. cit.: 26.
[54]
Lê Mạnh Thát, Sơ Thảo Lịch Sử Hình Thành Văn Hệ Bát Nhã:
220-225.
[55]
Tăng Triệu, Chú Duy Ma Cật Kinh, ĐTK 1775: 399b5-27.
[56]
Tăng Duệ, sđd; Cát Tạng, sđd.
[57]
Đề Bà Bồ Tát Truyện, ĐTK 2048: 186c18; cf. Lamotte, L’Enseignement
de Vimalakīrti: 75; Cát Tạng, Bách Luận Tự Sớ, ĐTK 1827: 233a7-b1.
[58]
Ui, The Vaiśeṣika Philosophy, London: The Royal Asiatic Society, 1917:
42-43; Lê Mạnh Thát, Sơ Thảo Lịch Sử Hình Thành Văn Hệ
Bát Nhã: 220-221.
[59]
Frauwallner, op. cit.
[60]
Frauwallner, “Landmarks in the History of Indian Logic”, WZKSOA V (1961):
125-148; Die Weltliteratur, 3. Band, Wien, 1954: 1849; Die Philosophie
des Buddhismus: 531.
[61]
Lê Mạnh Thát, Đưa Vào Việc Nghiên Cứu Triết Học Vasubandhu:
30-36.
[62]
Anacker, Vasubandhu: Three Aspects: a Study of a Buddhist Philosopher,
Doctoral Dissertation, The University of Wisconsin, 1970: 8-26.
[63]
Yaśomitra, The Abhidharmakośavyākhyā of Yaśomitra, ed. N. N. Law,
London, 1949.
[64]
Kohuyaku Issaikuô, Abidatsuma bu 25: 25, note 155.
[65]
Abhidharmakośa, I, 13-14c, LVP: 23-27.
[66]
Abhidharmakośa, III, 27, LVP:70.
[67]
de la Vallée Poussin, “Notes Bouddhiques”, Bulletins de l’Académie
royal de Belgique XVI (1930): 15-19; L’Abhidharmakośa de Vasubandhu,
Introduction: xxvii-xxviii; Wayman, op. cit.
[68]
de la Vallée Poussin, op. cit.
[69]
Lê Mạnh Thát, Đưa Vào Việc Nghiên Cứu Triết Học Vasubandhu:
34-35.
[70]
Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện, ĐTK 2049: 190b.
[71]
Vamāna, Kāvyālamkārasūtravṛtti, Vanavilasam Press ed.: 86.
[72]
Besarh Seals of Govindagupta, IA (1923): 12.
[73]
Lê Mạnh Thát, Đưa Vào Việc Nghiên Cứu Triết Học Vasubandhu:
34-35.
[74]
Anacker, op. cit.: 9-10.
[75]
Pháp Hiển, Fo kuo chi, ĐTK 2085: 859b.
[76]
Saletore, Life in the Gupta Age: 84.
[77]
Saletore, op. cit.: 16-18.
[78]
Robinson, op. cit.: 33 & 248; cf. Péri, op. cit.: 375-376.
[79]
Chân Đế, Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện, ĐTK 2049: 191a;
Huyền Tráng, Đại Đường Tây Vức Ký, ĐTK 2087: 896b27-29;
Bu-sTon, History of Buddhism, Obermiller transl., Heidelberge, 1932: 136-147.
[80]
Lamotte, Introduction au Karmasiddhiprakaraṇa, MCB IV (1935/1936): 178-179.
[81]
Cát Tạng, Bách Luận Sớ, ĐTK 1827: 243c9-10
[82]
Frauwallner, Vasubandhu’s Vādavidhih, WZKSOA I (1957): 104-142; Miyasaki,
Vasubandhu oyobi Dignāga no dampen, IBK VII (1958): 23-33.
[83]
Tucci, Pre-Dinnāga Buddhist Text on Logic from Chinese Sources, Baroda:
Gaekwads Oriental Series, 1931, pp ix-xi; Buddhist Logic before Dinnāga,
JRAS (1929): 451-488.
[84]
Takemura, Seshin no ronrisho ni tsuite, Jojoron (Rtsod pa sgrub pa) no
ki suka o megutte, IBK VII (1958): 237-240; Cf. Frauwallner, Vasubandhu’s
Vādavidhiḥ, WZKSOA I (1957), Abhang II: 139-142; Stcherbatsky, Buddhist
Logic, Leningrad: Bibliotheca Buddhica