A TỲ ĐẠT
MA CÂU XÁ LUẬN (q.4)
阿
毘 達 磨 俱 舍 論
ABHIDHARMAKOŚABHĀṣAYĀM
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
THỨ HAI: PHÂN BIỆT CĂN (2)
TIẾT
i: CÁC PHÁP CÂU SANH
A.
GIẢI THÍCH CÂU SANH.
I:
SẮC PHÁP CÂU SANH.
Hỏi:
Nay nên suy nghĩ phân biệt rằng, tất cả pháp hữu vi, thể
tướng bất đồng, sanh khởi cũng khác nhau, (như vậy) là
có các pháp quyết định cùng sanh khởi chăng?
Đáp
:
Tổng
đáp: Có các pháp quyết định cùng sanh khởi[1] . Một cách
tổng quát, tất cả các pháp chia làm năm loại –1.sắc. 2.tâm.
3.tâm sở. 4.tâm bất tương ưng hành. 5.vô vi. Vô vi vốn không
sanh khởi, ở đây không đề cập. Trước hết, bàn về
sắc pháp[2] quyết định cùng sanh khởi.
Biệt
đáp (Sắc pháp câu sanh):
1.Cõi
Dục:
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312b21:
欲 微 聚 無 聲 無 根 有 八 事
T29n1560-p0312b22:
有 身 根 九 事 十 事 有 餘 根
Âm
Hán:
Dục
vi tụ vô thanh
Vô
căn hữu bát sự
Hữu
thân căn cửu sự
Thập
sự hữu dư căn.
Việt
dịch:
Cõi
Dục, các vi tụ không thanh
không
căn, có tám loại.
Có
thân căn, chín loại
mười
loại, có các căn khác /23/.
Luận
giải thích:
Sắc
tụ[3] ở dạng vi tế gọi là vi tụ ; nói vi tụ nhằm
hiển bày nghĩa không thế chia chẻ nhỏ hơn được nữa.
Ở
cõi Dục, các vi tụ sắc không tính thanh[4] , không tính căn
(indriya), có tám loại[5] cùng sanh khởi, không thể thiếu
giảm một loại nào.
Những
gì là tám ? [6]
Đó
là bốn đại chủng(catvāri mahā-bhūtāni, mahābhūta: địa,
thủy, hỏa, phong) và bốn sở tạo (catvāri mahābhūtāny upādāya,
bhautika)- sắc, hương, vị, xúc.
Các
vi tụ sắc, không thanh nhưng có căn, có chín hoặc mười loại
cùng sanh khởi. Các vi tụ có thân căn(kāyendriya, kāyāyatana),
có chín loại cùng sanh khởi: tám loại như trước và thân
căn là chín.
Vi
tụ có các căn khác[7] , có mười loại cùng sanh khởi, chín
loại như trước, cộng thêm một trong những căn, mắt, v.v...
; mắt, tai, mũi, lưỡi tất không thể lìa khỏi thân căn;
chúng xoay vần hướng đến nhau, ở các vị trí riêng biệt[8]
.
Các
vi tụ ở trước, nếu có thanh (thanh trần, thanh cảnh, śabda),
theo thứ tự, số lượng căn tăng lên 9,10.11; do có thanh xứ
(śabdāyatanaṃ) không thể lìa căn phát sanh; đó là hữu chấp
thọ thanh nương vào đại chủng sanh khởi (upātta-śabda-mahābhūta-hetuka).
Nếu
các đại chủng khi sanh khởi không rời nhau thế thì các tính
cứng, ước, ấm, động[9] trong vi tụ sắc, tại sao trong
từng trường hợp, chỉ thấy có một, không thấy các thứ
còn lại?
Trong
vi tụ sắc, loại đại chủng nào có hoạt dụng mạnh hơn
thì hiển hiện rõ ràng; tự thể các loại còn lại chẳng
phải là không; như cảm giác về kim châm cùng với thẻ tre
áp vào; như nếm vị muối cùng với vị của gạo rang[10]
.
Làm
sao ở trong một vi tụ, biết rằng, cũng có các tụ khác ?
Vì
có các công năng duy trì (dhṛti), dung nhiếp (saṃgraha), thành
thục (pakti), lớn mạnh (vyūhana)[11] .
Có
Luận Sư (Bhadanta Śrīlābha) nói: khi gặp duyên, các tính cứng,
v.v... chuyển thành các dạng lỏng (lưu tướng), v.v...; như
trong thủy tụ, do quá lạnh cho nên sinh khởi tướng ấm, tuy
(chúng) không rời nhau nhưng tác dụng của lạnh tăng lên[12]
; chẳng hạn, cảm thọ và âm thanh trong các tác dụng mạnh
và yếu.
Các
Luận Sư khác (Sautrāntika) nói: ở trong tụ nầy, có chủng
tử (bījata, śaktita, sāmarthyata) các tụ kia, nhưng chưa có
thể tướng[13] . Như Khế kinh (Saṃyuktāgama, 18,10) nói, ở
trong thuỷ tụ, có các loại giới; giới (dhātu) có nghĩa là
chủng tử.
Làm
sao, trong phong, biết có hiển sắc?
Nghĩa
nầy chỉ nên tin tưởng (śraddhanīya), không thể suy luận
(anumeya) biết được. Hoặc, khi có mùi hương tiếp hợp, mũi
liền ngửi biết; hương và hiển sắc không thể tách rời
nhau[14] .
2.Cõi
Sắc: Trước kia đã nói, tại Sắc giới, hương, vị hoàn
toàn không; (như vậy ở Sắc giới), các vi tụ không thanh
thì có sáu, bảy hoặc tám (pháp cùng sanh khởi); có thanh thì
có bảy, tám, chín pháp cùng sanh khởi; nghĩa nầy rõ ràng,
không cần phải nói thêm.
3.
Phân biệt:
Trong
các pháp cùng sanh khởi đó, nói Sự (dravya), là căn cứ vào
thể[15] hay căn cứ vào xứ[16] ?
Nếu
vậy thì có lỗi gì?
Cả
hai cách đều lỗi. Nếu căn cứ vào thể tánh mà nói thì,
tám, chín, hoặc mườiv.v... trở thành quá ít. Bởi vì, các
vi tụ (ngoài hiển sắc, varṇa) còn có hình sắc (saṃsthāna)
do nhiều cực vi tích tập tạo nên; hoặc có tính nặng, hoặc
có tính nhẹ; tánh trơn, tánh nhám, cũng như vậy; hoặc có
các xứ như lạnh, đói, khát; thế thì số được nói, bị
lỗi quá ít. Nếu căn cứ vào xứ để nói thì tám, chín hoặc
mười,v.v... trở thành quá nhiều. Bởi lẽ, bốn đại chủng
nhiếp thuộc xúc xứ, lẽ ra nên nói là bốn, năm,v.v[17] ...;
thế thì số được nói mắc lỗi quá nhiều.
Cả
hai đều không có lỗi[18] . Nên biết rằng, trong đó, nói
Sự, một phần căn cứ vào thể, đó là sở y đại chủng[19]
; một phần căn cứ vào xứ, đó là năng y tạo sắc[20] .
Nếu
vậy, các loại (sự) đại chủng trở thành nhiều hơn[21]
, bởi lẽ, các sắc sở tạo, mỗi mỗi đều nương vào một
tổ hợp bốn đại chủng.
Nên
biết, trong đó, căn cứ vào thể loại mà nói; thể loại
bốn đại chủng không khác nhau[22] .
d.
Chỉ tránh: Cần gì phải phân biệt ngôn ngữ đến như vậy;
ngôn ngữ vốn tuỳ thuộc vào ý muốn mà sanh khởi, do vậy
về ý nghĩa nên suy nghĩ[23] (là tương đối).
Đã
nói xong về Sắc pháp quyết định cùng sanh.
Tiếp
đến bàn về các pháp câu sanh khác.
II.
TỨ PHẨM CÂU SANH.
1.TỔNG
THÍCH:
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312b23
: 心 心 所 必 俱 諸 行 相 或 得
Âm
Hán:
Tâm
tâm sở tất câu Chư hành tướng hoặc đắc.
Việt
dịch:
Tâm,
tâm sở ắt cùng Các hành tướng hoặc đắc /24ab/.
Luận
giải thích:
Tâm
và tâm sở nhất định cùng sanh khởi với nhau; theo đó, khi
thiếu một, các tâm khác không thể khởi lên được.
Chư
hành (saṃskṛta) tức tất cả các pháp hữu vi, sắc, tâm,
tâm sở, tâm bất tương ưng hành. Chữ “ắt cùng” ở trước
được dùng cho đến đây; nghĩa là các pháp hữu vi sắc,
tâm,v.v... khi sinh khởi, nhất định cùng có bốn tướng hữu
vi đồng thời sinh khởi. Nói “hoặc đắc” có nghĩa là,
trong các pháp hữu vi, chỉ có pháp hữu tình (sattvākhya, sattvasaṃkhyāta)
đồng thời cùng sinh khởi với đắc (prāpti). Các pháp còn
lại không phải như thế. Do đó, nói hoặc.
TIẾT
II : BIỆN SAI BIỆT.
I.TÂM
SỞ (Caitasikā):
1.Ngũ
địa pháp :
i.Tổng
tiêu :
Văn
Tụng :
Hán
:
T29n1560-p0312b24:
心 所 且 有 五 大 地 法 等 異
Âm
Hán :
Tâm
sở thả hữu ngũ Đại địa pháp đẳng dị.
Việt
dịch :
Tâm
sở có năm loại Đại địa pháp, vân vân /24cd/.
Luận
giải thích :
Đã
nói đến tâm sở, vậy tâm sở là gì?
Các
pháp tâm sở gồm có năm loại. Năm loại là gì? –1.đại
địa pháp.2.đại thiện địa pháp.3.đại phiền não địa
pháp.4.đại bất thiện địa pháp.5.tiểu phiền não địa
pháp.
ii.
Biệt thích :
a.Đại
địa pháp(mahābhūnikāḥ):
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312b25:
受 想 思 觸 欲 慧 念 與 作 意
T29n1560-p0312b26:
勝 解 三 摩 地 遍 於 一 切 心
Âm
Hán :
Thọ
tưởng tư xúc dục Huệ niệm dữ tác ý
Thắng
giải tam ma địa Biến ư nhất thiết tâm
Việt
dịch :
Thọ
tưởng tư xúc dục Huệ niệm và tác ý
Thắng
giải tam ma địa Cùng khắp tất cả tâm /25/.
Luận
giải thích :
Thích
danh :
Địa[24]
có nghĩa là môi trường hoạt động[25] . Nếu pháp nầy là
môi trường hoạt động của pháp kia thì nói rằng, pháp nầy
là pháp địa của pháp kia. Môi trường hoạt động của
đại pháp[26] (mười pháp tâm sở -thọ, tưởng, v.v...)
gọi là đại địa (mahābhūmika). Trong 46 tâm sở, pháp nào
khởi lên trong đại địa (mahā bhūmi), gọi là đại địa
pháp (mahā bhūmika)[27] ; đó là những pháp luôn luôn có mặt
trong tất cả các tâm.
Biện
thể :
Pháp
đó là những pháp nào?
Truyền
thuyết (Tỳ bà sa,12,10). Mười pháp được nêu (như vậy)
luôn luôn hoà hiệp, có mặt khắp tất cả các tâm sát na
(cittakṣaṇa)[28] .
Trong
đó,
Thọ[29]
(vedanā): là sự lãnh nạp (anubhava) về ba cảm giác khác nhau
- khổ, vui, không khổ không vui .
Tưởng[30]
(saṃjñā): là sự nắm bắt các tướng khác nhau của cảnh
tượng.
Tư
(cetanā): là động lực thúc đẩy khiến tâm có sự tạo tác
(hoạt động, cittabhisaṃskāra, cittaprasyanda)).
Xúc[31]
(sparśaḥ, spṛṭa): là tâm sở phát sinh khi căn, cảnh và
thức hoà hợp; có công năng xúc đối (spṛṣṭi) tiền cảnh.
Dục
(chandaḥ): là sự mong muốn về sự nghiệp.
Huệ
(prajñā): là khả năng phân biệt các pháp.
Niệm
(smṛtiḥ): là sự ghi nhớ rõ ràng, không quên về các duyên
(ālambanāsaṃpramoṣa).
Tác
ý[32] (manaskāraḥ): là khả năng khiến tâm cảnh giác
(ābhoga,nhận thức đối tượng).
Thắng
giải[33] (adhimokṣaḥ): khả năng in chụp, thẩm định
các cảnh.
Tam
ma địa[34] (samādhiḥ): là tính chất chuyên chú một
cảnh (cittaikāgratā) của tâm.
Hành
tướng của khác nhau tâm, tâm sở rất vi tế; trong mỗi
một tương tục (prabhandhena), phân biệt còn khó; huống là
trong từng sát na. Các dược thảo sắc, do sắc căn thủ đắc,
hương vị của chúng khác nhau, còn khó hiểu được; huống
là các pháp vô sắc do giác huệ thủ đắc.
Như
vậy là đã nói xong mười đại địa pháp.
b.Đại
Thiện Địa Pháp (kuśalamahābhūmikas)[35] .
Văn
Tụng :
Hán:
T29n1560-p0312b27:
信 及 不 放 逸 輕 安 捨 慚 愧
T29n1560-p0312b28:
二 根 及 不 害 勤 唯 遍 善 心
Âm
Hán:
Tín
cập bất phóng dật Khinh an xả tàm quý
Nhị
căn cập bất hại Cần duy biến thiện tâm.
Việt
dịch:
Tín
và không buông lung Khinh an, xả, tàm quý
Hai
căn và không hại Cần chỉ khắp thiện tâm /26/.
Luận
giải thích :
Thích
danh :
Đại
thiện pháp địa gọi là đại thiện địa[36] . Trong đó,
nếu pháp nào có mặt trong đại thiện địa, gọi là đại
thiện địa pháp. Đó là những pháp luôn luôn có mặt trong
tất cả các thiện tâm.
Biện
thể :
Pháp
đó là gì?
Các
pháp như vậy có mặt khắp các tâm thiện. Trong đó,
Tín[37]
(Śraddhā): khiến tâm trừng tịnh. Có thuyết (jñānaprasthana,1,19)
nói -đối với tứ đế, tam bảo, nghiệp thiện ác và quả
dị thục, hiện tại chấp nhận cho nên gọi là tín.
Không
buông lung[38] (apramādaḥ): có nghĩa là tu tập (bhāvanā)
các thiện pháp. Tại sao không làm các pháp bất thiện lại
gọi là tu ? –vì bất phóng dật nầy, đối với thiện sự
có tính chất chuyên chú (avahitatā). Trong Kinh của các Bộ
phái (Mahāsāṃghika) khác có giải thích rằng, hay thủ hộ
(ārakṣā) tâm gọi là bất phóng dật.
Khinh
an[39] (Prasrabdhiḥ): tánh kham nhậm của tâm.
(Kinh
Bộ) Há không có Kinh nào nói có sự khinh an của thân chăng[40]
?
Tuy
chẳng phải không có nhưng cũng như thân thọ[41] , nên biết
cũng vậy.
(Hữu
Bộ nạn vấn Kinh Bộ) Tại sao có thể lập khinh an làm một
giác chi[42] ? – Nên biết trong đó, thân khinh an là tánh kham
nhậm của thân. Sao lại nói đó là giác chi (saṃbodhyanga)?
- Bởi nó thuận (tương ưng) với giác chi nên không có lỗi.
Do thân khinh an dẫn khởi tâm giác chi khinh an.
Ở
các Kinh khác cũng có nói như vậy chăng? –Có, như Kinh nói
, hỷ và thuận hỷ pháp (prītisthānīya) gọi là hỷ giác chi.
Sân và sân nhơn duyên (pratighanimitta) gọi là sân nhuế cái
(vyāpādanīvaraṇa). Chánh kiến (dṛṣṭi), chánh tư duy (saṃkalpa),
chánh cần (vyāyāma)gọi là huệ uẩn (prajñāskandha). Tư duy
và cần tuy chẳng phải tánh chất của huệ, do tuỳ thuận
với huệ nên cũng được gọi là huệ. Do vậy, thân khinh
an thuận với giác chi nên gọi là giác chi, không có lỗi vậy.
Xả
(Upekṣā): Tánh bình đẳng của tâm[43] , tánh không cảnh giác[44]
của tâm gọi đó là xả[45] .
Làm
sao có thể nói, trong một tâm, do tác ý[46] và xả tương
ưng với nhau khiến khởi lên tánh cảnh giác và tánh không
cảnh giác[47] ?
(Luận
Chủ đáp) Há không phải ở trước có nói rằng, hành
tướng của tâm, tâm sở vô cùng vi tế rất khó liễu tri
chăng.
Hỏi:
Có, tuy khó liễu tri nhưng nhờ quán sát, suy nghĩ, có thể
biết được. Chúng (tác ý và xả) rất khó biết; nghĩa là,
cảnh giác và không cảnh giác trái nghịch nhau, nhưng không
hề trái chống nhau[48] .
Đáp:
Tác ý (thử) có cảnh giác, xả (dư) không có cảnh giác; hai
thứ đã hai đường, có gì là trái chống.
Hỏi:
Nếu vậy, lẽ ra không nên cùng duyên với một cảnh hoặc
nên đối với tất cả (tham, sân,v.v...), đều hỗ tương tương
ưng[49] .
Những
chủng loại như vậy của các pháp khác (thọ, tưởng v.v...)
cũng từ trong một tâm sinh ra[50] ;trong ý nghĩa đó, nay ở
đây (tác ý và xả) nên biết cũng giống như vậy.
Tàm
quý[51] (Hrīḥ, Apatrāpyaṃ): hai loại nầy như được
giải thích ở sau.
Hai
căn: không tham (Alobhaḥ kuśalamūlaṃ) và không sân (Adyeṣaḥ
kuśalamūaṃ)[52] . Thiện căn không si lấy huệ làm tánh nên
đã nói trong đại địa pháp, không nhắc lại ở trong đại
thiện địa pháp nầy nữa.
Bất
hạ[53]i (Ahiṃsā): có nghĩa là không gây tổn não.
Cần[54]
(Vīryaṃ): nghĩa là tính chất khiến tâm dũng mãnh.
Như
vậy, đã nói xong (mười ) đại thiện địa pháp.
c.
Đại phiền não địa pháp(Kleśamahābhūmikāḥ)[55] :
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312b29:
癡 逸 怠不信 昏 掉 恆 唯 染
Âm
Hán:
Si
dật đãi bất tín hôn trạo hằng duy nhiễm .
Việt
dịch :
Si,
dật, đãi, bất tín, hôn, trạo, luôn là nhiễm /27ab/.
Luận
giải thích :
Thích
danh :
Đại
phiền não pháp địa gọi là đại phiền não địa. Trong đó,
những pháp có trong đại phiền não địa gọi là đại phiền
não địa pháp. Đó là những pháp luôn có mặt trong các tâm
nhiễm ô (kliṣṭa).
Biện
thể :
Những
pháp đó là gì?
Si
(moha)[56] : ngu si tức là vô minh (avidyā, không có cái nhìn
thấu suốt) vô trí (ajñāna, không có khả năng thẩm xét,
quyết định), vô hiển (mi gsalba, không hiểu biết rõ ràng).
Dật[57]
(pramādaḥ): phóng dật tức là không tu tập các pháp thiện.
Đó là pháp được đối trị bởi việc tu các pháp thiện.
Giải[58]
(kausīdyaṃ): giải đãi, nhác nhớm, tức là tâm không mạnh
mẽ. Đó là pháp được đối trị bởi Cần như nói ở trước.
Bất
tín[59] (āśraddhyaṃ): tâm không trừng tịnh. Đó là pháp
được đối trị bởi Tín được nói ở trước.
Hôn[60]
(styānaṃ): hôn trầm. Trong Đối pháp nói, thế nào là hôn
trầm? là tính nặng nề của thân, của tâm; thân không có
tánh kham nhậm, tâm không có tánh kham nhậm.Tính hôn trầm
của thân, tánh hôn trầm của tâm gọi đó là hôn trầm. Đây
là tâm sở, sao gọi là thân? –Cũng như cách nói về thân
thọ, nên không có lỗi.
Trạo[61]
(auddhatyaṃ): trạo cử tức khiến tâm không yên tĩnh.
Duy
chỉ có sáu loại như vậy gọi là đại phiền não địa pháp.
Há
không phải trong Căn bổn a tỳ đạt ma nói có mười loại
đại phiền não địa pháp sao? Lại nữa, trong Luận đó không
nói đến hôn trầm. Những gì là mười? -bất tín, giải đãi,
thất niệm, tâm loạn, vô minh, bất chánh tri, phi lý tác ý,
tà thắng giải, trạo cử, phóng dật.
Đừng
có đùa (thiên ái, devānāṃpriyaḥ). Các ông chỉ biết ngôn
ngữ, chẳng biết đến ý chỉ. Ý chỉ là gì? –đó
là, thất niệm(muṣitasmṛtitā), tâm loạn (vikṣepa), bất
chánh tri (asaṃprajanya), phi lý tác ý (ayoniśomanaskāra), tà
thắng giải (mithyādhimokṣa) đã được sắp xếp trong đại
địa pháp; không nên lặp lại trong đại phiền não địa
pháp. Như vô si thiện căn lấy huệ làm thể cho nên chẳng
phải đại thiện địa pháp. Các pháp kia cũng như vậy tức
là, nhiễm ô niệm gọi là thất niệm; nhiễm ô đẳng trì
gọi là loạn tâm; các huệ nhiễm ô gọi là bất chánh tri;
nhiễm ô tác ý, thắng giải gọi là phi lý tác ý, tà thắng
giải (đã nói trong đại địa pháp, không nói lại trong đại
phiền não địa pháp). Cho nên nói, nếu là đại địa pháp
cũng là đại phiền não địa pháp chăng? Nên thành lập bốn
câu để phân biệt: Câu thứ nhất -thọ, tưởng, tư, xúc,
dục. Câu thư hai -bất tín, giải đãi, vô minh, trạo cử,
phóng dật. Câu thứ ba –năm pháp niệm,v.v... như trước đã
nói. Câu thứ tư -trừ các tướng (ba trường hợp) trước.
Có
quan điểm (Vibhāṣā, 42,17) cho rằng, tà đẳng trì mithyāsamādhi)
chẳng phải là loạn tâm. Quan điểm nầy thành lập bốn câu
để phân biệt không giống với bốn câu vừa rồi.
Lại
nữa, (Tông các Ông , A tì đạt ma) chấp nhận hôn trầm tương
ưng với tất cả các phiền não, không nói ở trong đại phiền
não địa pháp, như vậy ai đúng ai sai?
(Pháp
Cứu) nên nói rằng, hôn trầm ở trong đại phiền não địa
pháp, song không nói bởi lẽ tương ưng với đẳng trì vậy;
Tông nầy cho rằng (Căn Bản a Tỳ Đạt Ma), các vị có hành
tướng hôn trầm (hôn trầm hành, styānacarita) mau phát đẳng
trì chứ chẳng phải các vị có hành tướng trạo cử (trạo
cử hành, auddhatyacarita)(do vì quá yếu nên không đặc biệt
nói thuận với đẳng trì, theo Quang ký77c08).
(Luận
Chủ) Ai là người có hành tướng hôn trầm mà chẳng phải
là trạo cử; ai là người có hành tướng trạo cử mà chẳng
phải là hôn trầm ? Hôn trầm và trạo cử chưa từng rời
nhau.
(Pháp
Cứu) Tuy vậy, nên biết, tuỳ theo sự tăng mạnh, nên nói
là hành[62] .
(Luận
Chủ)Tuy biết rằng, nói hành là dựa vào hoạt dụng
mạnh hơn; nhưng y vào hữu thể, kiến lập địa pháp, cho
nên địa pháp nầy chỉ có sáu loại, ý nghĩa đã thành tựu.
Sáu
pháp nầy chỉ cùng khởi lên khắp các nhiễm tâm, chẳng phải
ở các tâm (tịnh) khác.
Như
vậy, nói xong sáu đại phiền não địa pháp.
d.
Đại Bất Thiện Địa Pháp (akuśalamahābhūmikas)[63] :
Văn
Tụng.
Hán
:
T29n1560-p0312c01:
唯 遍 不 善 心 無 慚 及 無 愧
Âm
Hán:
Duy
biến bất thiện tâm Vô tàm cập vô quý
Việt
dịch :
Chỉ
khắp bất thiện tâm Vô tàm và vô quý /27cd/.
Luận
giải thích:
Thích
danh :
Đại
bất thiện pháp địa gọi là đại bất thiện địa. Trong
đó, những pháp nào hoạt động trong môi trường của đại
bất thiện gọi là đại bất thiện địa pháp. Đó là những
pháp luôn luôn có mặt trong các tâm bất thiện.
Biện
thể :
Đó
là những pháp nào?
Chỉ
có hai loại tâm sở cùng sanh khởi với tất cả các tâm bất
thiện, đó là vô tàm và vô quý. Do đó, hai loại nầy được
gọi là đại bất thiện địa pháp. Hành tướng của chúng
sẽ nói ở phần sau.
Như
vậy, nói xong đại bất thiện địa pháp.
e.Tiểu
Phiền Não Địa Pháp[64] :
Văn
Tụng :
Hán
:
T29n1560-p0312c02:忿
覆 慳 嫉 惱 害 恨 諂 誑 憍
T29n1560-p0312c03:如
是 類 名 為 小 煩 惱 地 法
Âm
Hán :
Phẫn
phú xan tật não Hại hận siễm cuống kiêu
Như
thị loại danh vi Tiểu phiền não địa pháp
Việt
dịch :
Phẫn[65]
phú[66] xan[67] tật[68] não[69]
Hạ[70]i
hận[71] siễm[72] , cuống[73] , kiêu[74] Loại như
vậy gọi là Tiểu phiền não địa pháp /28/
Luận
giải thích :
Thích
danh.
Tiểu[75]
phiền não pháp địa gọi là tiểu phiền não địa. Trong đó,
những pháp nào hoạt động trong môi trường của tiểu phiền
não gọi là tiểu phiền não địa pháp[76] . Đó là những
pháp cùng sanh khởi với các tâm có một phần nhiễm ô.
Biện
thể.
Những
loại pháp[77] như vậy chỉ đoạn trừ ở giai đoạn
tu đạo; chỉ khởi lên trong phạm vi của ý thức; chỉ tương
ưng với vô minh; mỗi một pháp hiện hành một cách riêng
lẻ, cho nên gọi là tiểu phiền não địa pháp[78] . Những
pháp nầy sẽ được giải thích đầy đủ trong phần tuỳ
phiền não “Upakleśa”(ở Phẩm tuỳ miên)
Như
vậy, đã nói xong năm loại tâm sở.
f.
Bất định tâm sở[79] :
Lại
có các pháp ngoài những pháp nầy; đó là bất định tâm
sở : ác tác (kaukṛtya), tuỳ miên (middha), tầm, tứ[80] , v.v...
[81] .
2.Minh
định câu sanh..
Trong
đó, nên nói, ở trong loại tâm (tâm phẩm) nào, có bao nhiêu
tâm sở quyết định cùng sanh khởi?
i.Cõi
Dục :
a.Cùng
sanh với tâm thiện (Kuśala).
VănTụng.
Hán:
T29n1560-p0312c04:欲
有 尋 伺 故 於 善 心 品 中
T29n1560-p0312c05:二
十 二 心 所 有 時 增 惡 作
Âm
Hán:
Dục
giới hữu tầm tứ Ư thiện tâm phẩm trung
Nhị
thập nhị tâm sở Hữu thời tăng ác tác.
Việt
dịch :
Cõi
Dục có tấm, tứ Ở trong loại tâm thiện
Hai
mươi hai tâm sở Có lúc, thêm ác tác /29/.
Luận
giải thích:
Ở
cõi Dục, tâm có năm phẩm loại: 1.Thiện (kuśala) có một.
2.Bất thiện[82] có hai –a. Tương ưng[83] với bất
cộng vô minh[84] . b.Tương ưng với các phiền não ....khác[85]
.Vô ký (Avyākṛta)có hai –a. hữu phú vô ký (nivṛta). b.vô
phú vô ký (anivṛta)
Song,
tâm ở cõi Dục, do có tầm và tứ, nên trong phẩm loại thiện
tâm, có 22 tâm sở cùng sanh khởi. Đó là 10 pháp đại địa,
10 pháp đại thiện địa cùng hai thứ bất định (aniyata)
-tầm và tứ. (Trong phẩm loại tâm thiện nầy) không phải
các thiện tâm đều có ác tác; (do vậy) khi có thì số lượng
tâm sở tăng lên 23.
Ác
tác (Kaukṛttya) là gì? -bản thể của việc ác gọi là ác
tác. Nên biết, trong đó, duyên với việc ác (ác tác pháp)
gọi là ác tác; nghĩa là, khi duyên với việc ác, tâm có tính
hối tiếc[86] . Ví dụ như duyên với không môn, giải thoát
môn nói đó là không. Duyên với bất tịnh quán nói đó là
bất tịnh (tức căn cứ vào sở duyên để đặt tên). Lại
thấy người đời (thế gian), căn cứ vào sở y mà nói pháp
năng y; như nói, tất cả thôn ấp, quốc thổ (chỉ cho người
ở các nơi đó) đều đến vân tập. Ác tác là sở y của
truy hối cho nên căn cứ vào sở y mà nói là ác tác. Lại
nữa, căn cứ vào quả, giả lập tên gọi trong nhân; như nói,
sáu xúc xứ nầy (quả), nên biết, đó là nghiệp nhân đã
tạo trong đời trước.
Nếu
duyên với việc chưa làm, sao gọi là ác tác được? -Đối
với việc chưa làm cũng gọi là “ác tác”, như khi hối
tiếc nói rằng, trước đây ta không làm việc như vậy (đó)
là ác tác (của ta).
Những
ác tác nào gọi là thiện? –đối với những việc thiện,
đã không làm; đối với việc ác, đã làm; tâm khởi sinh
sự hối tiếc. Trái lại (đối với việc thiện, đã làm;
đối với việc ác không làm, tâm sinh hối tiếc), gọi là
bất thiện.
Hai
loại nầy y cứ vào hai nơi (thiện, ác) khác nhau, khởi lên[87]
.
b.
Cùng sanh với tâm bất thiện (Akuśala) .
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312c06:於
不 善 不 共 見 俱 唯 二 十
T29n1560-p0312c07:四
煩 惱 忿 等 惡 作 二 十 一
Âm
Hán:
Ư
bất thiện bất cộng Kiến câu duy nhị thập
Tứ
phiền não phẫn đẳng Ác tác nhị thập nhất.
Việt
dịch:
Ở
bất thiện bất cộng, cùng kiến có hai mươi
Bốn
phiền não phẫn, v.v… Ác tác là hai mốt /30/.
Luận
giải thích:
bi.
Bất thiện bất cộng :
Nếu
ở loại tâm bất thiện bất cộng, có 20 tâm sở cùng sanh
khởi. Đó là 10 đại địa pháp, 6 đại phiền não địa pháp,
2 đại bất thiện địa pháp và hai bất định là tầm và
tứ.
Những
gì gọi là bất cộng tâm phẩm ? – đó là, với loại tâm
nầy chỉ có vô minh, không có các phiền não khác như tham,
v.v[88] ... cùng tương ưng.
Bii.
Tương ưng với các phiền não khác.
bất
thiện kiến:
Ở
tâm bất thiện tương ưng với kiến, cũng có 20 tâm sở cùng
sanh khởi. Tên của chúng như được nói trong phẩm bất cọng
ở trước; chẳng phải có thêm số lượng “kiến” nên
có 21; vì kiến không là gì khác mà chính là công dụng sai
biệt của huệ vốn ở trong 10 đại địa pháp. Nói tâm
tương ưng với kiến bất thiện là, ở trong tâm nầy, hoặc
có tà kiến, hoặc có kiến thủ hoặc có giới cấm thủ.
bất
thiện bốn hoặc:
Ở
tâm bất thiện tương ưng với bốn phiền não tham, sân, mạn,
nghi, có 21 tâm sở cùng sanh khởi. Hai mươi như trong phần
bất cộng; thêm vào một trong những căn bổn phiền não tham,
v.v... .
Bất
thiện tùy phiền não:
Ở
tâm bất thiện tương ưng các tuỳ phiền não phẩn, v.v...
, cũng có 21 tâm sở cùng sanh khởi. Hai mươi như bất cộng;
thêm vào một trong mười tuỳ phiễn não phẩn, v.v...
bất
thiện ác tác:
Tâm
bất thiện tương ưng ác tác cũng có 21 tâm sở cùng sanh khởi.
Chính ác tác[89] là thứ 21.
Tổng
kết:
Tóm
lại, trong tâm bất thiện, tương ưng với bất cộng
và kiến, có 20 tâm sở cùng sanh khởi; trong tâm bất thiện
tương ưng với bốn phiền não và các tùy phiền não có 21
tâm sở cùng sanh khởi.
c.Tâm
hữu phú vô ký[90] (Nivṛtâvyākṛta) :
Nếu
ở trong tâm vô ký hữu phú, chỉ có 18 tâm sở cùng sanh khởi.
Đó là, mười đại địa pháp, sáu đại phiền não địa
pháp cùng với hai bất định là tầm và tứ.
Ở
cõi Dục, tâm vô ký hữu phú là tâm cùng tương ưng với tát
ca da kiến (thân kiến) và biên chấp kiến (biên kiến). Trong
đó, kiến không làm tăng thêm số lượng, cho nên nên hiểu
theo như cách giải thích trước.
d.Tâm
vô phú vô ký [91] ( Anivṛtâvyākṛta):
Ở
tâm vô phú vô ký, chỉ có 12 tâm sở cùng sanh khởi (quan điểm
các Luận sư ở Ca thấp di la). Đó là 10 đại địa pháp và
hai bất định tâm sở tầm tứ.
Các
Sư phương ngoài (ngoài Ca thấp di la tức chỉ Ấn độ) cho
rằng ác tác cũng thông với vô ký; (cho nên) tương ưng với
tâm phẩm nầy, có 13 tâm sở cùng sanh khởi.
Nên
biết, tuỳ miên cùng với tất cả các tâm phẩm đã nói ở
trước đều không trái chống nhau, thông thiện bất thiện
vô ký tánh vậy. Tuỳ theo trường hợp có ở tâm nào đó
mà nói tăng; đó là từ 22 đến 23; hoặc từ 23 đến 24 .
Bất
thiện vô ký nên theo như ví dụ trên để biết.
Như
vậy, đã nói xong về số lượng các loại tâm sở cùng sanh
khởi với các loại tâm ở cõi Dục. (còn tiếp) ❐
Bản
dịch Thích Phước Viên
1 Ht.Câu
sanh 俱 生 câu khởi 俱 起 câu sanh khởi 俱 生 起
. Skt. Sahaja; sahôpāda.
2
Ht. Sắc 色 . Quang Ký q4, tr.70b11, tất cả các sắc được
chia làm hai loại: (1). cực vi tụ tức năm căn, năm cảnh;
(2). phi cực vi tụ tức vô biểu sắc. Cđ. Hữu sắc 有
色 . Skt. Rūpa.
3
Ht. Sắc tụ 色 聚 Skt. Rūpa-saṃghāta, Rūpa-samudāya
4
Ht. Vi tụ 微 聚 . Quang ký q.4, tr.70b20, nói vi tụ là hiển
bày vật rất nhỏ, nghĩa là, trong sắc tụ, vật rất nhỏ
gọi là vi tụ tức vi là tụ; chẳng phải cực vi gọi là
vi tụ; tr70b24, nên biết vi có hai loại: (1).sắc tụ vi
tức chỉ cho sắc pháp cực nhỏ với tám loại cùng sanh khởi,
không thể thiếu một. Luận nầy, theo nghĩa nầy. (2).Cực
vi vi tức chỉ cho sắc pháp cực nhỏ, không thể chia chẻ
nhỏ hơn. Chánh Lý nói theo nghĩa nầy. Chánh Lý q.10,tr383c13
nói, các vi như vậy xoay vần hoà hợp, không thể tách
rời nhau gọi là vi tụ . Cđ. Lân hư 鄰 虛 . Skt. paranāṇu-saṃcaya,
paramāṇu-saṃghāta.
5
Thanh 聲 tức âm thanh, có nguồn gốc từ bốn đại
chủng, thuộc sắc uẩn, có tám loại như được nói rõ trong
Phẩm Giới. Skt. Śabda, âm thanh, Śabdāyatana, thanh xứ.
6
Ht. bát sự 八 事 . Cđ. bát vật 八 物 .
Skt. aṣṭadravyaka.
7
Ht. dư căn, 餘 根 : chỉ cho bốn căn mắt, tai, mũi, lưỡi.
Quang ký, q.4,tr.70c02, hữu dư nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt căn tụ,
thập sự câu sanh.
8
Quang Ký q4,tr70c04, mắt, tai, mũi, lưỡi không thể lìa thân,
phải nương vào thân chuyển khởi tức hiển bày cho thấy
rằng khi có các căn nầy tất phải có thân căn; bốn căn
mắt, v.v... xoay vần hướng vọng lẩn nhau, ở các vị trí
riêng biệt tức hiển bày cho thấy, không phải là một loại
tụ sắc (đồng tụ) .
9
Ht. Kiên 堅 , thấp 濕 , noãn 煖 , động 動, tức
là (thể tính của) bốn loại đại chủng .
10
Quang Ký q4, tr.71b14, (Hữu Bộ) ,căn cứ vào tác dụng để
giải thích rằng, ở trong các tụ kia, tự thể tuy đều cùng
có nhưng hoạt dụng mạnh yếu khác nhau; khi thế lực của
dụng tăng mạnh, tuỳ theo trường hợp, một đại chủng sẽ
hiển hiện rõ ràng; trong khi đó, tự thể của các đại chủng
khác không phải không có. Chẳng hạn như khi cây kim và
thẻ tre cùng xúc chạm vào thân; kim chích đau nên biết rõ,
thẻ tre áp nhẹ khó nhận ra; hoặc như đồng thời nếm
vị của muối và gạo rang; vị muối mặn dễ biết, vị của
gạo rang lại khó nhận.
11
Bà Sa q.131,tr.683a28, Hỏi: làm sao biết được bốn đại chủng
nầy không khi nào rời khỏi nhau? đáp: trong tất cả các tụ,
tự tướng tác nghiệp của chúng đều có thể biết được;
nghĩa là trong kiên tụ, tự tướng của địa giới hiển bày;
nghĩa đúng là vậy. Nếu trong tụ đó (địa đại) không có
thủy giới thì các thứ như vàng, bạc, chì, thiết, v.v...
không khi nào có thể tiêu chảy; và nếu không có nước (để
nhiếp trì), ắt tụ kia sẽ bị phân tán; nếu không có hoả
giới, thì đá, cây, v.v... kích, gõ vào nhau không thể phát
sanh ra lửa; hơn nữa, nếu không có lửa, tụ kia không thể
thành thục mà trở nên mục nát hủ bại; nếu không có phong
giới, tụ kia không có lay động; và không thể phát triểnv.v...
12
Ht. Lãnh dụng tăng 冷 用 增 . Cđ. Lãnh thắng biệt đức
冷 勝 別 德 .
13
Ht. Ư thử tụ trung, dư hữu chủng tử, vị hữu thể tướng
於 此 聚 中 餘 有 種 未 有 體 相. Cđ. Ư tụ trung,
do chủng tử bỉ hữu, bất do tự tướng 於 聚 中 由 種
子 彼 有 不 由 自 相 . Quang Ký q.4,tr.72a24, (kinh Bộ
Sư), tuỳ theo trường hợp, (chẳng hạn) trong tụ nầy, sắc
tụ hiện hành rất mạnh; hiện hành tức có thể; các tụ
khác không hiện hành, chỉ có chủng tử, chưa có thể tướng.
.. Theo Kinh Bộ, câu sanh có hai loại: (1). chủng tử câu sanh
nghĩa là hạt giống có khả năng sanh khởi, chưa có sự hiện
hành của thể; (2). hiện hành câu sanh nghĩa là tự thể đã
hiện hành, sự tướng hiện bày rõ ràng.
14
Đoạn nầy nói, trong Phong, có mùi hương; mùi hương là một
trong năm trần cảnh nhiếp thuộc sắc uẩn; mùi hương tức
hiển sắc. Như vậy, trong Phong có hiển sắc.
15
Ht. y thể 依 體 . Cđ. ước vật 約 物 .
16
Ht. y xứ 依 處 . Cđ. ước nhập 約 入
.
17
Quang ký q.4, tr.73a01.‘v.v....” chỉ cho các số, năm, sáu vậy;
tức là với số lượng là tám, chỉ nên nói bốn; với số
lượng là chín chỉ nên nói năm; với số lượng là mười
chỉ nên nói sáu.
18
Ht. nhị câu hữu quá 二 俱 有 過 .
Cđ. thị nghĩa bất nhiên 是 義 不 然 .
19
Ht. sở y đại chủng 所 依 大 種 . Cđ. sở y chỉ vật
所 依 止 物
20
Ht. năng y tạo sắc 能 依 造 色 . Cđ. năng y chỉ
vật 能 依 止 物 .
21
Quang ký q.4.tr.73a11, Nếu căn cứ vào thể mà nói thì thể
tánh (sự) hoá thành nhiều ; vì các sắc sở tạo –sắc,
hương, vị, xúc, mỗi mỗi đều nương vào một tổ hợp bốn
đại chủng, như vậy bốn trở thành năm, tám thành hai mươi,
chín thành hai mươi lăm, mười thành ba mươi.
22
Quang Ký q.4,tr.73a16, Nên biết, trong đó, đại chủng tuy nhiều
nhưng chỉ nói bốn tức căn cứ vào thể; các tổ hợp bốn
đại chủng thể loại tương tợ, không khác nhau.
23
Ht. Hà dụng phân biệt như thị ngữ vi, ngữ tuỳ dục sanh,
nghĩa ưng tư trạch 何 用 分 別 如 是 語 為 義 隨 欲 生
義 應 思 擇 . Cđ. Hà tu tác thử công dụng vị phân
biệt thuyết, như thử nghĩa ngữ ngôn như ý sanh khởi, duy
nghĩa ưng tư lượng 何 須 作 此 工 用 為 分 別 說 如 此
語 言 如 意 生 起 唯 義 應 斯 量 .
24
Ht. Địa 地 . Skt. bhūmi : địa, cõi, xứ ,giới,
25
Ht. Hành xứ 行 處.Cđ. Sở hành xứ 所 行 處.
Skt. gativiṣaya , utpattiviṣya
26
Ht. Đại pháp địa 大 法 地 . Cđ. Chư pháp địa
đại 諸 法 地 大 .
27
Quang Ký q.4,tr.73c15, Đại địa pháp: địa có nghĩa là hành
xứ tức tâm vương; nếu tâm vương nầy là môi trường hoạt
động của tâm sở thì nói rằng tâm vương là pháp địa
của tâm sở. Trong đó, đại chỉ cho 10 tâm sở -thọ,v.v...;
đại địa chỉ cho tâm vương; đại địa pháp chỉ cho tâm
sở. Bà Sa q.16,tr.80b08 hỏi: đại địa pháp có nghĩa
là gì? đáp- đại là tâm; mười pháp như vậy là chỗ
sanh khởi của tâm; môi trường lớn gọi là đại địa; đại
địa chính là pháp nên gọi là đại địa pháp. (Và còn các
giải thích khác.)
28
Ht. Chư tâm sát na hoà hiệp biến hữu 諸 心 剎 那 和 合
遍 有 . Cđ. Ư nhất thiết tâm sát na giai tụ tập sanh
於 壹 切 心 殺 那 皆 聚 集 生 .
29
Chánh Lý q.10, tr.384a29 , đối với thân sở y có công năng
đem lại lợi ích, hoặc tổn hại, hoặc không lợi ích cũng
không tổn hại; (領 愛 非 愛 俱 相 違 觸 說 名 為 受) tiếp
nhận cảm xúc đáng ưa hay chẳng đáng ưa, hoặc chẳng phải
cả hai gọi đó là thọ (ở đây, căn cứ vào nhân Xúc, nói
về quả Thọ) .
30
Chánh Lý q.10,tr.384b01, làm nhân để an lập, chấp thủ các
tướng nam nữ,v.v... khác nhau, gọi đó là tưởng.
31
Luận Nhập A Tỳ đạt Ma, q.th. tr.982a05, Xúc có nghĩa là căn,
cảnh, thức hoà hợp sanh khởi, khiến tâm xúc cảnh, lấy
hoạt động của tâm sở làm tướng, thuận với ba thọ
khác nhau - lạc,v.v...
32
Chánh Lý q.10,tr.384b04, tác ý có nghĩa là tác động khiến
tâm tâm sở phát khởi cảnh giác đối với cảnh sở duyên.
33
Ht. Thắng giải 勝 解 . Cđ. Liễu tướng 了 相 .
34
Ht. Tam ma địa 三 摩 地 . Cđ. Định 定 .
35
Ht. Đại Thiện Địa Pháp 大 善 地 法 . Cđ. thiện đại địa
善 大 地 . Skt. Kuśalamahābhūmikas.
36
Ht. 大 善 法 地 名 大 善 地 đại thiện pháp địa danh
đại thiện địa. Cđ. 諸 法 善 為 大 地 說
名 善 大 地 chư pháp thiện vi đại địa thuyết danh thiện
đại địa.
37
Nhập A Tỳ đạt Ma Luận q. thượng,tr.982a28, 信 謂 令 心
於 境 澄 淨 謂 於 三 寶 因 果 屬 有 情 等 中 現 前 忍
許 故 名 為 信 是 能 除 遺 心 濁 穢 法 如 清 水 珠
置 於 池 內 令 濁 穢 水 皆 即 澄 清 如 是 信 珠 在
心 池 內 心 諸 濁 穢 皆 即 除 遺 tín có công năng khiến
cho tâm được lắng trong đối với cảnh; nghĩa là đối với
Tam bảo, nhân quả, hiện tiền chấp nhận gọi là tín. Đó
là công năng trừ khử các pháp uế trược trong tâm, như ngọc
châu thanh thuỷ, bỏ vào trong ao khiến nước vẫn đục liền
trở thành trong; cũng như vậy tín châu ở trong tâm có khả
năng trừ khử mọi pháp uế trược.
38
Chánh Lý q.11, tr.391a21 專 於 己 利 防 身 語 意 放 逸
相 違 名 不 放 逸。Bảo sớ q.4,tr.528b02 述 曰: 己 利 即
是 三 乘 涅 槃 及 世 愛 果 是 己 所 專 舉 所 依 也 防
身 語 意 舉 作 用 放 逸 相 違 明 所 對 治 luôn luôn đối
với lợi ích bản thân canh chừng thân khẩu ý , và trái
với phóng dật gọi đó là không phóng dật. (Bảo sớ)thuật
rằng, lợi ích bản thân (ở đây) là các quả tam thừa, niết
bàn, và các quả đáng ưa thích ở thế gian; và đó là các
vấn đề mà mình chuyên tâm; nói lợi ích bản thân tức nêu
lên sở y. Canh chừng thân khẩu ý tức nêu lên công dụng.
Trái với phóng dật tức nói rõ về pháp đối trị.
39
Ht. 輕 安 khinh an. Cđ. 安 an. Luận Nhập A Tỳ Đạt
Ma q.th. tr.982b11 nói, 心 堪 任 性 說 名 輕 安 違 害 惛 沈
隨 順 善 法 tính chất kham nhậm của tâm gọi đó là khinh
an; nó trái ngược với các tâm sở hại, hôn trầm, thuận
hợp với các thiện pháp.
40
Quang Ký q.4,tr.75b05, 起 無 經 亦 說 有 身 輕 安 何 故 但
說 心 輕 安 耶 經 部 計 身 輕 安 是 觸 事 輕 安 觸 用
風 為 體 為 輕 安 名 通 輕 觸 故 以 為 難 彼 宗 心 輕
安 是 心 所 身 輕 安 是 輕 觸 Há không có Kinh nào nói thân
khinh an chăng, sao chỉ nói tâm khinh an. Quan điểm của Kinh
Bộ cho rằng, thân khinh an tức xúc sự khinh an, xúc lấy Phong
làm thể tức khinh an thông với khinh xúc, cho nên hỏi như
vậy. Kinh Bộ chủ trương tâm khinh an là tâm sở, thân khinh
an là khinh xúc.
41
Quang Ký q.4,tr.75b10, 此 如 身 受 受 雖 心 所 若 五 識 相
應 名 身 受 若 意 識 相 應 名 心 受 應 知 輕 安 亦 爾
雖 是 心 所 若 五 識 相 應 名 身 輕 安 若 意 識 相 應
名 心 輕 安 thân khinh an cũng giống như thân thọ ; thân thọ
tuy là tâm sở, nhưng khi tương ưng với năm thức gọi là
thân thọ, khi tương ưng với với ý thức gọi là tâm thọ;
nên biết tâm khinh an cũng như vậy; tuy là tâm sở nhưng nếu
tương ưng với năm thức gọi là thân khinh an, nếu tương
ưng với ý thức gọi là tâm khinh an.
42
Quang Ký q.4,tr.75b22, 此 身 輕 安 既 是 輕 觸 還 是 有 漏
復 如 何 說 此 為 覺 支 Thân khinh an nầy đã thuộc khinh
xúc, lại là hữu lậu, sao nói là giác chi ?
43
Ht. 心 平 等 性 Tâm bình đẳng tánh. Cđ. 心 平 等 Tâm
bình đẳng.
44
Ht. 無 警 覺 性 vô cảnh giác tánh. Cđ. 無 所 偏 對
vô sở thiên đối.
45
Chánh Lý.q.11,tr. 391a23 心 平 等 性 說 名 為 捨 掉 舉 相
違 如 理 所 引 令 心 不 越 是 為 捨 義 Tánh bình đẳng
của tâm gọi là xả; trái ngược với trạo cử, được dẫn
dắt như lý, khiến tâm không vượt là nghĩa của xả.
(Bảo Sớ q.4,tr.528c20 ) 述 曰 心 平 等 性 即 指 其 體 對
治 惛 掉 不 平 等 性 故 名 平 等 掉 舉 相 違 舉 所 治
也 .... 如 理 所 引 等 者 釋 捨 義 謂 捨 是 善 性
是 如 理 心 引 生 能 調 伏 心 令 不 越 所 作 此 論 無
警 覺 性 者 即 是 無 掉 舉 也 Thuật rằng, tánh bình đẳng
của tâm tức chỉ cho thể của xả; đối trị tánh không
bình đẳng của hôn trạo gọi là bình đẳng. Trái ngược
với trạo cử tức nêu đối tượng đối trị. Được dẫn
dắt như lý: xả là tánh thiện, dẫn dắt tâm sanh
khởi như lý, điều phục tâm khiến không vượt quá sở tác.
Luận nầy nói vô cảnh giác tánh tức là vô trạo cử vậy.
Nhập A Tỳ đạt ma q.th. tr. 982b13 , 心 平 等 性 說 名
為 捨 捨 背 非 理 及 向 理 故 由 此 勢 力 令 心 於 理
及 於 非 理 無 向 無 背 平 等 而 住 如 持 抨 縷 tánh bình
đẳng của tâm gọi là xả; xả trái ngược với phi lý, thuận
hướng với lý; do thế lực nầy khiến tâm đối với Lý
và phi lý, không tìm đến, không quay lưng, an trú bình đẳng,
như sợi giấy giữ cái cân.
46
Ht. 作 意 tác ý. Cđ. 思 惟 tư duy. Skt. Manaskāra.
47
Cđ. 思 惟 於 心 迴 向 為 體 今 說 捨 於 心 無 迴 向 為
體 此 言 云 何 相 應 Tư duy, đối với tâm lấy hồi hướng
làm thể; nay nói, Xả đối với tâm, lấy không hồi hướng
làm thể, như vậy làm sao tương ưng được. Câu nầy Bản
ngài Huyền Trang không có.
48
Quang Ký q.4, tr. 67b04, 若 一 體 之 上 說 有 警 覺 說 無 警
可 言 乖 反 此 作 意 有 警 覺 於 捨 則 無 二 既 懸 殊
有 何 乖 反 nếu trên cùng một thể nói có cảnh giác, nói
không có cảnh giác, mới là trái chống; (ở đây) tác ý có
cảnh giác, xả thì không; hai bên khác nhau, có gì trái
chống.
49
Quang Ký q4,tr. 67b07, 雖 於 一 體 無 彼 二 用 然 性 相 違
不 應 同 緣 一 境 或 應 一 切 貪 瞋 等 法 皆
互 相 應 tuy trong một thể không có hai tác dụng; song tánh
của chúng trái ngược nhau không thể cùng duyên với một
cảnh; nếu hai tánh trái ngược cùng duyên với một cảnh
thì các pháp như tham, sân,v.v... đều nên hỗ tương tương
ưng.
50
Quang Ký nt. tr.76b11, 如 是 種 類 所 餘 受 等 諸 法 種 類
作 用 各 各 不 同 此 一 性 心 中 應 來; 種 類 之 言 例
同 作 意 及 捨 ;如 彼 受 黨 各 別 相 應
理 趣 今 於 此 捨 作 意 中 各 別 相 應 應 知 亦 爾 các
pháp khác như thọ,v.v... , chủng loại, tác dụng (của
chúng) mỗi mỗi không giống nhau, (nhưng) đều có ở trong
một tâm tánh. Nói chủng loại ở đây ví như tác ý và xả;
Cũng giống như các pháp thọ, v.v... kia đã có sai khác mà
vẫn có nghĩa lý tương ưng thì ở trong tác ý và xả, cũng
có sai biệt tương ưng, nên biết cũng như vậy.
51
Ht. 慚 愧 tàm quý. Cđ. 羞 及 慚 愧 tu cập tàm quý.
52
Quang Ký q.4, tr.76b20, 於 諸 境 界 無 愛 染 性 說 名 無 貪
貪 相 違 也 於 情 非 1恚 害 性 說 名 無 瞋 瞋 相 違 也
đối với các đối tượng (cảnh giới) không có tánh ưa
thích say đắm gọi là không tham tức trái ngược với
tham; đối với hữu tình, phi tình không có tánh thù hận làm
tổn hại gọi là không sân tức trái với sân. Chánh Lý q.11,tr.391a29,
已 得 未 得 境 界 耽 著 希 求 相 違 無 愛 染 性 名 為
無 貪 於 情 非 情 無 恚 害 意 哀 愍 種 子 說 名 無 瞋
đối với các đối tượng (cảnh giới) đã có hoặc chưa
có, không đắm trước, mong cầu, không có tính ái nhiễm gọi
là không tham (vô tham); đối với các dối tượng hữu tình
hoặc phi tình, không có ý tức giận, làm hại, có hạt giống
thương xót gọi là không sân (vô sân).
53
Ht. 不 害 bất hại. Cđ. 非 逼 惱 phi bức não. Quang
Ký nt. tr.76b25, 心 賢 善 性 無 損 惱 他 名 為 不 害 tánh
chất hiền thiện của tâm, không gây phiền não, tổn thất
người khác gọi là bất hại.
54
Ht. 勤 cần. Cđ. 精 進 tinh tấn. Quang Ký nt.tr.76b04, 勤
謂 令 心 勇 悍 為 性 即 勤 斷 二 惡 勤 修 二 善 無 退
義 也 cần có nghĩa là tính chất khiến cho tâm mạnh mẽ,
hăng hái; tức siêng năng đoạn trừ hai loại xấu ác, tu tập
hai loại thiện, không khi nào ngừng nghỉ. Chánh
Lý q.11,tr.391b03, 於 諸 已 生 功 德 過 失 守 護 棄 捨
於 諸 未 生 功 德 過 失 令 生 不 生 心 無 墮 性 說 名
為 勤 由 有 此 故 心 於 如 理 所 作 事 業 堅 進 不 息
đối với các công đức, với các lỗi lầm đã sanh (đã
có) , giữ gìn hoặc buông bỏ; đối với các công đức chưa
sanh, khiến sanh khởi; lỗi lầm chưa sanh, khiến không sanh
khởi , tâm không có tính chất lười biếng gọi đó là cần.
Do có tính chất nầy, tâm đối với các việc làm đúng đắn,
siêng năng, bền bỉ, không ngừng nghỉ.
55
Ht. 大 煩 惱 地 法 đại phiền não địa pháp. Cđ. 惑
大 地 法 hoặc đại địa pháp. Quang Ký q.4, tr.76c25, 有 古
德 五 義 廢 立 今 依 此 論 一 義 廢 立 大
煩 惱 地 法 六 謂 恆 唯 染 心 名 大 煩 惱 地 法 恆 染
顯 遍 染 心 唯 染 顯 不 通 淨 大 地 法 十 雖 恆 染 而
非 唯 染 餘 染 心 所 雖 唯 染 而 非 恆 染 大 善 地 法
十 及 尋 伺 睡 眠 惡 作 非 恆 染 亦 非 唯 染 故 皆 不
名 大 煩 惱 地 法 các Bậc Cổ Đức dùng năm nghĩa để
thành lập; nay căn cứ vào Luận nầy chỉ dùng một nghĩa
để thành lập sáu loại – pháp chỉ luôn ở trong các tâm
nhiễm ô gọi là pháp đại phiền não địa; luôn ở
trong nhiễm ô (hằng nhiễm) hiển bày nghĩa có mặt cùng khắp
các tâm nhiễm; chỉ ở trong nhiễm ô (duy nhiễm) hiển bày
cho thấy không thông với tịnh (trong sạch); mười pháp đại
địa luôn là nhiễm (hằng nhiễm) nhưng chẳng phải chỉ ở
trong nhiễm (duy nhiễm); các tâm sở nhiễm ô khác duy nhiễm
nhưng chẳng phải là hằng nhiễm. Mười pháp đại thiện
địa cùng với tầm, tứ, thuỳ miên, ác tác chẳng phải hằng
nhiễm cũng chẳng phải duy nhiễm cho nên không gọi là pháp
đại phiền não địa.
56
Quang Ký q.4, tr.77a03, 癡 謂 愚 癡 於 所 知 境 障 如 理 解
無 辯 了 相 說 名 愚 癡 照 矚 名 明 審 決 名 智 彰 了
名 顯 此 三 皆 是 慧 之 別 名 癡 無 明 等 故 名 為 無
即 是 無 癡 所 對 除 法 si nghĩa là ngu si tức đối
với cảnh sở tri, ngăn trở (không phát sanh) hiểu biết đúng
sự thật (như lý giải), không phân biệt rõ ràng các hành
tướng. Chiếu chúc gọi là minh; thẩm quyết gọi là trí;
chương liễu gọi là hiển. Ba danh từ nầy là tên gọi khác
của huệ. Si không có tính chất minh,v v... nên nói là
vô (không có) ; đây là pháp được đối trừ bởi pháp
vô si.
57
Chánh Lý q.11, tr.391c04 於 專 己 利 棄 捨 縱 情 名 為 放
逸 , đối với lợi ích bản thân, buông tuồng bỏ mặc gọi
là phóng dật.
58
Chánh Lý q.11, tr.391c05 怠 謂 懈 於 善 事 業 闕 減 勝 能
於 惡 事 業 順 成 勇 悍 無 明 等 流 名 為 懈 怠 由 此
說 為 鄙 劣 勤 性 勤 習 鄙 穢 故 名 懈 怠 Đãi có nghĩa
là nhác nhớm, đối với các việc làm tốt, tỏ vẻ sở sài,
chiếu lệ; đối với các việc không tốt lại mạnh mẽ hăng
hái; đẳng lưu quả của vô minh gọi là giải đãi. Do đó
nói tính chất yếu kém của cần, lại chuyên làm các việc
uế ác nên gọi là giải đãi.
59
Chánh Lý q.11,tr.391c07, 不 信 者 謂 心 不 澄 邪 見 等 流
於 諸 諦 實 ( 寶) 靜 慮 等 至 現 前 輕 毀 於 施 等
因 及 於 彼 果 心 不 現 許 名 為 不 信 bất tín có nghĩa
là tâm không trong lắng, đẳng lưu quả của tà kiến, đối
với tứ đế, tam bảo, tịnh lự, đẳng chí, hiện tiền
khinh chê huỷ báng; đối với các nhân quả như bố thí,v.v...,
lòng không chấp nhận gọi là bất tín.
60
Quang Ký q.4,tr.77a21, 惛 謂 惛 昧, 沈 謂 沈 重 義 也 hôn là
hôn muội; trầm là trầm trọng. Chánh Lý q.11,tr.391c10 惛 謂
惛 沈 (đặng mông) 瞢 不 樂 等 所 生 心 重
性 說 名 昏 沈 由 斯 覆 蔽 心 便 惛 昧 無 所 堪 任 瞢
憒 (mông hội) 性 故 由 是 說 為 輕 安 所 對 治
hôn là hôn trầm; mù mờ, không ưa, v.v... khiến phát
sinh tính chất nặng nề của tâm gọi là hôn trầm. Do chúng
che lấp khiến tâm hôn muội, mù mịt, không có tính kham nhậm
vậy; cho nên nói nó là pháp được đối trị bởi khinh an.
61
Chánh Lý q.11,tr.391c18, 掉 謂 掉 舉 親 里 尋 等 所 生
令 心 不 寂 靜 性 說 名 掉 舉 心 與 此 合 越 路 而 行
trạo có nghĩa là trạo cử; phát sinh do thân cận
gần gũi với tầm,v.v... , khiến tâm không yên tịnh gọi là
trạo cử; tâm thuận hợp với trạo cử, ắt vượt quá những
sở tác.
62
Quang Ký q.4,tr.77c14, 二 雖 俱 起 行 有 增 微 隨 增 說
行 亦 有 何 過 hai pháp tuy cùng đồng thời khởi lên nhưng
hoạt động có mạnh, yếu khác nhau, dựa vào tính cách mạnh
mẽ, nói hành liệu có lỗi gì.
63
Quang Ký q.4,tr.77c25 有 古 德 亦 以 五 義 廢 立 大 不 善
地 法 , 一 通 六 識 , 二 通 五 斷 , 三 并 頭 (顯) 起 , 四
唯 不 善 , 五 唯 欲 界 ; 若 具 五 義 廢 立 大 不 善 地
法 . 餘 心 所 法 不 具 五 義 是 故 不 立 ; 亦 費 言
論 不 能 具 述 也 . 今 依 此 論 以 一 義 廢 立 大 不 善
地 法 二 , 謂 唯 遍 不 善 心 Cổ Đức cũng dùng năm nghĩa
để thành lập pháp đại bất thiện địa: (1).thông với
sáu thức. (2).thông với ngũ đoạn. (3). cùng khởi lên từ
một phía . (4). chỉ thông bất thiện. (5). chỉ có ở cõi
Dục. Nếu có đủ năm nghĩa nầy thời lập thành pháp đại
bất thiện địa; các pháp tâm sở khác không có đủ năm
nghĩa nầy nên không thể lập, cũng không phải nói về chi
tiết của chúng. Nay căn cứ vào Luận nầy, dùng một nghĩa
để lập thành hai pháp đại bất thiện; nghĩa đó là chỉ
khởi lên khắp các tâm bất thiện.
64.
Ht Tiểu Phiền Não Địa Pháp . Cđ.tiểu phần hoặc địa.
Skt.
Parīttaklesamahābhūmikas.
65
H. 忿 phẫn . Skt. krodhaḥ. Pháp uẩn túc luận q.9, Phẩm 15
,tr. 495a14, 云 何 忿 謂 忿 有 二 種 一 屬 愛, 二 屬 非 愛;
屬 愛 者 謂 於 父 母 兄 弟 姊 妹 妻 妾 男 女 及 餘 隨
一 親 屬 朋 友 所 發 生 忿 怒, 友 忿 言,
如 何 不 與 我 此 物, 如 何 不 與 我 作 此 事, 而 與 我
作 如 是 事; 由 此 發 生 諸 忿 , ..... 凶 勃 麤 惡, 心
憤 發, 起 惡 色, 出 惡 言, 是 名 屬 愛 忿. 屬 非 愛
忿 者 謂 有 一 類, 作 是 思 惟, 彼 今 於 我 欲 為 無 義,
欲 為 不 利 益, 欲 為 不 安 樂,.... 不 安 隱, 然 彼 於
我 已 作 無 義 當 作 無 義 現 作 無 義. 諸 有
於 我 欲 為 無 義 乃 至 不 安 隱; 而 復 於 彼 欲 為 有
義 。 。 。 欲 為 安 隱 然 復 於 彼 以 作 有 義
; 由 此 發 生 諸 憤 是 名 屬 非 僾 忿 ; 總 名 為 忿
Phẫn có hai loại: (1). phẫn thuộc ái; (2). phẫn không thuộc
ái. Phẫn thuộc ái: phẫn nộ phát sanh đối với những người
thân thuộc như cha mẹ, anh chị em, vợ chồng con cái,v.v...
Bằng lời nói rằng, tại sao không cho tôi vật nầy, lại
cho vật kia; tại sao không để tôi làm việc nầy lại bắt
làm việc kia.... từ đó phát sanh các sự phẫn nộ, ... phát
khởi các điều thô ác; tâm phát giận, hiện sắc dữ dằn,
nói lời thô ác; đó gọi là ái phẫn. Phi ái phẫn: suy
nghĩ rằng, người kia nay đối với tôi muốn cho tôi trở
thành vô nghĩa, muốn làm cho tôi không có lợi ích, ... làm
cho tôi không an ổn; và đã làm cho vô nghĩa, đang làm cho vô
nghĩa, sẽ làm cho vô nghĩa. Những người khác đối với tôi
muốn làm cho vô nghĩa cho đến không an ổn; ngược lại đối
với y, muốn làm cho có ý nghĩa, làm cho có lợi ích, làm cho
có an lạc, làm cho thắm nhuận, an ổn; và đối với y đã
làm cho có ý nghĩa, đang làm cho có ý nghĩa , sẽ làm cho có
ý nghĩa; từ đó phát sanh các sự phẫn nộ, cho đến hiện
lên sắc mặt dữ dằn, nói lời thô ác. Đó gọi là phi ái
phẫn.
66
H. 覆 phú. Skt. mrakṣaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b06,
云 何 為 覆? 謂 有 一 類,破 戒 破 見 破 淨 命,破 軌 範,
於 本 受 戒 不 能 究 竟,不 能 純 淨,不 能 圓 滿,彼 既
自 覺 所 犯 已 久,作 是 思 惟,我 若 向 她 宣 說 開 示
诗施 設 建 立 所 犯 諸 事 則 有 惡 稱 惡 譽
被 彈 被 厭 或 毀 或 舉 便 不 為 他 恭 敬 供 養 我
寧 因 此 墮 三 惡 趣 終 不 自 陳 上 所 犯 事, 彼 既 怖
得 惡 稱 惡 譽 乃 至 怖 失 恭 敬 供 養,於 自
所 犯, 便 起 諸 覆 。 。 。 總 名 為 覆 thế nào gọi là
Phú ? –đó là phá giới, phá kiến, phá tịnh mạng, phá các
quy tắc, đối với các giới căn bản không giữa gìn trọn
vẹn, không được thuần tịnh, không được đầy đủ; bản
thân biết đã phạm như vậy từ lâu. Suy nghĩa rằng, nếu
ta nói điều nầy với người khác, tất bị chê trách nặng
nề, khó chịu, bị vặn hỏi, bị chán ghét, bị nêu lên,
thời không còn được người khác cung kính cúng dường. Ta
thà vì như vậy, phải bị đoạ ba đường ác, hẳn không
bao giờ tự nói ra những điều sai phạm. Vì sợ chê bai, sợ
bị khinh huỷ, cho đến sợ mất đi sự cung kính cúng
dường, nên đã che dấu, đang che dấu , sẽ che dấu những
sai phạm gọi đó là phú.
67
H. 慳 xan. Skt. Mātsaryaṃ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b24,云
何 慳 ? 謂 慳 有 二 種, 一 財 慳,二 法 慳 。 財 慳 者,謂
於 諸 所 有 可 愛 五 塵 衣 服 飲 食 臥 具 醫 藥 及 餘
資 具 障 礙 遮 止 令 他 不 得 於 自 所 有 可 愛 資 具
不 施 不 遍 施 不 隨 遍 施 不 捨 不 遍 捨,不 隨 遍 捨,心
吝 惜 性 是 名 財 慳 。 法 慳 者,謂 所 有 素 怛 纜,毘
奈 耶,阿 毘 達 磨,或 親 教 軌 範 教 受 教 戒,或 展 轉
傳 來 諸 祕 要 法 障 礙 遮 止 令 他 不 得; 於 自 所 有
如 上 諸 法 不 受 與 他,亦 不 為 說,不 施 不 遍 施,不
捨 不 遍 捨,不 隨 遍 捨,心 吝 惜 性; 是 名 法 慳 。 thế
nào gọi là xan? –Xan có hai loại _ (1). tài xan. (2).pháp xan.
Bỏn xẻn về tài vật : đối với vật ưa thích như
như áo quần, ngoạ cụ, thuốc men, ăn uống cùng với tất
cả các thứ đồ dùng, ngăn trở khiến cho người khác
không có được; đối với các vật ưa thích mà mình có được,
không bố thí, không bố thí rộng rãi, không tuỳ theo trường
hợp mà bố thí rộng rãi, không chịu xả, không chịu buông
xả rộng rãi, không tuỳ trường hợp mà biến xả, trong lòng
thấy tiếc; đó gọi là bỏn xẻn về tài vật. Bỏn xẻn
về giáo pháp: đối với các pháp như Kinh, Luật, Luận, hoặc
như thân giáo, pháp tắc, giáo thọ, giáo giới, hoặc các pháp
bí mật được lưu truyền lại, cản trở, khiến cho người
khác không có được; đối với các thứ trên mình có, không
cho người khác, không thuyết giảng cho người khác, không
ban phát, không ban phát rộng rãi, không tùy theo trường hợp
ban phát rộng rãi, không buông xả, không buông xả rộng rãi,
không tuỳ theo trường hợp buông xả rộng rãi; trong lòng
có ý nuối tiếc; đó gọi là bỏn xẻn về pháp.
68
H. 嫉 Tật. Skt. Īrṣyā. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495b20, 云
何 嫉 ? 謂 有 一 類 , 見 他 獲 得 恭 敬 供 養 尊 重
讚 歎 可 愛 五 塵 衣 服 飲 食 臥 具 醫 藥,作 是 思 惟,彼
既 已 獲 恭 敬 等 事 而 我 不 得,由 此 發 生 諸 戚 極
戚,苦 極 苦,妒 極 妒,嫉 極 嫉,總 名 為 嫉 thế nào
gọi là tật? -thấy người khác đượccung kính, cúng dường,
tôn trọng, khen ngợi, thấy người khác có các tư cụ đáng
ưa như áo quần, ăn uống, thuốc men,v.v... liền có suy nghĩ,
người đó đã có được những sự cung kính, v.v.. như vậy,
ta lại không có; do đó phát sanh sự lo lắng, rất lo lắng,
khổ, rất khổ, ganh, rất ganh, ghét, rất ghét đều gọi là
tật.
69
H. 惱 não . Skt. Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.tr.495b15, 云
何 惱 ? 謂 有 一 類,於 增 等 中, 因 法 非 法 而 興 鬭
訟 ; 諸 泌 芻 等 為 和 息 故 勸 諫 教 诲 而 故 不 受,此
不 受 勸 諫 性,不 受 教 誨 性,極 執 性,極 取 性,左 取
性,不 右 取 性,難 勸 捨 性,拙 應 對 性,師 子 執 性,心
蛆 鼜 (thư thích) 性,狼 戾 (lan lệ) 性,總 名 為 惱 thế
nào là não ? -ở trong Tăng chúng, nhân nơi các việc hoặc
hợp pháp, hoặc phi pháp, khởi lên sự đấu tranh, gây gổ;
các tỳ kheo muốn chấm dứt, muốn có hoà hợp, khuyên bảo,
can gián, cố chấp không chịu; đây (não) là tính không chấp
nhận sự khuyên nhắc, không nhận sự dạy dỗ; là tính
cố chấp, bảo thủ, tính rất khó khuyên bỏ, tính cách ứng
xử vụng về, sư tử chấp tính, tính hiểm độc, tính
tàn ác, đều gọi là não.
70
H. 害 hại. Skt. Hiṃsā . Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.tr.495b02,
thế nào là hại ?
71
H. 恨 hận. Skt.Upanāhaḥ.Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận
nt.tr.495b02, 云 何 恨 ? 謂 有 一 類,作 是 思 惟,彼 既 於
我,欲 為 無 義,廣 說 如 前,我 當 於 彼,亦 如 是 作,此
能 發 忿, 從 瞋 而 生,常 懷 憤 結 諸 恨,等 恨,遍 恨,極
恨,作 業 難 迴,為 業 纏 縛,起 業 堅 固,起 怨 起 恨,心
怨 恨 性,總 名 為 恨 thế nào là hận ? –suy nghĩ rằng,
người kia đối với ta, muốn làm cho ta vô nghĩa, như trước...
, ta cũng nên đối xử với người đó như vậy; hận nầy
khiến phát sanh ra phẫn, lại bắt nguồn từ sân, thường
ôm lòng phẫn nộ kết thành hận thù, hận vừa, hận khắp,
hận cao độ, tạo nghiệp khó quay trở lại, bị nghiệp
trói buộc, khởi nghiệp thâm căn cố đế, khởi oán, khởi
hận, tánh chất oán hận của tâm; đều gọi là hận.
72
H. 諂 siễm. Skt. Māyā..Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt. tr.495c08
云 何 諂 ? 謂 心 隱 匿 性,心 屈 曲 性, 心 洄 復 性,心
沈 滯 性,心 不 顯 性,心 不 直 性, 心 無 堪 性, 總 名 為
諂 。 thế nào là siễm ? –tánh khuất kín (ẩn nặc) của
tâm, tánh khuất khúc của tâm, tánh vòng vo của tâm (hồi
phục),tánh trầm trệ, tánh không rõ ràng, không thẳng thắng,
không kham nhậm, đều gọi là siễm.
73
H. 誑 cuống. Skt. Śāṭhyaṃ.Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận
nt. tr.495c06, 云 何 誑 ? 謂 於 他 所 以 偽 斗, 偽 斛,偽
枰,詭 言 施 託 誑 誘 令 他 謂 實,諸 誑,等 誑,遍 誑,極
誑,總 名 為 誑. thế nào gọi là cuống ? -đối với người
khác, dùng đấu không chính xác, hộc không chính xác, cân
không đúng sự thật, nói không thật, bày trò dụ dỗ khiến
người tin thật, các sự dối gạt, dối gạt vừa, dối
gạt khắp, dối gạt cùng cực đều gọi là dối gạt.
74
H.憍 kiêu. Skt. Madaḥ. Pradāsaḥ. Pháp uẩn túc luận nt.
tr.495c27, 云 假 憍 ? 謂 有 一 類,作 是 思 惟,我 之 種
性,家 族 色 力,工 巧 事 業,若 財 若 位,界 定 慧 等, 隨
一 殊 勝,由 此 起 憍,極 憍, 醉 憍 極 醉 悶 極 悶,心 傲
逸,心 自 取,起 等 起,生 等 生,高 等 高,舉 等 舉,心 彌
漫 性,總 名 為 憍 thế nào gọi là kiêu? –suy nghĩ rằng,
ta thuộc chủng tánh thượng đẳng, gia tộc trâm anh thế phiệt,
có tài sắc, có lực, có sự nghiệp chuyên môn tốt; hoặc
tài, hoặc vị, giới, định,v.v... có một đặc biệt, do đó
khởi lên kiêu căng, kiêu căng vừa, kiêu căng vô cùng, tuý
cực tuý, muộn cực muộn, tâm ngạo mạn buông lung, tâm tự
chấp thủ, khởi đẳng khởi, sanh đẳng sanh, cao đẳng cao,
cử đẳng cử, tánh không biết kềm chế, đều gọi là kiêu.
75
Chánh Lý q11,tr.392a06, 小 是 少 義 ,顯 非 一 切 染 污 心
有, 非 雖 唯 少 分 染 汙 心 俱 , 仍 各 別 起 tiểu có nghĩa
là ít, hiển bày cho thấy chẳng phải có mặt nơi tất cả
các tâm nhiễm ô, cũng chẳng phải cùng khởi lên với
một phần nhiễm ô của tâm mà khởi lên một cách riêng biệt.
76
Quang Ký q4.tr.78a19, 有 古 德 亦 以 五 義 廢 立 小 煩 惱
地 法 一 不 通 六 識 二 不 通 五 斷 三 不 通 三 性
四 不 通 三 界 五 別 頭 起 亦 費 言 論 不 能 具 述 若
具 五 義 立 小 煩 惱 餘 心 所 法 不 具 五 義 是 故 不
立 今 於 此 論 一 義 廢 立 小 煩 惱 地 法 十 謂 唯 修
斷 意 癡 相 應 慢 疑 二 種 雖 唯 意 癡 非 唯 修 斷 惡
作 雖 唯 修 斷 非 唯 意 癡 餘 心 所 法 非 唯 修 所 斷
亦 非 唯 意 癡 故 皆 不 名 小 煩 惱 地 法 Các bậc Cổ
đức cũng dùng năm nghĩa để lập thành pháp tiểu phiền
não địa: (1).thông với năm thức. (2).không thông với năm
đoạn. (3).không thông với ba tánh. (4).không thông tam giới.
(5). khởi lên từ các phía riêng biệt. Ở đây không nói chi
tiết. Nếu đầy đủ năm nghĩa nầy được lập thành pháp
tiểu phiền não địa; các pháp tâm sở khác không đủ năm
nghĩa nầy nên không được xếp vào đây. Nay căn cứ vào
Luận nầy, lập mười pháp tiểu phiền não địa bằng một
nghĩa : chỉ thông với tu đoạn; tương ưng với ý, si.
Hai pháp mạn, nghi tuy tương ưng ý, si nhưng chẳng thuộc tu
sơ đoạn; ác tác tuy thuộc tu sở đoạn nhưng chẳng
phải tương ưng với ý, si; các tâm sở còn lại chẳng thuộc
tu sở đoạn cũng chẳng tương ưng với ý, si đều chẳng
gọi là pháp tiểu phiền não địa.
77
Chánh Lý q.11,tr.392a06, nói, 類 言 謂 攝 不 忍 不 樂 憤發
等 義 chữ “loại” bao gồm các nghĩa pháp như bất nhẫn,bất
lạc, phẩn phát, v.v... .
78
Quang Ký q.4,tr.78b01, 若 依 正 理 第 十 一 。 。 。 餘
論 既 說 眾 多 不 可 限 其 頭 數 . Đại ý đoạn nầy nói,
số lượng tiểu phiền não, theo Chánh lý khác, theo Pháp uẩn
túc luận khác; nói chung, số lượng khá nhiều; Luận nầy
chỉ nói có 10, đó là tuỳ theo tương thích đều nhiếp thuộc
vào mười loại trong Luận nầy.
79
Quang Ký q.4,tr.78b14, 不 入 五 地 名 為 不 定,不 定 所 依
名 不 定 地 家 法 名 不 定 地 法 không nằm trong năm địa
trên gọi là bất định; sở y của bất định gọi là bất
định địa; những pháp thuộc bất định địa gọi là bất
định địa pháp.
80
Ht. 尋 , 伺 tầm, tứ . Cđ. 覺 , 觀 giác, quán. Skt.
Vitarka, vicāra.
81
Quang Ký q.4,tr.78b15, 等 者 等 取 貪 瞋 慢 疑 ; chữ “vân
vân” chỉ cho các bất định tâm sở : tham, sân, mạn, nghi.
Bà Sa q.45,tr.236a19 睡 眠 惡 作 怖 及 尋 伺 thuỳ miên, ác
tác, bố cập tầm tứ.
82
Ht. 不 善 Bất thiện . Cđ. 惡 ác. Skt. Akuśala.
83
Ht. 相 應 Tương ưng; Cđ. 相 應 Tương ưng. Luận Câu Xá dùng
chữ 相 應 Tương ưng. Luận Chánh Lý : 俱 起 câu
khởi.
84
Ht. 不 共 bất cộng . Cđ. 獨 行 độc hành. Quang Ký q.4,tr.79b16,
như vô minh không tương ưng với tham,v.v... ,với phẫn, v.v...
gọi là bất cộng vô minh. Skt. Avidyā.
85
Ht. 餘 煩 惱 等 相 應 dư phiền não đẳng tương ưng.
Cđ. 餘 惑 相 應 dư hoặc tương ưng. (hoặc tức là phiền
não).
86
Quang Ký q.4,tr.79c04 惡 作 是 所 緣 境 體 即 正 是 追
悔 ác tác là cảnh sở duyên, hối tiếc ( truy hối, vipratisāra)
là bản thể.
87
Bà Sa q.37,tr.191b15 nói, 此 中 惡 作 總 有 四 句 一 有 惡
作 是 善 於 不 善 處 起 二 有 惡 作 是 不 善 於 善 處
起 三 有 惡 作 是 善 於 善 處 起 四 有 惡 作 是 不 善
於 不 善 處 起 với ác tác nên lập bốn câu để hiểu rõ
hơn: Câu thứ nhất: có ác tác là thiện, khởi lên từ tâm
bất thiện (tức đối với việc đã làm không tốt, tâm sinh
hối tiếc). Câu thứ hai: có ác tác là bất thiện khởi lên
từ tâm thiện (tức đối với việc tốt đã làm, tâm lại
nảy sinh hối tiếc). Câu thứ ba: có ác tác là thiện, khởi
lên từ tâm thiện (đối với việc tốt, làm ít, tâm sinh
hối tiếc,đáng lẽ phải làm nhiều hơn). Câu thứ tư: có
ác tác là bất thiện, khởi lên từ tâm bất thiện (đối
với việc không tốt đã làm, lại tiếc tại sao làm ít như
vậy).
88
Quang Ký q.4,tr.80a07, 無 有 所 餘 貪 等 本 惑 忿 等 小 惑
及 惡 作 等 故 名 不 共 自 力 起 故; không có các
hoặc căn bổn tham, v.v.. (sân, mạn, nghi), không có các tiểu
tuỳ hoặc phẫn, hận, v.v.... (phú, não, tật, xan, cuống, siễm,
hại, kiêu),và không có các (bốn hoặc bất định) ác
tác, v.v... (tuỳ miên, tầm, tứ), cho nên gọi là không cùng
chung, chỉ tự lực khởi lên; nếu căn cứ vào giải thích
nầy, bất cộng vô minh chỉ thuộc kiến sở đoạn; nếu
tham, v.v... ,phẫn, v.v...., ác tác tương ưng với vô minh như
vậy là tương ưng, dựa vào tha lực khởi lên, không thể
nói là bất cộng . Luận Chánh Lý q.11,tr.392c14, 是 故
惡 作 是 不 善 者 唯 無 明 俱 容 在 不 共 忿 等 亦 爾
cho nên, ác tác là bất thiện, chỉ cùng sanh khởi với vô
minh, nên xếp vào bất cộng; phẫn, hận, v.v..., cũng như vậy
(như vậy, Luận Chánh Lý cho rằng, bất cộng vô minh không
tương ưng với căn bổn hoặc (mà thôi) gọi là bất cộng).
Luận Bà Sa q38,tr.197a03 (có hai cách giải thích,cách thứ
nhất: ) 如 是 無 明 自 力 而 起 非 餘 隨 眠 相 應
起 故 名 為 不 共. 非 如 貪 等 相 應 無 明 他
力 而 起 。 。 。 如 是 無 明唯 見 所 斷 。
。 。修 所 斷 無 明 雖 有 不 與 隨 眠 相 應
起 者而 非 自 力 所 起 是 忿 恨 等 力 所 起 故 不 名
不 共 ,vô minh tự lực khởi lên, không cùng tương ưng với
các tuỳ miên khác mà khởi nên gọi là bất cộng. Chẳng
phải vô minh tương ưng với tham, v.v..tức cùng tha lực khởi
lên... Như vậy, vô minh thuộc kiến sở đoạn; ...(nếu) vô
minh được đoạn trừ ở tu đạo thì tuy không cùng tương
ưng với tuỳ miên (nói chung) nhưng chẳng phải tự lực sinh
khởi mà cùng chung với phẫn hận khởi lên cho nên không nói
là bất cộng (tức vô minh không tương ưng với căn bản phiền
não, cũng không tương ưng với tuỳ phiền não gọi là bất
cộng). (Cách thứ hai : ) tr.197a28,有 作 是 說 不 共 無 明
五 部 皆 通 Có giải thích rằng, bất cộng vô minh, năm bộ
đều có (tức thông với cả tu đạo. Như vậy theo lối
giải thích nầy, vô minh tương ưng với tùy phiền não cũng
gọi là bất cộng).
89
Quang Ký q.4,tr.80b02, 不 善 惡 作 自 力 起 故 所 以 不 與
貪 等 忿 等 相 應 唯 與 無 明 相 應 bất thiện ác tác
tự lực sanh khởi, do đó không tương ưng với căn bản phiền
não tham,v.v..., không tương ưng với tuỳ phiền não phẫn,
v.v…, chỉ tương ưng với vô minh
90
Quang Ký q.4, tr.80b07, 能 有 覆 障 或 有 癡 覆 故 名
有 覆 以 過 輕 故 無 勝 用 記 不 能 感 果 故 名 無 記
hay che lấp, hoặc bị si che lấp nên gọi là hữu phú; do vì
quá yếu, không khởi tác dụng ghi nhớ (ký), không thể chiêu
cảm quả bảo cho nên nói là vô ký.
91
Quang Ký q.4,tr.80b11, 無 能 障 覆 惑 無 癡 覆 故 名 無 覆
無 勝 用 記 不 能 感 果 故 名 無 記 không có công năng
che lấp, hoặc không bị si che lấp nên gọi là vô phú; vì
không có tác dụng mạnh mẽ ghi nhớ nên không chiêu cảm kết
quả cho nên gọi là vô ký.
