HUẤN
TỪ CỦA ĐỨC TĂNG THỐNG
NHÂN
MÙA AN CƯ PL. 2548
NAM
MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT
Kính
Thưa chư Đại Đức Tăng, cùng Bốn Chúng đệ tử.
2548
năm trôi qua kể từ khi hình ảnh của đấng Chí tôn khuất
dấu vô thường giữa rừng Câu-thi-na u tịch. Từ đó cỗ
xe chuyển dịch tuần hoàn vẫn tiếp tục lăn bánh, để lại
sau nó những vết tích của phú cường và huỷ diệt, bạo
lực và nhân ái; rải rác đó đây, trên những sa mạc khô
cằn, trong những đô thị trù phú, loài người đã góp nhặt
từng giọt máu đào, từng giọt nước mắt để tích luỹ
thành kiến thức, tạo dựng thành văn minh; từ những giá
trị cá biệt là căn nguyên xung đột giữa các cộng đồng
tôn giáo, dân tộc, dần tiến tới những giá trị phổ quát
phản ánh khát vọng và tâm nguyện muôn thuở của con người.
Những giá trị phổ quát, những quyền cơ bản làm nên giá
trị hiện hữu của con người càng lúc càng được thừa
nhận trong các cộng đồng dị biệt của nhân loại, coi đó
như là điều kiện thiết yếu tạo dựng một xã hội hoà
bình, an lạc, hoá giải hận thù, xoá bỏ bất công, áp bức
gây nên bởi tham vọng quyền lực, cuồng tín giáo điều.
Thông điệp bao dung, hỷ xả mà đức Thích Tôn trao truyền
cho các chúng Thanh văn và Bồ tát, tỏa sáng bằng các phẩm
tính từ bi và trí tuệ của tuệ giác vô thượng, ngày nay
dần dần được nhân loại đón nhận như là dấu hiệu chỉ
đường cho một thế giới nội tâm an lạc trong một thế
giới đầy sợ hãi vì bạo lực điên cuồng.
Thông
điệp ấy được truyền vào đất nước Việt nam cũng đã
2000 năm. Đức tính bao dung và những giá trị phổ quát của
phẩm giá con người được hàm chứa trong đó đã từng là
nguồn lực sinh tồn tác động, hình thành ý thức dân tộc.
Mỗi dân tộc, trong điều kiện địa lý và lịch sử cá biệt,
bằng vô vàn đau thương và khổ luỵ của nhiều thế hệ
tiếp nối, đã tạo dựng nên những giá trị truyền thống,
có đủ sức mạnh ý chí để tự khẳng định sự tồn tại
của mình bình đẳng với mọi dân tộc khác, dù lớn hay nhỏ.
Đó là bài học lịch sử được viết bằng tâm nguyện hy
sinh vô uý của lịch đại Tổ Sư, của nhiều thế hệ Phật
tử anh hùng, mà ngày nay hết thảy chúng đệ tử Phật, xuất
gia cũng như tại gia, cần phải tư duy chiêm nghiệm, tự trang
bị cho mình nhận thức chân chính, để nhờ đó mà tăng trưởng
tâm nguyện bồ đề, sức mạnh dũng cảm vô uý. Nếu không
được như thế, cộng đồng Phật tử Việt nam sẽ chỉ hiện
diện như những hội đoàn ô hợp đấu tranh theo quyền lợi
thế tục, mà công phu hành trì, công việc Phật sự lại chỉ
tập trung vào những hình thức bên ngoài và nghi lễ cúng bái.
2548
năm, giáo pháp của đức Thích Tôn được truyền bá lan dần
từ Đông sang Tây, từ cận vùng Nam cực cho tới vành đai
Bắc cực, bằng phương tiện duy nhất là thuyết giáo mà không
bạo lực hận thù, chỉ thấm nhuần hương vị duy nhất là
giác ngộ và giải thoát. 2000 năm lịch sử truyền thừa trên
đất Việt, cũng thuần một hương vị duy nhất được hòa
quyện bất khả phân bởi tinh hoa dân tộc và đạo pháp. Đó
là ý nghĩa tồn tại, mà cũng là sứ mạng, của các cộng
đồng Phật tử Việt nam trong đại khối cộng đồng dân
tộc.
Năm
nay, cũng như hằng nghìn năm trước, Tăng già và Phật tử
Việt nam cúng dường ngày đản sinh của đức Từ phụ, đấng
Đạo sư của chư thiên và nhân loại, bằng tín tâm thanh tịnh,
bằng công hạnh tu trì được tích lũy, đốt nén tâm hương
giới định huệ, cầu nguyện an lạc cho mình và cho nhiều
người, ích lợi trong đời này và đời sau.
Kính
thưa Chư liệt vị,
Ngay
sau ngày Phật đản, là ngày Tăng già Việt nam, gồm cả hai
bộ Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, kiết giới an cư theo truyền thống
Bắc phương. Mặc dù do sự sai biệt phong thổ, lịch pháp
và tập quán xã hội nên ngày tháng an cư của hai hệ truyền
thừa Nam Bắc không đồng, nhưng tất cả đều dựa trên một
nền tảng Tỳ-ni tạng, với những học xứ tương đồng của
giới bổn Biệt giải thoát. Nhân dịp này, tôi kính gởi đến
toàn thể Tăng già Viêt nam, chư Đại đức tỳ kheo và tỳ
kheo ni; gởi đến toàn thể bốn chúng đệ tử Phật, lời
thăm hỏi và chào mừng ngày mới của Mùa an cư 2548 như là
lời chúc tụng đầu năm trong đời sống đạo hạnh.
Mùa
an cư, các chúng Tỳ kheo và Tỳ kheo ni, trong từng trú xứ
riêng biệt, cùng hòa hiệp và thanh tịnh trong đồng nhất
trú xứ, và đồng nhất thuyết giới; là nền tảng phước
điền cho các chúng đệ tử xuất gia cũng như tại gia, lấy
đó làm y chỉ để tăng trưởng đạo lực, vun bồi gốc rễ
phước lạc nhân thiên và đạo quả Niết bàn.
Cũng
nhân đây, tôi xin nhắc lại bảy pháp bất thối mà đức
Phật đã chỉ dạy mà chúng Tỳ kheo và tỳ kheo ni cần phải
học tập, chấp hành; y chỉ trên đó mà tu trì để tăng trưởng
đạo lực cho mình và đồng thời củng cố bản thể thanh
tịnh và hòa hiệp của Tăng già, không bị lôi cuốn vào các
sự nghiệp thế gian, không bị chi phối và sử dịch bởi
các cộng đồng thế tục. Nguyên lai pháp bất thối được
Phật công bố do bởi Đại thần Vũ Xá theo lệnh vua A-xà-thế
thỉnh ý đức Phật về ý đồ xâm lược và trấn áp bộ
tộc Bạt-kỳ, ỷ thị sức mạnh của Vương quốc Ma-kiệt-đà
hùng cường. Nhân đó, Phật khiến A-nan tập họp tất cả
chúng tỳ kheo trong phạm vi thành Vương xá để nghe đức Phật
công bố bảy pháp bất thối. Cũng như một dân tộc không
bị đánh bại và khuất phục, nếu dân tộc ấy có đầy
đủ bảy pháp bất thối; cũng vậy, chúng Tỳ kheo sẽ không
thể bị khống chế bởi bất cứ sức mạnh dẫu hung tàn
như thế nào của thế lực cường quyền, nếu chúng Tỳ kheo
sống hòa hiệp bằng bảy pháp bất thối. Bằng vào ý thức
tự giác, chứ không bằng vào sự cưỡng chế pháp luật,
đức Phật công bố bảy pháp bất thối, mà Tăng trong một
trú xứ nếu không y giáo phụng hành, chúng tỳ kheo ở đó
chỉ là một tập thể ô hợp, nghĩa là như bầy quạ khi có
lợi thì cùng tụ nhau lại kêu la inh ỏi, khi hết lợi thì
tan tác bay đi. Bảy pháp bất thối như sau:
Các
tỳ kheo thường xuyên tập họp đúng theo các qui định bởi
Luật tạng, để giảng luận Chánh pháp, chứ không phải tập
họp để tuyên dương tán tụng sức mạnh quyền lực thế
gian, khiến cho các tỳ kheo trong trú xứ cùng sinh hoạt hòa
thuận.
Các
tỳ kheo phải tụ họp trong tinh thần hòa hiệp không tranh
chấp, giải tán trong tinh thần hòa hiệp không tị hiềm, nghi
kỵ, và chấp hành các Tăng sự trong tình cảm nhiệt thành.
Chúng
tỳ kheo không tùy tiện quy định và ban hành những luật lệ
không đáng được ban hành, không thích hợp; cũng không được
tự tiện sửa đổi, bải bỏ những luật lệ đã được
ban hành từ trước; sống đúng theo giáo huấn của Phật,
và tùy thuận những gì mà Tăng già đã quy định, được
truyền thừa qua lịch đại Tổ Sư.
Các
tỳ kheo phải luôn tôn trọng, kính lễ các tỳ kheo trưởng
thượng, mà phẩm hạnh và trí tuệ do công phu tu tập và học
hỏi, xứng đáng là hàng Trưởng lão trong Tăng; luôn luôn
nhiệt thành nghe những lời khuyến giáo của các tỳ kheo trưởng
thượng như thế.
Các
tỳ kheo sống không bị lôi cuốn vào những tham ái, những
bận rộn thế tục.
Trú
xứ của chúng tỳ kheo là những nơi nhàn tĩnh, không phải
là trú xứ tập họp để phục vụ các quyền lợi thế tục.
Các
tỳ kheo sống an trú chánh niệm, tỉnh thức, tạo thành một
cộng đồng thanh tịnh hòa hiệp, để cho các đồng phạm
hạnh từ những nơi khác chưa đến thì muốn đến, đã đến
thì muốn an trú lâu dài để tu tập, cùng sống hòa thuận
và an lạc.
Tư
duy chiêm nghiệm bảy pháp bất thối mà đức Thích Tôn đã
trao truyền cho chúng đệ tử, những người Phật tử Việt
nam không khỏi ngậm ngùi vì những mâu thuẫn bất hoà, tranh
chấp, chia rẽ trong hàng đệ tử Phật. Sinh vào thời Pháp
nhược Ma cường, hàng Thánh Tăng vắng bóng, Phật tử Việt
nam cùng chung kết quả cộng nghiệp của dân tộc Việt nam,
mà những dòng thác hung bạo của tranh chấp quyền lực quốc
tế, của hận thù giai cấp, của đấu tranh ý thức hệ, đã
ghi lại vô vàn vết tích đau thương trên đại khối dân tộc.
Đức Phật đã dạy, chúng sinh là kẻ thừa tự của những
nghiệp mà nó đã làm. Vậy, mỗi người trong chúng ta, Tăng
cũng như tục, cần có thời gian lắng đọng tâm tư để thấy
rõ trách nhiệm của từng cá nhân mình, vì đã không có đủ
năng lực trí tuệ, không có đủ ý chí dũng mãnh, để cho
ngọn đèn Chánh pháp được lịch đại Tổ Sư truyền trao
qua 2000 nghìn năm lịch sử bỗng chốc bị lu mờ, khiến cho
hầu hết những người con Phật không thấy rõ đường nào
phải đi, không thể phân biệt đâu chánh đâu tà, đâu là
sứ mạng của người tu học Phật và đâu là sử dịch nô
lệ của thế gian.
Kính
thưa Chư liệt vị,
Ngày
Phật đản, Phật tử chúng ta dâng nén tâm hương cúng dường
mười phương chư Phật. Hương thơm giới định huệ dâng
lên, nhưng khói bụi trần lao ô trược cũng đồng thời rơi
vãi xuống. Vì vậy, chúng ta không nên chỉ nhìn lên làn khói
cuộn như mây lành năm sắc trong hư không mà quên không nhìn
thấy bụi bẩn rơi vãi trên bàn thờ. Mỗi khi dâng hương
cúng Phật, hãy nhớ đừng quên quét dọn bàn thờ Phật cho
thanh tịnh trang nghiêm; cũng đừng tự trói tay mình lại, hay
để cho người khác trói tay mình lại, mà nhìn bụi bám đài
sen càng lúc càng dày.
Vật
có tụ thì phải có tán. Tâm người có khi hiệp thì cũng
có khi lìa. Tăng chúng nay hiệp mai lìa, một phần cũng là
quy luật của tồn tại. Nhưng bản thể thanh tịnh và hòa
hiệp tạo thành tồn tại của Tăng mà đức Phật thiết lập
thì không hề dao động, không hề biến đổi. Khi duyên hội,
các pháp tự thành. Nhưng duyên hội không hoàn toàn ngẫu nhiên
mà không có cộng đồng giao hưởng bởi tâm tư hay ước vọng
của chúng sinh. Cho nên, trong mùa an cư năm nay, tôi thành tâm
cầu nguyện uy lực Tam bảo gia trì hộ niệm cho bốn chúng
đệ tử hội đủ thiện duyên, bỏ bớt dần những vọng
tưởng trần lao, xa dần những bôn ba thế tục, chuyên tu giới
định huệ, hướng tâm nguyện đến sự tồn tại chói sáng
của Tăng già từ bản thể thanh tịnh và hòa hiệp. Có như
thế, Phật pháp mới là nguồn suối an lạc, Tăng-già là tiêu
chí cho một xã hội đạo đức và trật tự. Bốn chúng đệ
tử Phật như thế cùng góp công đức kiến tạo thế giới
hòa bình, cho dân tộc an lạc và tăng tiến.
Cầu
nguyện cho tất cả chúng đệ tử Phật cùng học cùng tu,
cùng tôn thờ một đấng Đạo Sư, cùng sống hòa hiệp như
nước với sữa, như thế mới tìm thấy sự an lạc trong Chánh
pháp.
Nam
Mô Trung Thiên Giáo Chủ Điều Ngự Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
Phật.
Tu
Viện Nguyên Thiều. Phật Đản Năm Giáp Thân
ĐỆ
TỨ TĂNG THỐNG GHPGVNTN
(đã
ấn ký)
Tỳ
kheo Thích Huyền Quang