GIỚI THIỆU
LỊCH SỬ PHÁT
TRIỂN BÁT NHÃ
VÀ BÁT NHÃ
TÂM KINH TẠI VIỆT NAM THỜI LÝ (1009 – 1226)
THÍCH
THÁI HÒA
Vạn
Hạnh Thiền Sư và Lý Công Uẩn đã mở đầu cho Triều đại
Nhà Lý tại Việt Nam, từ năm 1009 và đã dời kinh đô từ
Hoa Lư về Thăng Long từ năm 1010, xây dựng sự tự chủ, độc
lập và phát triển đất nước theo tinh thần Phật Giáo, mở
ra một trang sử rạng ngời và uy hùng cho dân tộc Việt Nam
hơn hai thế kỷ.
Là
một nhà giáo dục vĩ đại, là một nhà trí thức uyên áo,
thông kim bát cổ, là một nhà lương tâm, lương tri của thời
đại, và là một Thiền sư thấu đạt pháp Tổng trì tam ma
địa, chứng ngộ nguồn tâm, thanh thản giữa sự sống và
sự chết, nên Vạn Hạnh Thiền sư đã không thể ngồi yên,
khi nhìn thấy cảnh cai trị nước, lãnh đạo dân của Nhà
vua Lê Long Đỉnh như sau: “Vua tính thích giết. Hễ người
sắp bị hành hình, hoặc dùng cỏ tranh quấn vào mình mà đốt
để cho người ấy lửa cháy gần chết. Hoặc sai người hề
nước Tống là Liêu Thủ Tâm cầm dao ngắn, dao cùn xẻo từng
mảnh thịt, để cho họ không chóng chết. Người ấy có kêu
gào đau đớn, thì Liêu Thủ Tâm nói đùa: “Nó không quen
chịu chết” là Vua cười to. Đi đánh giặc bắt được tù,
thì giải tới bờ sông, đợi khi nước triều rút, sai người
làm chuồng dưới nước, rồi nhốt cả vào trong. Đến khi
nước triều lên, thì họ ngáp ngáp mà chết. Hoặc bắt họ
trèo lên cây cao, rồi chặt gốc cây cho đổ để người rơi
xuống chết, vua tự mình đến xem cho là vui.” (Đại Việt
Sử Ký Toàn Thư 1). Và cũng theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư,
là Nhà vua đã từng róc mía trên đầu Nhà sư Quách Ngang hoặc
Quách Mão, rồi giả vờ lỡ tay để làm cho đầu Nhà Sư chảy
máu, Vua liền cười rầm lên. Với tình cảnh nhà cai trị
đất nước hung tàn, bạo ngược như thế, nên Vạn Hạnh
Thiền sư với phong cách và lương tâm của mình không thể
ngồi yên, để nhìn cảnh quê hương đổ nát, vương triều
anh em hư đốn, nhân dân khốn khổ lầm than mà phải ra tay
cứu nước, giúp dân bằng tất cả những phương tiện thiện
xảo vốn có của mình, do đó Vạn Hạnh Thiền Sư đã có
lời tâm sự với Lý Công Uẩn rằng: “Gần đây, tôi thấy
sự lạ kỳ của lời sấm, biết họ Lý thịnh đạt cường
tráng, chắc chắn cơ nghiệp hưng khởi vậy. Nay, xem các dòng
họ trong thiên hạ, thì họ Lý đa số, nhưng không có ai khoan
từ, nhân thứ giống Thân vệ, lại được lòng dân chúng
mà binh quyền nằm trong tay. Làm chủ để vạn dân đi theo,
ngoài Thân vệ ra, ai là người đảm đang việc ấy?
Tôi
đã hơn bảy mươi tuổi, nguyện cho cái chết đến chậm lại,
để xem cái đức chuyển hóa của Thân vệ như thế nào? Thật
là dịp may ngàn năm mới gặp một lần!” (Cận giả thần
kiến phù sấm chi dị, tri Lý thị tráng thịnh nhi hưng nghiệp
tất hỹ. Kim quan thiên hạ chi tính, Lý tối đa, vô như Thân
vệ khoan từ nhân thứ, phả đắc chúng tâm, nhi chưởng ác
binh bính giả. Tòng chủ vạn dân, xả Thân vệ, kỳ thùy đương
chi?
Thần
niên thất thập hữu dư, nguyện tư tu vật tử dĩ quan đức
hóa như hà? Thành thiên tải nhất ngộ chi hạnh dã! (Sách
Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 1, và tham khảo thêm Đại Việt
Sử Lược 2).
Theo
Đại Việt Sử Lược 2, và Đại Việt Sử Ký Toàn Thư 1,
thì việc lên ngôi Hoàng Đế của Lý Công Uẩn, hiệu là Lý
Thái Tổ, ngoài sự sắp xếp của Thiền Sư Vạn Hạnh còn
có Chi hầu Đào Cam Mộc nữa. Đại Việt Sử Lược 2 chép:
“Cảnh Thuỵ năm thứ hai (1009) Ngọa Triều mất, con nối
ngôi còn nhỏ. Lúc ấy, vua (Lý Công Uẩn ) 36
tuổi, đem 500 quân Tùy Long vào làm túc vệ. Bấy giờ trong
nội có Chi hầu Đào Cam Mộc thăm dò, biết ý Lý Công Uẩn
muốn lên ngôi, liền trong khi vắng vẻ nói khích rằng: Chúa
Thượng hôn bạo, ương ngạnh, làm nhiều điều bất nghĩa.
Trời ghét cái đức của Chúa Thượng, nên không cho sống
lâu. Con nối ngôi thì nhỏ, chưa đảm đương được nhiều
khó khăn, lắm việc rối rắm. Trăm thần không chỗ nương
tựa. Dân dưới xôn xao mong tìm chân chúa. Thân vệ sao không
nhân lúc nầy, mà xa theo dấu vua Thang, vua Võ, gần xem việc
họ Dương, họ Lê, trên thuận lòng trời, dưới hợp ý dân,
hay là còn ôm giữ chặt lấy tiểu tiết ư?
Lý
Công Uẩn tuy trong lòng vui vì lời ấy, nhưng nghi có âm mưu,
nên giả vờ mắng rằng: Sao ông lại dám nói ra lời như thế.
Ta chắc chắn phải bắt ông đưa lên quan. Đào Cam Mộc chậm
rãi nói: Tôi thấy thiên thời nhân sự như thế, mới dám
nói. Nay, Ngài muốn bắt nạp cho quan, thì tôi thật không từ
cái chết. Lý Công Uẩn nói: Ta không nỡ tố cáo ông, chỉ
sợ lời nói lộ ra đều chết cả. Đào Cam Mộc lại nói
với Lý Công Uẩn rằng: Người trong nước đều nói họ Nguyễn
đáng lên thay thế nhà Lê. Sấm đồ đã xuất hiện không
thể che giấu được. Chuyển họa thành phúc chính là lúc
nầy đây. Thân vệ còn nghi ngờ gì nữa? Lý Công Uẩn nói,
ta xem chí ông cùng với Vạn Hạnh không khác. Nếu thật đúng
như lời, thì kế phải làm sao?
Cam
Mộc đáp: Nay trăm họ mỏi mệt, dân không chịu nổi mệnh
lệnh. Nếu Thân vệ lấy ân đức vỗ về. Trăm họ chắc
chắn cùng nhau thuận theo, cũng như nước chảy xuống chỗ
thấp, ai mà ngăn lại được. Đào Cam Mộc biết việc gấp,
sợ sinh biến, liền nói với khanh sĩ trong triều, ngay ngày
hôm đó, đều họp cả tại triều đường, mà lập mưu rằng:
Nay là lúc ức triệu người đã có lòng khác, trên dưới
đều rời bỏ đức nhân. Người ta oán giận chính sách bạo
ngược của Tiên Vương, nên không muốn theo về Tự quân.
Họ đã suy tôn chí lớn của Thân vệ. Bọn chúng ta không
nhân lúc nầy lập Thân vệ làm Thiên tử, bất chợt có biến,
thì có giữ được đầu cổ của mình không? Do thế, tất
cả cùng theo giúp Thân vệ lên chánh điện, lập Thân vệ
làm Thiên Tử. Bá quan đều tung hô: Muôn năm !”
Như
vậy, Theo Đại Việt Sử Lược 2, ta biết ngày chấm dứt
triều đại tiền Lê, và Lý công Uẩn lên ngôi vào ngày Quý
sữu, mùa đông, tháng mười, năm Kỷ dậu (1009).
Tuy
nhiên, ngày tháng Lý Công Uẩn lên ngôi hiệu Lý Thái Tổ,
các sử liệu ghi chép có khác nhau đôi chút, nhưng điều đó
không phải là sự quan tâm nghiên cứu ở trong phạm vi của
bài nầy.
Sau
khi lên ngôi, Lý Thái Tổ đã dời kinh đô từ Hoa Lư về Thăng
Long, vào tháng bảy, mùa thu, năm canh tuất (1010).
Ta
hãy đọc Chiếu dời đô, để biết được ý nguyện của
vua trong việc làm nầy, bài chiếu Vua viết như sau:
“Xưa
từ đời nhà Thương đến đời Bàn Canh đã năm lần dời
đô; từ đời nhà Chu đến Thành vương cũng ba lần dời đô.
Đâu có phải các vua thời tam đại theo riêng ý mình mà tự
đổi dời? Do muốn đóng đô ở trung tâm, vì tính việc vạn
đời cho con cháu; trên vâng mệnh trời, dưới do chí dân,
nên thấy có thuận lợi, thì liền thay đổi. Cho nên, vận
nước lâu dài, phong tục giàu thạnh. Thế mà hai nhà Đinh,
Lê cứ làm theo ý riêng của mình, không để ý đến mệnh
trời, không bước theo dấu cũ của Thương, Chu, thường đóng
đô ở đây, đưa đến triều đại không lâu bền ở đời,
số phận ngắn ngủi, trăm họ hao tổn, vạn vật không có
thích nghi. Trẫm rất xót xa điều nầy, nên không thể không
chuyển dời!
Huống
gì thành Đại la, kinh đô cũ của Cao Vương, ở tại trung
tâm trời đất, được vị thế rồng cuộn hổ ngồi. Vị
trí Chính Nam Bắc Đông Tây, thuận hợp với hướng nhìn sông,
dựa núi. Địa thế của nó rộng mà bằng, đất đai của
nó cao mà thông thoáng. Dân cư khỏi chịu cảnh khổ ngập
lụt, vạn vật rất phong phú tốt tươi. Xem khắp nước Việt,
đây là vùng đất hơn hết. Thật là chỗ hội tụ trọng
yếu của bốn phương đất nước, là kinh đô bậc nhất của
muôn đời Đế vương.
Trẫm
muốn nhân ở nơi sự thuận lợi của địa cuộc nầy, mà
quyết định chỗ cư trú. Các khanh nghĩ thế nào? “
( Tích
Thương gia chi Bàn Canh ngũ thiên, Chu thất đãi Thành Vương
tam tỉ. Khởi tam đại chi sổ quân tuẫn vu kỷ tư, vọng tự
thiên tỉ. Dĩ kỳ đồ đại trạch trung, vi ức vạn tử tôn
chi kế, thượng thiên mệnh, hạ nhân dân chí, cẩu hữu tiện
triếp cải. Cố quốc tộ diên trường, phong tục phú phụ.
Nhi Đinh, Lê nhị gia, nãi tuẫn kỷ tư, hốt thiên mệnh, võng
đạo Thương, Chu chi tích, thường an quyết ấp vu tư, trí
thế đại phất trường, toán số đoản xúc, bách tánh hao
tổn, vạn vật thất nghi. Trẫm thậm thống chi, bất đắc
bất tỉ.
Huống
Cao vương cố đô Đại La thành, trạch thiên địa khu vực
chi trung, đắc long bàn hổ cứ chi thế. Chính Nam Bắc Đông
Tây chi vị, tiện giang sơn hướng bội chi nghi. Kỳ địa quảng
nhi thản bình, quyết thổ cao nhi sảng khải. Dân cư miệt
hôn chi khốn, vạn vật cực phồn phụ chi phong. Biến lãm
Việt bang, tư vi thắng địa. Thành tứ phương bức thấu chi
yếu hội,vi vạn thế đế vương chi thượng đô.
Trẫm
dục nhân thử địa lợi dĩ định quyết cư, khanh đẳng như
hà? -Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và tham khảo thêm Hoàng Việt
Văn Tập).
Đọc
bài Chiếu dời đô của vua Lý Thái Tổ được ghi lại ở
trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư và Hoàng Việt Văn Tập, ta
thấy Nhà vua rất uyên bác về sử học và đã rút ra được
bài học kinh nghiệm của lịch sử và vận dụng nó vào lịch
sử của đất nước mà chính mình đang nắm trong tay. Đọc
lịch sử Trung Quốc ta biết Nhà Thương do vua Thành Thang
thành lập từ năm 1766 trước Tây lịch, bấy giờ đóng đô
ở đất Bặc, và hiện nay nó thuộc huyện Thương Khâu, Hà
Nam. Trọng Đinh lại dời đô đến đất Hiêu, nay thuộc Huyện
Huỳnh trạch, Hà Nam. Hà Đàn Giáp lại dời đô đến đất
Tương, nay thuộc huyện An dương, Hà Nam. Tổ Ất lại dời
đô đến đất Cảnh, nay thuộc huyện Hà Tân, Sơn Tây và
sau đó, lại dời đô sang đất Hình, nay thuộc huyện Hình
Đài, Hà Bắc. Và Bàn Canh là vua thứ mười bảy của nhà
Thương đã dời đô đến đất Ân, nay thuộc huyện Yển sư,
Hà Nam. Lại nữa, trong bài Chiếu, Lý Thái Tổ cũng đã đề
cập đến ba lần dời đô của nhà Chu. Nhà Chu là tiếp nối
nhà Thương, do Chu Văn Vương dựng nghiệp ở đất Kỳ, từ
năm 1122 trước Tây Lịch, đến Chu Vũ Vương dời đô đến
Trường An, hiện nay là Thiểm Tây, và Chu Thành Vương lại
dời đô đến Lạc Ấp, nay là Hà Nam. Nhà Chu là tiếp nối
nhà Thương, nhà Thương là tiếp nối nhà Hạ và nhà Hạ là
do Hạ Vũ Vương dựng nghiệp từ năm 2205, trước Tây lịch.
Trong bài Chiếu dời đô, vua Lý Thái Tổ đã nói rõ việc
dời đô của các vua ở trong ba thời đại ( Hạ, Thương,
Chu) không phải tư ý mà là vì cái chung, tức là vì sự lợi
ích lâu dài của đất nước và muôn dân.
Như
vậy, qua bài Chiếu dời đô, chắc chắn ta biết rằng, Vua
Lý Thái Tổ không những là am tường lịch sử nước ta mà
còn giỏi lịch sử nước của người.
Và
đọc Chiếu dời đô, ta thấy Vua không những giỏi về sử
học mà còn giỏi về phong thuỷ học, và đã biết vận dụng
phong thuỷ học vào con đường trị nước, an dân của chính
mình. Và lại xúc động hơn, là cương vị của một vị Thiên
Tử, Vua không tự cho mình là trên hết và độc quyền quyết
định mà đã hỏi kiến ý của các thuộc cấp một cách chân
tình và mang đầy tính dân chủ như sau: “Trẫm muốn nhân
nơi sự thuận lợi của địa cuộc nầy, mà quyết định
chỗ cư trú. Các khanh nghĩ thế nào?” Chính câu hỏi nầy
của Vua khiến ta có cảm tưởng rằng, tính dân chủ ít ra
cũng đã được thể hiện rất sớm trong lịch sử chính trị
ở nước ta, mà muộn nhất là vào thời đại Triều Lý.
Theo
các sử liệu, ta có thể biết rằng, sự nghiệp trí thức
và sự nghiệp chính trị của vua Lý Thái Tổ phần nhiều
là do Thiền Sư Vạn Hạnh tác thành ở chùa Lục Tổ ngay khi
tuổi còn nhỏ. Theo Công Dư Tiệp Chí, thì Lý Công Uẩn là
rất thông minh và tính hay đùa nghịch, nên đã có lần bị
thầy phạt, trói bắt nằm dưới đất. Đêm khuya muỗi đốt
ngủ không được, cậu bé ấy liền tức cảnh ngâm bài thơ
rằng:
“Thiên
vi khâm chẩm, địa vi chiên,
Nhật
nguyệt đồng song đối ngã miên.
Dạ
thâm bất cảm trường thân túc,
Chỉ
khủng sơn hà xã tắc điên”.
Nghĩa
là:
Trời
làm chăn gối, đất là nệm,
Nhật
nguyệt nhìn ta ngủ trước hiên.
Đêm
khuya không dám dài chân duỗi,
Sợ
đạp sơn hà xã tắc nghiêng.
Bài
thơ ấy do cậu bé ấy làm hay ai làm ta không cần biết, nhưng
bài thơ ấy do cậu bé tức cảnh mà ngâm lên, điều
đó cũng chứng tỏ cho chúng ta biết rằng, cái hạo khí của
bài thơ đã huân thành chủng tử và ý hướng của cậu. Đối
với một cậu bé có những chủng tử đầy hạo khí như vậy,
đã lọt vào con mắt của Thiền Sư Vạn Hạnh, khiến Ngài
đem hết lòng giáo dục để tác thành, làm nên lịch sử sáng
ngời cho quê hương đất nước.
Theo
Thiền Uyển Tập Anh, Vạn Hạnh Thiền Sư họ Nguyễn, năm
sinh không rõ, nhưng theo Lê Mạnh Thát – trong cuốn Lịch sử
Phật giáo Việt nam, tập 2, tr 545, Nhà xuất bản T P Hồ Chí
Minh, năm 2001 cho rằng, Ngài Vạn Hạnh có thể sinh vào năm
932 hay sau đó một thời gian. Và theo Thiền Uyển Tập Anh,
Ngài người làng Cổ pháp, phủ Thiên Đức (hiện nay là làng
Đại Đình, xã Tân Hồng, huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh).
Thiếu
thời, Ngài rất thông minh, giỏi thông ba học, nghiên cứu
trăm luận, xem thường công danh, năm 21 tuổi xuất gia ở chùa
Lục Tổ, cùng với Định Huệ thờ Thiền Ông làm thầy, ngoài
việc hầu thầy, Ngài tinh tấn học tập quên cả mỏi mệt.
Sau khi Thiền Ông mất, chuyên tu và thành đạt pháp Tổng trì
tam ma địa, nên Ngài nói ra điều gì thì thiên hạ đều cho
là phù sấm. Hoàng đế Lê Đại Hành hết lòng tôn kính Ngài.
Ngài thuộc thế hệ thứ bảy, dòng Thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi
của Chùa Pháp Vân. Ngài đã từng giúp cho Vua Lê Đại Hành
trị nước an dân, nhưng khi thấy vua Lê Long Đỉnh không còn
là minh quân và vận trị nước của triều Lê không còn, nên
Thiền Sư Vạn Hạnh đã cùng với Đào Cam Mộc sắp xếp việc
triều chính và đưa Lý Công Uẩn lên ngôi vua hiệu Lý Thái
Tổ năm 1009.
Vào
ngày rằm, tháng 5, năm Ất sửu, Thuận Thiên 16 ( 1025 ), ở
chùa Lục Tổ, Ngài đã gọi đồ chúng đến dặn dò và nói
bài kệ thị tịch như sau:
“Thân
như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn
mộc xuân vinh thu hựu khô
Nhậm
vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô”.
Nghĩa
là:
Thân
như ảnh, chớp có rồi không
Vạn
vật xuân tươi, thu héo mồng
Quy
luật thịnh suy không sợ hãi
Thịnh
suy như đầu cỏ sương hong.
Sau
khi, Vạn Hạnh Thiền Sư đọc xong bài kệ thị tịch cho đồ
chúng nghe, Ngài còn nói thêm:” Ngã bất dĩ sở trú nhi trú,
bất y vô trú nhi trú”. Nghĩa là tôi an trú vào chỗ không
an trú, an trú vào chỗ mà ý niệm vô trú không thể tựa vào.
Nói xong, Ngài liền xả thân.
Đọc
thi kệ và lời dặn cuối cùng của Thiền Sư Vạn Hạnh, ta
thấy rõ cách nhìn về nhân sinh và vũ trụ của Ngài đã phản
ảnh hết sức trung thực theo tinh thần của kinh Kim Cang Bát
Nhã.
Chẳng
hạn, câu “ Thân như điện ảnh hữu hoàn vô”, Ngài đã
sử dụng biểu tượng “điện và ảnh” để diễn tả tính
chất vừa hư ảo bất thực, vừa tạm bợ nhanh chóng của
thân phận con người mà bài kệ trong kinh Kim Cang Bát Nhã,
Đức Phật đã diễn tả tính chất bất thực và hư ảo ấy
của các pháp do duyên khởi hay các pháp hữu vi như sau:
“Nhất
thiết hữu vi pháp
Như
mộng, huyễn, bào, ảnh
Như
lộ, diệc như điện
Ưng
tác như thị quán.”
Nghĩa
là:
Hết
thảy pháp tương tác duyên khởi,
Như
mộng, huyễn, bọt nước, ảo ảnh,
Như
sương và cũng như điện chớp,
Hãy
thường quán chiếu như vậy.
Thân
phận của con người, thân phận của mọi loài, thân phận
của cỏ, cây, hoa, lá và ngay cả thân phận của mặt trời,
mặt trăng, trái đất, núi rừng và biển cả, nếu đối với
không gian vô cùng, thì chúng chỉ là những hạt bụi, những
bọt nước, hạt sương; nếu đối với thời gian vô tận,
thì chúng chỉ là những ráng nắng hay chỉ là những ánh chớp
và nếu đối với thực tại vô ngã, thì chúng chỉ là mộng,
là huyễn, là ảo ảnh, hoàn toàn không có ngã tính, không
có tự thể thực hữu. Chúng có đó rồi không đó, chúng
không đó rồi có đó, đó là cái có, cái không của quy luật
nhân duyên, nhân quả vận hành. Và ngay ở nơi có mà không
và ngay ở nơi không mà có, đó là cái có và cái không thuộc
về quán chiếu Bát Nhã mà Thiền Sư Vạn Hạnh cả một đời
thường sống và thường chiêm nghiệm, rồi đúc kết và trao
truyền lại cho tất cả chúng ta.
Câu
hai: “ Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô”, đây là cách nhìn
xuyên suốt về quy luật sinh diệt, thăng trầm, tán tụ của
mọi sự hiện hữu. Không có sự sinh ra nào mà không có sự
hủy diệt kèm theo, không có sự đi lên nào mà không kèm theo
sự đi xuống, không có sự vinh quang nào mà không kèm theo
sự tủi nhục và không có sự xanh tươi nào mà không kèm
theo sự úa tàn.
Đây
là quy luật hết sức tự nhiên của các pháp hữu vi, nhưng
quy luật nầy trở thành khắt khe và cay nghiệt đối với
những ai chưa từng sống mà chỉ chuẩn bị và săn đuổi
sự sống và nó lại càng cay nghiệt hơn đối với những
ai đang bám víu vào những gì mà mình đã có, đang có như
thân thể, cảm giác, tri giác, hay nỗ lực bám víu vào tiền
tài, sắc đẹp, danh vọng… Nhưng quy luật nầy đối với
Vạn Hanh Thiền Sư, chúng chẳng có gì khắc nghiệt, chúng
chẳng có gì để đáng sợ hãi cả. Và điều nầy ta sẽ
thấy Ngài Vạn Hạnh đã nhấn mạnh hay biểu lộ phong thái
ung dung, tự tại của mình qua hai câu cuối:
“Nhậm
vận thịnh suy vô bố úy,
Thịnh
suy như lộ thảo đầu phô”.
Nhậm
vận, trong Toàn Việt Thi Lục và Hoàng Việt Thi Tập là “dụng
vận”. Trong Việt Sử Tiêu Án là “ Tuỳ vận”. Nhậm vận
là vận hành theo quy luật tự nhiên; Tùy vận là theo sự vận
hành của quy luật và dụng vận là ứng dụng sự vận hành
theo quy luật. Hai câu nầy, Ngài Vạn Hạnh đã nói rõ sự
chứng nghiệm tâm linh và phong cách ứng xử của mình đối
với mọi hoàn cảnh, hay mọi tình huống xảy ra cho bản thân
và xã hội.
Đối
với bản thân sống và chết là quy luật, là lẽ đương nhiên,
nên chẳng có gì để ngạc nhiên đối với cái sống và cái
chết, dù là chết trong lúc tuổi đang lên hay là chết trong
lúc tuổi đã già. Lại nữa, sự mong manh của cuộc sống
đời người, không phải là đến khi già nua, mà ngay ở nơi
lứa tuổi cường tráng cũng mong manh như những giọt sương
hong ở đầu ngọn cỏ vậy. Sự mong manh của cái thịnh hay
cái suy, của cái sống hay cái chết, chúng không những không
làm cho ta ngạc nhiên, không những không làm cho ta sợ hãi
mà còn làm cho ta thanh thản trong khi sống và trong khi chết,
trong khi lên và trong khi xuống, trong khi đến và trong khi đi,
trong khi tụ và trong khi tán nữa.
Đối
với xã hội cũng vậy, cái đi sau là tiếp nối của cái đi
trước và có thể làm cho xã hội phát triển và cực thịnh,
nhưng đồng thời cái đi sau cũng có khi không có khả năng
tiếp nối và phát triển cái đi trước, mà còn làm cho cái
đi trước lụn bại suy tàn, cụ thể là Lê Long Đỉnh đã
không tiếp nối được sự nghiệp của Vua Lê Đại Hành mà
đã làm cho triều Lê lụn bại và cáo chung để mở màn cho
một Triều đại Nhà Lý.
Thật
vậy, sự suy bại của một triều đại, hay sự thay ngôi đổi
chủ của một chính phủ, còn nhanh hơn là sự chuyển dịch
của một đời người. Nên, Ngài Vạn Hạnh đã cảnh báo
cho Lý Thái Tổ hay bất cứ những ai đang nắm quyền lực
trong xã hội rằng, không những cái suy của một đời người,
hay của một triều đại, chóng tan biến như những hạt sương
đầu ngọn cỏ mà cái thịnh của đời người hay cái thịnh
của một triều đại, cũng dễ tan biến một cách nhanh chóng
như vậy không khác.
Do
đó, Ngài Vạn Hạnh muốn nói cho tất cả chúng ta biết rằng,
chính cái thịnh hay cái suy của con người hay của xã hội,
cả hai đều không có tự tính, chúng thịnh hay suy đều lệ
thuộc vào quy luật hợp ly của nhân duyên, và nếu ta nắm
được quy luật nầy, thì ta có thể tự chủ được cuộc
sống, thăng hoa được bản thân, và nếu ta là người nắm
quyền lực của xã hội, thì ta có thể xây dựng và phát
triển đất nước, đem lại sự giàu đẹp và văn minh cho
xã hội mà chẳng có gì để lo lắng và sợ hãi cả.
Bằng
vào sự giác ngộ và nắm vững quy luật là: “vạn pháp đều
không có tự thể thực hữu và ly hợp là tùy thuộc vào nhân
duyên”. Ngài Vạn Hạnh lại nói:” Tôi an trú vào chỗ không
an trú, an trú vào chỗ mà ý niệm vô trú không thể tựa vào”.
Do nắm vững quy luật nầy, nên Ngài đã tự do hành đạo,
sử dụng mọi phương tiện mà không hề bị bất cứ phương
tiện nào trói buộc. Ngài đã sử dụng thiên văn, địa lý,
sấm vỹ và ngay cả việc sắp xếp triều chính, nhưng Ngài
vẫn vô trú đối với những cái đó. Phải chăng, Ngài Vạn
Hạnh đã chứng nghiệm và ứng dụng giáo lý vô trú của
kinh Kim Cang Bát Nhã trong mọi hành động cứu nước giúp dân,
làm lợi ích cho hết thảy chúng sanh của mình một cách triệt
để.
Làm
lợi ích cho tất cả chúng sanh mà vô trú, nghĩa là không những
chỉ vô trú ở nơi những phương tiện của hành động mà
còn vô trú ở nơi ý hướng hay mục tiêu của hành động
nữa. Tích cực hành động mà vô trú, tinh thần nầy Đức
Phật đã dạy cho Tôn giả Tu Bồ Đề ở trong Kinh Kim Cang
Bát Nhã như sau: “ Phật bảo, nầy Tu Bồ Đề! Các Đại
bồ tát, nên hàng phục tâm mình như thế nầy: Nếu có bao
nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh ra từ trứng, từ thai, từ
ẩm thấp, từ biến hóa; hoặc loài có hình sắc, hoặc loài
không có hình sắc, hoặc loài có tri giác, hoặc loài không
có tri giác, hoặc loài không phải có tri giác cũng không phải
không có tri giác, ta hướng dẫn cho họ đều đi vào giải
thoát ở trong Niết Bàn tuyệt đối. Làm cho vô lượng, vô
số, vô biên chúng sanh giải thoát như vậy, mà kỳ thực ta
không thấy có chúng sanh nào được giải thoát cả. Vì sao?
Nầy Tu bồ đề! Vì nếu một vị Bồ tát mà còn có những
vọng tưởng về một bản ngã, về một con người, về một
chúng sinh và về một sinh mệnh thì không còn là vị Bồ tát
chơn thực.
Lại
nữa, nầy Tu Bồ Đề! Bồ tát thực hành bố thí không nên
vướng mắc với bất cứ một thứ gì, nghĩa là không vướng
mắc với sắc tướng, mà cũng không vướng mắc ở nơi âm
thanh, hương thơm, mùi vị, xúc giác và ấn tượng để bố
thí, Bồ tát hãy bố thí mà không vướng mắc ở nơi hình
tướng vọng tưởng như thế. Vì sao? Vì Bồ tát bố thí không
vướng mắc bởi hình tướng vọng tưởng, thì phước đức
của họ không thể nào nghĩ và lường được”( Trích dịch
dựa theo bản của Ngài La Thập, trang 749, Đại 8, và có đối
chiếu Phạn văn).
Với
tinh thần hành động một cách triệt để mà tâm vô trú của
kinh Kim Cang Bát Nhã, khiến cho chàng trai tiều phu của xứ
Rợ hồ năm xưa ấy, đứng dậy, ứng đáp một cách sắc
bén, chớp nhoáng và ngang tàng, chẳng có gì sợ hãi trước
Ngũ Tổ giữa cõi tâm tông vô trước rằng: “Phật tính vốn
bình đẳng không có Nam Bắc”, khiến cho Ngũ Tổ quát tháo
và mỉm cười, rồi sau đó ấn chứng cho chàng trai tiều phu
ấy trở thành Lục Tổ Huệ Năng.
Đến
thế kỷ thứ mười, Vạn Hạnh Thiền Sư đã tu tập tại
chùa Lục Tổ, ở làng Dịch bảng, phủ Thiên Đức của Việt
Nam lúc bấy giờ, và sự nghiệp trí thức cũng như sự nghiệp
đức hạnh của Vua Lý Thái Tổ cũng đã được Vạn Hạnh
Thiền sư giáo dục và tác thành ngay ở nơi ngôi chùa
nầy.
Bởi
vậy, không những triết lý hành động của Vạn Hạnh Thiền
Sư chuyển tải tinh thần của kinh Kim Cang Bát Nhã, là hành
động một cách triệt để mà vô trú, mà ngay cả triết lý
và hành động của Vua Lý Thái Tổ cũng chuyển tải tinh thần
ấy.
Bằng
tinh thần hành động triệt để mà vô trú của kinh Kim Cang
Bát Nhã, nên Vạn Hạnh Thiền Sư đã sử dụng tất cả mọi
phương tiện để có thể dựng đạo giúp đời, và Vua
Lý Thái Tổ cũng bằng tinh thần ấy, để lãnh đạo quốc
gia, xây dựng và phát triển đất nước, đem lại hạnh phúc
cho muôn dân.
Năm
1018, vua Lý Thái Tổ đã cử Nguyễn Đạo Thành và Phạm Hạc
sang Tống để thỉnh Đại Tạng kinh, đến năm 1020 thì Đại
Tạng kinh mới đưa về Thăng Long
Năm
1023 vua sai người sao chép thêm một bản Đại Tạng kinh
nữa và đến 1027 lại tiếp tục sao chép thêm một bản Đại
Tạng kinh nữa.
Năm
1034 vua Tống lại tặng cho triều đình Thăng Long một bộ
Đại Tạng kinh nữa, và năm 1036 vua Lý Thái Tông lại cho sao
chép thêm một bản Đại Tạng kinh nữa.
Như
vậy, vào thời vua Lý Thái tông tại đất nước Việt Nam
chúng ta đã có ít nhất là sáu bộ Đại Tạng kinh, trong đó
có một bộ do vua Lê thỉnh từ Tống và năm bộ còn lại
do Triều đình Nhà lý thỉnh hoặc sao chép.
Do
đó, vào thời điểm này việc nhu cầu học hỏi kinh điển
của mọi thành phần xã hội rất lớn, và lẽ đương nhiên
là các dịch bản Bát Nhã và Bát Nhã Tâm Kinh của các ngài
Cưu Ma La Thập, Huyền Tráng… đã được phổ biến rộng
rãi trong giới Tăng Ni, Phật tử cũng như các giới quyền
qúy và giới nguyên cứu học thuật và nó đã được các
giới này chiêm nghiệm và ứng dụng vào đời sống.
Ta
có thể thấy được sự hỏi chiêm nghiệm nầy qua Hoàng đế
Lý Thái Tông. Sự kiện được ghi lại trong Thiền Uyển Tập
Anh như sau: "Bấy giờ Hoàng đế Lý Thái Tông thường tham
vấn thiền chỉ với Thiền Lão ở núi Thiên Phúc. Kim chùy
vừa giáng thì óc liền thông. Nhưng lúc rãnh rỗi việc nước,
vua lấy thiền duyệt làm vui, nhân cùng các bậc kỳ túc khắp
nơi giảng cứu các chỗ dị đồng. Vua trước bảo "Trẫm
nghĩ đến nguồn tâm của Phật Tổ, từ xưa thánh hiền chưa
khỏi bị chê bai, huống là người hậu học. Nay, Trẫm muốn
cùng các đại đức, sơ tỏ ý mình, mỗi vị thuật một bài
kệ để xem chỗ dụng tâm ra sao". Tất cả đều chắp tay
đồng ý. Mọi người đang tìm ý, Vua đã làm xong bài kệ:
"Bát
Nhã chân vô tông,
Nhân
không ngã diệc không.
Quá
hiện vị lai phật,
Pháp
tánh bản lai đồng".
Nghĩa
là:
Bát
Nhã thật vô tông,
Người
không, ta cũng không.
Phật
trước, nay, sau nữa
Pháp
tánh bản lai đồng.
Mọi
người đều phục Vua có tài ứng đối lanh lẹ.
Và
đọc Thiền Uyển Tập Anh, ta cũng thấy tư tưởng Không của
Bát Nhã cũng đã ảnh hưởng sâu sắc với Thiền sư Định
Hương.
Thiền
sư Định Hương ở chùa Cảm Ứng, Ba Sơn, phủ Thiên Đức,
họ Lã, người Châu Minh. Gia thế tu tịnh hạnh. Thời trẻ
đến chùa Kiến Sơ tham học với Thiền sư Đa Bảo.
Sau
khi ngộ đạo, đáp ứng lời mời của đô trưởng thành hoàng
sứ Nguyễn Tuân về trú trì chùa Cảm ứng, tiếp Tăng độ
chúng rất đông. Đến ngày 03 tháng 03 năm Canh Dần (1050) triều
Lý Thái Tông, sư bệnh, gọi đồ chúng đến từ biệt và
đọc bài kệ:
"Bản
lai vô xứ sở
Xứ
sở thị chân tông.
Chân
tông như thị huyễn,
Huyễn
hữu tức Không Không".
Nghĩa
là:
Xưa
nay không xứ sở,
Xứ
sở là chân tông.
Chân
tông huyễn như vậy,
Huyễn
hữu là Không Không.
Trong
bài kệ Thị Tịch, Thiền sư Định Hương đã nói đến Không
Không, như là sự giác ngộ tối hậu của mình, khi chiêm nghiệm
về các pháp hữu vi hư huyễn.
Không
Không là một trong hai mươi nghĩa không của bộ Đại Bát
Nhã do ngài Huyền Tráng dịch vào đời Đường.[1]
Không
Không nghĩa là tánh không ở nơi cái Không. Tự tánh các pháp
là Không đã đành mà tự tánh của cái Không cũng là không
và cái ý niệm về không, cái ý niệm ấy cũng không có tự
thể thực hữu, chúng chỉ là huyễn hữu, nên gọi là Không
Không.
Lại
nữa, tất cả các pháp đều là Không, ý niệm về cái Không
ấy cũng không nốt, vì thế mà gọi là Không Không.
Lại
nữa, hữu cũng Không, vô cũng Không, thị cũng Không, phi cũng
Không, phi thị cũng đều Không, vì thế mà gọi là Không Không.
Kinh
Đại Bát Niết Bàn nói rằng: Không Không, nó không đồng
với sự chứng đắc về Không Không Tam muội của các hàng
thánh giả Thanh Văn.
Bồ
Tát tu tập về ý nghĩa của Không là như vậy, nên gọi là
Không Không.[2]
Lại
nữa, Trí Độ Luận giải thích, thế nào là Không Không. Tất
cả mọi vật đều không, cái không ấy cũng Không, nên gọi
là Không Không. Lại nữa, đem Không mà phá vỡ nội Không,
ngoại Không, nội ngoại Không, phá vỡ cả ba Không đó, gọi
là Không Không.[3]
Lại
nữa, đọc Thiền Uyển Tập Anh, ta lại thấy, Tăng Thống
Huệ Sinh (?-1064), đã đáp ứng lời mời của vua Lý Thái Tông
vào trai tăng ở Đại Nội. Trong dịp này vua nói với Tăng
Thống Huệ Sinh rằng:
Trẫm
nghĩ nguồn tâm của Phật Tổ, người học chớ nên chỉ trích
nhau, xin cùng thạc đức các phương, mỗi vị bày tỏ điều
hiểu biết của mình, để xem chỗ dụng tâm của qúy vị
ra sao? Tăng Thống Huệ Sinh liền đáp ứng bằng bài kệ:
"Pháp
bổn vô như pháp
Phi
hữu diệc phi không
Nhược
nhơn tri thử pháp,
Chúng
sanh dự Phật đồng.
Tịch
tịch lăng già nguyệt,
Không
không độ hải chu.
Tri
không không giác hữu,
Tam
muội nhậm thông chu”.[4]
Nghĩa
là:
Pháp
vốn như không pháp,
Không
có cũng không không.
Nếu
người biết pháp này,
Chúng
sanh cùng Phật đồng.
Trăng
lăng già lặng lặng,
Thuyền
vượt biển không không.
Biết
không không,biết có
Thiền
định tự viên dung.
Tư
tưởng Không Không mà Tăng Thống Huệ Sinh nói cho vua Lý Thái
Tông, đó là Tánh Không mà Bát Nhã Tâm Kinh hiển thị rằng:
"Trong Tánh Không ấy, không có Sắc, thọ, tưởng, hành, thức;
không có Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; không có Sắc, thanh,
hương, vị, xúc, pháp; không có Nhãn giới cho đến không có
Ý thức giới; không có Vô minh cho đến không có cái hết
Vô minh; không có Lão tử và không có cái hết Lão tử; không
có Khổ, Tập, Diệt, Đạo; không có trí, không có đắc, vì
không có cái để đắc".
Hay
là nói theo cách của Đại Trí Độ Luận: Không Không, nghĩa
là hữu cũng không, vô cũng không, thị cũng không, phi cũng
không, phi thị cũng đều không.[5]
Từ
Không - Không của Tăng Thống Huệ Sinh, ta đi tới tư tưởng
Sắc không của Thái Hậu Ỷ Lan.
Thái
Hậu Ỷ Lan là hoàng hậu của vua Lý Thánh Tông đã từng Nhiếp
chính trong thời gian vua Lý Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành
năm 1069 và là Thái Hậu của vua Lý Nhân Tông.
Thái
Hậu đã từng hỏi thiền sư Thông Biện về ý nghĩa Phật,
Tổ và lịch sử phát triển Phật giáo. Thái Hậu Ỷ Lan rất
nhân từ đức hạnh, người đời bấy giờ xưng tụng là
Quan Âm nữ, nghĩa là người con gái của Bồ Tát Quán Thếâ
Âm.
Thái
Hậu Ỷ Lan thường mời Quốc Sư Thông Biện vào cung để
tham vấn yếu chỉ của thiền và đã hiểu sâu được yếu
chỉ, nên Thái Hậu có làm bài kệ ngộ đạo có ghi lại trong
Thiền Uyển Tập Anh, trang 21 như sau:
"Sắc
thị không, không tức sắc,
Không
thị sắc, sắc tức không.
Sắc
không câu bất quản,
Phương
đắc khế chơn tông".
Nghĩa
là:
Sắc
là không, không tức sắc,
Không
là sắc, sắc tức không.
Sắc
không đều chẳng quản,
Mới
được hợp chơn tông.
Tư
tưởng Sắc không là một trong những tư tưởng chủ yếu
của Bát Nhã Tâm Kinh.
Tư
tưởng nầy, trong Tâm Kinh Bát Nhã của Phạn được diễn
tả như sau:
“Iha
‘Sàriputra rùpamï ‘sùnyatà ‘sùnyataiva rùpamï, rùpàn na
prïthak ‘sùnyatà ‘sùnyatà: yà na prïthag rùpamï, yad rùpamï
sà ‘sùnyatà, yà ‘sùnyatà tad rùpamï; evamï eva vedanyà- Samïjnõà-samïskàrà-vijnõànamï”.
Nghĩa
là:
“Nầy
Xá Lợi Tử! Sắc là tánh Không, chính tánh Không là sắc.
Sắc chẳng khác tánh Không, tánh Không chẳng khác sắc. Sắc
ấy chính là tánh Không, tánh Không ấy chính là sắc. Thọ,
tưởng, hành, thức đều cũng như vậy.”
Và
đoạn kinh này trong Bát Nhã Tâm Kinh dịch bản Hán của ngài
Huyền Tráng là:
“Xá
Lợi Tử! Sắc bất dị Không, Không bất dị sắc; sắc tức
thị Không, Không tức thị sắc, thọ, tưởng, hành, thức
diệc phục như thị”.[6]
Nghĩa
là:
“Nầy
Xá Lợi Tử! Sắc chẳng khác gì Không, Không chẳng khác gì
sắc, sắc chính là Không, Không chính là sắc; thọ, tưởng,
hành, thức cũng đều như vậy.”
Kinh
nói:
"Sắc
chẳng khác Không,
Không
chẳng khác Sắc".
Là
xác định Sắc và Không là hai pháp riêng biệt, nhưng chúng
lại thống hợp với nhau không hề tách rời và luôn luôn
có mặt trong nhau.
Như
vậy, Sắc có mặt ở đâu, thì Không có mặt ở đó; Không
có mặt ở đâu, thì Sắc có mặt ở đó. Chúng tương nhập
vào nhau và bất nhị.
Lại
nữa, Kinh nói:
"Sắc
tức là Không,
Không
tức là Sắc".
Hai
chữ "tức là" của Kinh xác định rằng: Sắc và Không, không
phải là hai. Chúng chỉ là một. Cái này chính là cái kia và
cái kia chính là cái này.
Như
vậy, trong bài kệ ngộ đạo của Ỷ Lan Thái Hậu, hai câu
đầu là nêu rõ sự trực nhận chân lý bản nhiên và hai câu
sau là phong thái sống và hành động sau khi đã giác ngộ.
Và
như vậy, qua những thi kệ ngộ đạo của vua Lý Thái Tông,
Thiền sư Định Hương, Tăng Thống Huệ Sinh và Thái Hậu Ỷ
Lan, ta cũng còn có Thiền sư Viên Chiếu (999- 1090 ) với
thi kệ:
"Thân
như tường bích dĩ đồi thời
Cử
thế hốt hốt thục bất bi
Nhược
đạt tâm không vô sắc tướng
Sắc
không ẩn hiện nhậm thôi di".[7]
Nghĩa
là:
Thân
như tường vách khi xiêu đổ,
Vũ
trụ thoáng chốc quen chẳng buồn.
Nếu
đạt tâm Không, vô tướng sắc,
Sắc
Không ẩn hiện tự chuyển luân.
Thiền
sư Đạo Huệ ( ?- 1172), thời vua Lý Anh Tông, có thi kệ Thị
Tịch nói về sắc thân và diệu thể (tánh không) như sau:
"Địa
thủy hỏa phong thức,
Nguyên
lai nhất thiết không.
Như
vân hoàn tụ tán,
Phật
nhật chiếu vô cùng".
Hựu
vân:
"Sắc
thân dự diệu thể,
Bất
hiệp bất phân ly.
Nhược
nhân yếu chân biệt,
Lô
trung hoa nhất chi".[8]
Nghĩa
là:
Đất,
nước, gió, lửa, thức,
Nguyên
lai hết thảy Không.
Như
mây tan rồi tụ,
Trời
Phật chiếu vô cùng.
Lại
nói:
Sắc
thân cùng diệu thể,
Chẳng
hợp, chẳng lìa xa.
Nếu
ai cần biết rõ,
Trong
lò một cành hoa.
Và
thiền sư Minh Trí (?- 1196), học trò của ngài Đạo Huệ, thông
minh, hiểu rõ tông chỉ của kinh Viên Giác, Nhân Vương, Pháp
Hoa và sách Truyền Đăng, dạy dỗ đồ chúng không biết mỏi
mệt, Ngài đã diễn tả tư tưởng Sắc Không qua một dạng
không ảnh mà cũng không hình, sắc thân chính là cái không
ảnh, không hình ấy, qua bài kệ Thị Tịch như sau:
"Tùng
phong thủy nguyệt minh,
Vô
ảnh diệc vô hình
Sắc
thân giá cá thị
Không
không tầm hưởng thinh"[9]
Nghĩa
là:
"Gió
tùng trăng nước tỏ
Không
ảnh cũng không hình
Sắc
thân là cái đó
Không-
Không tiếng vọng tìm"
Như
vậy, ta thấy tư tưởng Không của Bát Nhã đã phát triển
sâu rộng trong đời sống đạo, chiêm nghiệm đạo và chứng
đạo của các thiền sư đời Lý và ngay cả hàng vua chúa
như Lý Thái Tông, Lý Thánh Tôn, Lý Nhân Tông và Thái Hậu
Ỷ Lan.
Và
qua sự diễn đạt ngộ đạo về Không, nhất là tư tưởng
Sắc không, bản dịch Bát Nhã Tâm Kinh của ngài Huyền Tráng
đã được các Thiền sư, cư sĩ, Phật tử đời Lý đọc
tụng và hành trì một cách có hiệu quả trong đời sống
đạo của chính họ và đã ảnh hưởng đến những sinh hoạt
nhất định của xã hội.
Đối
với bản thân, tư tưởng Bát Nhã đã giúp cho họ thấy rõ
Sắc là Không, Không là Sắc, như vậy họ nhận ra được
sự thật đó, là họ không còn sợ hãi trước cái lẽ sống
chết, còn mất, thăng trầm của con người hay của xã hội
và cuộc đời.
Và
đối với xã hội, thì tư tưởng Sắc - Không, của Bát Nhã
đã giúp cho họ thấy được sự liên hệ giữa mình và người,
giữa mình và mọi vật, do đó họ không còn cảm giác cô
đơn trong cuộc sống, hay quá tham đắm vào cuộc sống, đồng
thời cũng giúp cho họ thấy rằng, mình gây thiệt hại cho
kẻ khác, cho xã hội cũng chính là mình đang gây thiệt hại
cho chính mình. Bởi vì, Bát Nhã Tâm Kinh đã dạy: "Sắc chẳng
khác gì Không, Không chẳng khác gì Sắc. Sắc chính là Không,
Không chính là Sắc."
Do
đó, do đạt được lý Sắc - Không của Bát Nhã mà Tăng ni,
phật tử đời Lý sống có tâm hồn phóng khoáng hài hòa,
và đoàn kết để xây dựng và phát triển đạo đời một
cách tốt đẹp.
Trong
các Thiền sư, Vua chúa và Phật tử đời Lý có nhiều thi
kệ nói về Lý tánh Bát nhã, nhưng ta chưa tìm ra được một
bản kinh nào thuộc về Văn tự bát nhã, do các ngài chú giải
hay dịch thuật cả, điều nầy chắc chắn có nhiều lý do,
mà ta cần chiêm nghiệm và nghiên cứu, để có thể thấy
rõ được vấn đề.
Tuy
nhiên, vào thời Lý, đất nước ta đã có ít nhất là đến
sáu bộ Đại Tạng Kinh được lưu hành, chắc chắn trong đó,
các dịch bản kinh Bát Nhã như: Phóng Quang Bát Nhã, do Ngài
Vô La Xoa dịch, vào thời Tây Tấn; Quang Tán, do Ngài Trúc Pháp
Hộ dịch, vào thời Tây Tấn; Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật, Tiểu
Phẩm Bát Nhã Ba La Mật, Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, Bát Nhã
Tâm Kinh, do Ngài Cưu Ma La Thập dịch, vào thời Diêu Tần;
Đạo Hành Bát Nhã, do Ngài Chi Lâu Ca Sấm dịch, vào thời
Hậu Hán; Đại Minh Độ Kinh, do Ngài Chi Khiêm dịch, vào thời
Ngô; Ma Ha Bát Nhã Sao Kinh, do Đàm Ma Ty Cộng Trúc Phật Niệm
dịch, vào thời Tiền Tần; Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh,
600 cuốn, do Ngài Huyền Tráng dịch, vào đời Đường và rất
nhiều kinh thuộc văn hệ Bát Nhã đã được các vị Pháp
Sư khác, dịch từ Phạn sang Hán vào thời Tống và trước
Tống, chắc chắn các dịch bản nầy cũng đã được lưu
hành tại Việt Nam vào thời Lý, làm nền tảng cho sự học
tập, nghiên cứu, ứng xử và chứng ngộ cho Tăng ni phật
tử bấy giờ, và nó là chất xúc tác, tạo nên sinh lực làm
hưng vượng nền văn minh, văn hóa vàng son của dân tộc
Việt Nam vào thời đại Nhà Lý.
Trong
lịch sử, đất nước Việt Nam đã bao nhiêu lần thay ngôi
đổi chủ, và chủ mới thì luôn luôn tìm cách xóa đi những
tư tưởng và dấu tích của chủ cũ, rồi viết lại những
trang sử với tư ý tô điểm cho thời đại của mình.
Mặc dù, nó được gọi là chính sử, nhưng cũng khiến cho
những thế hệ về sau, nếu không có thông minh, thật khó
lòng nhận ra đâu là chân sử. Và khắc nghiệt hơn nữa, đất
nước Việt Nam đã bao lần bị ngoại bang xâm lăng, Nhà Minh
muốn thống trị dân tộc Việt Nam theo kinh viện Tống Nho,
đã đốt hoặc chở hết kinh sách do người Việt nghiên cứu,
viết lách, dịch thuật hoặc sáng tác về Kim Lăng nhằm cắt
đứt sự tiếp xúc và tiếp nối của người Việt đối với
cội nguồn văn hóa của họ. Lại nữa, dân tộc Việt Nam
hết lệ thuộc Minh lại lệ thuộc Pháp, khiến cho nhiều chùa
tháp, kinh sách bị phá hủy, mà cụ thể là Bảo Tháp và chùa
Báo Thiên là một trong những công trình kiến trúc vỹ đại,
mang tính văn hóa tự chủ và độc lập của dân tộc Việt
Nam đời Lý, đã bị phá bỏ vào thời Pháp thuộc, và người
Pháp muốn áp đặt Thánh kinh lên dân tộc Việt Nam, nhằm
xóa đi những truyền thống tín ngưỡng tâm linh, văn hóa cao
đẹp của người Việt vốn đã có mấy ngàn năm.
Lại
nữa, hết lệ thuộc Pháp, dân tộc Việt Nam lại rơi vào
lệ thuộc ý thức hệ, nên truyền thống tâm linh và văn hóa
Việt Nam, lại một lần nữa bị đánh xóa. Do quá nhiều lần
truyền thống tâm linh và văn hóa Việt Nam bị đánh xóa, nên
rất nhiều người Việt Nam hiện nay, họ không còn biết gốc
rễ tâm linh và văn hóa của họ là gì, họ không còn có khả
năng đọc và hiểu một cách tường tận về gia phả trong
dòng họ của họ, nên việc yêu dân tộc và yêu văn hóa Việt
Nam của họ, chẳng khác nào những người mù nguyên thủy
mà yêu ánh sáng vậy. Và cũng do nhiều lần truyền thống
tâm linh và văn hóa Việt Nam bị ngoại bang đánh xóa một
cách tinh vi, khiến cho nhiều người phá hoại truyền thống,
phá hoại dân tộc mà tưởng rằng, mình là người đang xây
dựng và yêu dân tộc.
Bởi
vậy, dân tộc Việt Nam đã nhiều lần bị đánh phá, không
những chỉ là những thế lực của ngoại bang, mà còn ngay
ở nơi tự thân của mỗi thời đại khi nắm giữ quyền hành,
điều đó đã khiến cho nền văn hóa Việt Nam không còn mang
chất liệu xuyên suốt, và cũng chính điều đó đã khiến
cho những nhà nghiên cứu lịch sử và văn hóa Việt Nam nếu
không thông minh khó mà có được một sự nhận định chính
xác.
Do
đó, những gì chúng tôi có thể giới thiệu và chia sẻ được
với các độc giả trong phạm vi của bài nầy cũng chỉ là
hết sức khiêm tốn. ❐
T.T.H
1 Huyền
Tráng- Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh 5, Đại Tạng Tân Tu
5, trang 23.
2
Đại Bát Niết Bàn kinh 16- trang 461, Đại Tạng Tân Tu 12
3
Đại Trí Độ Luận 31, tr 287, Đại Tạng Tân Tu 25
4
Thiền Uyển Tập Anh, tr 57, bản trùng khắc triều Lê,
tháng 4, năm Vĩnh Thạnh thứ 11. Khắc chữ "địch" = Địch,
nghĩa là tiến lên mở đường, đạo phải, lấy dùng. Nhưng,
thầy Lê Mạnh Thát LSPGVN III,tr 247, nxb T.p Hồ Chí Minh 2002,
đã phiên âm là chu ( ). Mà chu mới đúng âm vận và ý nghĩa
của thi kệ nầy. Có lẽ người khắc bản in đã khắc nhầm
chữ “chu” thành chữ “địch” . Do đó, tôi đã sử dụng
cách phiên âm của thầy Lê Mạnh Thát và dịch "thông chu"
là viên dung.
5
Đại Trí Độ Luận 33, trang 287, Đại Tạng Tân Tu 25.
6
Huyền Tráng- Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh, tr 848, Đại Tạng
Tân Tu 8.
7
Thiền Uyển Tập Anh, tờ 11, bản trùng khắc triều Lê, tháng
4, năm Vĩnh Thạnh thứ 11, bài kệ thị tịch của Thiền sư
Viên Chiếu câu thứ ba khắc thiếu chữ “tướng” ở cuối
câu.
8
Thiền Uyển Tập Anh, trang 24 a.
9
Thiền Uyển Tập Anh, trang 27 a.
