A
TỲ ĐẠT MA CÂU XÁ LUẬN (Q.4)
阿
毘 達 磨 俱 舍 論
ABHIDHARMAKOŚABHĀSAYĀM
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
Tiếp
đến nói về thượng giới.
ii.Thượng
giới:
a.Sơ
định :
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c10:初
定 除 不 善 及 惡 作 睡 眠
Âm
Hán :
Sơ
định trừ bất thiện Cập ác tác thuỳ miên
Việt
dịch :
Sơ
định trừ bất thiện và ác tác, thuỳ miên /31ab/.
Luận
giải thích:
Sơ
tịnh lự, với các tâm sở đã được nói ở trước trừ
duy bất thiện, ác tác, thuỳ mien[1] , còn lại đều cùng sanh
khởi. Duy bất thiện: đó là phiền não sân; bảy thứ tuỳ
phiền não phẫn, phú, xan, tật, não, hại, hận (không tính
cuống, siễm, kiêu); cùng với vô tàm, vô quý. Số còn lại
đều có: số nầy như nói trong Dục giới.
b.Trung
định:
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312c11
: 中 定 又 除 尋
Âm
Hán:
Trung
định hựu trừ tầm
Việt
dịch :
Trung
định lại trừ tầm/31c/.
Luận
giải thích:
Trung
gian tịnh lự trừ những tâm sở đã được trừ ở trước;
lại trừ thêm tầm. Số còn lại đều cùng có mặt.
c.Thượng
định:
Văn
Tụng :
Hán
:
T29n1560-p0312c11:
上 定 除 尋 伺
Âm
Hán :
Thượng
định trừ tầm tứ.
Việt
dịch :
Thượng
định trừ tầm tứ /31d/.
Luận
giải thích :
Đệ
nhị tịnh lự trở lên cho đến vô sắc giới, trừ những
tâm sở đã được trừ ở trước; lại trừ thêm tứ, v.v...;
chữ “vân vân” là chỉ cho siễm, cuống; số còn lại đều
có đầy đủ như trước.
(Câu
hỏi của Tì Bà Sa, 129,1)Kinh nói: siễm cuống có mặt đến
Phạm thiên vì chúng sanh trong đó có tương quan qua lạI[2]
; các cõi trên không có[3] . Như Đại phạm vương (Mahābrahmā)
ở giữa Phạm chúng của mình, bất ngờ bị tỳ kheo Mã thắng[4]
hỏi rằng, các tổ hợp bốn đại chủng nầy, ở địa vị
nào mới diệt hết. Phạm vương không biết ở địa vị nào
diệt sạch hoàn toàn, bèn trả lời cho qua (kiểu loạn đáp
tức là cuống) rằng, trong Phạm chúng nầy, Ta là Đại phạm
tự tại, là người tạo ra khí thế gian, là người hoá sanh
hữu tình thế gian; là đấng sanh ra khí thế gian, là đấng
nuôi dưỡng hữu tình thế gian, là cha của tất cả mọi loài
hữu tình. Nói lời như vậy rồi, liền dẫn Mã thắng ra khỏi
chúng,vả lả xin lỗi (siễm ngôn quý tạ tức là siễm), khiến
trở về hỏi đức Phật.
Như
vậy, nói xong về số lượng của tâm sở tương ưng với
các loại tâm trong các giới địa.
Tiếp
đến, nói về một ít khác nhau trong các tâm sở được bàn
ở trên.
3.Tương
tợ sai biệt.
Sự
khác nhau[5] giữa vô tàm và vô quý, giữa ái và kỉnh
là thế nào?
i.Tàm
quý :
Văn
Tụng :
Hán
:
T29n1560-p0312c12:
無 慚 愧 不 重 於 罪 不 見 怖
Âm
Hán :
Vô
tàm quý bất trọng Ư tội bất kiến bố
Việt
dịch :
Không
tàm, quý, không trọng đối với tội không lo sợ /32ab/.
Luận
giải thích :
Trong
đó, sự khác nhau giữa vô tàm và vô quý là đối với
các công đức[6] , đối với các bậc hữu đức[7] , không
có sự kính trọng, không có sự tôn sùng, không có sự lo
sợ, không có sự tuỳ thuộc gọi đó là vô tàm[8] ; tức
là pháp đối địch với sự cung kính (gaurava, sagauravatā,
sapratīśatā, sabhayavaśa-vartitā).
Pháp
mà các bậc thiện sỹ quở trách, chán ghét gọi đó là tội
(avadya). Trong tội đó, không thấy có sự lo lắng sợ hãi
gọi là vô quý[9] . Chữ “bố, bhaya” nhằm chỉ cho thấy
kết quả chẳng đáng ưa thích ( phi khả ái, aniṣṭaphala)
hay phát sanh sự sợ hãi.
Chữ
“bất kiến bố, abhayadarśitva)” muốn nói lên nghĩa
gì, hoặc thấy mà không sợ (kiến nhi bất bố, abhayasya darśitvam)
gọi là bất kiến bố hoặc không thấy sự sợ kia ( bất
kiến bỉ bố, bhayasya adarśitvam) gọi là bất kiến bố[10]
?
(Luận
Chủ) Nếu vậy thì có lỗi gì?
Cả
hai đều có lỗi (tức không đúng). Nếu thấy mà không sợ
hãi, tức hiển bày trí huệ nhiễm ô tà kiến. Nếu không
thấy sự sợ hãi kia là hiển bày vô minh[11] .
Chữ
“bất kiến bố” nầy không nhằm hiển bày thấy ( huệ
tà kiến) hay không thấy ( vô minh).
Vậy
hiển bày cái gì?
Hiển
bày rằng, có một pháp tùy phiền não (upakleśa) là nhân của
hai thứ tà kiến (mithyādṛṣṭi) và vô minh; pháp đó là
vô quý[12] .
Có
các Luận sư khác nói:
Với
các tội tạo ra, tự đối chiếu với bản thân, không thấy
xấu hổ gọi là vô tàm; đối với người khác không thấy
thẹn thùng gọi là vô quý.
Nếu
vậy, hai sự đối chiếu nầy khác nhau (vô tàm là đối với
mình, vô quý là đối với người ), làm sao cùng khởi lên
?
Không
nói hai vấn đề nầy cùng lúc khởi lên, mà theo từng trường
hợp riêng biệt, với mình, với người; nếu không thấy
xấu hổ trong lúc đang nghiêng về đối chiếu với mình gọi
là vô tàm; nếu không thấy xấu hổ trong khi đang nghiêng về
đối chiếu với người gọi là vô quý[13] .
Sự
khác nhau giữa tàm và quý nên biết ngược lại với trên.
Nghĩa là, ngược với giải thích đầu, tức là có sự kính
trọng, có sự tôn sùng, có sự lo sợ, có sự tuỳ thuộc
gọi đó là tàm (Hrī); đối với tội thấy lo sợ gọi là
quý (Apatrāpya). Ngược với giải thích thứ hai, tức đối
với tội lỗi tạo ra tự nhìn lại thấy xấu hổ gọi đó
là tàm; nhìn sang người, cảm thấy xấu hổ gọi đó là quý.
Đã
nói sự khác nhau giữa vô tàm và vô quý.
ii.Ái
và kỉnh :
Ái
kỉnh khác nhau thế nào ?
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c13
愛 敬 謂 信 慚
Âm
Hán :
Ái
kỉnh vị tín tàm
Việt
dịch :
Ái
kỉnh là tín tàm /32c/.
Luận
giải thích :
Ái[14]
: có nghĩa là yêu thích, thể chính là tín. Ái có hai loại:
Một, có nhiễm ô; hai, không nhiễm ô. Có nhiễm ô đó là
tham; như yêu thương vợ con, v.v... ; không nhiễm ô là tín[15]
; như yêu mến Sư trưởng, v.v... (lập bốn câu để hiểu
rõ hơn). Có tín chẳng phải ái: đó là tín duyên với khổ
đế và tập đế[16] ; có ái chẳng phải tín: đó là các
ái nhiễm ô[17] ; có trường hợp vừa là tín vừa là ái:
đó là tín duyên với diệt đế và đạo đế[18] ; có trường
hợp chẳng phải tín cũng chẳng phải ái: đó là trừ ba tướng
trước[19] (ba trường hợp trước).
Có
thuyết nói: tín là nghe theo các bậc hữu đức. Trước
phải có tín, sau mới khởi sinh yêu thích, cho nên ái chẳng
phải là tín[20] .
Kỉnh[21]
: có nghĩa kính trọng, thể chính là tàm; như giải thích trước
rằng, tàm có nghĩa có sự kính trọng, v.v...; (nêu bốn câu
để hiểu rõ hơn) có tàm chẳng phải là kỉnh: đó là tàm
duyên với khổ và tập[22] ; có trường hợp vừa là tàm vừa
là kỉnh: đó là tàm duyên với diệt đế và đạo đế[23]
.
Có
thuyết nói: Kỉnh là có sự tôn sùng, kính trọng. Trước
phải có sự kính trọng, sau mới sinh ra sự xấu hổ, cho nên
kỉnh chẳng phải là tàm[24] .
Bổ
đặc già la[25] (Pugala), đối với cảnh sở duyên, có
hay không có ái và kỉnh, nên lập bốn câu để phân
biệt rõ hơn:
(1).Câu
thứ nhất: có ái không kỉnh- đó là vợ con và những môn
nhân cùng sống chung[26] .
(2).Câu
thứ hai: có kỉnh không ái - đó là đối với Thầy của người
khác, quý nhơn, v.v...[27]
(3).Câu
thứ ba: có ái có kỉnh- đó là đối với Thầy mình, với
cha me chú bác v.v.. của mình[28] .
(4).Câu
thứ tư: không ái không kỉnh- trừ ba trường hợp trước.
iia.Căn
cứ vào Cõi để phân biệt.
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c13
唯 於 欲 色 有
Âm
Hán :
Duy
ư dục sắc hữu.
Việt
dịch :
Có
ở cõi Dục và Sắc /32d/.
Luận
giải thích :
Nghĩa
là ái và kỉnh như vậy, chỉ có ở cõi Dục và cõi Sắc,
không có ở cõi Vô sắc.
Há
không phải hai đại thiện địa pháp tín và tàm cũng có ở
cõi Vô sắc ư? ái kỉnh có hai: (1) duyên với bổ đặc già
la, (2) duyên với pháp[29] . Nếu duyên với pháp, ái và kỉnh
cùng có mặt ở cả ba cõi. Trong đây, ý nói, duyên bổ đặc
già la[30] cho nên chỉ có ở cõi Dục, cõi Sắc; không
có ở cõi Vô sắc.
Như
vậy đã nói xong về sự khác nhau giữa ái và kỉnh.
iii.
Tầm tứ :
Tầm
và tứ khác nhau thế nào ?
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c16
尋 伺 心 麤 細
Âm
Hán:
Tầm
tứ tâm thô tế.
Việt
dịch:
Tầm
tứ là tâm thô và tế /33a/.
Luận
giải thích:
Sự
khác nhau giữa tầm và tứ, đó là tâm thô và tâm tế; tính
chất thô thiển của tâm gọi là tầm; tính chất vi tế của
tâm gọi là tứ.
(Kinh
Bộ) Làm sao hai tính chất thô và tế (khác nhau lại) cùng
tương ưng trong một tâm ?
(Hữu
Bộ) Có giải thích thế nầy, như lớp váng sữa trên mặt
nước lạnh do có ánh mặt trời chiếu lên; váng sữa do nước
và mặt trời, chứ chẳng phải (bản thể vốn) đông đặc
hoặc phân tán. Cũng giống như vậy, trong một tâm, có tầm,
có tứ; tâm có tầm và tứ, không ngoài thô và tế; cho nên,
ở trong một tâm cùng có tác dụng[31] .
(Nạn
1) Nếu vậy, tầm và tứ là nhân, chẳng phải thể của thô
và tế; như nước và ánh mặt trời là nhân, chẳng phải
thể của đông và tan.
(Nạn
2) Lại nữa, tính thô và tế do sự đối đãi lập nên, hoặc
dựa vào sự khác nhau của ba cõi, chín địa, chín phẩm mà
so sánh trên dưới, cho đến cõi Hữu đảnh, do đó mới có
tầm và tứ[32] .
(Nạn
3). Lại nữa, nếu tánh thô và tế vốn không có thể loại
riêng biệt, không thể căn cứ vào đó để nói có tầm tứ
khác nhau.
(Hữu
Bộ) Lại có giải thích: hai pháp tầm, tứ là nhân (hành)
của ngôn ngữ, cho nên Khế kinh nói, cần có tầm tứ
mới có ngôn ngữ; không thể không có tầm tứ mà có ngôn
ngữ được[33] . Thô gọi là tầm; tế gọi là tứ; ở
trong một tâm, có một pháp là thô, có một pháp là tế, đối
với lý có gì trái ngược[34] ?
(Luận
Chủ) Nếu có hai thể loại thô tế riêng biệt, về lý không
trái; song, không có thể loại riêng biệt, thành ra trái lý;
trong một thể loại, không thể đồng thời khởi lên vừa
thô vừa tế; nếu nói rằng, tầm tứ có thể loại khác nhau,
hành tướng riêng biệt của chúng thế nào ?
Hành
tướng hai thể loại nầy, rất khó nói, chỉ do thô và tế
hiện bày hành tướng riêng biệt của chúng.
(Luận
Chủ) Chẳng phải do thô tế có thể hiển bày tướng riêng
biệt. Trong mỗi một loại, vốn đã có thô và tế vậy[35]
. Do đó biết rằng, hai pháp tầm tứ, quyết định không thể
cùng tương ưng trong một tâm được.
(Hữu
Bộ) Nếu vậy tại sao trong Khế kinh nói, ở sơ tịnh lự,
đầy đủ năm chi[36] ?
(Luận
Chủ) Nói đầy đủ năm chi là căn cứ vào một địa, chẳng
phải căn cứ vào sát na, cho nên không phải là sai.
Như
vậy nói xong sự khác nhau giữa Tầm và Tứ.
iv.Mạn
và Kiêu.
Tiếp
đến Mạn và Kiêu khác nhau thế nào ?
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312c14
慢 對 他 心 舉
T29n1560-p0312c15:
憍 由 染 自 法 心 高 無 所 顧
Âm
Hán:
Mạn
đối tha tâm cử
Kiêu
do nhiễm tự pháp Tâm cao vô sở cố.
Việt
dịch:
Mạn
đối tha tâm khởi.
Kiêu
do nhiễm tự pháp Tâm cao, không nhìn lại /33bcd/
Luận
giải thích :
Mạn:
đối với người khác, tâm có tính tự đề cao; nghĩa là
khi nói về các tính chất khác nhau giữa mình và người, lòng
tự thị, khen mình, khinh chê miệt thị người, gọi là mạn[37]
.
Kiêu:
nghĩa là trước hết, do say đắm tự pháp khiến tâm buông
tuồng, cao ngạo, không biết nhìn lạI[38] .
Có
Luận sư khác nói:
Cũng
giống như, nhơn rượu sinh vui vẻ (sinh hân); nói cách khác,
đó là say (tuý). Cũng như vậy, tham phát khởi vui thích (hân);
nói cách khác đó gọi là Kiêu[39] .
Trên
đây là hành tướng khác nhau của mạn và kiêu[40] .
Như
vậy, đã nói xong các phẩm loại khác nhau của tâm cũng như
hành tướng câu sanh dị biệt của tâm sở.
4.
Các Danh nghĩa tâm tâm sở:
Vả
lại, tâm, tâm sở, ở trong Khế kinh, tuỳ theo ý nghĩa,
lập nên các loại danh, tưởng. Nay, bàn về sự khác nhau của
các danh nghĩa đó.
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c16:心
意 識 體 別 心 心 所 有 依
T29n1560-p0312c17:有
緣 有 行 相 相 應 義 有 五
Âm
Hán :
Tâm
ý thức thể biệt Tâm tâm sở hữu y
Hữu
duyên hữu hành tướng Tương ưng nghĩa hữu ngũ.
Việt
dịch :
Tâm
ý thức, thể khác Tâm, tâm sở hữu y,
Hữu
duyên, hữu hành tướng; Tương ưng có năm nghĩa/34/
Luận
giải thích :
i.Giải
thích riêng :
Tập
khởi gọi là tâm[41] ; tư lương gọi là ý[42] ; liễu
biệt gọi là thức[43] .
(Hữu
Bộ) Lại có giải thích: các chủng loại (界) tịnh và bất
tịnh khác nhau nên gọi là tâm; chính tâm nầy làm sở y chỉ
cho tâm kia nên gọi là ý; làm năng y chỉ gọi là thức[44]
. Do vậy, ý nghĩa (sở thuyên) của ba chữ tâm, ý, thức, tuy
khác nhau nhưng thể chỉ là một.
ii.
Giải thích chung:
Cũng
như nghĩa của ba chữ tâm, ý, thức, tuy khác nhau, thể chỉ
là một; các tâm, tâm sở gọi là hữu sở y, sở duyên, hành
tướng, tương ưng cũng giống như vậy; danh, nghĩa tuy khác,
nhưng thể là một; đó là tâm tâm sở đều có sở y, tức
là gá vào căn sở y; hoặc hữu sở duyên tức là thủ đắc
cảnh sở duyên; hoặc hữu hành tướng tức là đối với
các loại sở duyên khác nhau, khởi lên hành tướng bình đẳng;
hoặc gọi là tương ưng tức cùng hòa hợp bình đẳng[45]
.
Căn
cứ vào nghĩa nào gọi là hoà hợp bình đẳng (đẳng hoà
hợp)?
Có
năm nghĩa: tâm tâm sở có năm nghĩa bình đẳng cho nên nói
là tương ưng; năm nghĩa là sở y, sở duyên, hành tướng,
thời và sự đều bình đẳng. Sự bình đẳng nghĩa là trong
một tâm tâm sở tương ưng, cũng như tâm, thể chỉ là một;
các tâm sở pháp, mỗi mỗi cũng đều như vậy[46] .
Như
vậy đã nói đầy đủ về ý nghĩa khác nhau của tâm và tâm
sở. Tiếp đến,
II.
TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH.
Tâm
bất tương ưng hành là gì ?
1.Nêu
tên:
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c18:心
不 相 應 行 得 非 得 同 分
T29n1560-p0312c19:無
想 二 定 命 相 名 身 等 類
Âm
Hán :
Tâm
bất tương ưng hành Đắc phi đắc đồng phần
Vô
tưởng nhị định mạng Tướng danh thân đẳng loại.
Việt
dịch :
Tâm
bất tương ưng hành[47] Đắc, phi đắc, đồng phần
Vô
tưởng, hai định, mạng Tướng, danh thân,...các loại /35/.
Luận
giải thích:
Các
pháp tâm bất tương ưng như vậy, có thể tính chẳng phải
là sắc ,v v..., nhiếp thuộc hành uẩn, cho nên gọi là bất
tương ưng hành. Trong đó, đắc và phi đắc được biện
giải,
2.Thích
nghĩa:
i.Đắc,
phi đắc:
a.Tự
tánh:
Nêu
thể.
Văn
Tụng .
Hán:
T29n1560-p0312c20:得
謂 獲 成 就 非 得 此 相 違
Âm
Hán :
Đắc
vị hoạch thành tựu Phi đắc thử tương vi
Việt
dịch :
Đắc
là hoạch, thành tựu, Phi đắc ngược lại đắc/36ab/
Luận
giải thích :
Đắc
có hai loại, một là chưa có, hoặc đã có mà mất, nay có
được gọi là hoạch (tức đắc đến sanh tướng vị); hai
là đã có, hoặc đã có mà không bị mất gọi là thành tựu
(tức đắc đến hiện tại vị).
Nên
biết, phi đắc đối với đắc thì trái lại.
Minh
y.
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312c21得
非 得 唯 於 自 相 續 二滅
Âm
Hán :
Đắc
phi đắc duy ư Tự tương tục nhị diệt
Việt
dịch :
Đắc[48]
, phi đắc[49] chỉ ở Tự tương tục, hai diệt /36cd/.
Luận
giải thích :
Ở
trong những pháp nào, có đắc, phi đắc ?
Ở
trong tự tương tục (tự thân) và hai diệt (trạch diệt và
phi trạch diệt); nghĩa là các pháp hữu vi nếu ở trong tự
thân thì có đắc và phi đắc, chẳng phải ở tha thân; không
thể có thành tựu ở pháp tha thân; cũng chẳng phải
ở phi tương tục[50] tức là không thể có thành tựu
ở nơi pháp phi tình. Các pháp hữu vi quyết định như vậy.
Ở
pháp vô vi, chỉ trong hai diệt mới có đắc và phi đắc. Tất
cả các loài hữu tình đều thành tựu phi trạch diệt, cho
nên, trong Luận tạng Hữu bộ truyền rằng, như vậy, pháp
nào thành pháp vô lậu ? Đó là tất cả các loài hữu tình,
trừ các bậc thánh ở khổ pháp nhẫn vị chưa đoạn trừ
hết phiền não (sơ sát na cụ phược thánh giả)[51] và
trừ tất cả các chúng sanh chưa đoạn trừ phiền não (cụ
phược dị sanh)[52] , các loài hữu tình khác[53] đều
thành tựu trạch diệt. Chắc chắn không thể thành tựu hư
không vô vi, cho nên không nói có Đắc ở trong hư không.
Do không có đắc nên phi đắc cũng không. Bà sa (tông) giải
rõ về đắc; phi đắc trái lại với đắc mà thành lập.
Như vậy, những pháp nào có đắc đồng thời cũng có phi
đắc; nghĩa đã rõ, có thể biết, ở đây không giải thích
riêng.
(Kinh
Bộ sư).Với duyên do gì, có thể biết có một thực pháp
riêng biệt gọi là đắc ?
(Nhất
thiết hữu Bộ) Khế kinh nói, như Khế kinh nói rằng,
Bậc thánh do sanh khởi, do đắc, do thành tựu 10 pháp vô học[54]
cho nên đã đoạn trừ năm chi phiền não[55] , cho đến nói
rộng ra.
(Kinh
Bộ) Nếu vậy, phi tình và tha tương tục cũng nên thành tựu.
(Hữu
bộ) Lý do vì sao ?
(Kinh
bộ) Khế kinh nói, như Khế kinh nói rằng, Bí sô nên biết,
Chuyển luân vương thành tựu bảy báu, cho đến nói rộng
ra[56] .
(Hữu
bộ thông Kinh) Trong Kinh nầy, tự tại được gọi là thành
tựu nghĩa là Chuyển luân vương đối với bảy báu, có lực
tự tại, tuỳ theo sự ưa thích mà chuyển dịch vậy.
(Kinh
bộ) Trong kinh Chuyển luân vương đã nói tự tại là thành
tựu; ở các Kinh khác dựa vào đâu, biết có một thật
pháp gọi là đắc[57] ?
(Hữu
bộ) Chấp nhận có một thật pháp riêng biệt là đắc, có
gì phi lý ?
(Kinh
bộ) Như vậy là phi lý. Bởi lẽ, đắc không có thể
tánh để có thể biết được, giống như sắc, thanh,v v...
hoặc giống như tham, sân, v.v... ; cũng không có tác dụng
để có thể hiểu được như mắt, tai, v.v... cho nên
không thể có một thật pháp riêng biệt gọi là đắc[58]
. Chấp có một thật pháp riêng biệt là phi lý. (Kinh bộ)
Nếu nói rằng đắc nầy cũng có tác dụng nghĩa là làm sanh
nhân khiến cho các pháp có mặt, thế thì, vô vi lẽ ra không
nên có đắc[59] ; lại nữa, với các pháp sở đắc, khi chưa
có, hoặc đã xả, hoặc chuyển dịch trong ba giới chín địa,
hoặc là ly nhiễm, các pháp như vậy hiện tại không
có đắc, (nếu sau đó khởi lên ) nói sanh là thế nào? nếu
cho rằng Câu sanh đắc là sanh nhơn thì các pháp đại sanh,
tiểu sanh sanh lại được tạo nên bằng cách nào[60] ; lại
nữa, các pháp phi tình (asattvākhya: vô tình, đã không có đắc)
lẽ ra là không thể sanh; lại nữa, cụ phược dị sanh, với
các phẩm phiền não thượng trung hạ vốn hiện khởi khác
nhau kia lẽ ra nên không có, vì đắc không có khác nhau; nếu
nói rằng, do các nhơn khác mà có khác nhau tức là do chúng
(các nhơn kia) khiến các pháp sanh khởi; thế thì, đắc có
tác dụng gì; do đó, nói đắc có tác dụng nghĩa là làm sanh
nhân cho các pháp sở đắc, theo lý, không thể thành lập được.
(Hữu
bộ) Ai nói đắc nầy làm sanh nhân cho các pháp?
(Kinh
bộ) Nếu vậy, đắc nầy có tác dụng gì?
(Hữu
bộ) Đó là căn cứ vào sự khác nhau mà thành lập nhân vậy.
(Kinh
bộ) Lý do vì sao ?
(Hữu
bộ) Nếu không có đắc thì dị sanh, bậc thánh (Ārya) khi
khởi thế tục hữu lậu tâm (laukika) thì lẽ ra không thể
kiến lập sự khác nhau giữa dị sanh và bậc thánh được[61]
.
(Kinh
bộ) Há không phải có sự khác nhau giữa phiền não đã được
đoạn trừ và chưa đoạn trừ cho nên nói có sai biệt
đó sao[62] ?
(Hữu
bộ) Nếu cho rằng không có đắc thì làm sao có thể nói phiền
não đã được đoạn trừ và chưa được đoạn trừ; (chúng
tôi) chấp nhận có đắc thì đoạn, chưa đoạn được thành
tựu bởi do phiền não được xa lìa và chưa được xa
lìa[63] .
(Kinh
bộ thích) đây là do sở y khác nhau mà ý nghĩa phiền não
đã đoạn, chưa đoạn được thành tựu. Nghĩa là các bậc
thánh do lực của kiến đạo, tu đạo khiến cho thân sở y
chuyển biến khác với ban đầu (dị bổn); ở trong hai đạo
kia, khi các phiền não đã bị đoạn trừ không còn có công
năng hiện khởi trở lại; giống như hạt giống khi bị lửa
đốt cháy, không còn như trước tức không có công năng sanh
khởi tác dụng. Cũng như vậy, trong thân sở y của các bậc
thánh, (các chủng tử phiền não) không còn có công năng sanh
khởi gọi đó là đoạn trừ phiền não; hoặc ở thế
gian đạo, làm tổn hại (suy yếu) chủng tử trong thân sở
y cũng gọi là đoạn. Ngược lại với trên, gọi là chưa
đoạn. Các pháp chưa đoạn nói là thành tựu; các pháp đã
đoạn nói là không thành tựu. Hai loại như vậy, chỉ là
giả chẳng phải là thật[64] .
(Kinh
bộ dựa vào Thiện để giải thích) Thiện pháp có hai: một,
chẳng do công sức tu tập có được; hai là do công sức tu
tập có được; gọi là sanh đắc (aupapattika, upapattilābhika)và
gia hạnh đắc (prāyogika, prāyogalābhika). Pháp thiện không
do công sức tu tập mà có được: ở trong thân sở y, chủng
tử thiện chưa bị tổn hoại gọi là thành tựu; nếu trong
thân sở y, chủng tử thiện đã bị tổn hoại gọi là không
thành tựu. Đó là hàng đoạn thiện căn do lực của tà kiến
làm tổn hoại chủng tử thiện căn ở trong thân, nên biết,
gọi là đoạn; chẳng phải chủng tử thiện căn ở trong thân,
hoàn toàn bị tổn hại gọi là đoạn[65] . Pháp thiện do công
sức tu tập có được: ở trong thân sở y, thiện pháp
đã khởi sanh ra các công đức một cách tự tại, không bị
tổn hoại gọi đó là thành tựu[66] . Trái lại với trên
gọi là không thành tựu. Hai loại như vậy cũng là giả
chẳng phải là thật. Cho nên trong thân sở y chỉ có
chủng tử, chưa nhổ, chưa tổn hoại, tăng trưởng tự tại,
căn cứ vào đó, thành lập tên gọi là thành tựu; không có
một vật nào khác[67] .
(Hữu
bộ) Trong đó, pháp gì gọi là chủng tử (bīja) ?
(Kinh
bộ) Đó là Danh (nāma) và sắc (rūpa) có công năng sinh ra quả
nhờ vào những chuyển biến sai biệt (pariṇāmaviśeṣa) của
một chuỗi tương tục. Sao gọi là chuyển biến (pariṇama)?
đó là tính chất khác nhau ở trước và sau của một tương
tục. Sao gọi là tương tục (saṃtati)? Đó là tính nhân quả
của các pháp trong ba đời. Sao gọi là sai biệt (viśeṣa)?
đó là công năng sanh quả không gián đoạn[68] . (Kinh bộ)
Song có Kinh nói, nếu thành tựu tham, thì không tu tập được
bốn niệm trú. Kinh kia ý nói, người đã đắm trước phiền
não tham thì không thể nhàm chán, xả ly cho nên gọi là thành
tựu; do trong khi đắm trước tham ái , đối với bốn niệm
trú, hẳn là không thể tu tập[69] .
(Kinh
bộ tổng kết) Như vậy, thành tựu có mặt cùng khắp tất
cả các pháp, nhưng chỉ là giả chẳng phải thật. Ngược
lại với thành tựu (duy giá ư thử) gọi là bất thành tựu,
cũng giả chẳng phải thật.
(Hữu
bộ kết quy bổn tôn) Các luận sư Tỳ Bà sa nói, hai loại
nầy (thành tựu và không thành tựu) đều là pháp có thật,
chẳng phải giả.
(Luận
chủ chấp nhận cả hai) Hai lối giải thích đều hợp
lý. Lý do vì sao ? Không trái lý vậy; đó là quan điểm tôn
chỉ của tôi.
b.
Sai biệt :
Chánh
minh sai biệt.
i.Đắc.
Đã
nói xong về tự tánh, sai biệt như thế nào?
Trước
hết là đắc.
Căn
cứ vào ba đời.
Văn
Tụng .
Hán
:
T29n1560-p0312c22:三
世 法 各 三 善 等 唯 善 等
T29n1560-p0312c23:有
繋 自 界 得 無 繋 得 通 四
T29n1560-p0312c24:非
學 無 學 三 非 所 斷 二 種
Âm
Hán :
Tam
thế pháp các tam Thiện đẳng duy thiện đẳng
Hữu
hệ tự giới đắc Vô hệ đắc thông tứ
Phi
học vô học tam Phi sở đoạn nhị chủng.
Viêt
dịch :
Pháp
ba đời, đều có 3 đắc Thiện,v.v.. duy thiện, v.v..
Hữu
hệ, đắc tự giới Vô hệ, đắc thông bốn /37/.
Phi
học, vô học, ba Phi sở đoạn, hai loại /38ab/
Luận
giải thích :
Đắc
của các pháp trong ba đời đều có ba loại; đó là pháp ở
quá khứ, có đắc quá khứ, đắc vị lai, đắc hiện
tại. Cũng như vậy, pháp vị lai, hiện tại đều có ba loại
đắc.
Căn
cứ vào ba tánh.
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c22:
善 等 唯 善 等
Âm
Hán :
Thiện đẳng duy thiện đẳng
Việt
dịch :
Thiện,v.v.. duy thiện, v.v../38b/.
Luận
giải thích :
Lại
nữa, các pháp thiện, v.v...chỉ có đắc của thiện,v.v...
nghĩa là các pháp thiện, bất thiện và vô ký, theo thứ tự,
có ba đắc của thiện, bất thiện và vô ký.
Căn
cứ vào hai cõi (hệ và vô hệ).
Văn
Tụng .
Hán
:
T29n1560-p0312c23:有
繋 自 界 得 無 繋 得 通 四
Âm
Hán :
Hữu
hệ tự giới đắc Vô hệ đắc thông tứ
Việt
dịch :
Hữu
hệ, đắc tự giới Vô hệ, đắc thông bốn /38cd/.
Luận
giải thích :
Lại
nữa, với hệ pháp, đắc chỉ có ở tự giới; nghĩa là,
các pháp ở cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc, theo thứ tự,
có ba đắc ở cõi dục, sắc và vô sắc. Nếu vô hệ pháp,
đắc thông bốn loại; nghĩa là, (thêm) pháp vô lậu. Nói chung,
đắc có bốn loại tức đắc của ba giới và đắc của vô
lậu.
Nếu
phân biệt thì, đắc của phi trạch diệt thông với cả ba
cõi; nếu là đắc của trạch diệt thì có ở cõi sắc, vô
sắc và vô lậu; nếu đắc của đạo đế chỉ có ở vô
lậu; nếu đắc của pháp vô hệ thì thông cả bốn cõi.
Căn
cứ vào tam học.
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c24:非
學 無 學 三
Âm
Hán :
Phi
học vô học tam
Việt
dịch :
Phi
học, vô học, ba /39a/.
Luận
giải thích :
Lại
nữa, pháp hữu học, đắc chỉ có ở hữu học; pháp vô học,
đắc của vô học; pháp phi học phi vô học, đắc của phi
học phi vô học; nghĩa là với các pháp nầy, nói chung, đắc
có ba loại. Nếu phân biệt thì, tất cả các pháp hữu lậu
và ba vô vi đều gọi là pháp phi học phi vô học. Vả lại,
pháp hữu lậu chỉ có đắc của phi học phi vô học; phi trạch
diệt và trạch diệt chẳng phải do thánh đạo đưa đến,
đắc cũng như vậy; nếu trạch diệt hữu học do thánh đạo
đưa đến, đắc chính là hữu học; nếu trạch diệt vô học
do thánh đạo đưa đến, đắc chính là vô học.
Căn
cứ vào ba đoạn.
VănTụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c24:非
所 斷 二 種
Âm
Hán :
Phi
sở đoạn nhị chủng.
Việt
dịch :
Phi
sở đoạn, hai loại /39b/
Luận
giải thích :
Lại
nữa, các pháp được đoạn trừ ở kiến đạo, tu đạo,
như theo thứ tự, có đắc của các pháp được đoạn
trừ ở kiến đạo, tu đạo. Pháp phi sở đoạn, đắc có
khác nhau; nghĩa là với pháp nầy, nói chung, đắc có hai loại;
nếu phân biệt thì, các pháp vô lậu gọi là phi sở đoạn;
phi trạch diệt, đắc thuộc tu sở đoạn; nếu trạch diệt
phi thánh đạo sở dẫn, thì đắc cũng như vậy; đắc của
trạch diệt do thánh đạo sở dẫn và đắc của đạo đế
đều là phi sở đoạn.
Trước
tuy nói chung pháp ở ba đời đều có ba đắc. Nay nên phân
biệt tướng khác nhau của chúng ở trong đó.
Tuỳ
nạn biệt giải :
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c25:
無 記 得 俱 起 除 二 通 遍 化
T29n1560-p0312c26:有
覆 色 亦 俱 欲 色 無 前 起
Âm
Hán :
Vô
ký đắc câu khởi Trừ nhị thông biến hoá
Hữu
phú sắc diệc câu Dục sắc vô tiền khởi
Việt
dịch :
Vô
ký đắc cùng khởi Trừ hai thông, biến hoá/39cd/
Hữu
phú, sắc cũng cùng Dục, sắc không khởi trước /40ab/.
Luận
giải thích :
Nghĩa
là với pháp vô phú vô ký, đắc chỉ có một loại đó là
cùng khởi (câu khởi); không có sanh khởi trước hoặc sau,
vì thế lực yếu kém. Pháp nếu ở quá khứ, đắc cũng ở
quá khứ; pháp nếu ở vị lai, đắc cũng ở vị lai; pháp
nếu ở hiện tại, đắc cũng ở hiện tại.
Tất
cả các pháp vô phú vô ký, đắc đều như vậy cả ư ?
Không
như vậy.
Tại
sao ?
Trừ
nhãn thông, nhĩ thông và năng biến hoá; nghĩa là thông huệ
nhãn, nhĩ và tâm năng biến hoá thế lực mạnh mẽ; do
gia hạnh khác nhau mà thành tựu; cho nên tuy tánh là vô phú
vô ký nhưng vẫn có đắc của trước, sau và cùng lúc (câu
khởi). Như Công xảo xứ và oai nghi lộ, với người đã luôn
thực hành, đắc cũng chấp nhận như vậy.
Duy
pháp hữu phú vô ký, đắc chỉ có cùng khởi chăng ?
Không
như vậy.
Tại
sao ?
Sắc
hữu phú vô ký, đắc cũng như vậy; nghĩa là các vô biểu
sắc hữu phú vô ký, đắc cũng giống như trước, chỉ có
cùng khởi. Tuy có thượng phẩm nhưng cũng không thể phát
sinh vô biểu vì thế lực yếu kém. Do đó, quyết định không
có đắc trước và sau của pháp.
NHƯ
PHÁP VÔ KÝ, ĐẮC CÓ KHÁC NHAU; THIỆN, BẤT THIỆN, ĐẮC CŨNG
NHƯ VẬY Ư ?
Giống
như vậy (diệc hữu).
Tại
sao ?
Nghĩa
là sắc thiện, bất thiện hệ thuộc cõi Dục, không có đắc
khởi trước; chỉ có đắc cùng khởi và khởi sau.
Phi
đắc cũng giống như đắc, có các phẩm loại như trên chăng
?
Không
giống như thế.
Tại
sao ?
ii.Phi
đắc :
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c27:非
得 淨 無 記 去 來 世 各 三
T29n1560-p0312c28:三
界 不 繋 三 許 聖 道 非 得
T29n1560-p0312c29:說
名 異 生 性 得 法 易 地 捨
Âm
Hán :
Phi
đắc tịnh vô ký Khứ lai thế các tam
Tam
giới bất hệ tam Hứa thánh đạo phi đắc
Thuyết
danh dị sanh tánh Đắc pháp dịch địa xả
Việt
dịch :
Phi
đắc toàn vô ký Quá khứ, vị lai, đều có ba/40cd/.
Ba
cõi, pháp bất hệ có ba Chấp nhận phi đắc thánh đạo
Gọi
là dị sanh tánh Pháp đắc chuyển cõi xả/41/.
Luận
giải thích :
Tánh
sai biệt - tất cả các phi đắc đều chỉ nhiếp thuộc tánh
vô phú vô ký.
Thế
sai biệt- quá khứ, vị lai đều có ba loại; nghĩa là pháp
hiện tại, quyết định không có phi đắc; chỉ có đắc thuộc
quá khứ và vị lai. Quá khứ vị lai, mỗi mỗi đều có phi
đắc của cả ba đời.
Giới
sai biệt - các hệ pháp và bất hệ pháp trong ba cõi đều
có ba phi đắc; đó là hệ pháp cõi Dục, có phi đắc của
ba cõi; hệ pháp và bất hệ pháp của cõi Sắc, Vô sắc cũng
như vậy. Quyết định không có phi đắc là pháp vô lậu.
Lý do vì sao ?
Do
chấp nhận rằng, phi đắc thánh đạo gọi là dị sanh tánh.
Như Bổn Luận nói, thế nào là dị sanh tánh? Đó là bất
hoạch thánh đạo; bất hoạch tức dị danh của phi đắc.
Không thể nói dị sanh tánh là vô lậu được.
Không
có đựơc (hoạch) thánh pháp nào gọi là dị sanh tánh. Đó
là không có được tất cả. Luận Phát trí không nói riêng
cho nên chữ bất hoạch nầy biểu thị lìa xa hoạch (ly ư
hoạch). Nếu khác vậy, chư phật thế tôn cũng không thể
thành tựu chủng tánh thánh pháp thanh văn, độc giác,
nên gọi là dị sanh
Nếu
vậy, Bổn luận nên thuyết thuần ngôn (thuần bất hoạch
thánh pháp pháp danh dị sanh tánh).
Không
cần phải nói, trong câu nầy đã bao hàm nghĩa của chữ thuần
rồi vậy. Như nói loại nầy, thực thủy, thực phong.
Có
thuyết nói, bất hoạch khổ pháp trí nhẫn và câu sanh pháp
gọi là dị sanh tánh.
Không
thể nạn vấn nói rằng, khi ở nơi đạo loại trí, xả
bỏ pháp khổ pháp trí nhẫn cho nên thành phi thánh. Phi đắc
kia, ở trước, đã bị tổn hại vĩnh viễn.
Nếu
vậy tánh của khổ nhẫn nầy đã thông với ba thừa, không
có được (bất hoạch) những pháp gì nữa mà gọi là dị
sanh tánh?
Ở
đây, cũng nên nói, không có được tất cả.
Nếu
vậy, cũng giống như trước, nêu lên nạn vấn.
Vấn
nạn nầy cũng như trước mà giải thích.
(Luận
chủ) Nếu vậy, lặp lại vô ích. Như Kinh bộ sư nói là hợp
lý.
Kinh
bộ sư nói nghĩa kia như thế nào ? Đó là trên thân tương
tục chưa từng sanh khởi thánh pháp nào, chỉ căn cứ vào
phần vị sai biệt mà gọi là dị sanh tánh.
Như
vậy, phi đắc lúc nào mới xả ? (Xả phân biệt môn)
Phi
đắc của pháp nầy khi đắc được pháp nầy hoặc khi chuyển
đổi địa mới xả phi đắc nầy. Như phi đắc thánh đạo
gọi là dị sanh tánh. Khi chứng đắc thánh đạo, hoặc chuyển
đổi cảnh giới, liền xả. Phi đắc của các pháp còn lại,
theo đây mà suy nghĩ.
Khi
phi đắc được đoạn, chẳng phải đắc hay phi đắc sanh
ra; như vậy gọi là xả bỏ phi đắc. Đắc cùng với
phi đắc, há lại có các đắc và phi đắc khác ư ? Nên nói,
hai loại nầy đều lại có đắc và phi đắc khác.
Nếu
vậy, há không bị lỗi vô cùng ư ?
Không
có lỗi vô cùng. Chấp nhận đắc xoay vần nên có sự tương
quan tạo tác lẫn nhau; vì khi pháp sanh khởi cùng với tự
thể, có ba pháp cùng sanh khởi. Thứ nhất là bổn pháp;
thứ hai là pháp đắc; thứ ba là đắc đắc; nghĩa là trong
tương tục, do pháp đắc khởi lên cho nên thành tựu bổn
pháp và pháp đắc đắc; pháp đắc đắc khởi lên cho nên
thành tựu pháp đắc. Do vậy trong đó, không có lỗi
vô cùng.
Như
vậy, hoặc là pháp thiện, hoặc là pháp nhiễm ô, mỗi mỗi
tự thể, khi ban đầu mới sanh khởi, cùng với tự thể, có
ba pháp cùng sanh khởi. Sát na thứ hai, có sáu pháp cùng sanh
khởi; đó là ba pháp đắc và ba đắc đắc. Sát na thứ ba,
có 18 pháp cùng sanh khởi; đó là chín pháp đắc và chín đắc
đắc được sanh ra ở nơi sát na thứ nhất, sát na thứ hai.
Như
vậy các đắc về sau cứ tăng lên dần; tất cả các đắc
của từng sát na phiền não, tuỳ phiền não và sanh đắc thiện
trong quá khứ, vị lai, cùng với đắc của các pháp tương
ưng, câu hữu, trong vòng sanh tử luân hồi vô cùng vô tận,
lại có vô biên đắc. Vả lại, trong từng sát na, mỗi hữu
tình trong chuỗi sanh tử tương tục, khởi vô biên đắc; như
vậy tất cả các hữu tình trong chuỗi tương tục, mỗi mỗi
đều khác nhau; từng sát na, từng sát na, cùng khởi lên vô
lượng vô biên các đắc. Như vậy các đắc, tích tập rất
nhiều; nhưng nhờ không đối ngại cho nên có khả năng dung
chứa lẫn nhau. Nếu không như vậy, chỉ đắc của một hữu
tình, hư không cũng không dung nỗi, huống là đến đắc thứ
hai, thứ ba, v.v...
Thuyết
Nhất Thiết Hữu Bộ Câu xá Luận (q.4)
Việt
dịch: Thích Phước Viên.
Chú
Thích
1
Quang Ký q.4,tr80c05, 定 所 滋 潤 無 瞋 等 惑 不 善 法 故
無 不 善 無 憂 根 故 無 惡 作 無 段 食 故 無 睡 眠 ở
Sơ tịnh lự, do thấm nhuần thiền định, không có các phiền
não sân, v.v... nên không có bất thiện; không có ưu căn nên
không có ác tác; không có đoạn thực nên không có thuỳ miên.
2Tụng
sớ Viên Huy q.4, tr.843c17 Kinh nói, siễm cuống cực chí phạm
thiên, cố duy sơ thiền đắc hữu siễm cuống; dĩ sơ thiền
địa, thần chủ tương y, tất hành siễm cuống; Kinh nói,
siễm cuống có mặt đến cõi cao nhất là Phạm thiên,
tức là chỉ đến sơ thiền; bởi lẽ,đến cõi sơ thiền
còn có sự tương quan giữa vua tôi nên mới có siễm cuống.
3Quang
Ký q.4,tr80c12, 諂 誑 始 從 欲 界 至 初 定 梵 天 由 有 王
臣 尊 卑 差 別 更 相 接 事 (力 ) 眾 相 依 故 故 有 諂
誑; 二 定 以 上 乃 至 有 頂 無 王 臣 等 尊 卑 差 別 無
有 諂 誑; 所 以 得 知 初 定 有 諂 誑 者 siễm, cuống bắt
đầu từ cõi Dục cho đến cõi Phạm thiên của sơ định,
do có các sự cao thấp khác nhau giữa vua tôi; lại có tiếp
xúc; là sở y của các tướng, cho nên có siễm, cuống. Nhị
định lên đến Hữu đảnh không có sự cao thấp khác nhau
của vua tôi nên không có siễm cuống; do đó biết rằng sơ
định có siễm cuống vậy.
4
Ht.馬 勝 泌 芻 Mã thắng bí sô. Cđ 。 阿 輸 實
比 丘 A thâu thật tỳ kheo. Skt. Avajit-bhīkṣu.
5
Ht. 差 別 sai biệt. Cđ. 異 相 Dị tướng.
6
Quang Ký q.4,tr81b06, 諸 功 德 謂 戒 定 等 , các công
đức (maitrī, karuṇā) : đó là giới, định, v.v...
7
Quang Ký nt. tr.81b06, 有 德 者 謂 師 長 , Bậc hữu đức :
là các Bậc Sư trưởng, v.v...
8
Ht. 無 慚 vô tàm. Skt. āhrīkyaṃ.
9
Ht. 無 愧 vô quý. Quang Ký q.4,tr81b13, 於 此 罪 中
不 見 能 招 可 怖 畏 果 說 名 無 愧 ở trong tội nầy,
không thấy nó sẽ dẫn đến kết sợ hãi gọi là vô quý.
Cđ. 無 羞 vô tu . Skt. anapatrāpyaṃ.
10
Quang Ký q.4,tr81b18, 又 解 為 見 罪 而 不 怖 名 不 見 怖
此 問 怖 屬 心 即 緣 境 怯 怖 為 不 見 彼 罪 家 怖 果
名 不 見 怖 此 問 怖 屬 境 即 所 怖 果 có một giải thích
khác, là thấy tội mà không lo sợ gọi là bất kiến bố;
với câu hỏi nầy, bố thuộc tâm, khi duyên cảnh khiếp sợ;
hay là không thấy kết quả đáng sợ trong tội kia gọi là
bất kiến bố, với câu hỏi nầy, bố thuộc cảnh tứcquả
sợ hãi.
11
Quang Ký q.4,tr81b22, 外 人 出 過 若 見 彼 罪 怖 果 而 不
怖 畏 名 不 見 怖 應 顯 智 慧 智 慧 謂 邪 見 以 此 邪
見 撥 因 果 故 故 正 理 云 應 顯 邪 見 若 不 見 彼 罪
怖 畏 果 名 不 見 怖 應 顯 無 明 以 此 無 明 不 見 怯
怖 người ngoài nêu lỗi, nếu thấy hậu quả đáng sợ ở
trong tội kia mà không lo sợ gọi là bất kiến bố tức hiển
bày trí huệ, trí huệ này là tà kiến; do tà kiến nầy khiến
bác bỏ không tin nhân quả. Cho nên Luận Chánh Lý (đại ý
ở q.11,tr.393b02) nói rằng, là hiển bày tà kiến, nếu không
lấy làm lo sợ kết quả đáng sợ trong tội kia; hiển bày
vô minh, nếu do vô minh nầy khiến không khiếp sợ. 又
解 若 見 罪 而 不 怖 應 顯 邪 見 若 不 見 彼 罪 家 怖
果 應 顯 無 明 Hoặc có giải thích, nếu thấy tội mà không
sợ, là hiển bày tà kiến; nếu không thấy hậu quả đáng
sợ trong tội kia, là hiển bày vô minh.
12
Quang Ký q.4,tr81c03, 此 顯 有 法 無 愧 是 隨 煩 惱 為 彼
邪 見 無 明 二 因 說 名 無 愧 故 正 理 云 能 與 現 行
無 智 邪 智 為 鄰 近 因 說 名 無 愧 Ở đây hiển bày có
pháp vô quý, một loại tùy phiền não là nhân của tà kiến
và vô minh, gọi đó là vô quý. Cho nên Chánh Lý q11,tr393b03,
nói rằng, làm nhân lận cận của vô trí, tà trí hiện hành
gọi là vô quý.
13
Chánh Lý q.11,tr393b09, 有 說 獨 處 造 罪 無 恥 名 曰 無 慚
若 處 眾 中 造 罪 無 恥 說 為 無 愧 có thuyết nói, ở
riêng một mình tạo tội, không biết xấu hổ gọi là vô
tàm; ở giữa chúng tạo tội, không biết xấu hổ gọi là
vô quý. (có nhiều cách giải thích khác, ở đây và trong Bà
Sa quyển 34)
14
Ht. 愛 Ái. C 愛 樂 Skt. Preman.
15
Chánh Lý q11.tr393b27, 信 復 有 二 一 忍 許 相 二 願 樂 相
。 Tín lại chia làm hai loại : 1.tướng nghe theo. 2. tướng
ưa thích.
16
Quang Ký q.4,tr.8126, 第 一 句 有 信 非 愛 謂 緣 苦 集 信
忍 許 苦 集 有 第 一 信 故 名 有 信 有 漏 之 法 非 可
愛 樂 無 第 二 信 故 名 非 愛 Câu thứ nhất : Có tín chẳng
phải ái –nghĩa là đối với khổ đế, tập đế có sự
tín thuận đó là tín thứ nhất, gọi là hữu tín; pháp hữu
lậu chẳng đáng ưa thích tức không có tín thứ hai, đó gọi
là chẳng phải ái.
17
Quang Ký nt. 第 二 句 有 愛 非 信 謂 諸 染 污 愛 緣
妻 子 等 起 染 污 愛 是 有 第 一 愛 故 名 有 愛 是 染
污 故 非 信 Câu thứ hai : Có ái chẳng phải là tín
– đó là các ái nhiễm ô; duyên với vợ con, v.v... khởi
lên ái nhiễm ô; đây là ái thứ nhât nên gọi là
hữu ái; vì là nhiễm ô nên chẳng phải ái.
18
Quang Ký nt. 第 三 句 有 通 信 愛 謂 緣 滅 道 信 忍 許 滅
道 有 第 一 信 故 名 有 信 無 漏 之 法 是 可 愛 樂 有
第 二 信 故 名 有 愛 Câu thứ ba : Thông cả tín và ái –nghĩa
là đối với diệt đế, đạo đế có sự tín thuận tức
có tín thứ nhất nên gọi là hữu tín; pháp vô lậu là pháp
đáng ưa thích tức có tín thứ hai nên gọi là hữu ái.
19
Đây là câu thứ tư của Bốn câu. Chánh văn đã rõ.
20
Quang Ký q4.tr82a07, 此 師 意 說 忍 許 愛 樂 既 不 同 時 故
愛 非 信 Ý của vị Sư nầy nói, tin thuận và ưa thích đã
không đồng thời cho nên ái chẳng phải là tín.
21
Ht. 敬 Kỉnh. Skt. Gurutva.
22
Quang Ký q4,tr.82a10, 第 一 句 有 慚 非 敬 謂 緣 苦 集 慚
緣 彼 苦 集 善 心 起 時 有 慚 恥 故 所 以 有 慚 有 漏
之 法 非 可 尊 重 所 以 無 敬 故 緣 苦 集 慚 而 非 敬
也 Câu thứ nhất : Có tàm chẳng phải kỉnh nghĩa là đối
với khổ đế, tập đế, khi tâm thiện khởi lên, có sự
xấu hổ; do đó, có tàm; pháp hữu lậu chẳng phải đáng
tôn trọng, do đó không có Kỉnh. Cho nên, duyên với khổ,
tập, chỉ có tầm, không có kỉnh.
23
Quang Ký nt. 第 二 句 有 通 慚 敬 謂 緣 滅 道 慚 緣
彼 滅 道 善 心 起 時 有 慚 恥 故 有 慚 無 漏 之 法 可
尊 重 故 故 緣 滅 道 慚 即 攝 敬 故 也 Câu thứ hai : Thông
cả tàm và kỉnh nghĩa là đối với diệt đế, đạo đế,
khi tâm thiện khởi lên, có sự xấu hổ nên nói có tàm;
pháp vô lậu là pháp đáng được tôn trọng nên có kỉnh;
do vậy, tàm duyên với diệt đế, đạo đế , trong đó bao
gồm cả kỉnh (đoạn nầy giải thích Tàm nghĩa rộng hơn,
Kỉnh nghĩa hẹp; do đó, chỉ lập hai câu).
24
Quang Ký nt. tr.82a17, 敬 先 慚 後 時 既 不 同 敬 非 慚 Kỉnh
trước, tàm sau; như vậy về thời gian tàm kỉnh không đồng
thời, do vậy Kỉnh chẳng phải là Tàm. Luận Chánh Lý q.11,
tr393c05 , 彼 師 應 許 無 慚 恥 者 能 起 恭 敬 以 執 先
起 敬 時 未 有 慚 恥 故 應 無 慚 者 能 起 恭 敬 若
謂 敬 時 已 有 慚 恥 則 不 應 說 由 敬 為 先 方 生
慚 恥 若 謂 敬 時 非 無 慚 恥 然 敬 非 慚 此 亦 非 理
言 敬 非 慚 無 證 因 故 bác bỏ quan điểm nầy (như sau),
vị Sư nầy cho rằng, người không biết xấu hổ (vô tàm
sỉ) cũng có sự kỉnh trọng bởi lẽ, trước khi khởi kỉnh,
chưa có tàm sỉ; nghĩa là người không có tàm cũng có kỉnh.
Nếu cho rằng khi Kỉnh tức đã có sỉ thì không nên nói,
do kỉnh làm đầu mới sanh tàm sỉ; nếu cho rằng, khi Kỉnh
chẳng phải không có tàm sỉ, nhưng kỉnh chẳng phải là tàm;
đây cũng là phi lý. Nói kỉnh không có tàm không có chứng
nhận vậy
25
Phật quang đại từ điển q.hạ,tr.5270b20, 補 特 迦 羅 Bổ
đặc già la: tiếng Phạn là Pudgala; còn gọi là phú đặc
già la, phất già la, phú già la, dịch nghĩa là người, chúng
sanh, sát thủ thú, chúng số, chỉ cho chủ thể chuyển sanh
trong vòng sanh tử luân hồi.
26Quang
Ký q.4, tr82a25, 第 一 句 有 愛 無 敬 於 妻 子 等 由 貪 染
故 有 染 污 愛 非 可 尊 重 所 以 無 敬 Câu thứ nhất:
hữu ái vô kỉnh tức đối với vợ con, v.v... do lòng tham
nhiễm nên có ái nhiễm ô; nhưng chẳng phải là đáng tôn
trọng do đó không có kỉnh.
27
Quang Ký nt. 第 二 句 有 敬 無 愛 於 他 師 等 可 尊 重 故
有 敬 非 願 樂 故 無 愛 Câu thứ hai : hữu kỉnh vô ái
tức đối với Thầy, v.v... của người khácđáng tôn
trong nên có kỉnh; nhưng chẳng phải đáng yêu mến nên không
có ái.
28
Quang Ký nt. 第 三 句 有 愛 有 敬 於 自 師 等 可 願 樂 故
有 愛 無 染 污 愛 可 尊 重 故 有 敬 Câu thứ ba : Hữu ái
hữu kỉnh tức đối với Thầy mình,v.v... đáng yêu mến nên
có ái, không thuộc ái nhiễm ô; đáng kính trọng nên có kỉnh.
29
Ht. 愛 敬 有 二 謂 緣 於 法 補 特 伽 Cđ.
(信 有 二 種 一 信 法 二 信 人 tín hữu nhị chủng : một,
tin pháp; hai, tin người.) 尊 重 亦 爾 tôn trọng (ái kỉnh)
cũng vậy.
30
Quang Ký q4.tr82b08, 緣 補 特 伽 羅 故 不 通 無 色 以 欲 色
界 有 色 身 故 有 尊 卑 故 相 貌 顯 故 可 得 相 望 有
愛 有 敬 無 色 不 爾 故 在 彼 無 duyên với Bổ đặc già
la nên không có ở cõi Sắc; ở cõi Dục, cõi Sắc, có sắc
thân, có tôn ti, tướng mạo rõ ràng, có thể trong tương quan
qua lại sanh khởi ái và kính. Cõi Vô sắc không như vậy,
nên ở đó không có. 問 若 通 色 界 何 故 婆 沙 二 十 九
云 問 如 是 愛 敬 於 何 處 有 ? 答 三 界 五 趣 雖 皆
容 有 而 此 中 說 殊 勝 愛 敬 唯 在 欲 界 人 趣 非 餘
唯 佛 法 中 有 此 愛 敬 Nếu thông với cõi Sắc tại sao
Bà Sa q.29,tr152c12, nói, hỏi: ái kỉnh như vậy, có ở cõi
nào? đáp: trong Ba cõi, năm Đường, tuy đều cùng có
nhưng ở trong đây nói thù thắng ái kỉnh chỉ có ở loài
người tại cõi Dục; chẳng có ở nơi nào khác. Duy chỉ trong
Phật pháp mới có ái kỉnh nầy. 准 婆 沙 據 別 意 說 唯
在 欲 界 何 故 此 論 通 色 界 耶 Căn cứ vào ý riêng của
Bà Sa nói, chỉ có ở cõi Dục, tại sao Luận nầy nói có
ở cả Ba cõi ? 解 云 此 論 據 顯 故 通 色 界 婆 沙
據 殊 勝 故 欲 界 各 據 一 義 并 不 相 違 Giải rằng,
Luận nầy căn cứ vào hiển tướng nên nói thông với cõi
Sắc; Bà Sa căn cứ vào tính chất thù thắng nên nói chỉ
có ở cõi Dục. Mỗi bên căn cứ theo một nghĩa riêng, không
trái chống nhau.
31
Đây là giải thích thứ nhất, lấy trong Bà Sa q42,tr219b03,
有 作 是 說 , 如 以 熟 酥 置 冷 水 上 日 光 照 觸 由
水 日 故 非 釋 非 凝 ; 如 是 日 心 有 尋 有 伺 二 力
任 持 非 麤 非 細 是 故 尋 伺 互 得 相 應 慚 令 心 麤
伺 令 心 細 . Quang Ký q4,tr82b27 酥 由 水 故 非
釋 , 酥 由 日 故 非 凝 ; 水 是 凝 因 日 是 釋 因 。
如 是 一 心 由 有 尋 故 不 過 細 , 由 有 伺 故 不 過
麤 , 尋 是 麤 因 , 伺 是 細 因 ; 故 於 一 心 俱 有
作 用 , 何 理 相 違 ?Tính chất thục tô là (do) nước
cho nên chẳng phải tan ra (thành nước); thục tô lại do (sức
nóng) mặt trời chiếu lên (chứ tự bản chất) chẳng phải
là đặc. Nước là nguyên nhân của sự đông đặc, mặt trời
là nguyên nhân của sự tan chảy. Cũng như vậy, trong một
tâm do có tầm nên không quá tế; do có tứ nên không quá thô;
tầm là nhân của thô; tứ là nhân của tế. Cho nên, ở trong
một tâm, (cả hai) đều có tác dụng, chẳng có lý gì trái
nhau ? Pháp uẩn túc luận q.7, Phẩm tịnh lự, tr483b16, 如 打
锺 時 麤 聲 暫 發 細 聲 隨 轉 ; 麤 聲 喻 尋 細 聲 喻
伺 ; 搖 鈴 扣 缽 ; 吹 螺 擊 鼓 ; 放 箭 震 雷 麤 細
二 聲 為 喻 亦 爾 。 。 như khi đánh chuông, âm thanh thô
xẳng tạm phát, âm thanh dịu nhẹ tuỳ theo đó chuyển
khởi. Âm thanh thô xẳng dụ tầm, âm thanh dịu nhẹ dụ tứ.
Lắc linh, gõ bát; thổi loa đánh trống; bắn tên; sấm sét,
hai loại âm thanh thô tế cũng ví như vậy.
32
Quang Ký q.4, tr.82c06, 夫 麤 細 性 相 待 而 立 , 或 約 三
界 , 或 約 九 地 , 或 約 九 品 , 差 別 不 同 , 上
下 相 形 , 下 地 名 麤 , 上 地 名 細 , 乃 至 有 頂
, 望 下 地 為 細 , 望 滅 定 為 麤 , 應 有 尋 伺 。
nói rằng, thô tế vốn do đối đãi tạo nên, hoặc căn cứ
vào Ba cõi, hoặc căn cứ vào Chín địa, hoặc Chín phẩm,
sai biệt bất đồng; trên dưới đối nhau; cõi dưới gọi
là thô, cõi trên gọi là tế; cho đến cõi Hữu đảnh đối
với cõi dưới ,gọi là tế, đối với Diệt định gọi là
thô, (vậy) lẽ ra nên có tầm tứ. Quang Ký nt. tr.82c13,
又 諸 法 中 麤 細 二 性 無 差 別 體 類 , 不 可 依
之 , 以 別 尋 伺 二 種 差 別 ; 如 受 領 納 所 顯 ,
想 取 像 所 顯 , 諸 心 所 法 皆 有 別 相 。 此 麤 細
性 總 通 五 蘊 故 不 可 依 以 別 尋 伺 Lại nữa,
trong các pháp, nếu tính thô và tế không có thể loại riêng
biệt, thì không thể căn cứ vào đó để phân biệt hai loại
tầm tứ khác nhau; như thọ được hiển bày do sự lãnh nạp;
tưởng được hiển bày do sự nắm bắt đối tượng; các
pháp tâm sở đều có hành tướng riêng biệt; tính thô tế
nầy cùng thông với năm uẩn cho nên không thể dựa vào đó
để phân biệt tầm tứ.
33
Cđ. có giác, có quán, sau mới có ngôn thuyết; chẳng phải
chưa có giác, chưa có quán (mà có ngôn thuyết) 已 覺 以 觀
方 有 言 說 , 非 未 覺 未 觀 。
34
Quang Ký q.4, tr82c18 (Bà Sa), 行 之 言 因 ; 尋 伺 二 種 是
語 言 因 能 發 語 言 故 。 因 中 有 二 , 麤 者 名 尋
, 細 者 名 伺 ; 於 一 心 中 , 麤 細 俱 起 , 何 理
相 違 ? hành nói là nhân; hai loại tầm tứ là nhân của
ngôn ngữ, phát sinh ngôn ngữ vậy. Trong nhân có hai : loại
thô là tầm, loại tế là tứ; trong một tâm, thô và tế cùng
khởi lên, chẳng có lý nào trái.
35
Quang Ký q.4,tr83a01, (Thế Thân) 非 由 麤 細 能 顯 尋
伺 別 相 ; 心 心 所 法 一 一 類 中 , 據 相 待 對 皆
有 麤 細 ; 既 無 別 相 以 簡 尋 伺 , 由 是 應 知 ,
尋 伺 二 法 定 不 可 執 一 心 相 應 。 Chẳng phải do thô
và tế hiển bày hành tướng khác nhau của tầm và tứ, bởi
lẽ, trong mỗi một loại tâm, tâm sở, theo tính đối đãi,
đều vốn có thô tế; đã không có hành tướng riêng biệt,
để phân biệt tầm tứ, do đó nên biết, hai pháp tầm
tứ hẳn không thể cho rằng cùng tương ưng trong một tâm.
36
Ht. 五 支 Năm chi . Cđ. 五 分 năm phần . Quang Ký
q.4,tr83a06: 尋 伺 喜 樂 定 五 支 , năm chi tầm, tứ, hỷ,
lạc và định. Pháp uẩn túc luân q.7,tr. 483c12, 尋 伺
喜 樂 心 一 境 性 , 總 此 五 支 名 初 靜 慮。 Tầm, tứ,
hỷ, lạc, tâm nhất cảnh tính; gồm cả năm chi gọi là Sơ
tịnh lự.
37
Pháp uẩn túc luận q.9, Phẩm tạp sự 16,tr.495c15 , 云 何 慢
? 謂 於 劣 謂 己 勝 , 或 於 等 謂 己 等 。 。 。
於 等 謂 己 勝 , 或 於 勝 謂 己 等 由 此 起 慢 已 慢
當 舉 恃 心 自 取 總 名 為 慢 。 Thế nào là mạn? nghĩa
là đối với thấp kém bảo ta hơn, hoặc với ngang bằng,
bảo ta ngang bằng; đối với ngang bằng bảo ta hơn hoặc đối
với người hơn lại bảo là ta bằng; v.v... do đó, đã khởi
mạn, đang khởi mạn, sẽ khởi mạn, tâm tự ỷ lại, tự
đề cao, tâm tự chấp thủ, đều gọi là mạn. Bà Sa
q.43.tr, 222c29 ...此 中 慢 等 名 雖 有 易 而 體 無 差
別 皆 為 顯 了 慢 自 性 故 ,trong đó, các tên gọi của
mạn tuy có khác nhau nhưng thể không sai biệt, đều hiển
bày tự tánh của mạn.
38
Quang Ký q.4,tr83a14, 憍 謂 染 著 種 性 色 等 自 法 為 先
令 心 傲 逸 於 諸 善 法 無 所 故 性 Kiêu: nghĩa là trước
tiên do đắm chấp giòng họ, sắc đẹp, ... của mình khiến
tâm cao ngạo, buông tuồng; đối với các pháp lành, tâm không
biết (có tính) nhìn lại.
39
Quang Ký, nt. tr.83a24, 憍 是 貪 等 流 果 Kiêu là quả đẳng
lưu của tham.
40
Bà Sa. nt. tr.223a08, 此 中 憍 者 謂 不 方 他 但 自 染 著
種 性 色 力 財 位 智 等 心 傲 逸 相 ; 此 中 慢 者 謂
方 於 他 種 性 色 力 財 位 智 等 自 舉 恃 相 。 Trong
đó, kiêu : là hành tướng của tâm, không hướng đến
người khác, chỉ đắm chấp vào những cái của mình như
dòng họ, sắc lực, tiền bạc, địa vị, trí tuệ, v.v...
phát sinh cao ngạo, buông tuồng; trong đó, mạn : là hành tướng
hướng đến người khác, (so sánh) về dòng họ, sắc lực,
tiền bạc, địa vị, trí tuệ, v.v... , ỷ lại, tự đề cao.
41
Cđ. 善 惡 諸 界 所 增 長 故 名 心 , tâm là nơi (môi trường)
các loại thiện ác sanh trưởng . Quang Ký q.4,tr83b05, 梵 名
質 多 此 云 心 是 集 起 義 謂 由 心 力 集 起 心 所 及
事 業 等 ; 故 經 云 心 能 導 世 間 心 能 遍 攝 受 ;
故 能 集 起 說 名 為 心 Tiếng Phạn gọi là chất đa, Hán
dịch là Tâm có nghĩa là tập khởi, tức do lực của tâm
có khả năng chứa nhóm và làm sinh khởi các tâm sở cùng
các sự nghiệp, v.v... Cho nên Kinh nói: Tâm có khả năng dẫn
dắt thế gian, Tâm có khả năng thâu nhiếp các thọ; do đó,
có khả năng tập khởi, gọi là tâm.
42
能 解 故 名 意 , Ý là khả năng liễu giải. Quang Ký nt. 梵
云 末 那 此 云 意 是 思 量 義 Tiếng Phạn gọi là mạt
na, Hán dịch là Ý, có nghĩa là tư lương.
43
能 別 故 名 識 , Thức là khả năng phân biệt. Quang Ký .nt.
梵 云 毘 若 南 此 云 識 是 了 別 義 也 Tiếng Phạn gọi
là tỳ nhược nam, Hán dịch là Thức, có nghĩa là liễu biệt.
44
Quang Ký nt. 界 之 言 性 淨 不 淨 性 種 種 差 別 行
相 不 同 故 名 為 心 即 以 種 種 釋 心 義 也 ; 即
此 心 為 作 所 依 止 故 名 為 意 即 以 所 依 釋 意 義
也 ;以 作 能 依 止 故 名 為 識 即 以 能 依 釋 識 義
也 Giới tức là tính chất; các tính chất tịnh, bất
tịnh có nhiều loại khác nhau, hành tướng không đồng cho
nên gọi là tâm; tức lấy chủng loại (chủng chủng) giải
thích nghĩa của chữ tâm. Tâm nầy làm nơi nương tựa
cho tâm khác nên gọi là ý; tức lấy sở y giải thích ý nghĩa
chữ ý. Tâm nầy làm năng y, gọi là thức; tức lấy năng
y giải thích nghĩa chữ thức. Bà Sa q.72,tr371a17, 或 有
說 者 無 有 差 別; 心 即 是 意 , 意 即 是 識 , 此
三 聲 別 語 無 異 故 。 。 。 復 有 說 者 心 意 識
三 亦 有 差 別 ; 謂 名 即 差 別 , 名 心 名 意 名 識
異 故 。 復 次 世 亦 差 別 謂 過 去 名 意 未 來 名 心
現 在 名 識 。 復 次 施 設 亦 有 差 別 謂 界 中 施 設
心 , 處 中 施 設 意 , 蘊 中 施 設 識 故 。 復 次 義
亦 有 差 別 謂 心 是 種 族 義 , 意 是 生 門 義 , 識
是 積 聚 義 。 復 次 業 亦 有 差 別 謂 遠 行 是 心 業
, 前 行 是 意 業 , 續 生 是 識 業 。Hoặc có thuyết
: không có sai biệt; tâm tức là ý, ý tức là thức; ba chữ
nầy tên gọi khác nhau nhưng nghĩa chỉ là một. Lại có thuyết
nói : có sự khác nhau; ba chữ tâm ý thức cũng có sự khác
nhau, đó là tên gọi khác nhau : là tâm, là ý, là thức. Lại
nữa, về mặt thời gian, có sự khác nhau : quá khứ là ý;
vị lai là tâm; hiện tại là thức. Lại nữa, chỗ thi thiết
có sự khác nhau : tâm thi thiết trong giới; ý thi thiết trong
xứ; thức thi thiết trong uẩn. Lại nữa, nghĩa có sự khác
nhau : tâm có nghĩa là chủng tộc; ý có nghĩa là sanh môn;
thức có nghĩa là tích tụ. Lại nữa nghiệp có sự khác nhau
: nghiệp của tâm là viễn hành; nghiệp của ý là tiền
hành; nghiệp của thức là tục sanh.
45
Quang Ký q.4,tr.83b24, 心 心 所 法 有 四 異 名: 一 名 有 所
緣 必 託 依 根 故 。 二 名 有 所 緣 必 杖 境 起 故
。 三 名 有 行 相 即 於 所 緣 一 切 諸 法 品 類 差 別
種 種 不 同 心 心 所 法 隨 緣 何 等 等 起 行 相 故 名
有 行 相 謂 心 心 所 法 其 體 明 淨 隨 對 何 境 法 爾
前 境 皆 必 現 於 心 心 所 上 ; 此 所 現 者 名 為 行
相 ; 即 由 此 現 帶 境 義 邊 , 似 前 境 邊 說 為 能
緣 ; 然 此 行 相 無 有 別 體 不 離 心 等 即 心 等 攝
非 是 礎 緣 ; 猶 如 明 境 对 眾 色 相 皆 現 境 而 此
所 現 像 而 非 所 照 ; 然 約 像 現 說 境 能 照 , 此
亦 應 然 Tâm, tâm sở có bốn tên gọi khác nhau: (1) Hữu
sở y, tức nương vào căn. 2) Hữu sở duyên, tức duyên cảnh
để khởi. (3) Hữu hành tướng: cảnh sở duyên có nhiều
phẩm loại sai biệt, bất đồng, tâm và tâm sở tuỳ theo
lúc duyên với đối tượng nào đó, khởi lên hành tướng,
gọi là hữu hành tướng. Nói cách khác, tâm, tâm sở, thể
của chúng vốn minh tịnh, tuỳ theo đối tượng khi duyên,
(có) tiền cảnh hiện tiền trên tâm, tâm sở; cảnh hiện
tiền đó gọi là hành tướng; tức từ đối tượng hiện
tiền, trên bình diện đới cảnh, tương tợ với bình diện
tiền cảnh, nói là năng duyên. Song hành tướng nầy không
có thật thể riêng biệt, không thể tách rời khỏi tâm, v.v...
tức nhiếp thuộc vào tâm, v.v...; chẳng phải sở duyên. Cũng
giống như gương sáng với các sắc tướng hiện ở trong đó;
ảnh tượng nầy chẳng phải là sở chiếu; chỉ căn cứ vào
ảnh tượng xuất hiện, nói gương năng chiếu; đây cũng như
vậy。 言 行 相 者 謂 有 境 界 像 貌 故 名 行 相
Nói hành tướng : có tướng mạo cảnh tượng của cảnh giới
nên gọi là hành tướng. 又 解 有 所 行 境 家 相 故
名 行 相 Lại có giải thích : có tướng mạo trong phạm vi
sở hành gọi là hành tướng. 又 解 遷 流 名 行 心 等 上
現 名 相 , 即 行 名 相 故 名 行 相 Lại có giải thích
: dời đổi gọi là hành; xuất hiện trên tâm, tâm sở
gọi là tướng; tức chính hành là tướng nên gọi
là hành tướng. 又 解 行 謂 行 解 如 了 別 等 , 相 謂
相 貌 如 影 像 等 , 行 家 相 故 名 為 行 相 Lại có giải
thích : hành có nghĩa hành giải như liễu biệt, v.v... ; tướng
nghĩa là tướng mạo, như ảnh tượng, v.v... ; môi trường
hoạt động của tướng gọi là hành tướng (4). 四 名
相 應 等 和 合 。 。 。 既 以 等 和 合 釋 鄙 相 應 ,
依 何 義 故 名 等 和 合 ? Tương ưng , đẳng hoà hiệp
: Đã dùng đẳng hoà hiệp giải thích nghĩa tương ưng; vậy,
căn cứ vào nghĩa nào gọi là đẳng hoà hiệp ? _心 心 1義
瓶 等 相 似 故 說 相 應 。 Tâm tâm sở có năm nghĩa
bình đẳng tương tợ nên nói là tương ưng.
46
Quang Ký nt. (1). 一 所 依 平 加 必 同 所 依 根 , 意
識 及 相 應 法 有 一 種 依 謂 無 間 滅 意 根 ; 五 識
及 相 應 法 各 有 二 依 一 同 時 依 止 根 二 無 間 滅
意 根 隨 應 佳 是 所 依 平 等 。 此 文 欲 攝 二 種 所
依 故 不 別 言 同 一 所 依 。 諸 論 中 說 心 心 所 法
同 一 所 依 者 且 據 別 依 故 說 六 識 及 相 應 法 各
同 一 依 。 Sở y bình đẳng: cùng nương vào căn; ý
thức và các pháp tương ưng có chung một sở y là vô gián
diệt ý căn. Năm thức và các pháp tương ưng có chung hai sở
y – a. đồng thời y chỉ vào căn (mắt, tai, v.v..); b. vô gián
diệt ý căn; tuỳ theo sự ứng hợp, đều là sở y bình đẳng.
Văn nầy, muốn gồm chung hai loại sở y nên không nói riêng
đồng nhất sở y. Trong các Luận nói, tâm tâm sở đồng nhất
sở y tức căn cứ biệt y, cho nên nói sáu thức và các pháp
tương ưng đồng nhất sở y. 又 解 礎 依 瓶 等 此 顯 六
識 及 相 應 法 各 同 一 依 , 故 解 相 應 因 中 云 此
中 同 言 顯 所 依 一 雖 復 五 識 亦 依 意 根 , 此 文
且 據 同 時 依 說 Lại có giải thích . Sở y bình đẳng:
hiển bày sáu thức và các pháp tương ưng, đều cùng chung
một sở y; cho nên, trong phần giải thích tương ưng nhân nói,
trong nầy nói đồng có nghĩa là hiển bày sở y một loại,
tuy rằng năm thức cũng nương vào ý căn. Văn nầy căn cứ
vào đồng thời Y cứ mà nói. (2). 所 緣 平 等 ﹕ 謂 必 同
所 緣 境 於 所 緣 中 或 時 緣 一 或 復 緣 多 , 隨 應
皆 是 所 緣 平 等 。 諸 論 中 說 心 心 所 法 同 一 所
緣 者 且 據 別 緣 一 法 說 也 ; 若 不 爾 者 如 無 我
觀 除 自 相 應 倶 有 通 緣 一 切 , 此 豈 同 一 所
緣 Sở duyên bình đẳng: khi đã cùng duyên một cảnh,
trong đó, hoặc duyên với một hoặc duyên với nhiều, tuỳ
theo tương ứng, đều là sở duyên bình đẳng. Trong các Luận
nói, Tâm tâm sở cùng một sở duyên: tức căn cứ vào biệt
duyên một cảnh, mà nói. Nếu không như vậy, như quán vô
ngã, trừ tự tương ưng, đều thông duyên với tất cả; như
vậy đâu phải đồng một cảnh sở duyên。 又 解 所 緣
平 等 此 顯 六 識 及 相 應 法 各 同 一 緣 故 諸 論 中
說 心 心 所 法 同 一 所 緣 , 雖 復 亦 有 緣 多 境 者
; 此 文 且 據 緣 一 境 說 . Lại có giải
thích . Sở duyên bình đẳng: hiển bày sáu thức và các pháp
tương ưng đều cùng chung một cảnh. Cho nên, trong các Luận,
nói tâm tâm sở cùng một cảnh sở duyên, tuy có duyên với
nhiều cảnh vậy. Văn nầy căn cứ vào biệt cảnh, mà nói.
(3)。 三 行 相 平 等 心 心 所 法 其 體 明 淨 隨 緣
何 境 各 起 行 相 或 緣 一 法 各 一 行 相 或 緣 多 法
各 多 行 相 ; 若 一 若 多 行 相 皆 各 別 , 隨 應 皆
是 行 相 平 等, 以 多 現 時 各 有 多 相 故 不 言 同
一 行 相 。 諸 論 中 說 心 心 所 法 同 一 行 相 者 且
據 緣 一 境 相 似 義 , 理 實 皆 別 . Hành tướng
bình đẳng : tâm tâm sở ,thể là minh tịnh, tuỳ theo trường
hợp duyên một cảnh nào đó, đều khởi lên hành tướng;
hoặc duyên một cảnh, đều có một hành tướng, hoặc duyên
nhiều cảnh, đều có nhiều hành tướng; hoặc một hoặc
nhiều, hành tướng đều các biệt; tuỳ theo thích hợp, đều
là hành tướng bình đẳng; do khi xuất hiện nhiều, có nhiều
hành tướng nên không nói cùng một hành tướng. Trong các
Luận, Tâm tâm sở cùng một hành tướng: căn cứ vào ý nghĩa
của một cảnh tương tợ, lý có sự khác biệt. 又 解 行
相 瓶 等 此 顯 心 心 所 法 同 緣 一 境 名 同 一 行 相
故 諸 論 中 說 心 心 所 法 一 行 相 雖 復 行 相 各 別
不 同 , 據 相 似 同 故 言 同 一 行 相 雖 復 亦 有 緣
多 境 時 多 行 相 現 各 互 相 望 而 不 相 似 ; 此 中
且 約 緣 一 境 說 Lại có giải thích . Hành tướng
bình đẳng : hiển bày, tâm tâm sở cùng duyên một cảnh gọi
là cùng một hành tướng; cho nên các Luận nói, tâm tâm sở
cùng một hành tướng; tuy cũng có các hành tướng không đồng
nhau. Đây là căn cứ vào tương tợ, nói đồng, nên nói cùng
một hành tướng; tuy cũng có khi duyên với nhiều cảnh, có
nhiều hành tướng xuất hiện, hỗ tương qua lại mà không
tương tợ. Trong đó, căn cứ vào duyên một cảnh, mà nói.
(4). 四 時 平 等 謂 心 心 所 必 定 同 一 剎 那 時 者 也
或 同 生 住 滅 及 墮 一 世 故 言 時 平 等 。
Thời bình đẳng : tâm tâm sở nhất định cùng khởi trong
một sát na hoặc cùng sanh, cùng trú, cùng dị, cùng diệt,
hoặc cùng một đời, nên nói Thời bình đẳng. (5). 五 事
平 等 ﹕ 事 之 言 體 顯 各 體 一 故 言 事 等 於 一
相 應 心 心 所 中 如 心 體 一 諸 心 所 法 體 亦 各 一
必 無 二 體 一 時 俱 行 ; 此 約 剎 那 同 時 體 等 ,
非 言 前 後 異 品 數 等 , 應 知 此 中 所 依 所 緣 行
相 三 種 如 前 以 釋 , 時 義 可 知 故 不 別 釋 事 稍
難 知 故 偏 明 也 ; 若 依 五 事 論 一 復 次 釋 相 應
義 云 , 復 次 同 一 時 分 , 同 一 所 依 , 同 一 行
相 , 同 一 所 緣 , 同 一 果 , 同 一 等 流 , 同 一
異 熟 是 相 應 義 Sự bình đẳng : Sự còn gọi
là thể, hiển bày thể đều cùng chung một nên nói sự bình
đẳng. Ở trong tất cả các tâm tâm sở tương ưng, cũng giống
như Tâm, thể chỉ là một, các pháp tâm sở, thể cũng đều
chỉ là một; không có hai thể cùng một lúc khởi lên; đây
là căn cứ vào cùng một sát na, mà nói thể bình đẳng; chẳng
phải nói trước sau, phẩm loại khác nhau, v.v... ; nên
biết trong đó, ba loại sở y, sở duyên, hành tướng, như
trước đã giải thích.; nghĩa của chữ Thời dễ hiểu, không
giải thích; chỉ giải thích Sự: Căn cứ vào Luận ngũ sự,
cùng một thời phần, cùng một sở y, cùng một hành tướng,
cùng một sở duyên, cùng một quả, cùng một đẳng lưu, cùng
một dị thục là nghĩa tương ưng (tương ưng bao trùm nghĩa
của sự).
47
Quang ký q.4,tr.84b02, 心 不 相 應 簡
異 心 所 ; 行 謂 行 蘊 簡
色 心 無 為 非 行 蘊 故
。 又 解 , 心 不 相 應
簡 行 蘊 中 諸 心 所 法
; 行 謂 行 蘊 簡 色 受
想 識 及 與 無 為 非 行
蘊 故 ,nói tâm bất tương ưng là phân biệt cho thấy
khác với tâm sở; hành là hành uẩn phân biệt với sắc tâm
và vô vi chẳng phải là hành uẩn. Lại có giải thích, nói
tâm bất tương ưng là để phân biệt với các pháp tâm sở
trong hành uẩn; hành là hành uẩn khác với các hành sắc,
thọ, tưởng, thức và vô vi không phải là hành uẩn. Bảo
sớ q.4,tr.535b22, 心 不 相 應 者 簡
心 心 所 ; 非 色 等 性
行 蘊 所 攝 者 簡 色 及
無 為 法 ; 是 故 名 心
不 相 應 行 略 結 名 也
。 廣 應 言 , 非 色 非 心
不 相 應 行 ; 今 但 言 ,不
相 應 行 亦 得 簡 諸 法
盡 , nói tâm bất tương ưng tức phân biệt cho thấy khác
với tâm và tâm sở; nói chẳng phải tánh của sắc,v.v...
, nhiếp thuộc hành uẩn để phân biệt với sắc và
pháp vô vi; nói cho nên gọi là tâm bất tương ưng hành tức
là tóm tắt đúc kết tên gọi. Nói đầy đủ là bất tương
ưng hành chẳng phải sắc chẳng phải tâm; nay chỉ gọi, bất
tương ưng hành cũng đã phân biệt rõ với tất cả các pháp.
48
Đại tì bà sa q.158 nói rắng, 得 有 四 種
: 壹 與 彼 法 俱 ( 此 是 法
俱 得 亦 名 如 影 隨 形
得; 二 在 彼 法 前 ( 此 是
法 前 得 亦 名 牛 王 引
前 得 也 ); 三 在 彼 法
後 ( 此 是 法 後 得 亦 名
犢 子 隨 後 得 ) ; 四 非 彼
法 前 後 俱 ( 謂 無 為 上
得 也 )。 Đắc có bốn loại:(1) cùng khởi với pháp-đây
gọi là đắc cùng khởi; cũng gọi là đắc như ảnh theo hình.(2).khởi
trước pháp-đây là đắc khởi trước pháp; cũng gọi là
ngưu vương dẫn tiền đắc.(3).khởi sau pháp-đây là đắc
khởi sau pháp; cũng gọi là độc tử tùy hậu đắc.(4).Chẳng
phải khởi trước, sau cũng chẳng phải khởi cùng lúc với
pháp-đó là đắc của các pháp vô vi.
49
Bà sa q.158 nói rằng, 壹 切 非 得 總
有 三 種 壹 在 彼 法 前
二 在 彼 法 後 非 彼 前
後 。 Tất cả phi đắc gồm chung trong ba loại: (1).ở trước
pháp; (2).ở sau pháp; (3). chẳng phải ở trước hoặc sau.
50
Quang ký q.4,tr.85c15, 非 相 續 謂 外 非
情 非 是 內 相 續 身 故 ;
言 非 相 續 , 非 非 相 續
, 無 有 成 就 非 情 法
故 , phi tương tục: là các loài phi tình (vô tình) ngoại
giới, chẳng phải thuộc thân tương tục nội giới. Nói phi
tương tục: tức chẳng phải là loài vô tình; không thể có
thành tựu nơi các pháp phi tình.
51
Tụng sớ Viên Huy q.4,tr.844b25, 初 殺 那 聖
者 , 苦 法 忍 是 也 煩 惱 未
斷 名 具 縛 聖 此 聖 者 無
擇 滅 也 . Bậc thánh ở sát na đầu tiên là bậc thánh
ở khổ pháp nhẫn vị; phiền não chưa được đoạn trừ
hết gọi là bậc thánh còn phiền não; bậc thánh nầy chưa
chứng được trạch diệt. Bảo sớ q.4,tr.536b22, 除 初
殺 那 者 謂 苦 法 忍; 具 縛
聖 者 簡 先 離 染; Sát na đầu
tiên đó là khổ pháp nhẫn; bậc thánh chưa đoạn trừ hết
tất cả phiền não là phân biệt với lúc chưa ly nhiễm. Quang
ký q.4,tr.85c24, 先 未 斷 惑 今 初
入 聖 苦 法 忍 位 名 初
殺 那 具 縛 聖 者 以 彼
身 中 具 成 惑 故 。 除 此
二 種 諸 餘 有 情 皆 成
擇 滅 。 ...trước chưa đoạn trừ phiền não, nay
dự vào hàng sơ thánh ở khổ pháp nhẫn vị gọi là bậc
thánh ở sát na đầu tiên, chưa đoạn trừ phiền não vì trong
thân của các vị nầy vẫn còn phiền não. Trừ hai hạng nầy,
các hàng hữu tình khác đều thành tựu trạch diệt.
52Bảo
sớ q.4,tr.536b23, 及 餘 壹 切 具
縛 異 生 者 簡 具 縛 異
生 未 成 擇 滅 未 斷 惑 故;
và tất cả các chúng sanh đang còn phiền não: là phân biệt
với chúng sanh chưa thành tựu trạch diệt, chưa đoạn trừ
phiền não; Quang ký q.4,tr.85c25, 及 餘 壹 切
未 斷 三 界 見 修 二 惑
具 縛 異 生 不 成 擇 滅
, và tất cả các cụ phược chúng sanh chưa đoạn trừ
phiền não ở kiến đạo và tu đạo, không thành tựu trạch
diệt.
53Tụng
sớ Viên Huy q.4,tr.844b26, 諸 餘 有 情 者 壹
切 聖 人 也, Các hàng hữu tình khác tức chỉ
cho tất cả thánh nhân vậy. Bảo sớ q.4,tr.536b25, 諸
餘 有 情 者 舉 成 擇 滅
人 也 已 斷 惑 故. ; các hàng
hữu tình khác: chỉ cho những chúng sanh đã thành tựu trạch
diệt, đã đoạn trừ phiền não.
54Quang
ký q.4,tr.86a07, 十 無 學 法 謂 八
支 聖 道 及 正 智 正 解
脫 。 。 。 。 經 言 得 成 明
知 別 有 實 物 , mười pháp vô học
: tám chi thánh đạo, chánh trí và chánh giải thoát. Kính nói
hai chữ đắc thành cho nên biết rằng có một thật pháp gọi
là đắc.
55
Quang ký q.4,tr.86a 08, 五 支 ﹕ 謂 五 上
順 分 结 , năm chi: tức năm kiết sử phần thượng
(tham cõi sắc, tham cõi vô sắc, trạo cử, mạn, vô minh ."năm
kiết sử phần hạ: tham cõi dục, sân, thân kiến, giới thủ
kiến và nghi")
56
Quang ký q.4,tr.86a, 經 部 引 經 出
過 , 經 言 輪 王 成 就 七
寶 若 成 就 是 者 可 言 成
就 他 身 非 情 汝 若 言
實 於 七 實 中 若 成 輪 珠
成 非 情 過 若 成 象 馬
女 主 藏 主 兵 成 他 相
續 過 故 婆 沙 九 十 三
敘 譬 喻 者 說 云 , 問 彼
, 何 故 作 是 執 ? 答
彼 彼 依 契 經 故 作 是
執 謂 契 經 說 有 輪 王
成 就 七 寶 。 。 。 。 Kinh bộ dẫn
Kinh để nêu lỗi. Kinh nói, Luân vương thành tựu bảy báu,
nếu thành tựu là giả thì có thể nói thành tựu tha thân,
phi tương tục; ông cho là thật thì, ở trong bảy báu, nếu
thành tựu luân, châu tất phạm vào lỗi thành tựu có ở
phi tình. Nếu thành tựu voi, ngựa, người nữ, chủ tạng,
chủ binh thì phạm vào lỗi thành tựu có ở tha tương tục.
Cho nên Tì bà sa q.93 nói với luận sư Thí dụ bộ rằng, hỏi,
tại sao họ lại chấp như vậy? trả lời, họ căn cứ vào
Khế kinh cho nên nói như vậy; đó là, Khế kinh nói, có chuyển
luân vương thành tựu bảy báu; nếu tánh của thành tựu là
thật thì khi thành tựu luân bảo, thần châu bảo lẽ ra pháp
tánh bị hoại. Lý do vì sao? Bởi lẽ vừa là hữu tình vừa
là phi tình; nếu thành tựu voi báu, ngựa báu lẽ ra các đường
(thú) bị hoại. Lý do vì sao? Vì vừa là bàng sanh vừa là
con người; nếu thành tựu nữ bảo thì thân lại bị hoại.
Vì sao? Vì vừa là thân nam vừa là thân nữ; nếu thành tựu
chủ binh, chủ tạng thần thì nghiệp bị hoại. Vì sao? Vì
quân thần lẫn lộn. Không thể phạm lỗi như thế. Cho nên,
tánh của thành tựu chắc chắn không thể là thật được.
57
Quang ký q.4,tr.86b05, 上 來 約 聖 言
量 破 。 Trên đây, luận sư Kinh bộ căn cứ vào
Thánh giáo lượng để bác bỏ lập luận của Hữu bộ cho
rằng, có một thực pháp gọi là đắc.
58
Quang ký q.4,tr.86b06, 今 約 現 比 量
破 。 謂 所 執 得 無 體 可
知 如 色 聲 等 五 識 現
取 , 如 貪 瞋 等 他 心
智 現 取 ; 無 用 可 知 如
眼 耳 等 謂 眼 耳 等 由
有 見 聞 等 用 比 知 有
眼 等 根 ; 得 既 無 用
寧 知 實 有 。 開 ( 關 「 現 比
二 量 俱 不 可 知 故 無
容 執 別 物 名 得 。 是
為 非 理 。 Ở đây, căn cứ vào hiện lượng,
tỉ lượng để bác bỏ : đắc mà quý vị nói đó không có
thật thể để có thể biết được giống như sắc, thanh,
hương,v.v... được biết bởi hiện lượng của năm thức;
như tham, sân,v.v... được thủ đắc bằng hiện lượng của
tha tâm trí. Đắc cũng không có nghiệp dụng để có thể
biết được giống như mắt, tai,v.v...; mắt, tai,v.v...
do vì chúng có các nghiệp dụng thấy, nghe,v.v...; qua đó mới
biết được có các căn mắt, tai,v.v... . Đắc đã không có
tác dụng, làm sao biết được là có thật. Qua cả hiện lượng,
tỉ lượng đều không thể biết được, thế nên, không thể
cho rằng, có một thật pháp gọi là đắc được. Đó chính
là điều phi lý.
59
Vô vi là pháp tự hữu, thường hằng; không do tạo tác. Bởi
vậy, nếu nói đắc là sanh nhân tạo nên tất cả các pháp
thì lẽ ra vô vi không thể có. Nhưng thực tế, vô vi vẫn
có. Do vậy, nói đắc làm sanh nhân là không đúng.
60
Pháp đại sanh, tiểu sanh chính là một trong bốn bổn tướng
và bốn tùy tướng. Đại sanh còn gọi là sanh tướng; tiểu
sanh còn gọi là sanh sanh. Theo trong văn trường hàng của luận
Câu Xá, q.5,tr.27b17 thì, 本 相 中 生 , 除
其 自 性 , 生 餘 八 法 ; 隨
相 生 生 , 於 九 法 內 ,
唯 生 本 生 , sanh hay đại sanh trong bốn
bổn tướng, chỉ trừ tự thể, còn lại, nó sanh ra tám pháp;
tùy tướng sanh sanh hay tiểu sanh, với chín pháp, nó chỉ sanh
khởi được một pháp; đó là bổn sanh tức là đại sanh
. Như vậy, đại sanh sanh ra tiểu sanh; và tiểu sanh sanh ra
đại sanh. Do đó, nếu nói đắc là sanh nhân sanh ra tất cả
các pháp là không đúng.
61
Quang ký q.4,tr.86c03, 若 有 得 體 可 得
見 立 異 生 聖 者 兩 種
差 別 ; 若 無 有 得 異 生
聖 者 起 世 俗 有 漏 心
應 無 兩 種 差 別 , nếu pháp đắc
có thật thể thì mới có thể phân biệt sự khác nhau giữa
phàm phu và bậc thánh; nếu không có đắc thì không thể
phân biệt được sự khác nhau giữa phàm phu với bậc thánh
khi cùng khởi tâm hữu lậu thế tục. Đó là căn cứ vào
sự khác nhau vậy.
62
Quang ký q.4,tr.86c06, 經 部 為 釋 差
別 , 豈 不 煩 惱 已 斷 名
聖 ; 未 斷 名 凡 , 有 差
別 故 應 有 差 別 , Kinh bộ giải
thích sự khác nhau đó là, phiền não đã được đoạn trừ
gọi là thánh; chưa được đoạn trừ là phàm phu. Gọi đó
là sự khác nhau.