THAM ĐỒNG
KHẾ
南
嶽 石 頭 和 尚
參
同 契
Bản
chữ Hán
Trích
Cảnh đức Truyền đăng lục quyển 30
Đại
chánh tập 51, Số hiệu 2076, tr. 459b08-459b21
T51n2076_p0459b08║竺土大仙心。東西密相付。人根有利鈍。道無
T51n2076_p0459b09║南北祖。靈源明皎潔。枝派暗流注。執事元是
T51n2076_p0459b10║迷。契理亦非悟。門門一切境。迴互不迴互。迴
T51n2076_p0459b11║而更相涉。不爾依位住。色本殊質象。聲元異
T51n2076_p0459b12║樂苦。暗合上中言。明明清濁句。四大性自
T51n2076_p0459b13║復。如子得其母。火熱風動搖。水濕地堅固。眼
T51n2076_p0459b14║色耳音聲。鼻香舌鹹醋。然依一一法。依根葉
T51n2076_p0459b15║分布。本末須歸宗。尊卑用其語。當明中有
T51n2076_p0459b16║暗。勿以暗相遇。當暗中有明。勿以明相睹。明
T51n2076_p0459b17║暗各相對。比如前後步。萬物自有功。當言用
T51n2076_p0459b18║及處。事存函蓋合。理應箭鋒拄。承言須會
T51n2076_p0459b19║宗。勿自立規矩。觸目不會道。運足焉知路。進
T51n2076_p0459b20║步非近遠。迷隔山河固。謹白參玄人。光陰莫
T51n2076_p0459b21║虛度
Phiên
âm
NAM
NHẠC THẠCH ĐẦU HOÀ THƯỢNG
THAM
ĐỒNG KHẾ
Trúc
độ Đại Tiên tâm
Đông
tây mật tương phú
Nhân
căn hữu lợi độn
Đạo
vô nam bắc Tổ
Linh
nguyên minh hạo khiết
Chi
phái ám lưu chú
Chấp
sự nguyên thị mê
Khế
lý diệc phi ngộ
Môn
môn nhất thiết cảnh
Hồi
hỗ bất hồi hỗ
Hồi
nhi cánh tương thiệp
Bất
nhĩ y vị trụ
Sắc
bản thù chất tượng
Thanh
nguyên dị lạc khổ
Ám
hiệp thượng trung ngôn
Minh
minh thanh trược cú
Tứ
đại tánh tự phục
Như
tử đắc kỳ mẫu
Hỏa
nhiệt phong động dao
Thuỷ
thấp địa kiên cố
Nhãn
sắc nhĩ âm thanh
Tỉ
hương thiệt hàm thố
Nhiên
y nhất nhất pháp
Y
căn diệp phân bố
Bản
mạt tu quy tông
Tôn
ty dụng kỳ ngữ
Đương
minh trung hữu ám
Vật
dĩ ám tương ngộ
Đương
ám trung hữu minh
Vật
dĩ minh tương đỗ
Minh
ám các tương đối
Tỉ
như tiền hậu bộ
Vạn
vật tự hữu công
Đương
ngôn dụng cập xứ
Sự
tồn hàm cái hạp
Lý
ưng tiễn phong trụ
Thừa
ngôn tu hội tông
Vật
tự lập quy cũ
Xúc
mục bất hội đạo
Vận
túc yên tri lộ
Tiến
bộ phi cận viễn
Mê
cách sơn hà cố
Cẩn
bạch tham huyền nhân
Quang
âm mạc hư độ
Dịch
Việt (Tuệ Sỹ):
Tâm
Đại Tiên Tây trúc
Mật
truyền Đông và Tây
Căn
tính có bén, lụt
Đạo
không Tổ Bắc, Nam.
Nguồn
linh sáng trong veo
Chi
phái thầm tuôn trào
Chấp
sự vốn mê muội
Khế
lý đã ngộ đâu.
Cửa
cửa và mọi cảnh,
Giao
hỗ không giao hỗ.
Giao
hỗ dẫm lên nhau;
Chẳng
thế, y chỗ đứng.
Sắc
vốn khác tượng, chất;
Thanh
cũng phi khổ lạc.
Ngầm
hợp lời thượng, trung;
Sáng
tỏ câu trong đục.
Hoàn
nguyên tính bốn đại;
Như
con tìm được mẹ.
Lửa
nóng, gió động lay;
Nước
ướt, đất cứng dày.
Mắt,
sắc; tiếng với tai;
Mũi
hương, lưỡi mặn chua.
Nhưng
y mỗi một pháp;
Y
gốc, lá phân lớp.
Gốc
ngọn phải về tông,.
Tôn,
ti, dụng ngữ riêng.
Ngay
chỗ sáng có tối,
Chớ
để tối gặp nhau.
Trong
tối có ánh sáng;
Chớ
để sáng nhìn nhau.
Sáng
và tối, đối nhau;
Như
bước chân trước sau.
Vạn
vật công riêng;
Ngay
lời, là chỗ dụng.
Sự
lưu, như hộp đậy;
Lý
như mũi tên ghim.
Nương
lời thấu rõ tông;
Chớ
tự lập quy cũ.
Mắt
chạm không rõ đường;
Vần
bước nào hay lối.
Tiến
bước chẳng gần xa,
Mê
thì cách núi sông.
Cẩn
bạch người tham học lẽ huyền
Chớ
để thời gian luống trôi qua
Thạch
Đầu Hi Thiên (700-790), tác giả bài Tham đồng khế, sinh tại
Quảng Đông, miền Nam Trung Hoa, vào đầu thế kỷ thứ tám.
Thường tọa thiền trên một tảng đá rộng và bằng phẳng
nên mới có tên là "Đầu Đá". Là một chú bé khi Lục tổ
Huệ Năng còn sống, Thạch Đầu làm sa di, thân hành hầu hạ
Lục tổ. Khi Huệ Năng mất Thạch Đầu chỉ mới mười ba.
Sau đó trải qua mười lăm năm tự tu học, Thạch Đầu cuối
cùng học thiền với Tổ Hành Tư ở Thanh Nguyên, nguyên đệ
tử đầu chúng của Lục tổ. Truyện kể lại Thạch Đầu
hoát nhiên đại ngộ khi đọc bộ Triệu luận của Tăng Triệu
đến chỗ "vạn vật là chính mình". Về sau, soạn cuốn Tham
đồng khế cũng không ngoài ý này.
Đạo
Nguyên, sáng tổ Thiền Tào Động Nhật, viết về Thạch Đầu
như sau: "Đại sư Thạch Đầu Tọa Thiền (zazen) trên một
tảng đá lớn, nơi Ông dựng một cái cốc bằng cây. Ông
ngồi không ngủ liên tiếp ngày đêm. Không bỏ qua những việc
làm thường nhật, ông vẫn chẳng hề sơ suất Tọa Thiền
suốt cả ngày. Đời nay hậu duệ của Thanh Nguyên, tôn sư
của Thạch Đầu, có mặt cùng khắp Trung Hoa làm lợi ích
loài người và thiên. Tất cả là do sự tu tập liên tục
kiên cố và sự quyết tâm mãnh liệt của Thạch Đầu." (Shunryu
Suzuki. Giảng thuyết về Tham đồng khế)
Sau
đây là hai câu chuyện vấn đáp giữa Thạch Đầu và môn
đệ được ghi chép lại. Thiên Hoàng Đạo Ngộ (748-827), một
đệ tử của Thạch Đầu, hỏi: "Ai là người nhận được
ý chỉ của Lục Tổ?" Thạch Đầu đáp: "Người nào hiểu
pháp Phật thời được ý chỉ Lục Tổ." Lại hỏi: "Hòa thượng
có được không?" Đáp: "Không." Lại hỏi:" Tại sao vậy?"
Đáp: "Vì tôi không hiểu pháp Phật."
Một
lần khác, có vị Tăng hỏi: "Thế nào là giải thoát?" Đáp:
"Ai buộc ngươi?" Lại hỏi: "Thế nào là Tịnh Độ?" Đáp:
"Cái gì làm nhơ ngươi?" Lại hỏi:"Thế nào là Niết bàn?"
Đáp: "Ai đem sanh tử đến cho ngươi?"
Trở
thành một đại sư, Thạch Đầu cùng với Mã Tổ Đạo Nhất
(709-788) chi phối toàn thể giới tu Phật đương thời, một
người là pháp chủ Hồ Nam, một người là pháp chủ Giang
Tây. Vào thời đó, phải đến cầu đạo nơi cả hai vị thời
học tăng mới khỏi bị liệt vào hạng còn ngu tối. Chẳng
có một sử liệu nào ghi chép sự gặp gỡ giữa hai vị, nhưng
vị này thường bảo môn đệ của mình đến tham học với
vị pháp chủ kia. Đây là một thí dụ. Dược Sơn Duy Nghiễm
(745-828), sau này là một trong những vị thừa kế Thạch Đầu,
đến hỏi Thạch Đầu: "Tôi am hiểu giáo lý của đức Phật
y cứ theo kinh điển, nhưng nghe nói tại miền Nam hành giả
nhắm thẳng vào nội tâm, kiến chiếu vào tự tánh và thành
Phật. Tôi thật không hiểu rõ điều này. Thành khẩn mong
được chỉ giáo."
Thạch
Đầu bảo: "Như thế cũng chẳng được, không như thế cũng
chẳng được. Như thế không như thế đều không được,
ngươi làm sao?" Dược Sơn mờ tịt không hiểu.
Thạch
Đầu bảo: "Nhân duyên nhà ngươi không phải ở đây, hãy
đến chỗ Mã đại sư." Dược Sơn vâng lời đến yết kiến
Mã Tổ và thuật lại chuyện đã qua.
Mã
Tổ bảo: "Ta có khi dạy Y nhướng mày chớp mắt, có khi không
dạy Y nhướng mày chớp mắt; có khi nhướng mày chớp mắt
là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi
tính làm sao?" Ngay câu nói này Dược Sơn khế ngộ, bèn lễ
bái.
Mã
Tổ hỏi: "Ngươi thấy đạo lý gì mà lễ bái?"
Dược
Sơn thưa: "Con ở chỗ Thạch Đầu như con muỗi đậu trên
trâu sắt."
Mã
Tổ bảo: "Ngươi đã biết như thế thời tự giữ gìn. Tuy
nhiên, đạo sư của ngươi vẫn là Thạch Đầu."
Một
đối thoại khác giữa Thạch Đầu và Dược Sơn. Dược Sơn
ngồi tư duy. Thạch Đầu hỏi: "Làm gì ở đây?" Đáp: "Không
làm gì hết trọi." Lại hỏi: "Sao lại ngồi không?" Đáp:
"Ngồi không cũng là làm chứ!" Lại hỏi: "Ngươi nói không
làm, vậy không làm cái gì?" Dược Sơn nói: "Mười ngàn Thánh
cũng chẳng biết."
Từ
xưa, suốt dòng lịch sử của đạo Thiền Trung Hoa, khuynh hướng
tĩnh tọa vẫn song hành với khuynh hướng trí tuệ đề cao
yếu tố ngộ. Vào thời Thạch Đầu, sự tranh chấp hơn thua
về tính cách chính thống giữa Nam Tông và Bắc Tông đương
vào hồi sôi nổi. Nam Tông xưng là đốn, đối với Bắc Tông
gọi là tiệm. Bên đốn, trí tuệ, ngộ thời ngộ tức thời,
không tuần tự, vì không có quá trình tiến bộ nào hết.
Bên tiệm, chủ nghiệm, trái lại, nêu cao phương thức cần
phải theo để đạt ngộ, nghĩa là ngộ lần hồi, đòi hỏi
nhiều thời gian, nhiều công phu tịnh quán.
Thạch
Đầu trong Tham đồng khế nói đến sự tương giao của những
đối cực đốn và tiệm, một và nhiều, sáng và tối, đồng
và dị như là hạn chế lẫn nhau và đồng thời hòa hợp
nhau. Ý tưởng Bất nhị ở đây, Tương giao và Nhất thể,
được diễn tả là tánh bình đẳng nhất như, hay hỗ tương
nhiếp nhập theo triết lý Hoa Nghiêm.
Là
một thi phẩm góp phần xứng đáng nhất vào sự luận giải
tông chỉ của Thiền Tào động, Tham đồng khế được tụng
hằng ngày trong các Thiền đường Tào động khắp thế giới
và luôn luôn trong những buổi lễ kỵ Tổ. Ba đời sau Thạch
Đầu, phái Hành Tư có Động Sơn Lương Giới (807-869), trong
một đoản văn chỉnh cú gọi là Bảo kinh tam muội ca, khai
triển tư tưởng của Tham đồng khế để giảng giải về
tính cách tương giao của thiên (lệch) và chính (ngay). Ngoài
ra, giáo lý Ngũ vị thiết yếu cho sự tu tập Thiền đạo
được xem như phát xuất từ Tham đồng khế. Giáo lý này
thuyết giảng về năm cấp bậc tương quan giữa chính và phụ,
giữa chủ và khách: Chính vị, tức thuộc Không giới, bản
lai vô vật; Thiên vị, tức Sắc giới, có hình tượng muôn
vẻ; thiên trung chính (cái lệch trong cái ngay) là bỏ Sự mà
vào Lý; chính trung lai, tức bỏ Lý, chỉ giữ lấy Sự; kiêm
đới (gồm cả hai), tùy duyên mà không lạc vào Hữu, không
phải nhiễm hay tịnh, không phải chính hay thiên.
Trong
đầu đề Tham đồng khế, chữ "tham" chỉ vào thế giới tương
đối của những sai biệt, của lưỡng nguyên và của tụ
tập. Chữ "đồng" có nghĩa là vô sai biệt, đồng nhất, hay
bình đẳng nhất như. Chữ "khế" có nghĩa là sự tương giao
của tánh sai biệt và tánh bình đẳng mà công dụng là hợp
chúng thành một, và được hình dung như hai bàn tay bắt nhau.
Khi hai tay bắt nhau, thời trở nên một hay vẫn còn hai? Có
thể nói không phải một mà cũng chẳng phải hai. Nói cách
khác, "khế" là hợp thành Nhất thể cái tương đối với
cái tuyệt đối giống như hai bàn tay bắt nhau, nghĩa là trong
Nhất thể đó tánh sai biệt và tánh bình đẳng không một
không khác.
Vậy
Tham đồng khế là sự tương dung tương nhiếp của tuyệt
đối và tương đối hiện thành Nhất thể trong đó mỗi hữu
vừa là một cho riêng nó và cũng vừa là tất cả trong nó.
Đây là ý nghĩa của huyền môn thứ ba của Hoa nghiêm: Nhất
đa tương dung bất đồng môn, tức là không có chướng ngại
giữa một và nhiều. Trong sự hỗ tương nhiếp nhập toàn
vẹn, Lý và Sự vẫn duy trì vị trí tồn tại cá biệt, vẫn
giữ nguyên tính cách một hay nhiều không hư tổn hay rối
loạn. Kinh Pháp Hoa nói đó là "pháp trụ pháp vị", y tánh
duyên khởi. Và theo Bồ tát Long Thọ, chính do tánh Không mà
các pháp mới có thể đồng thời hiện khởi, cộng đồng
hiện hữu, và hỗ tương giao thiệp tạo thành một Nhất thể
nhịp nhàng hòa điệu.
Để
có một ý niệm cụ thể về ý nghĩa tương dung tương nhiếp
của chữ "khế", ta có thể dựa vào kết quả thí nghiệm
sau đây của nhà vật lý học lý thuyết David Bohm. Thí nghiệm
được thực hiện với một cái máy gồm hai ống xy lanh (hình
trụ) bằng gương lồng trong nhau, ống bên ngoài có thể quay
chung quanh ống bên trong. Một chất lỏng có độ nhớt rất
cao, như chất glycerine chẳng hạn, được đổ vào giữa hai
ống. Nhỏ một giọt mực không hòa tan vào chất lỏng, rồi
cho ống xy lanh bên ngoài quay chầm chậm. Các hạt cacbon cấu
thành giọt mực ở thể lơ lửng trong chất lỏng phân tán
mỏng dài ra như sợi chỉ nhỏ lần, rồi đến lúc tuồng
như biến mất vì mắt không còn thấy rõ nữa. Khi quay ống
xy lanh bên ngoài ngược lại chiều trước, thời dạng sợi
chỉ hiện trở lại và đột nhiên hiện thành một giọt mực
hoàn toàn giống hệt giọt mực nguyên thủy. Khi các hạt mực
phân tán mỏng thành sợi chỉ, ta có thể bảo rằng các hạt
mực bị thu nhiếp vào chất glycerin. Khi chúng hiện thành giọt
mực cũ, thời đó là lúc chúng phóng khai trở lại. Bây giờ
lặp lại thí nghiệm với nhiều giọt mực màu sắc khác nhau.
Khi ống xy lanh bên ngoài quay, các hạt mực cấu tử đủ màu
sắc lơ lửng trong chất lỏng phân tán mỏng dài ra thành nhiều
sợi chỉ khác màu nhau, cấu tử màu nào chạy dài theo sợi
chỉ màu ấy và riêng biệt với những sợi chỉ màu khác.
Các sợi chỉ nhỏ dần, đan dệt vào nhau thành những mẫu
hình giao thoa rất vi tế, giống như trong ảnh toàn ký (hologram),
đến một lúc, mắt thường không còn thấy được. Nếu chuyển
động của xy lanh bên ngoài đổi chiều ngược lại, thời
sợi chỉ màu nào hiện nguyên hình màu ấy và chạy riêng
biệt nhau như hồi đầu. Đột nhiên chúng hiện thành trở
lại các giọt mực nguyên thủy đủ màu. Như vậy, các giọt
mực vẫn ở đâu đó trong chất lỏng, hỗ tương nhiếp nhập
với chất lỏng, tùy thuận điều kiện thí nghiệm mà biến
đi hay hiện thành.
Quay
xy lanh chiều này thời sai biệt biến mất và chỉ có bình
đẳng nhất như. Quay xy lanh chiều kia thời sai biệt hiện
thành, chúng quả không tiêu biến vào đâu cả! Bohm dùng thí
nghiệm này làm ẩn dụ về Lý Sự vô ngại pháp giới là
thế giới trong đó tất cả hiện hữu cá biệt (vastu) có
thể đồng nhất với Nhứt tâm là sở y. Lý và Sự hợp nhất,
chẳng những bất tương ly và hỗ nhập (hiện thực tương
đồng, hỗ tương dung nhiếp, và hỗ tương giao thiệp toàn
diện), mà còn hỗ tức, nghĩa là hoàn toàn đồng nhất hay
bất nhị (advaya). Tóm lại, có thể nói rằng trong đầu đề
Tham đồng khế, chữ "khế" được dùng miêu tả tính cách
của tất cả pháp trong vũ trụ là đồng một thể tánh chân
thật. Thể tánh ấy là Pháp giới tính hay tánh Không.
Tưởng
cũng nên biết Tham đồng khế nguyên là tên của một cuốn
sách Lão giáo. Thạch Đầu lấy tên ấy để đặt tên cho
thi phẩm của mình luận về đạo Phật. Điều này nói lên
quan điểm Viên dung của Ngài. Mở đầu Tham đồng khế, Thạch
Đầu xác quyết là Pháp chánh truyền của Phật Thích Ca không
phân biệt Nam tông hay Bắc tông.
Tâm
Đại Tiên Tây trúc
Mật
truyền Đông và Tây.
Căn
tính có bén, lụt
Đạo
không Tổ Bắc, Nam.
Sống
vào thời kỳ Đạo Lão thịnh hành, Thạch Đầu dùng chữ
Đại Tiên Tây trúc để nêu danh đức Phật Thích Ca. Tiên
theo sách Tham đồng khế của Đạo Lão là: "Chân nhân tiềm
thâm uyên, Phù du thủ qui trung." Bác sĩ Nguyễn văn Thọ dịch:
"Chân nhân sống rất thâm trầm, Phởn phơ khinh khoát, ôm cầm
khuôn thiêng." Như vậy, các Tiên Ông là những người thích
sống trong cảnh thiên nhiên hơn là sống giữa đời sống
giả tạo của con người và tránh xa phiền lụy của những
buộc ràng của quy ước xã hội. Thật khác xa với đời sống
của chư Bồ tát là những người "tuy đã tự tại trong hết
thảy nghiệp và phiền não, vì giáo hóa chúng sinh mà thị
hiện tùy thuận các nghiệp và phiền não."
Diệu
tâm của Phật là Nhất chân pháp giới của Hoa nghiêm, là
thanh tịnh chân tâm, là căn nguồn phát sanh của chư Phật
và tất cả chúng sinh. Tâm này ví như hư không, không có giới
hạn, không thể đo lường, rộng lớn bao trùm tất cả các
pháp. Nhưng "thế giới tuy trống không mà có thể bao hàm muôn
vật. Cả thảy các sắc tướng: mặt nhựt, mặt nguyệt, tinh
tú, núi sông, đất bằng, nguồn suối, khe rãnh, cỏ cây, rừng
bụi, kẻ dữ người lành, việc dữ việc lành, thiên đàng
địa ngục, cả thảy biển lớn, các núi Tu di, nhứt thiết
đều ở trong chỗ Không." (Pháp Bảo đàn kinh. Phẩm Hai: Trí
Huệ. Thích Minh Trực dịch).
Như
thế, Tâm Phật hay Phật tánh là chỉ thể tánh, còn vạn vật
xuất sanh từ đó là chỉ thể tướng của Nhất pháp giới
tâm. Ngài Tông Mật khẳng định "Không một pháp nào là không
biểu tượng của bản tâm. Không một pháp nào là không nhân
duyên sanh khởi từ Chân pháp giới." Nói theo Đạo Nguyên,
Tất hữu là Phật tánh. Thân và tâm, cây và cỏ, trời và
đất, chư Phật và chúng sinh, tất cả đều là "đến như
vậy" từ "cái gì", "cái gì" tức Phật tánh. Kinh Hoa nghiêm
thuật lại giây phút đức Phật giác ngộ: "Bấy giờ đức
Như Lai xem khắp pháp giới tất cả chúng sinh mà thốt lời
rằng: Lạ thay! Lạ thay! Các chúng sinh đây đã sẵn đủ có
trí huệ Phật, mà tại sao lại mê hoặc chẳng tự thấy được?
Ta sẽ dạy chúng bằng Thánh đạo khiến cho chúng lìa hẳn
vọng tưởng để chúng tự thấy ngay trong cái thân của chúng
sẵn trí huệ rộng lớn là Phật tánh, cùng Phật không khác."
Đối
với Đạo Nguyên, có được niềm tin Tất hữu là Phật tánh,
chỉ có Phật tánh hay Chân như hay Pháp giới là thực thể
duy nhất, và y vào đó mà tu hành thời như thế là được
tâm truyền Chánh pháp. Vậy "Mật truyền Đông và Tây" không
có nghĩa là truyền trao Chánh pháp một cách ẩn mật từ đức
Phật Thích Ca cho Đại Ca Diếp, đến A Nan Đà, v.v... mà chính
là truyền trao ngay tại đây, bây giờ, và khắp nơi!
Nguồn
linh sáng trong veo
Chi
phái thầm tuôn trào.
Chấp
sự vốn mê muội
Khế
lý đã ngộ đâu.
Chữ
"nguồn" dịch từ chữ "nguyên" là chữ từ xưa gắn liền
với Kinh Dịch và triết Dịch. Đối với Đạo gia, "nguyên"
là bản chất sơ thủy bao hàm vạn tượng của Thái cực và
cũng là năng lực thôi động sự biến hóa không ngừng từ
lưỡng nghi tới tứ tượng... tới bất tận. Nhìn trên phương
diện bản thể của nhà Phật thời "nguyên" là đức tính
tròn đầy viên mãn, bất sinh bất diệt của Phật tánh. Nguyên
không tăng thêm ở bậc Thánh, không giảm bớt ở kẻ phàm.
Nguyên của nhà Phật thời siêu việt Thái cực, là động
năng để trở về với cảnh giới bất nhị của bản thể
Chân như. Đối với người tu Thiền thường tự hỏi "Thế
nào là Nguồn linh?", tất nhiên tìm ra được nhiều danh từ
đồng nghĩa, như Tuyệt đối, Chân như, Pháp tánh, Pháp giới,
và có khi chỉ một chữ "Vô" cũng đủ. "Chi phái" chỉ vào
thế giới hiện tượng, thế giới tương đối của những
sai biệt.
"Sáng"
dịch từ chữ "minh" ở đây có nghĩa "nó là như thế", "nó
là nó", đặc tính của Nguồn linh, của Như như. "Thầm" dịch
chữ "ám" có nghĩa tương phản với "sáng". Trong bài này cũng
như trong văn chương Thiền, hai chữ minh và ám thường hay
được dùng. Có khi "minh" (sáng tỏ) chỉ cảnh giới vô phân
biệt và "ám" (thầm, tối) chỉ cảnh giới các sai biệt, như
trường hợp hai câu đầu này. Có khi ngược lại, "ám" chỉ
cảnh giới vô phân biệt. Chẳng hạn như khi ở trong một
hang động tối om, không làm sao thấy được những hình tướng
sai biệt, giống như tìm một con quạ đen trong đêm tối. Đến
khi rọi đèn sáng, thời phân biệt ngay những sự vật sai
khác. Lại có khi "ám" chỉ mê muội và "minh" chỉ "mắt huệ"
quán thấy Chân không vô tướng. Hai câu đầu nói đến sự
tương giao của thật thể và hiện tượng hay của Lý và Sự.
Không có thật thể bên ngoài hiện tượng, chính nơi hiện
tượng là thật thể. Cũng vậy, Lý và Sự đồng nhất vì
cái này không nằm ngoài cái kia, tuy nhiên Lý và Sự sai khác
nhau. Các chi phái thầm tuôn trào, cái được biểu hiện hay
được phát lộ ở bên ngoài của Nguồn linh, không gì khác
hơn là Nguồn linh ấy. Không có khác biệt nào giữa Nguồn
linh và các chi phái. Nếu ta quan niệm các chi phái là các dòng
tổ Thiền truyền thừa thời tuy tất cả cùng lưu chú về
cùng một cội nguồn, chúng vẫn là những dòng chảy riêng
rẽ khác nhau. Đúng là hình ảnh của những giọt mực tán
mỏng chạy dài theo những dòng sợi chỉ riêng rẽ khác biệt
trong thí nghiệm David Bohm. Hiện tượng các dòng sợi chỉ
không gì khác hơn là Nguồn linh. Sự tuôn trào và nguồn của
sự tuôn trào không lìa nhau, không sai khác.
"Chấp
sự vốn mê muội", "Khế lý đã ngộ đâu" cùng mô tả lối
nhìn thiên lệch, khi thiên Sự, khi thiên Lý. Trên hết, tội
lỗi nặng nhất là thái độ chấp trước. Ngoài ra, thông
đạt Lý tức Giác chưa phải là Ngộ, bởi vì khi thành tựu
chứng ngộ dù cạn dù sâu, nếu được nhận thức, thời
sự ngộ đó hóa thành trạng thái Ngộ và thể nghiệm chứng
ngộ cũng trở thành một trạng thái tu chứng. Đó là nhận
thức tu chứng theo chủ quan bối cảnh của mình. Cái chủ
quan ấy dựa vào sự hiện hữu của cái tôi. Có cái tôi và
chấp trước vào cái tôi tạo ra chướng ngại không cho thấy
như thật, hay như thị. Tu như vậy là hãy còn chấp tướng
vì còn thấy ngã thấy pháp.
Không
phải chỉ có cái thể của Giác là Chân tâm, mà cái thể
của Mê cũng là Chân tâm. Kinh Viên Giác chỉ rõ Giác cũng
là “huyễn”, chỉ là phương tiện để giảng cho người
huyễn. Tâm kinh cũng dạy là “không có ‘Vô minh’, cũng
không có ‘hết Vô minh’.” Nói cách khác, không có Mê, cũng
không có Giác. Vấn đề ở đây là làm thế nào để có thể
sống trong Chân như tuyệt đối mà đồng thời có thể tự
tại trong thế giới sai biệt tương đối. Làm thế nào để
có thể trong ngoài thân tâm tất cả đều xả, ví như hư
không, không có chỗ thủ trước, mà vẫn thân chứng Phật
tánh? Theo Đạo Nguyên, chỉ cần Tọa Thiền (zazen). Về bản
chất, Tọa Thiền hay Đạo Nguyên tam muội hoàn toàn tương
đồng với muôn vạn tam muội khác: Chẳng có phân biệt, chẳng
máy động, tự tại trong mọi cảnh. Tuy nhiên khác với lập
trường ngồi tham là để đưa tới Giác ngộ của Lâm Tế,
Đạo Nguyên chủ trương Tọa Thiền không khác với Giác ngộ,
ngộ là thâm nhập Phật tánh.
“Tọa
Thiền phải dẹp hết mọi vướng bận, tất cả các việc
đều gác qua một bên. Không nghĩ đến các điều lành, dữ,
thiện, ác, tốt, xấu. Hoàn toàn không có nỗ lực hoặc cố
gắng ý thức. Tọa Thiền không phải là nghĩ về hay quán
sát theo dõi tác dụng của tâm, ý, thức. Đừng mong cầu trở
thành Phật. Tọa Thiền không liên can gì đến bốn oai nghi
đi, đứng, ngồi, hay nằm. ... ... ... Ngồi vững vàng
trong chánh định (tam muội). Niệm vô niệm. Thế nào là niệm
vô niệm? Là vô niệm. Đây chính là nghệ thuật Tọa Thiền”
(Fukanzazengi. Phổ khuyến Tọa Thiền nghi). Không phải vô tâm,
không phải hữu tâm, mà chính là vô tâm ngay giữa các niệm,
an nhiên vững vàng như ngọn núi Đông Sơn đi trên sóng, ý
thức sáng tỏ không nỗ lực mà vẫn thấy tỏ tường không
bỏ sót một ngọn sóng (niệm) nào hết. Ngay khi ngồi xuống
đã là Phật. Một phút ngồi Thiền là một phút làm Phật.
Phật tánh hé mở từng giây phút một, trong từng niệm một.
Cửa
cửa và mọi cảnh,
Giao
hỗ không giao hỗ.
Giao
hỗ dẫm lên nhau,
Chẳng
thế, y chỗ đứng.
“Cửa
cửa” làm nghĩ đến câu chuyện có ông tăng hỏi Triệu Châu,
“Triệu Châu là gì?” Triệu Châu nói, “Đông môn, Nam môn,
Tây môn, Bắc môn.” Đoán biết ẩn ý thử thách của người
hỏi, Triệu Châu trả lời một câu mà bao hàm hai nghĩa khác
nhau: đương sự và nơi đương sự sống. Nếu hỏi về thị
trấn Triệu Châu nơi đương sự ở thời đó là vùng bao quanh
bởi một tường thành có bốn cửa vào. Ý muốn nói bất
cứ vật gì đều có thể ra vào bất cứ hướng nào. Nếu
hỏi về cá nhân mang tên là Triệu Châu thời đương sự là
bốn cửa thành. Như thế, trên phương diện bản thể, đương
sự là vô vật, vô ngã. Đương sự chính là Chân tâm tức
cái tâm vô tâm.
Tổ
Lâm Tế cũng lấy “cửa” để dẫn đến ý nghĩa của “bổn
lai diện mục” tức Chân tâm. Ngày kia, Ngài nói: “Trên đống
thịt đỏ lòm có một vô vị chân nhân (một tên gọi khác
của “bổn lai diện mục” hoặc Chân tánh) thường ra vào
theo lối cửa mở trên mặt các ngươi. Thầy nào sơ tâm chưa
chứng cứ được thời nhìn đây.” Kinh Hoa nghiêm gọi Chân
tâm là Pháp giới vì giao triệt và dung nhiếp. Tánh của Pháp
giới là bình đẳng, không thật có sinh, có diệt, có người,
có mình, có tâm, có cảnh, có thời gian, có không gian, không
thấp, không cao, không mê, không ngộ. Tánh ấy duyên khởi
ra tất cả sự vật, không có ngăn ngại, đồng thời cũng
tức là bản tính của tất cả sự vật, không hề thay đổi.
Trên
phương diện hiện tượng, câu “Cửa cửa và mọi cảnh”
diễn tả diệu dụng của Chân tâm. Diệu dụng thời có tướng
trạng và giao thiệp. "Cửa cửa" là sáu căn, "mọi cảnh" là
sáu trần, sự tương giao của sáu căn và sáu trần, "đó gọi
là tất cả". "Tất cả có nghĩa là toàn thể vũ trụ. Theo
đức Phật, "tất cả" chỉ được thành lập trên quan hệ
nhận thức tương đãi và tương thành giữa sáu căn và sáu
trần (Tạp A Hàm. Tập I. Kinh số 319). Căn cũng như trần đều
là sự vật, bản tính là pháp giới tính hay Phật tánh. Theo
nguyên lý trùng trùng duyên khởi, một sự vật duyên tất
cả sự vật, tất cả sự vật duyên một sự vật. Do tất
cả duyên một sự vật, nên sự vật này là tất cả. Đã
là tất cả thời hoàn toàn độc lập, bởi vì không có sự
vật nào ngoài tất cả để so sánh với. Chung qui chỉ có
một sự vật, thời lấy gì mà so sánh? Sự vật "một" ấy
không có quan hệ nào cả, tất nhiên tuyệt đối độc lập.
Như
vậy, thấu hiểu vạn hữu trong những tương quan chân thực
của chúng không chỉ tương quan giữa cái này với cái kia
mà tương quan với lý tính hiện hữu của chúng nữa. Sự
vật nào dù là căn hay cảnh, tâm hay vật, đều được đồng
thời nhận thức dưới hai khía cạnh: tương đối hay quan
hệ hỗ tương giao thiệp và tuyệt đối hay hoàn toàn độc
lập. Mặt này hỗ nhập, nghĩa là đồng thời câu khởi, đồng
thời hỗ nhiếp, và đồng thời hỗ dung. Mặt kia hỗ tức,
nghĩa là Sự tức Lý, Lý tức Sự. Đó là ý nghĩa của các
câu, "Giao hỗ không giao hỗ. Giao hỗ dẫm lên nhau. Chẳng thế,
y chỗ đứng." "Y chỗ đứng" tức là "pháp trụ pháp vị",
y tánh duyên khởi.
Sắc
vốn khác tượng, chất;
Thanh
cũng phi khổ, lạc.
Ngầm
hợp lời thượng, trung;
Sáng
tỏ câu trong, đục.
Hai
câu đầu nói cái thấy, cái nghe, chớ kỳ thật hàm cả cái
hiểu, cái biết. Chân tâm duyên khởi biến hiện ra các sự
vật, ra thân, ra cảnh, ra các danh tướng, và mọi sự phân
biệt hiểu biết. Chân tâm thể hiện nơi cái thấy, nghe, hiểu,
biết, nhưng không phải cái thấy, nghe, hiểu, biết đó là
Chân tâm. Tổ Hoàng Bá giảng rõ: "Bản tâm thể hiện nơi
cái thấy, nghe, hiểu, biết, nhưng không thuộc cái thấy, nghe,
hiểu, biết, mà cũng không rời cái thấy, nghe, hiểu, biết.
Chớ nên ở trên cái thấy, nghe, hiểu, biết khởi phân biệt,
cũng chớ ở trên cái thấy, nghe, hiểu, biết mà động niệm,
nhưng cũng chớ lìa cái thấy, nghe, hiểu, biết mà tìm tâm,
cũng chớ bỏ cái thấy, nghe, hiểu, biết mà nhận pháp. Không
tức, không ly, không trụ, không trước, tung hoành tự tại
đều là đạo tràng."
Lấy
cái thấy làm thí dụ. Tất cả sự vật tuy hình tượng và
vật chất khác nhau, nhưng đều là các sự vật nơi tiền
cảnh. Chúng đều là vật, cái thấy không phải là vật. Nếu
cái thấy là vật thời vật cũng thành có hiểu biết. Lại
nữa, không có sự vật nào ra ngoài cái thấy, vì ra ngoài
thời không thể thấy được. Chung cùng, không có sự vật
gì tức là cái thấy và cũng không có sự vật gì ra ngoài
cái thấy. Tại sao? Do bản tính là pháp giới tính nên tất
cả sự vật đều do duyên biến hiện, không có tự tính,
làm sao trong tánh Không còn cái gì tức là cái gì hay có cái
gì ra ngoài cái gì được? Trong kinh Thủ Lăng nghiêm, có đoạn
đức Phật hỏi ngài Văn Thù: "Như toàn thân của ngài đó
là Văn Thù, vậy trong cái ấy có con mắt, cái mũi, ngón tay,
cái chân gì, tức là Văn Thù, hay không có Văn Thù?" Ngài Văn
Thù đáp lại rằng toàn thân ngài thật là Văn Thù. Nơi thân
ngài không có vật gì tức là Văn Thù, vì nếu có vật ấy,
thời đã thành ra hai Văn Thù. Nhưng trong toàn thân ngài cũng
không có cái gì ra ngoài Văn Thù.
Tóm
lại, tánh sai khác nơi cái bị thấy và tánh bình đẳng (không
có sai khác) của cái thấy không tức, không ly. Cũng vậy,
tánh sai khác nơi cái bị nghe (lạc và khổ) và tánh bình đẳng
của cái nghe không tức, không ly. Đó là cách hiểu sự tương
giao của tánh bình đẳng và tánh sai khác theo Thiền qua câu
"Sắc vốn khác tượng, chất; Thanh cũng phi khổ, lạc."
Thoạt
tiên, rõ ràng câu ấy chỉ nói đến tánh sai khác. Trong Thiền
học, hiểu như vậy là nhận thức phiến diện. Ngôn ngữ
của Thiền thường được ví như lưỡi kiếm báu kim cương,
khi chém thời chém cả hai mặt, có khả năng đoạt hết mọi
ý niệm phân biệt khởi lên nơi hành giả. "Nói cái vọng,
để tỏ cái chân; vọng, chân ấy, cả hai đều vọng." (Kinh
Thủ lăng nghiêm) Mục đích cốt để chỉ rõ sự thật là
tuyệt đối, không thể dùng những tư tưởng đối đãi mà
hình dung sự thật được. Bởi vậy, không nhất thiết phải
phủ nhận hay siêu việt hai tướng sai khác và bình đẳng,
hành giả đồng thời nhận thức cả hai tướng, chứng được
sai khác tức chẳng phải sai khác, bình đẳng tức chẳng phải
bình đẳng, tức chứng pháp giới tính hay tánh Không.
Giáo
thuyết Ngũ vị thiên chính của Động Sơn Lương Giới rất
lợi ích chỉ đường tu tập phá chấp, có thể đem sử dụng
ở đây để giải thích phép tu chứng pháp giới tính. Ngũ
vị là năm lối nhìn của hành giả áp dụng cùng một lúc
ngay trong giây phút hiện tại. Xét theo giáo thuyết này thời
"cái thấy, cái nghe" là chính vị, "sắc, thanh" là thiên vị.
Khi phát biểu "Sắc vốn khác tượng, chất; Thanh cũng phi khổ,
lạc." tức là chính trung thiên (tương đối trong tuyệt đối).
Nói "tánh bình đẳng của cái thấy, cái nghe", tức là thiên
trung chính (tuyệt đối trong tương đối). Cuối cùng, tùy
duyên mà không lạc vào Hữu, không phải bình đẳng hay sai
khác, không phải tuyệt đối hay tương đối, tức là vô vị,
kiến Trung đạo.
Cũng
vậy, mọi sự vật có thể đồng thời được nhận biết
từ hai vị trí, ngầm và sáng: "Ngầm hợp lời thượng, trung;
Sáng tỏ câu trong, đục." "Ngầm" (ám) ở đây chỉ cảnh giới
vô phân biệt, là chính vị và "sáng" (minh) chỉ thế giới
thiên sai vạn biệt, là thiên vị. Trong khi ở lãnh vực "ngầm"
vượt ngoài lưỡng cực hữu và vô, không có kiến giải phân
đôi, không có lời thượng, lời trung (thiên trung chính), thời
cùng khi ấy, trong thế giới "sáng", cõi Hữu sở đắc, do
trí phân biệt nên có câu trong, câu đục (chính trung thiên).
Cuối cùng, ngầm tức chẳng phải ngầm, sáng tức chẳng phải
sáng, ngầm và sáng đồng một thể tính, đồng một nguồn
gốc, không thể tách rời nhau (vô vị, kiến Trung đạo).
Hoàn
nguyên tính bốn đại;
Như
con tìm được mẹ.
Lửa
nóng, gió động lay;
Nước
ướt, đất cứng dày.
Mắt,
sắc, tiếng với tai;
Mũi,
hương, lưỡi mặn chua.
Nhưng
y mỗi một pháp;
Y
gốc, lá phân lớp.
Gốc
ngọn phải về tông.
Tôn,
ti, dụng ngữ riêng.
Đoạn
văn trên giải thích sự nhận chân sáu đại, đất, nước,
lửa, gió, căn, và thức, theo hai nguyên lý, hỗ tức và hỗ
nhập, là phương tiện tu chứng pháp giới tính hay tánh Không.
Thế
giới sự vật không ngoài bốn đại, đất, nước, lửa, và
gió. Đất có tính chất cứng dày, nước có tính ướt, lửa
có tính nóng, gió có tính lay động. Biết là đất, là nước,
là lửa, là gió, thấy thế này là cứng dày, thế kia là ướt,
thế này là nóng, thế kia là lay động, đó là do nhận thức
theo nghiệp người. Những loài chúng sinh khác, thời nhận
định theo cách khác, đâu phải nhất thiết như loài người.
Do đó, các đại đều là duyên khởi, do nhận thức của mỗi
nghiệp mà phát hiện, không có tự tính. Xét về tướng, bốn
đại theo duyên mà biến hiện như huyễn như hóa, nhưng xét
về tánh thời bốn đại cũng như tất cả sự vật đều
là pháp giới tính. Ngộ nhập tánh Không của bốn đại tức
là "Hoàn nguyên tính bốn đại; Như con tìm được mẹ."
“Mắt,
sắc, tiếng với tai; mũi, hương, lưỡi mặn chua.” là nói
đến căn đại và thức đại. Căn đại tức là thắng nghĩa
căn năng giác đối với các trần cảnh sở giác: mắt đối
với sắc, tai đối với tiếng, mũi đối với hương, lưỡi
đối với vị, ... Căn năng giác và các món sở giác không
thể tách rời nhau.
Thức
đại lúc nào cũng nhân nơi sự đối đãi giữa căn và trần
mà phát khởi. Căn đại chỉ có giác quan nhưng không phân
biệt. Thức đại nhận biết trần cảnh riêng khác. Trong chỗ
căn đại thấy, nghe, ... nhưng chưa phân biệt được
vật gì là vật gì, thời thức đại phân biệt vật này vật
khác, vị nọ vị kia. Căn đại cũng như thức đại là duyên
khởi như huyễn, không có tự tính. Bản lai là pháp giới
tính, cùng khắp mười phương theo lượng hiểu biết của
mỗi loài chúng sinh mà phát hiện.
Pháp
giới tính là tính trùng trùng duyên khởi của tất cả sự
vật. Pháp giới tính duyên khởi ra tự tâm, có tính nhiệm
mầu duyên hiện các pháp, có tính sáng suốt duyên biết các
pháp. Căn đại là tính sáng suốt của tâm tính. Tâm tính
ấy bản lai là pháp giới tính, nên cũng gọi là tính giác.
Chúng sinh khi bắt đầu tu học đạo Phật nhận biết có tâm
tính bản nhiên như thế thời gọi tâm tính ấy là bản giác.
Chính cái tính sáng suốt bản giác biểu hiện thành căn đại.
Nếu là nghiệp người, nghĩa là có thân người, thời căn
đại theo thân người mà phát hiện, thấy theo con mắt người,
nghe theo lỗ tai người, ... Tất cả các cảm giác của chúng
ta đều do sự đối đãi giữa thân người với hoàn cảnh
mà có.
Thức
đại là cái tác dụng nhận biết của tính sáng suốt bản
giác và duy tính sáng suốt của bản giác mới thật là chân
tính của thức đại. Tính bản giác nhiệm mầu sáng suốt
là pháp giới tính. Pháp giới duyên khởi ra bản giác, bản
giác duyên khởi ra pháp giới, theo nghiệp mỗi loài mà phát
hiện.
Nhận
biết được tất cả sự vật đều do pháp giới tính duyên
khởi như huyễn, không có tự tính, thời thân, tâm, lá phân
lớp, gốc, ngọn đều là pháp giới tính. Lời nói tôn trọng
hay thấp hèn đều do pháp giới tính duyên khởi. Đứng về
phương diện pháp giới tính mà nói thời toàn thể đều như
như bình đẳng, không có sai khác. Chứng được tất cả sự
vật đều không có sai khác, thời phá được ranh giới giữa
tâm và cảnh, giữa tự và tha. Tất cả là một, một là tất
cả. Đó là ý nghĩa của các câu: “Nhưng y mỗi một pháp;
Y gốc, lá phân lớp. Gốc ngọn phải về tông. Tôn, ti, dụng
ngữ riêng.” Chữ "tông" ở đây đồng nghĩa với "Tâm Đại
Tiên Thiên trúc" trong câu mở đầu Tham đồng khế.
Ngay
chỗ sáng có tối,
Chớ
để tối gặp nhau.
Trong
tối có ánh sáng;
Chớ
để sáng nhìn nhau.
Ý
nghĩa của bốn câu này không khác của hai câu "Sắc tức thị
không, Không tức thị sắc" trong Tâm kinh. Có thể ví với
giọt mực trong thí nghiệm David Bohm vừa hòa đồng với chất
lỏng vừa giữ nguyên cá thể riêng biệt. Đó là giây phút
cùng một lúc vừa tuyệt đối vừa tương đối. Sáng tức
thị tối, tối tức thị sáng. Ngay trong sáng có tối, đừng
coi đó là tối. Ngay trong tối có sáng, đừng coi đó là sáng.
Hãy cắt đứt tất cả thiên chấp về sáng và tối, thể
dụng tự nhiên phân chẳng phân.
Sáng
và tối, đối nhau;
Như
bước chân trước sau.
Không
có gì cụ thể cho bằng dùng hai chân bước đi làm thí dụ
về tánh phi nhất phi dị của sáng và tối. Tối và sáng,
tuyệt đối và tương đối, là hai đối cực, giống như chân
bước trước và chân bước sau. Khi đi, chân bước trước
tức thời trở thành bước sau và chân bước sau trở thành
bước trước, khó lòng nói rõ chân nào bước trước, chân
nào bước sau. Lúc dừng lại và suy nghĩ vấn đề, thời có
thể thấy chân phải là chân bước trước, chẳng hạn. Vậy
đang bước tới thời không thể phân biệt, chỉ phân biệt
được khi dừng chân. Tọa Thiền cũng thế, đang lúc hành
công phu thời không có vấn đề phân biệt tối và sáng, chân
bước trước và chân bước sau. Dấy niệm phân biệt thời
không còn là Tọa Thiền nữa.
Vạn
vật công riêng;
Ngay
lời, là chỗ dụng.
Hai
câu này chỉ rõ tính chất tương quan giữa Sự và Lý, giữa
các pháp sở tri và tánh Không. Dụng của Sự gọi là "công".
"Vạn vật công riêng", mỗi và mọi sự vật đều có công
riêng của nó. Thông hiểu công của Sự có nghĩa là thông
hiểu cách ứng dụng đúng theo bản thể và chỗ dụng của
Sự: "Ngay lời, là chỗ dụng". Tức là "thị pháp trụ pháp
vị". Sự luôn luôn là biểu tượng của một lý nào đó và
ngược lại, lý luôn luôn là lý tánh của một sự nào đó.
Lý là thể tánh của tất cả pháp tức của Sự. Sự là hiện
tướng của lý tánh. Lý và Sự bất tương ly, hỗ nhập và
hỗ tức, hợp nhất trong ngoài toàn thể, trong ngoài toàn dụng,
tức thể tức dụng.
Nếu
hiểu theo các luận sư thuộc tông Tào động Nhật bản thời
hai câu thơ tiếp theo
事
存 函 蓋 合 , 理 應 箭 鋒 拄
Phiên
âm:
Sự
tồn hàm cái hạp
Lý
ưng tiễn phong trụ.
phải
được tạm dịch tiếng Việt là:
Sự
lưu, như hộp đậy;
Lý,
mũi tên chọi nhau.
Sự
nhiếp trong Lý, hay nói một cách dễ hiểu hơn, sự kiện tôi
có mặt ở đây có nghĩa là Phật tánh đang ở đây. Ngay lúc
này, tôi không phải chỉ là tôi, mà còn là một biểu hiện
của Phật tánh. Hơn thế nữa, tôi biểu hiện thật tướng
theo cách riêng của tôi. Sự kiện tôi có mặt ở đây có
nghĩa là toàn thể vũ trụ đang có mặt tại đây. "Sự lưu,
như hộp đậy", Lý bao hàm và dung nạp Sự được ví như
hộp đậy nắp khít đến độ không biết đâu là nắp.
Lý
ở trong Sự tức Lý Sự khế hợp, ví như hai mũi tên bắn
đi ngược chiều, đầu tên chạm nhau trong không trung. Đây
là nói phỏng theo một truyện cổ tích Trung hoa, vào thời
Chiến quốc, có một xạ sư đại tài tên là Phi Vệ. Kỷ
Mao, một tay thiện xạ còn trẻ, muốn đọ sức tranh tài,
đứng đợi Phi Vệ, cung tên sẵn sàng trong tay. Khi Phi Vệ
vừa ló mặt, cả hai tay thiện xạ tài giỏi quá lanh lẹ đã
đồng thời giương cung và bắn cùng một lần. Hai mũi tên
gặp nhau trong không trung. Sau đó, họ cư xử với nhau như
cha và con.
Khác
với cách giải thích trên, Thầy Tuệ Sỹ dịch đúng nguyên
văn là:
Sự
lưu, như hộp đậy;
Lý
như mũi tên ghim.
Trong
câu chữ Hán: “Sự tồn hàm cái hạp”, dịch là “Sự lưu,
như hộp đậy”, “Sự tồn” chỉ mối quan hệ giữa sự
với sự, tức sự sự vô ngại. Sự với sự thích ứng với
nhau thành diệu dụng, ví như hộp và nắp.
Lý
là Pháp giới tính hay tánh Không. “Mũi tên ghim” dụ cho
Tọa Thiền, là năng lực bắn mũi tên trực chỉ tánh Không.
Đúng như cổ nhân đã nói: “Vạn tượng và sâm la chỉ là
dấu ấn của một Pháp”, “Sâm la và vạn tượng đều viên
mãn ở trong ấy cả.”
Lý
Sự khế hợp nhắc đến phép thực hành công phu vô tâm gọi
là "thấu xuất thể dụng". "Khi hành công phu, chẳng phân trong
ngoài, chẳng phân biệt Đông, Tây, Nam, Bắc. Thể dụng chẳng
phân, không một mảy may rỉ lậu. Suốt thân gồm thành một
mảnh, vọng kia chỗ nào khởi được? Người xưa nói: Suốt
thân không đường nứt, trên dưới đều tròn trịa." (Thiền
sư Phổ Chiếu. Chơn tâm trực thuyết) Đó cũng là ý trong
câu Duy Ma Cật nói: "Lấy vô trụ bổn, lập nhất thiết pháp".
Nương
lời thấu rõ tông;
Chớ
tự lập quy cũ.
Mắt
chạm không rõ đường;
Vần
bước nào hay lối.
Tiến
bước chẳng gần xa,
Mê
thời cách núi sông.
Cần
nhớ rằng không tu để thành Phật, mà chính mình là Phật
cho nên mới cần tu chứng. Thiền sư Hoàng Bá đã có lần
nói: "Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành?" Phật tánh không
ở gần chẳng ở xa. Vì Phật tánh là bản chất nguyên sơ
của mỗi sự vật cá biệt, nên bất kỳ khi nào, mỗi phút
mỗi giây, trong tiến trình hóa dịch, tự thân như thực của
vạn hữu luôn luôn hiển lộ Phật tánh. Bởi thế, Đạo Nguyên
mới nói: "Trong pháp Phật, tu tập và chứng ngộ đồng nhất."
Tu là tu nơi sự chứng, gọi là “bản chứng diệu tu” (honshò
myòshu). Tu chứng đồng thời, chỉ ngay bây giờ và ở đây,
vào mỗi và mọi lúc.
Ông
thúc hối: "Hãy dốc hết toàn lực trên đạo lộ trực chỉ
Chân như. Hãy tôn sùng đạo nhân tuyệt học vô vi (zetsugaku
mui nin; tức là bất cứ ai Tọa Thiền, thâm nhập Thanh tịnh
Pháp thân ngay khi ngồi xuống). Hãy khế hợp quá trình tu hành
với Chân như Pháp giới. Hãy thừa kế đường lối Thiền
chính thống của Tổ Sư truyền xuống. Hãy thường xuyên động
dụng thi vi như vậy, người được đảm bảo không khác chư
Tổ. Kho tàng bảo vật của người sẽ tự động mở tung
ra và người sẽ sử dụng tùy thích." (Fukanzazengi. Phổ khuyến
Tọa Thiền nghi)
Đoạn
cuối bài Tham đồng khế cũng có lời kêu gọi tương tự:
Cẩn
bạch người tham học lẽ huyền
Chớ
để thời gian luống trôi qua.
Đoạn
này được ghi khắc trên "han", một tấm gỗ treo, thường
được gióng lên để loan báo giờ tọa Thiền trong các Thiền
đường Tào động Nhật bản. ❐
HỒNG
DƯƠNG
