DU-GIÀ
HÀNH TÔNG
What
is and isn't Yogācāra
DAN
LUSTHAU - NHUẬN CHÂU dịch
Du-già
hành tông là một trong hai tông phái Đại thừa Phật giáo
Ấn Độ. Sự sáng lập tông phái nầy được quy cho
hai anh em ngài Vô Trước và Thế Thân. Nhưng giáo lý́ và
học thuyết căn bản của tông nầy đã được lưu hành
ít nhất là một thế kỷ trước đó rồi. Du-già hành
tông chú tâm vào tiến trình tương quan của nhận thức
để hàng phục vô minh, để giúp chúng ta thoát khỏi vòng
nghiệp báo sinh tử. Hành giả Du-già hành tông thường
lưu tâm đến những vấn đề như nhận thức, ý thức,
ý niệm và nhận thức luận, cùng với tuyên bố 'thế
giới khách quan không hiện hữu', đã khiến một số
người hiểu lầm Du-già hành tông như là một dạng chủ
nghĩa duy tâm siêu hình. Du-già hành tông không tập trung
vào thức để khẳng định thức như là thực tại tối
thượng (Du-già hành tông cho rằng thức chỉ là thực
tại quy ước vì nó sinh khởi từng giây phút do nhân
duyên biến chuyển), mà đúng hơn, họ xem thức là nguyên
nhân tạo nên nghiệp báo và tìm cách chuyển hóa nó.
Du-già hành tông đã làm sinh khởi nhiều học thuyết mới
cho Phật giáo, như giáo lý Duy thức,1 Tam tính, Tam
chuyển y, và hệ thống 8 thức (tất cả sẽ được
giải thích phần sau). Sự nghiên cứu kỹ lưỡng về thức
của các nhà Du-già hành tông đã làm phát sinh hai luận
điểm quan trọng: một là hệ thống tâm lý học chi ly
vạch ra những vấn đề của thức cùng cách giải độc
cho nó, và một là nỗ lực nghiêm túc về nhận thức
luận, dẫn đến sự ra đời một số tác phẩm tinh
vi nhất về nhận thức và luận lý chưa từng có trong
Phật học cũng như trong tư tưởng Ấn Độ trước đây.
1.
TỔNG
QUAN VỀ LỊCH SỬ:
Dù
việc khai sáng Du-già hành tông theo tương truyền được
quy cho hai anh em ngài Vô Trước và Thế Thân (tk. 14-15), nhưng
hầu hết những giáo lý căn bản của tông nầy đều
đã được xuất hiện trong nhiều kinh văn từ một thế
kỷ trước đó hoặc còn sớm hơn, đáng kể nhất là
Kinh Giải Thâm Mật.2 Những khái niệm then chốt được
giới thiệu trong Kinh Giải Thâm Mật là ý niệm về
Duy thức (vijñapti-mātra), tam tính (trisvabhāva), a-lại-da thức
(ālaya-vijñāna), chuyển y (āśraya-parāvṛtti),và lý thuyết
về 8 thức.
Kinh
Giải Thâm Mật cho biết giáo lý của kinh ở vào thời
kỳ thuyết giáo thứ ba.3 Đức Phật tại thế vào
khoảng thế kỷ thứ 5 trước Công nguyên, nhưng kinh điển
Đại thừa chưa bắt đầu xuất hiện mãi cho đến hơn
500 năm sau. Các nhà Đại thừa Ấn Độ xem những kinh
này như tài liệu ghi lại chính lời dạy của Đức Phật.
Vào khoảng thế kỷ thứ III hay IV, một khối lượng
lớn của giáo lý Đại thừa đã nẩy sinh, nhưng bất
luận giáo lý nào xuất hiện trong kinh cũng đều được
xem là của chính Đức Phật.
Theo
tạng kinh nguyên thủy bằng tiếng Pāli, khi Đức Phật
thành đạo rồi, Ngài chuyển pháp luân, có nghĩa là
bắt đầu giảng dạy giáo lý dẫn đến giác ngộ,
tức là giảng Pháp.Trong khi các Phật tử luôn luôn cho
rằng Đức Phật đã hướng giáo pháp thâm diệu cho
những căn cơ bậc thượng cho những thính chúng đặc
biệt, nhưng Kinh Giải Thâm Mật xác lập tinh thần Đức
Phật đã truyền dạy những giáo pháp có ý nghĩa đặc
biệt cho những hạng thính chúng khác nhau căn cứ vào
trình độ nhận thức của họ; và những giáo lý khác
nhau nầy đã dẫn từ sự chữa trị tạm thời (pratipakṣa)
cho những kiến giải sai lầm cho đến giáo pháp toàn
diện để cuối cùng, phải hiển bày những gì chỉ
được ẩn dụ trong giáo lý nguyên thủy. Theo quan điểm
của kinh nầy, hai thời thuyết giáo đầu tiên – riêng
giáo lý Tứ diệu đế trong tạng Nikāya cùng A-tì-đạt-ma
và Trung quán luận đã diễn bày giáo pháp thông qua
một hệ thống thiếu hoàn chỉnh nên đòi hỏi phải
có nhiều giải thích (neyārtha) rõ hơn để có thể hiểu
một cách chính xác và có hiệu quả – nhấn mạnh
vào các thực thể (pháp, uẩn v.v...) trong khi ‘lờ đi’
Tính không, nên có thể dẫn đến sự chấp dính ý
niệm về thực thể; trong thời thuyết giáo thứ hai,
nhấn mạnh vào tính phủ định trong khi ‘lờ đi’ phẩm
tính tích cực của giáo pháp, có thể bị hiểu nhầm
là hư vô. Thời thứ ba là dung hòa giữa hai thái cực
trên để rốt ráo làm cho mọi ý nghĩa được rõ ràng
(nītārtha). Những nhà Du-già hành tông đã thể nhập vào
giáo lý Phật pháp đồ sộ, có tính tổng hợp và
hệ thống đã ra đời từ trước đó, đã khảo sát
thật tường tận đến những chi tiết tầm thường
nhất trong mọi nỗ lực để trình bày chính xác rõ
ràng giáo pháp của Đức Phật. Nói cách khác, để
có được hiệu quả cho toàn bộ Phật pháp, phải cần
có một phương pháp giải thích mới của các nhà Du-già
hành tông.
Có
cái nhìn mới trong sự phân tích về A-tì-đạt-ma, luận
lý, vũ trụ quan, phương pháp thiền định, tâm lý học,
triết học, và đạo đức học là trong số những đóng
góp quan trọng nhất của họ.
Du
Già Sư Địa Luận,4 tác phẩ̉m chính ngài của Vô
Trước, là một cuốn bách khoa toàn thư mẫu mực của
Phật giáo (phần nhiều được rút ra từ Kinh A Hàm
– bản tiếng Pāli tương ưng là Nikāya), đã đề xuất
quan điể̉m của các nhà Du-già hành tông về tiến trình
tu tập đạo giác ngộ. Tác phẩm nổi tiếng của thế
hệ trước các nhà Du-già hành tông là A-tì-đạt-ma Câu-xá
luận5 cũng cung cấp một cái nhìn toàn triệt và
chi tiết về đạo Phật với sự chú tâm cao độ vào
những sắc thái và những quan điểm khác biệt nhau
trên bình diện rộng lớn của đề tài.
Dù
cả hai anh em đều thuộc dòng dõi Bà-la-môn, ngài Vô Trước
đã sớm có niềm tin và xuất gia tu theo Hóa Địa Bộ,6
một trường phái ngoài Đại thừa, y cứ rất sâu vào
Kinh A Hàm. Vô Trước và Thế Thân trở thành ‘nhà’
Du-già hành tông đầu tiên, ban đầu mỗi người đều
đã cống hiến hết mình cho những trường phái Phật
giáo khác. Cả hai đều là những luận sư có rất nhiều
tác phẩm, mặc dù ngài Vô Trước đã quy tác phẩm
của mình cho Bồ-tát Di Lặc,7 là vị Phật tương
lai đang ở cung trời Đâu Suất. Ngài Vô Trước sau 12 năm
một mình tu tập thiền định trong một hang sâu (có bản
chép là ở trong rừng) không đạt kết quả gì, ngay lúc
ngài vừa bật ra lời than vãn, định từ bỏ mục đích
vì sự thất vọng đau thương của mình thì Bồ-tát
Di Lặc hiện ra rồi đưa Ngài lên cung trời Đâu Suất.
Ở đó, Bồ-tát Di Lặc dạy cho Ngài bản kinh văn trước
đây chưa từng biết đến, đó là những tác phẩm
của Du-già hành tông mà sau đó Vô Trước giới thiệu
cho những đồng đạo của mình. Hoàn toàn đúng khi những
kinh văn nầy thiếu xuất xứ rõ ràng, vì truyền thống
Trung Hoa và Tây Tạng thường quy nhiều tác phẩm cho Bồ-tát
Di Lặc.
Theo
truyện ký, đầu tiên Thế Thân theo học giáo lý Phật
giáo của Tì-bà-sa bộ,8 ngài đã viết một tổng
hợp mang tính bách khoa về giáo pháp mình tu học và
đã trở thành một tác phẩm tiêu chuẩn cho thế giới
quan Phật giáo, đó là A-tì-đạt-ma Câu-xá. Khi quay sang
phê phán giáo lý của Tì-bà-sa bộ, Ngài viết một
luận giải về tác phẩm trên để phản bác nhiều giáo
lý của bộ phái ấy. Tri thức không nghỉ ngơi một chút
nào, Ngài biên soạn những tác phẩm khác trình bày
biểu đồ cuộc hành trình của mình sang Du-già hành tông,
tác phẩm nổi tiếng nhất của thời kỳ nầy là Đại
thừa thành nghiệp luận9 và Đại thừa ngũ uẩn luận.10
Những tác phẩm nầy trình bày những phạm trù rất
quen thuộc với tinh thần A-tì-đạt-ma đã được thảo
luận trong luận Câu-xá (Kośa) với nỗ lực chiêm nghiệm
lại chúng. Các triết gia và học giả bất đồng ý
kiến thời đó cũng đã khảo sát kỹ, lập trường
mới của Thế Thân trình bày có hệ thống trong những
luận văn nầy đã làm cho Ngài gần gũi hơn với sự
quy thúc của các nhà Du-già hành tông. Một số học giả
hiện đại đã có những tranh luận về căn cứ của
những điều mâu thuẩn trong tiểu sử cũ của Thế Thân,
họ cho rằng những luận văn cùng với A-tì-đạt-ma Câu-xá
luận không phải do Thế Thân, một luận sư Du-già hành tông
trứ tác, mà do một người nào đó. Nhưng tiến trình
phát triển tư tưởng của Ngài, tuy nhiên, lại rất rõ
ràng và rất có ấn tượng, và những nét tương đồng
trong từ vựng và văn phong của Ngài quá hiển nhiên đã
xuyên suốt các luận văn, nên lập luận có hai nhân vật
Thế Thân ít có giá trị.
Các
tác phẩm của Vô Trước (và/hoặc là của Di Lặc) và
Thế Thân được xếp loại từ dạng tinh yếu bách khoa
toàn thư đồ sộ của Phật học (như Du Già Sư Địa Luận,
Nhiếp đại thừa luận,11 Đại thừa A-tì-đạt-ma tập
luận,12 đến những bài kệ tụng súc tích ngắn
gọn về những thí dụ trong văn hệ Du-già hành tông như
Duy thức tam thập luận,13 Trisvabhāva-nirdeśa,14 đến
những chuyên luận có hệ thống tập trung vào chủ đề
Duy thức như Nhị thập duy thức luận,15 Trung biên phân
biệt luận,16 cho đến chú giải những kinh văn Đại
thừa nổ̉i tiếng như Kinh Pháp Hoa, Kinh Kim Cương.
Vì
Kinh Giải Thâm Mật đưa ra một giáo lý phát triển rất
tinh vi, nên rất hợp lý khi nói rằng các ý niệm nầy
đã phát triển trước đó một thời gian rồi, có
lẽ là hàng thế kỷ, trước khi kinh nầy được lưu
truyền. Nhưng ngài Vô Trước và Thế Thân lại sống sau
một thế kỷ hoặc hơn khi Kinh Giải Thâm Mật ra đời,
nên cũng có lý khi cho rằng những tư tưởng nầy đã
được tinh luyện bởi những tác giả khác trong thời
kỳ trung gian. Như thế, tương truyền rằng hai anh em ngài
là người sáng lập Du-già hành tông chỉ chính xác một
nửa. Tương truyền ngài Vô Trước đưa Thế Thân sang Du-già
hành tông sau khi Ngài đã được Bồ-tát Di Lặc truyền
đạo; ngài Vô Trước đã không được ghi nhận có một
đệ tử nào giỏi hơn. Truyện ký ghi nhận có hai đệ
tử chính của ngài Thế Thân là ngài Trần Na,17 một
đại luận sư và là nhà Nhân minh học, cùng An Huệ,18
một luận sư xuất sắc của Du-già hành tông. Không rõ
hai người đã gặp ngài Thế Thân như thế nào. Có lẽ
họ đã làm đệ tử của chính tư tưởng mình, đã
gom được những kết luận từ những trứ tác của
mình cũng như qua những bậc thầy trung gian vô danh. Hai
vị đệ tử nầy biểu tượng cho hai khuynh hướng mà
giáo lý của ngài Thế Thân sau nầy.
Sau
Thế Thân, Du-già hành tông phát triển thành hai khuynh hướng
hay hai nhánh:
1.-Truyền
thống Nhân minh Nhận thức luận, tiêu biểu bởi những
nhà tư tưởng như Trần Na, Pháp Xứng (Dharmakīrti), Tịch
Hộ (Śāntarakṣita), và Ratnakīrti.
2.-
Truyền thống Tâm lý học A-tì-đàm, biểu tượng bởi
những nhà tư tưởng như An Huệ, Pháp Hộ (Dharmapāla),
Huyền Trang, và Vinītadeva. Trong khi nhánh thứ nhất tập
trung vào những vấn đề nhận thức luận và luận
lý, thì nhánh thứ hai chuyên nghiên cứu những phân tích
về A-tì-đạt-ma đã được ngài Vô Trước và Thế Thân
phát triển từ trước. Hai nhánh nầy hoàn toàn không
tách rời nhau, và nhiều luận sư Phật giáo đã trứ
tác nhiều luận giải góp phần cho cả hai nhánh nầy.
Chẳng hạn như Trần Na, ngoài những tác phẩm về Nhân
minh Luận lý học ra, ngài còn viết luận giải về A-tì-đạt-ma
Câu-xá luận của ngài Thế Thân. Điều thống nhất của
hai trường phái là sự quan tâm sâu sắc về tiến trình
nhận thức, nghĩa là phân tích tư duy, nhận thức của
chúng ta như thế nào. Trường phái trước tiếp cận
với Nhân minh Nhận thức luận, trong khi trường phái
sau theo khuynh hướng tâm lý học và trị liệu. Cả hai
cùng xem những vấn đề căn để của con người là
nhận thức sai lầm cần phải được điều chỉnh.
Một
vài tư tưởng căn bản của Du-già hành tông, đến thời
kỳ trường phái A-tì-đạt-ma thì bị tấn công khắc
nghiệt bởi những trường phái Phật học khác, đặc
biệt là ý niệm về A-lại-da thức, bị xem là hơi giống
ý niệm về ātman (bản ngã thường hằng, bất biến)
và ý niệm về prakṛti (bản thể tiên thiên, mọi linh
hồn, cảm giác cùng vật chất đều phát sinh từ đó.)
Cuối cùng, những luận điểm phê bình quá kiên cố
đến nỗi trường phái A-tì-đạt-ma bị co lại. Đến
cuối thế kỷ thứ 8, luận điểm phê phán ấy bị lu
mờ vì tư tưởng của trường phái Nhân minh Luận lý
học và trường phái lai tạp kết hợp giữa giáo lý
Du-già hành tông và tư tưởng Như Lai tạng (tathāgatagarbha).
Trường phái Nhân minh Luận lý học từng bước tránh
được sự phê phán bằng cách dùng thuật ngữ citta-santāna,
‘dòng thức’ thay cho A-lại-da thức, vì chung quy nó hoàn
toàn có ý nghĩa giống nhau. Dễ phản đối vì ‘dòng
thức’ biểu tượng cho một bản ngã cụ thể. Mặt
khác, trường phái lai Như Lai tạng không xa lạ gì với
việc nhận ý niệm về ngã vào trong giáo lý của trường
phái mình, chẳng hạn, họ đã định nghĩa một cách
chính xác Như Lai tạng là ‘thường, lạc, ngã, tịnh.’19
Thực vậy, nhiều kinh văn xiể́n dương tư tưởng Như
Lai tạng cho rằng sự thừa nhận ý niệm về ngã như
là một biểu hiện cho sự thành tưụ tối thượng.
Trường phái lai nầy nỗ lực đồng nhất tư tưởng
Như Lai tạng và A-lại-da thức thành một. Kinh văn cứ
điểm của trường phái lai nầy là Kinh Lăng Già,20
Thật tính luận,21 và với Trung Hoa là Đại Thừa
Khởi Tín Luận.
Vào
thế kỷ thứ 6-7, Phật học Trung Hoa chói sáng nhờ cuộc
sánh vai của Du-già hành tông. Sự chia chẻ chủ yếu giữa
các phiên bản kinh luận chính thống Du-già hành tông và
phiên bản của trường phái lai Như Lai tạng, sau cùng được
ổn định vào thế kỷ thứ 8 qua sự ủng hộ các kinh
văn của trường phái lai Như Lai Tạng, mà sau nầy tất
cả đều trở thành hệ thống kinh luận của Phật giáo
Đông Nam Á. Tư tưởng Du-già hành tông cũng được nghiên
cứu và xếp loại ở Tây Tạng. Dòng Ninh Mã (Nyingma),
giáo pháp Đại Cứu Cánh (Dzog Chen) đã y cứ trên bản
dịch tiếng Hán tương ưng của trường phái lai Như Lai
tạng. Dòng Cách lỗ (Gelugpas) chia tư tưởng Du-già hành
tông thành nhiều nhánh nhỏ và xem đó là giáo lý mở
đầu để tiến vào nghiên cứu tư tưởng của Đại
thừa Quy mậu luận chứng phái22 , mà dòng Cách-lỗ
xếp vào giáo lý Phật giáo Tối thượng thừa. Tuy
vậy, người Tây Tạng có khuynh hướng xem truyền thống
Nhân minh Luận lý học khác biệt hẳn với Du-già hành
tông, thay vào đó, họ thường gọi trường phái nầy
là Kinh lượng bộ hoặc Thí dụ bộ (Sautrāntika).
2.-
DU-GIÀ
HÀNH TÔNG KHÔNG PHẢI LÀ CHỦ NGHĨA DUY TÂM SIÊU HÌNH
Trường
phái được gọi là Du-già hành tông (tu tập, thực hành
Du-gia23̀ ) vì tông nầy cung cấp một cơ cấu nhận thức
cũng như phép tu tập trị liệu để dẫn đến chỗ
cứu cánh của Bồ-tát đạo, được gọi là giác ngộ.
Thiền định được dùng như sự thể nghiệm, qua đó
hành giả có thể nhận ra phương thức hoạt dụng của
tâm. Du-già hành tông tập trung vào những vấn đề của
thức từ nhiều lối tiếp cận khác nhau, gồm thiền
định, tâm lý học phân tích (phân tâm học), nhận thức
luận (cách nhận ra cái biết của mình, hoạt dụng của
tri thức ra sao, lấy gì để công nhận giá trị của
tri thức), phương pháp nhận thức qua kinh luận và phân
tích về nghiệp.
Giáo
lý Du-già hành tông được tóm tắt trong thuật ngữ vijñapti-mātra,
có nghĩa là ‘tất cả chỉ là sự biểu hiện của thức’
(thường được dịch là duy thức hoặc duy tâm ), thuật
ngữ nầy đôi khi được hiểu như là biểu tượng cho
một dạng duy tâm siêu hình. Du-già hành tông có chiều
hướng bị hiểu lầm là một dạng duy tâm siêu hình
chủ yếu vì giáo lý của nó đi theo hướng tiền đề
bản thể luận hơn là như sự cảnh báo trước của
nhận thức luận về những vấn đề của nghiệp. Du-già
hành tông tập trung vào sự nhận biết và ý thức phát
sinh từ sự phân tích về nghiệp, không phải nhờ vào
những suy luận siêu hình. Có hai yếu tố nên làm sáng
tỏ để giải thích vì sao Du-già hành tông không phải là
một dạng duy tâm siêu hình:
1.-
Ý nghĩa của thuật ngữ duy tâm;
2.-
Sự khác biệt quan trọng giữa phương pháp nhận thức
triết học của người Ấn Độ và người phương Tây.
Về
thuật ngữ Duy tâm:
Thuật
ngữ duy tâm trở nên thịnh hành trong thời kỳ của Kant24
(mặc dù nó được dùng sớm hơn bởi một người khác,
đó là Leibniz25 ) để gọi một trong hai trường phái
phát sinh như là sự phản ứng lại triết học Cartesian.26
Descartes27 đã chỉ rõ có hai nền tảng mà thực
thể phân đôi trong vũ trụ: sự mở rộng (thế giới
vật thể trong không gian) và tư tưởng (thế giới tâm
thức và ý tưởng). Theo đó, mỗi phái đối nghịch
chọn thật thể nầy hay thật thể khác làm bản thể
siêu hình cho phái mình. Các nhà duy vật cho rằng chỉ
có vật chất là thực tại tuyệt đối, thế nên cho
tư tưởng và tâm thức đều phát sinh từ các thực
thể vật chất (hóa chất, não trạng v.v...). Chủ nghĩa
duy tâm phản đối lại rằng tâm và ý tưởng của nó
là thực tại tuyệt đối, và thế giới vật chất
đều phát sinh từ tâm (chẳng hạn như linh hồn của Thượng
đế, nhận thức tồn tại của Berkeley,28 hoặc từ
ý tưởng tiên thiên, v.v...). Chủ nghĩa duy vật bị hút
về hướng giải thích mang tính cơ giới và vật chất
lý do tại sao và bằng cách nào mà vạn vật tồn tại,
trong khi chủ nghĩa duy tâm có khuynh hướng tìm kiếm mục
đích – đạo đức cũng như duy lý – để giải thích
sự hiện hữu. Duy tâm có nghĩa là chỉ riêng do tâm, thường
được hiểu qua nghĩa ý niệm tư tưởng (eidos) của Platon
vào thời đó, mệnh danh duy tâm là siêu việt hẳn thế
giới vật chất, thế giới cảm giác, miễn là hình
thái (eidos) ấy có ý nghĩa và mục đích. Trong khi chủ
nghĩa duy vật được củng cố bằng những tiến bộ
khoa học vật chất, có được sự công nhận rộng rãi
hơn, thì những người nghiêng về mục tiêu tâm linh và
thần học ngày càng quay sang hướng duy tâm như là một
sự phản ứng29 .
Xu
thế chủ đạo của triết học phương Tây từ thời Plato
và Aristotle đã xem bản thể học và siêu hình học như
là sự theo đuổi rốt ráo của triết học, với vai
trò của nhận thức luận nhỏ bé hơn so với việc đáp
ứng sự thể nhập và chứng minh cho sự tận tụy theo
đuổi tinh thần bản thể học của con người. Vì nhiều
thứ bị phê phán như là hình thái quá độ của triết
học – như chủ nghĩa hoài nghi, thuyết duy ngã, lối ngụy
biện– có thể hoặc bị gán cho là xuất phát từ
những vấn đề nhận thức luận tích cực, nhận thức
luận thường bị nghi ngờ, và trong vài hệ thống thần
học được xem hoàn toàn không cần thiết cho sự thọ
nhận đức tin. Bản thể học là chủ yếu, và nhận
thức luận hoặc là thứ yếu, hoặc là có thể xem
như không có.
Sự
khác nhau giữa Ấn Độ và phương Tây khi tiếp cận
triết học.
Trong
triết học Ấn Độ, người ta tìm thấy sự đảo ngược
về vấn đề nầy. Nhận thức luận (pramāṇavāda) là
chính yếu, trong cả hai ý nghĩa, nó phải được xem ưu
tiên hơn trong mọi thử thách đối với bất kỳ mọi
nỗ lực mang tính triết học khác, và giới hạn của
lời tuyên bố siêu hình của con người luôn luôn được
ấn định bất khả xâm phạm bởi thông số lập nên
do nhận thức của mỗi người. Trước khi con người
có sự thỉnh cầu, họ phải đặt lời thỉnh cầu ấy
trên cơ sở nó có thể được chứng minh. Người Ấn
Độ thừa nhận rằng nếu có người muốn phản bác
đối thủ với một quan điểm mới, trước tiên họ
phải tìm ra một nhận thức chung làm nền tảng cho cuộc
tranh luận. Không như vậy, sẽ không có cuộc tranh luận
đầy ý nghĩa diễn ra.
Vì
bản thể luận (prameya) của mỗi người tùy thuộc vào
nhận thức luận của họ cho phép, nên nhiều trường
phái triết học Ấn Độ cố gắng gom mọi thứ vào
danh sách những phương tiện tri thức giá trị để tạo
thuận tiện cho tuyên bố của trường phái mình. Chẳng
hạn Ấn Độ giáo, cho kinh điển của họ là phương tiện
giá trị của tri thức; nhưng các trường phái khác, như
Phật giáo và Kỳ Na giáo, lại từ chối uy thế kinh
điển của đạo Hindu. Thế nên nếu một tín đồ đạo
Hindu tranh luận về đạo Phật hay Kỳ Na giáo, thì họ
không thể cầu khẩn uy lực từ kinh điển đạo Hindu,
mà họ phải tìm kiếm một nhận thức luận chung làm
cơ sở. Đối với Phật giáo thì có thể dùng nhận
thức và suy luận, còn trong trường hợp tín đồ Kỳ
Na giáo, thì chỉ dùng suy luận. Tất cả mọi trường
phái ngoại trừ Kỳ Na giáo đều chấp nhận nhận thức
là một phương tiện của tri thức, có nghĩa tri giác
là cần thiết (nếu nó có phẩm tính không mê muội,
không ảo tưởng, v.v...). Đó là những cái gì hiện thời
không được thấy nhưng trên nguyên tắc cái thấy có
thể nhận biết được qua suy luận. Dù không thật sự
thấy được lửa, nhưng người ta biết chắc có lửa
trên đồi khi thấy khói ở vị trí đó, vì lửa và
khói đều là những thực thể có thể thấy được
trên nguyên tắc, và một vật được thấy cần phải
có tương quan hiện hữu giữa khói và lửa, nghĩa là
nơi nào có khói thì đó có lửa. Lẽ nào khi một người
ở sát gần với lửa, mà họ lại không chắc chắn
thấy được lửa. Người ta không thể nào có suy luận
hợp lý về cái mà không thể nào nhận thức được,
chẳng hạn như con kỳ lân,30 vì không có mối tương
quan thiết yếu để thấy được, thế nên người ta
không thể suy luận ra có một con kỳ lân trên đồi. Khả
năng nhận thức, do vậy, là thành phần không thể thiếu
được của cả nhận thức lẫn suy luận, và vì thế,
đối với Phật giáo, đều thuộc về nhận thức đúng
đắn. Để được xem là 'thực' (dravya) theo tiêu chuẩn
của Luận lý học Phật giáo, một vật phải biểu lộ
ra một tác dụng có thể thấy được. Các trường
phái Phật giáo tranh luận với nhau về vật thể hiện
hữu thật sự hay không khi nó biểu hiện ra cái tác
dụng có thể thấy được nầy (quan điểm của Kinh lượng
bộ – Sautrāntika), hoặc là có thể xem là hiện hữu
thật sự nếu nó biểu hiện ra tác dụng có thể thấy
được nầy vào một khoảnh khắc nào đó trong quá
trình tồn tại của nó (quan điểm của Nhất thiết hữu
bộ31 ). Nhưng tất cả đều đồng ý rằng một vật
phải có hiệu quả của kiến duyên (kāraṇa) để có
thể được coi là có thật. Điều nầy giúp giải thích
điểm trọng tâm của ý và thức cho lý thuyết Du-già
hành tông.
Trường
phái Nhân minh Luận lý học của Du-già hành tông vạch ra
một sự phân biệt rõ nét giữa nhận thức và suy
luận. Nhận thức có liên quan đến tri giác duy nhất,
tạm thời, những chi tiết trừu tượng. Suy luận thuộc
về ngôn ngữ, thế giới của ý niệm, vì ngôn từ
chỉ có nghĩa và truyền thông được trong chừng mực
nó chỉ định rõ và góp phần vào thành phần phổ
cập cùng được chia xẻ và hiểu được bởi người
sử dụng ngôn ngữ. Sự suy luận đúng hay sai tùy theo
mức độ chính xác hay nhầm lẫn tương ứng với phần
tri giác. Nhưng dù khi ngôn ngữ chân xác, thì nó vẫn
chân xác chỉ trong sự tương quan với cảm giác mà nó
tương ứng. Ngược lại, tri giác (và chỉ có tri giác)
thì vượt qua ngôn ngữ. Tri giác không bị che phủ bởi
ngôn ngữ hoặc sự khẳng định mang tính lý thuyết (samāropa)
là nhận thức đúng đắn và chính xác, là không phỏng
chừng, là chân thật (paramārtha). Trong khi điều nầy như
thể có liên quan với những tuyên bố siêu hình về
những phạm trù như chất tử và vũ trụ, cảm giác
và ngôn ngữ, nhưng thực ra đó là một yêu cầu chúng
ta nên nhận thức sự vật như chúng đang hiện hữu
mà không áp đặt bất kỳ một khẳng định siêu hình
hay một cơ cấu nhận thức nào khác. Chính kinh nghiệm
và tri thức, chứ không phải siêu hình, đang bị lâm nguy.
Vấn đề là vượt lên trên sư ̣miêu tả, không vì nhận
thức là cái gì đó không thể tiết lộ, nó ở bên
ngoài hay phía sau kinh nghiệm của con người, mà vì nó
là cảm giác rất thô trong kinh nghiệm của con người
mà thực tại tạm thời đơn nhất của nó không thể
giảm đi tính phổ quát, tính vĩnh cữu của ngôn ngữ
hoặc là của ý niệm. Để lý giải luận điểm nầy
như là môn siêu hình học đặc thù thì vẫn còn bị
mắc trong bẫy định thức khái niệm, và do vậy nên
đánh mất tiêu điểm của nó.
Môn
nhận thức luận liên quan rất rộng rãi đến triết
học Ấn Độ, điều nầy đặc biệt đúng với triết
học Phật giáo. Nhiều kinh luận Phật giáo khẳng định
rằng dù có tri thức cao cũng chẳng làm gì được
với bản thể học, rằng chú tâm vào phạm trù hiện
hữu hay không hiện hữu (asti-nāsti, bhāvābhāva) của vật
thể là một hành vi mê lầm. Điển hình là họ hoán
chuyển những đề mục quan trọng – như tính Không và
Niết-bàn – từ cái nhìn bản thể học, bằng cách
tuyên bố rõ ràng đây chẳng có gì để làm với hiện
hữu hoặc không hiện hữu, với có hoặc không; và
họ còn cảnh báo thêm rằng đây không phải là sự phóng
túng tưởng tượng về một cảm quan cao hơn về tồn
tại hoặc hiện hữu thành những đề mục như thế
để rồi bị đồng nhất vào hoặc bị phủ nhận. Mục
tiêu của đạo Phật không phải mong lập nên cấu trúc
về một bản thể học hoàn chỉnh hơn. Thay vì vậy,
mục tiêu chủ yếu của đạo Phật luôn luôn là chuyển
hóa vô minh. Vì thế, nên người Phật tử thường dừng
lại sự suy đoán về bản thể học và siêu hình (tarka),
cho nó là vô ích hoặc nguy hiểm. Nhận thức chân chính
(Thánh trí; s: samyag-jñāna) khi nào cũng được tán dương.
Ngay cả những nhà Trung quán, vốn đặt vấn đề tính
khả thi khá nhiều về Nhận thức luận Phật giáo,
cũng khẳng định rằng chúng ta phải biết đâu là những
sai lầm và hiệu chỉnh liền ngay phương pháp nhận thức.
Nói rõ ra, Phật giáo quan tâm đến cái thấy (seeing),
chớ không phải cái hiện hữu (beeing); có nghĩa là quan
tâm đến nhận thức học hơn là bản thể học.
Đáng
chú ý là không một kinh văn nào của Du-già hành tông
Ấn Độ nào mà không từng tuyên bố rằng thế giới
được tạo ra bởi tâm. Họ tuyên bố vậy vì chúng ta
nhầm lẫn phóng ảnh cái hiểu của mình về thế giới
vì chính thế giới, nghĩa là đem cấu trúc tinh thần
của mình làm thế giới. Thuật ngữ về lĩnh vực nầy
cũng nhiều như sự phân tích về nó: kalpanā (phân biệt),
parikalpa và parikalpita (biến kế, biến kế sở chấp),
abhūta-parikalpa ( tạp – tưởng tượng một vật ở một
nơi mà nó không hiện hữu), prapañca (hí luận)... chỉ
xin đề cập chừng đó thôi. Nhận thức đúng đắn
(Thánh trí) được định nghĩa là sự chuyển hóa mọi
chướng ngại ngăn che khiến ta không nhận ra lý nhân duyên
sinh theo đúng như thực (yathā-bhūtam). Đối với Du-già
hành tông, những nhân duyên nầy là có thể nhận thức
được, không phải là siêu hình; nó là những tướng
trạng tâm ý thức mà qua đó, cảm giác và tư tưởng
biểu hiện, chứ không phải mưu toan siêu hình của một
Đấng sáng tạo hoặc của một thực thể bất khả tri.
Điều nhận biết được qua nhận thức chân chính, nói
chính xác là chân như –tathatā, mà Đức Phật thường
chỉ ra ngay không cần qua trung gian. Nay chỉ cần gọi bằng
một từ là duy thức–prajñapti-mātra.
Tiếp
cận Triết học Du-già hành tông.
Điều
chính yếu khi khó hiểu về Du-già hành tông là sự chú
ý của tông nầy về những vấn đề tri giác và nhận
thức là sự phù hợp với tư tưởng căn bản của Phật
giáo, và sự chú ý nầy có tính nhận thức luận
hơn là siêu hình. Khi một nhà Du-già hành tông nói về
'vật', là họ nói về vật thể có liên quan đến nhận
thức, chứ không phải là một thực thể siêu hình.
Vật thể được nhận thức (cảnh, cảnh giới–viṣaya)
là thật, là phần nguyên toàn của nhận thức, và do
vậy nó xuất hiện trong hoạt dụng của ý thức. Trong
khi xác quyết cảnh – viṣaya –như là phần nguyên toàn
của nhận thức, thì nó chối từ mọi cảnh – artha
(ý muốn nói theo hướng có chủ tâm; nghĩa là một
vật thể có trong dự tính) hiện hữu bên ngoài hoạt
dụng của ý thức mà trong đó, vật thể được trù
tính. Vật thể được trù tính chỉ xuất hiện trong
tác ý có dự định, nghĩa là ý thức. Nói cách khác,
Du-già hành tông không tuyên bố rằng chẳng có vật nào
hiện hữu ngoài tâm. Trước hết, đối với Du-già hành
tông, không có cái tâm bao quát chung chung; mà mỗi tâm thức
cá nhân đều riêng biệt. Giáo lý Du-già hành tông không
phải là thuyết đơn tử như kiểu Leibnitzian. Thứ hai,
cảnh –artha – không phải chỉ biểu thị một vật 'trung
tính', đúng hơn là nhắm đến một tác ý dự tính
của tâm thức. Tiêu điểm của dự tính– dự tính là
một dạng của ham muốn– là nguyên thể cùng với thức,
và, như một tiêu điểm, nó không bao giờ xuất hiện
nơi đâu khác hơn là trong tác ý dự tính của tâm thức
như thế. Trong Du-già hành tông, vật thể được nhận
thức (viṣaya) và vật thể dự tính (artha) đều hiện
hữu, nhưng chỉ trong phạm vi tác ý của tâm thức mà
nó được cấu thành.
Cao
hơn là sự cống hiến cho bản thể học, những nhà
Du-già hành tông nỗ lực khám phá và giải trừ hữu
lậu và tùy miên (āśrava, anuśaya) đang thúc ép con người
sinh khởi và dính mắc vào cấu trúc lý thuyết bản
thể học. Do vậy, theo Du-già hành tông, tất cả bản thể
học đều là cấu trúc nhận thức luận. Để hiểu
hoạt dụng sự nhận thức là phải biết tại sao và thế
nào mà con người lại dựng lên bản thể luận để
họ bám vào. Chấp dính vào bản thể luận là một
triệu chứng phóng ảnh nhận thức (pratibimba), là biến
kế sở chấp (parikalpita). Khảo sát kỹ kinh văn Du-già
hành tông mới thấy tông nầy không hề tuyên bố về bản
thể học, ngoại trừ yêu cầu xác định về giá trị
của bản thể học. Lý do họ im lặng về bản thể học,
có lẽ là muốn đưa ra một dạng siêu hình, dạng sẽ
tương ưng với kiến giải của những người, do xu hướng
của họ, sẽ phóng ý tưởng vào những gì thật sự
mình muốn, vậy nên họ giải trừ khỏi sự mô tả lý
thuyết giả định về thực tại. Giản hóa về phóng
ảnh ấy là vấn đề và triệu chứng của hầu hết
mọi khuynh hướng gây phiền não cho chúng sinh. Đó là
những gì phương tiện của duy thức, nghĩa là nhầm
lẫn phóng ảnh của một người với cái đang chiếu
rọi. Duy thức tam thập tụng của ngài Thế Thân xác định
rằng nếu một người chấp vào phóng ảnh về ý tưởng
duy thức, thì người ấy chưa thực sự thể nhập vào
sự hiểu biết về duy thức (kệ 27).
Những
cuộc tranh luận về Du-già hành tông thường triển khai
giống như những cuộc tranh luận của các nhà duy tâm
nhận thức luận. Những cuộc tranh luận nầy đã lôi
cuốn những học giả Tây phương đầu thế kỷ 20, họ
so sánh Du-già hành tông với triết học Kant, và nhiều
học giả gần đây bắt đầu nghĩ rằng hiện tượng
luận của Husserl ngày càng gần gũi hơn. Quả thực có
những tương đồng rất thú vị, chẳng hạn sự mô tả
của Husserl về tri giác thuần lý tính và một bên là
cơ cấu nhận thức,32 và mặt kia là với sự phân
tích của Du-già hành tông về năng thủ và sở thủ (grāhaka
/grāhya). Nhưng cũng có nhiều điểm khác biệt quan trọng
giữa các triết gia phương Tây và các nhà Du-già hành
tông. Ba điểm chủ yếu là:
1.-
Kant và Husserl xem nhẹ ý niệm nhân quả, trong khi Du-già
hành tông phát triển hệ thống lý thuyết nhân quả phức
tạp nầy và coi đó là vấn đề quan trọng nhất.
2.-Trong
triết học phương Tây, không thấy có điểm tương đồng
với nghiệp và giác ngộ, trong khi đây là những lý
do tồn tại chủ yếu của tất cả mọi giáo lý cũng
như pháp thực hành của Du-già hành tông.
3.-
Cuối cùng, triết học phương Tây được phác họa để
đáp
ứng tối đa khả năng thâm nhập vào thế giới bản
thể (tối thiểu là đủ để nhận thức được sự
hiện hữu thế giới ấy), trong khi Du-già hành tông thì
phê phán động cơ nầy trong tất cả mọi biểu hiện
của nó.
3.-
NGHIỆP,
VẬT THỂ, VÀ NHẬN THỨC CHỦ QUAN.
Điể̉m
then chốt của giáo lý Du-già hành tông nằm trong ý niệm
về nghiệp đã được kế thừa và lý giải một cách
rất chính xác. Phật giáo nhắm vào sự hàng phục vô
minh và đau khổ thông qua việc chuyển hóa các nghiệp
duyên; nên trong Phật pháp, theo biện luận chặt chẽ của
các nhà Du-già hành tông, chỉ quan tâm đến sự phân tích
và hiệu chỉnh bất kỳ điều gì rơi vào trong lĩnh
vực nhận thức. Do vì những vấn đề về thực tại
tuyệt đối về những gì không-nhận-thức được đều
không thích đáng cho việc chuyển hóa nghiệp. Lại nữa,
các nhà Du-già hành tông nhấn mạnh vào các phạm trù
như sắc (rūpa) là những phạm trù nhận thức. Vật
chất (sắc) là để gọi màu sắc, dáng dấp, âm thanh,
v.v.. mà chúng ta cảm nhận được qua tri giác, và sắc
ấy chỉ là mức độ mà nó được nắm bắt một
cách duy ý chí qua kinh nghiệm, qua nhận thức. Do đó
khi trở thành đối tượng của kiến chấp, thì sắc
liền có biểu tượng của nghiệp. Hành vi cố ý cũng
có động cơ luân lý và kết quả của nó. Vì kết
quả được định hình do từ nguyên nhân của sự việc,
nên một hành động với tâm thiện lành sẽ có khuynh
hướng gặt lấy những kết quả tốt đẹp, trong khi
những ác ý thường làm nẩy sinh những kết quả không
tốt đẹp.
Đối
nghịch với nhận thức về chiều hướng của nghiệp,
Phật giáo xem sắc chất (s: rūpa) là nghiệp trung tính.
Vấn đề của sắc chẳng phải là chất liệu của chúng,
mà là tâm lý chấp thủ (s: upādāna) – ham muốn, tham
lam, chấp giữ, dính mắc– đã tràn vào quấy phá
ý tưởng và nhận thức của chúng ta về sắc. Chẳng
phải là chất vàng đưa đến rắc rối, đúng ra ý
tưởng về giá trị của vàng và thái độ, hành xử
mà chúng ta nhìn về nó như là kết quả của ý tưởng
nầy. Những ý tưởng nầy đều có được thông qua
những kinh nghiệm đã có từ trước. Bằng vào lập
lại sự phơi bày những ý tưởng và nhận thức nào
đó mà con người có điều kiện đáp ứng thường
xuyên theo một phong cách giống nhau cho một hoàn cảnh
giống nhau. Cuối cùng, những thói quen nầy được thể
hiện và trở thành phản xạ và giả định. Đối với
Phật giáo, tiến trình từ các điều kiện trở thành
biểu hiện nầy (hành; s: saṃskāra) không phải bị hạn
chế trong chỉ một đời, mà tích lũy qua rất nhiều
đời. Luân hồi (s: saṃsāra) là nghiệp thông qua sự tái
diễn nầy, là sự tái hiện những thói quen biểu hiện
từ nhận thức trong sắc thân mới và trong cuộc sống
mới.
Vì
mọi Phật tử đều theo sự tính toán cảm tính đơn
thuần nầy: thích lưu giữ hay lặp lại những cảm giác
vui thích. Những cảm giác đau khổ thì chúng ta muốn
cắt đứt và tránh xa. Vui sướng hay đau khổ, thưởng
hay phạt, tán thành hay chê bai v.v.., đều tùy thuộc vào
mình. Tập khí của chúng ta (s: vāsanā) được cấu thành
theo cách nầy. Vì tất cả đều vô thường, nên cảm
giác vui thích không thể tồn tạì hay lặp lại thường
xuyên, cảm giác đau khổ (như bệnh và chết) không thể
tránh né hoài được. Sự bất hòa giữa kinh nghiệm
thực chứng về vô thường của chúng ta với ao ước
về những ham muốn thường hằng bất tận càng lớn
bao nhiêu thì đau khổ của chúng ta càng lớn bấy nhiêu,
và khuynh hướng (s: anuśaya) phóng chiếu ham muốn của
chúng ta vào thế giới như sự đền bù càng lớn hơn.
Mặc dù chẳng có gì là thường, nhưng chúng ta hay tưởng
tượng đến những thực thể thường hằng – từ
Thượng đế đến linh hồn, đến bản thể – trong một
nỗ lực để thoát khỏi phải đối diện với sự
kiện là không có ai trong chúng ta có một tự thể thường
hằng cả. Hãy nghĩ rằng nếu chúng ta có thể chứng
minh một điều gì đó là thường, bất cứ điều
gì, thì chúng ta cũng có cơ hội được thường hằng.
Mối băn khoăn về quan niệm không có một tự thể,
về nhận thức và những trò tinh quái của nghiệp phát
sinh đã được Du-già hành tông định danh, gồm sở tri
chướng (s: jñeyāvaraṇa), nghĩa là tự ám ảnh ngăn chúng
ta nhận ra vạn vật như chúng đang là và tạp (s: abhūta-parikalpa),
nghĩa là tưởng tượng ra điều gì đó – gọi là
thường hoặc bản ngã – hiện hữu ở một nơi mà
nó không có.
Các
trường phái Phật học trước đây – đáng kể nhất
là Kinh lượng bộ,33 mà cũng là trường phái A-tì-đạt-ma
– đã phát triển một từ mang tính ẩn dụ tinh vi để
mô tả và phân tích nhân duyên của nghiệp qua thuật ngữ
chủng tử34. Như một thân cây lớn mạnh nhờ phần
rễ cắm sâu trong lòng đất không thấy được, nghiệp
đã trải qua trước đây cũng đang ray rứt tiềm ẩn
trong tâm; tập nghiệp (e: karmic habits), cũng như thân cây
mọc từ mặt đất khi được nuôi dưỡng bằng những
tố chất riêng, với quy luật nhân duyên, nó lại tự
lên tiếng như những cảm nghiệm mới; như cây đến thời
kết trái, sinh ra những hạt giống mới rồi được
gieo trở lại vào lòng đất, mọc thành rễ và lại
bắt đầu trưởng thành một giống cây tương tự, các
hành nghiệp tạo ra những quả lành hoặc quả dữ để
sau nầy trở thành những hạt giống thiện hay ác, cùng
loại
với hành động hay ý thức khi tạo ra nghiệp. Như cây
chỉ sinh ra một chủng loại như nó, hành nghiệp cũng
tạo ra kết quả thiện hoặc ác theo sau loại nghiệp nó
tạo. Chu kỳ nầy được đáp ứng như một ẩn dụ cho
tiến trình của điều kiện nhận thức cũng như vòng
luân hồi sinh tử (s: saṃsāra). Vì Du-già hành tông công
nhận tính tạm thời trong giáo lý Phật giáo nên các
hạt giống được xem là chỉ kéo dài trong khoảng thời
gian chúng trở thành cái nhân cho một hạt giống đồng
loại kế tục nó. Hạt giống nhất thời được nối
tiếp theo quan hệ nhân quả trong chuỗi xích tương tục,
mỗi hạt giống nhất thời là một mắc xích trong dòng
chuỗi nhân quả của nghiệp.
Các
hạt giống được chia làm hai loại: tốt và xấu. Hạt
giống xấu thì sẽ nhận lấy những tập quán nhận
thức làm chướng ngại tiến trình giác ngộ. Hạt giống
tốt – còn được gọi là "thanh tịnh", "không nhiễm
ô" sẽ làm sinh trưởng nhiều hạt giống thanh tịnh khác
nữa, sẽ đưa đến gần sự giác ngộ hơn. Nói tóm
lại, Du-già hành tông phân biệt nội chủng tử (tùy thuộc
vào cá nhân) và ngoại chủng tử (tùy thuộc vào những
yếu tố khác). Chủng tử của một người có thể
điều chỉnh hay ảnh hưởng qua sự giao tiếp với các
ngoại duyên (ngoại chủng tử), mà có thể được lợi
ích hoặc bất lợi. Giao tiếp với những duyên ô nhiễm
làm tăng trưởng chủng tử bất thiện, trong khi tiếp
xúc với những duyên "thanh tịnh", như nghe giảng dạy chính
pháp (s: saddharma), có thể khiến chủng tử thiện tăng
trưởng, nhờ vậy chủng tử xấu được giảm trừ
và nhổ sạch gốc rễ dần.
Một
ẩn dụ khác về trạng thái của nghiệp song hành với
ẩn dụ chủng tử là huân tập (s: vāsanā). Một tấm
vải được ướp hương sẽ có mùi thơm. Tương tự, con
người bị điều kiện hóa theo tinh thần và sinh hoạt
mà họ trải qua. Điều kiện nầy tạo ra tập nghiệp.
Nhưng như mùi hương có thể được tẩy sạch khỏi tấm
vải, thế nên hoàn cảnh của con người cũng có thể
được thanh tịnh hóa bằng sự huân tập thói quen. Tiêu
biểu có ba loại huân tập được đề cập:
1.-
Danh ngôn tập khí: là thói quen về ngôn ngữ và nhận
thức.
2.-Ngã
chấp tập khí (s: ātma-grāha): tin có ngã và những gì
thuộc về cái ngã ấy.
3.-
Hữu chi tập khí (s: bhāvāṅga-vāsanā), nghĩa là nghiệp
quả lâu dài được huân tập từ những tạo tác nghiệp
đặc biệt (từ nhân trong ba cõi).
Văn
học Du-già hành tông tranh luận nhiều về sự liên quan
giữa chủng tử và huân tập. Một số tác giả cho rằng
chủng tử và huân tập thực chất là hai thuật ngữ
cho một vấn đề, đó là tập nghiệp. Các tác giả
khác cho rằng, chủng tử chỉ là kết quả của huân tập,
nghĩa là tất cả mọi nhân duyên đều có được qua
kinh nghiệm. Còn những người khác cho rằng "hạt giống"
có liên quan đến chuỗi điều kiện tạo ra tập khí
mà người ta đã có được (dù có trong đời nầy,
trong đời trước, hay cả từ 'vô thủy') trong khi "huân
tập" chỉ rõ kinh nghiệm con người trải qua có thay đổi
hay ảnh hưởng đến sự phát triển hạt giống của
một người. "Vô thủy" có thể được hiểu như một
hệ luận trong thuật ngữ "siêu việt" của Husserl, nghĩa
là một nguyên nhân tương tục cấu thành một kinh nghiệm
hiện tiền của nguyên nhân căn bản còn được ẩ̉n tàng
trong chính kinh nghiệm nầy. Có người cho rằng năng lực
giác ngộ của con người tùy thuộc toàn bộ vào chủng
tử họ đã được kế thừa; huân tập chỉ đóng vai
trò xúc tác mà không thể cung ứng chủng tử thiện
nếu như nó không kế thừa chúng. Thành phần tuyệt
đối từ chối chủng tử thiện được gọi là nhất-xiển-đề35
; hạng người nầy không bao giờ giác ngộ được. Một
số nhà Phật giáo Đại thừa khác nhận thấy điều
nầy trái với châm ngôn cứu độ tất cả muôn loài
của mình, nên chống lại thuyết nhất-xiển-đề.
Nghiệp
do căn nguyên là khổ (s: duḥkha) đó là tham dục biểu
hiện qua hành động (thân), lời nói và tâm ý. Do vậy,
Du-già hành tông tập trung vào nhận thức và tâm hành
trong mối tương quan với ý định của chúng, nghĩa là
quá trình hoạt động của thức, vì vấn đề nằm ở
chỗ nầy. Phật giáo luôn luôn nhận diện vô minh và
tham dục như là nguyên nhân chủ yếu gây nên đau khổ và
luân hồi. Các nhà Du-già hành tông vạch ra các hoạt dụng
của tâm thức là để khiển trừ nó. Vì khiển trừ
dạng tâm thức nầy cũng chính là sự tạo tác của
tâm, nó rốt ráo cũng phải được loại trừ trong tiến
trình chuyển hóa, nhưng giá trị của việc trị liệu
là phải được đáp ứng để mang đến giác ngộ.
Quan niệm lợi lạc nhất thời của Phật giáo có thể
được tìm thấy ở chính cuộc đời Đức Phật. Các
nhà Du-già hành tông cho rằng giác ngộ là kết quả của
sự chuyển y,36 nghĩa là chuyển hóa mọi nếp nghĩ
và tưởng tượng vốn đóng vai trò như là căn bản
nhận thức của chúng ta. Đây gọi là chuyển thức (s:
vi-jñāna, e: dis-cernment) thành trí (s: jñāna; e: direct knowing).
Tiếp đầu ngữ vi- tương đương tiếp đầu ngữ dis –
trong Anh ngữ như dis-criminate, dis-tinguish, dis-engage, dis-connect
– có nghĩa là chia hai nhánh hoặc tách rời ra. Trí
(e: Direct knowing) được định nghĩa là trực giác không
có sự can dự của ý thức (s: nirvikalpa-jñāna; c: vô phân
biệt trí), nghĩa là sự hiểu biết mà không bị bao
phủ bởi các sự diễn dịch.
Vấn
đề sắc chất rất quan trọng để nhận ra lý do tại
sao Du-già hành tông không phải là duy tâm siêu hình. Các
nhà Du-già hành tông đã đề cập đến sắc chất trong
các phân tích của họ. Họ tiếp cận với sắc chất
cũng như nó đã được phát sinh từ trong tiền đề
Phật pháp. Kinh văn Phật giáo thường xuyên thay thế
thuật ngữ xúc (e: sensory contact; p: phassa; s: sparśa) bằng
thuật ngữ sắc chất (e: materiality). Sự thay thế nầy
nhắc nhở chúng ta rằng sắc chất thuộc về cảm giác,
nghĩa là chúng được nhận biết thông qua cảm giác
của chúng ta khi tiếp xúc với chúng. Ngay cả các kinh
văn Nguyên thủy cũng giải thích bốn yếu tố vật chất
cơ bản (tứ đại; s: mahābhūta) là những đặc tính cảm
giác như thô rít, ẩm ướt, nóng, và di động; đặc
tính tương đương là đất, nước, lửa, gió được
gọi một cách trừu tượng.
Thay
vì tập trung vào sự kiện hiện hữu của sắc chất,
người ta lại quan sát một vật thể được nhận thức,
cảm nhận, tri giác về nó như thế nào. Du-già hành tông
không bao giờ từ chối những đối tượng tri giác (viṣaya:
cảnh, trần; artha: trần; ālambana: cảnh, sở duyên, duyên),
nhưng họ khước từ tạo ra mọi ý hướng nói về đối
tượng nhận thức hiện hành bên ngoài hoạt động của
ý thức.
Cho
rằng sự hiện hành như thế chính nó là một hành
động nhận thức. Những nhà Du-già hành tông quan tâm
đến việc tại sao chúng ta bị ràng buộc vào sự tưởng
tượng như thế.
Mọi
điều ta hiểu, biết, tưởng tượng, hoặc là ta nhận
thấy, ta biết thông qua nhận thức, kể cả những ý
niệm mà thực thể tồn tại độc lập đối với
nhận thức của chúng ta. Tâm không làm nên thế giới
vật chất, nhưng từ tâm xuất sinh những phạm trù được
trình hiện qua sự nhận biết và phân loại thế giới
hiện tượng, và tâm làm việc nầy một cách tròn
trịa đến nỗi chúng ta nhầm lẫn cái hiểu của chúng
ta về chính thế giới. Những cái hiểu nầy, là phóng
ảnh từ lòng tham và tính nôn nóng của chúng ta, nó
trở thành những chướng ngại (s: āvaraṇa37 ) ngăn chúng
ta thấy được thực thể của chúng. Nói đơn giản là
chúng ta bị che mờ bởi tính vị kỷ, tư kiến (có nghĩa
là định kiến) và tham muốn của chúng ta. Nhận thức
mê muội là một hành động tương tự. Du-già hành tông
không nói về chủ thể và khách thể,38 thay vì vậy,
họ phân tích nhận thức qua thuật ngữ người chấp
thủ (e: graspers; s: grāhaka) và đối tượng được chấp
thủ (e: grasped s: grāhya).
Đôi
khi Du-già hành tông có tư tưởng gần giống như duy tâm
nhận thức luận. Chủ trương đánh giá cao về thức
của Du-già hành tông được gọi là Duy thức (s: vijñapti-mātra,
e: nothing but conscious construction). Một mẹo lừa phỉnh được
hình thành trong cách thể hiện của thức vào mọi thời
điểm. Thức phóng chiếu và cấu trúc một đối tượng
nhận thức theo cách mà nó tự từ chối sự sáng
tạo của nó – giả vờ cho rằng vật vừa tạo dựng
ấy là "ngoài tâm"– để đáp lại rằng vật kia có
khả năng tồn tại tương ứng. Ngay cả khi những gì chúng
ta nhận thức đang diễn ra trong tiến trình nhận thức,
thì chúng ta cũng nhận ra nó như thể nó nằm ngoài
tâm thức chúng ta. Nhận thức rõ về Duy thức (s: vijñapti-mātra)
phơi bày thực chất mẹo lừa phỉnh nầy cho hoạt dụng
của thức, nhờ vậy nên giải trừ được nó. Khi sự
lừa phỉnh ấy bị quét sạch ra khỏi lối nhận thức
ấy thì không còn được gọi là thức (s: vijñāna; e:
consciousness) nữa; nó đã trở thành trí (s: jñāna; e:direct
cognition).
Thức
tiến hành trò lừa phỉnh phóng ảnh, phân ly, và thủ
đắc nầy vì quan niệm không có ngã. Theo Phật giáo,
sai lầm nguy hại sâu xa nhất mà mọi chúng sinh mắc phải
là quan niệm có một bản ngã tồn tại thường hằng,
vĩnh viễn, bất biến và độc lập. Chẳng có cái
ngã nào như vậy cả, chúng ta đã hiểu sâu sắc như
vậy. Điều nầy làm cho chúng ta lo lắng, vì rằng nó
dẫn đến việc không có bản ngã hay một cá nhân tồn
tại mãi mãi. Để làm dịu nỗi lo nầy, chúng ta nỗ
lực tạo một cái ngã, để làm lấp đầy khoảng trống
lo âu, để làm cho một điều gì đó tồn tại. Phóng
ảnh của đối tượng nhận thức để đáp ứng là
công cụ chính của thức cho công trình nầy. Nếu tôi
còn sở hữu (những thứ như ý tưởng, lý thuyết,
cá tính, vật thể...), thì tôi "hiện hữu". Nếu có
những vật thể mà tôi sở hữu vĩnh viễn, thì tôi
cũng tồn tại vĩnh viễn. Để giải trừ sự cố chấp
sai lầm trầm trọng nầy, kinh văn Du-già hành tông nói:
"Khi khiển trừ ý niệm chấp có vật, thì ý niệm
chấp có ngã cũng được trừ." (Trung Biên Phân Biệt
Luận 1:4,8).39
Các
nhà Du-già hành tông chối từ vật thể tồn tại thường
hằng theo 2 ý nghĩa:
1.-Trong
phạm vi kinh nghiệm quy ước, họ không khước từ những
vật thể như: ghế, màu sắc, cây cối, mà đúng hơn
là họ từ chối tuyên bố rằng những vật ấy hiện
hữu ở một nơi nào khác ngoài thức. Nếu vật hiện
hữu bên ngoài tâm thức, thì đó chẳng phải là tự
nó, họ không thừa nhận như vậy.
2.-Trong
khi những vật như thế được thừa nhận theo thuyết
quy ước, chính xác hơn là không có tên gọi: ghế, màu
sắc, cây...Đây chỉ là ngôn ngữ và khái niệm mà chúng
ta thu thập và giải thích những cảm nhận riêng biệt
sinh khởi từng lúc trong dòng chảy của tương quan nhân
quả. Những thuật ngữ và khái niệm nầy đều là
phóng ảnh của tâm thức.
Vấn
đề không phải là đề cao tâm thức, mà cảnh báo cho
chúng ta đừng bị lừa phỉnh bởi sự đánh giá cao
nhận thức của chúng ta. Tâm giác ngộ được ví như
tấm gương lớn, phản chiếu một cách trọn vẹn, bình
đẳng tất cả mọi vật có trước gương, chẳng luyến
tiếc gì những vật đã đi qua cũng chẳng trông mong
gì những vật sẽ đến. Loại đối tượng nào làm
cho nhận thức được giác ngộ? Các nhà Du-già hành
tông từ chối cung cấp lời giải đáp ngoài tuyên bố
rằng đối tượng ấy được thanh tịnh hóa từ nghiệp
hữu lậu, vì bất kỳ mọi dạng nào mà nó trình hiện
đều chỉ có thể bị chấp thủ và làm giảm đi các
phạm trù nhận thức thông thường vốn đã ngăn chúng
ta có cái nhìn chân xác.
4.-
TÁM
THỨC
Sự
mới lạ nổi tiếng nhất của Du-già hành tông là giáo
lý về 8 thức. Phật học truyền thống đề ra 6 thức,
mỗi thức hình thành khi có sự tiếp xúc riêng biệt
giữa một giác quan và một đối tượng tương ứng
của giác quan ấy. Khi mắt (nhãn căn) tiếp xúc với
màu sắc hay vật thể, thì nhãn thức phát sinh. Khi tai
(nhĩ căn) tiếp xúc với âm thanh, thì nhĩ thức được
hình thành. Thức không tạo ra một lĩnh vực cảm giác
riêng; ngược lại, nó là ảnh hưởng từ sự tương
giao của một giác quan và một đối tượng riêng của
nó. Nếu mắt nhắm lại, dù vật có trước nó, thì
nhãn thức cũng không hình thành. Tương tự nếu tai (nhĩ
căn) không tiếp xúc với đối tượng nghe (âm thanh). Thức
sinh khởi nhờ vào cảm giác. Có tất cả 6 giác quan
(mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) tương tác với riêng
từng lĩnh vực đối tượng cảm giác ấy (thấy, nghe,
ngửi, nếm, xúc chạm, ý thức). Lưu ý rằng ý thức
là một giác quan vì chức năng của ý giống như các
giác quan khác, liên quan với hoạt động của ý căn (s:
manas), phạm vi của nó (mano-dhātu), và thức (mano-vijñāna)
là kết quả từ sự tiếp xúc của căn và trần. Mỗi
phạm vi đều riêng biệt, nghĩa là mỗi tính thấy, nghe
và của những giác quan khác đều riêng biệt. Do đó
nên người điếc thấy được, và người mù nghe được.
Vật thể cũng thế, hoàn toàn riêng biệt trong phạm
vi của nó, thức cũng giống như vậy. Nhãn thức hoàn
toàn riêng biệt đối với nhĩ thức, các thức khác
cũng như vậy. Thế nên có 6 thức riêng biệt (nhãn thức,
nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, và ý
thức). Mười tám món hợp thành từ kinh nghiệm cảm
giác- nghĩa là 6 căn với 6 trần mà nó tiếp xúc, và
kết quả là 6 thức- được gọi là 18 giới (s: dhātus).
Theo giáo lý Phật pháp căn bản thì 18 giới nầy thâu
tóm hết tất cả mọi quy mô của các pháp trong thế gian
nầy, hay nói chính xác hơn, nó thâu tóm cả bộ máy
cảm giác.
A-tì-đạt-ma
của Phật giáo Nguyên thủy tập trung vào khía cạnh tâm
ý thức của nghiệp, biến ba tầng bậc cấu thành của
tâm: ý (s: manas), đối tượng của ý (s: mano-dhātu), và
ý thức (s: mano-vijñāna) thành một hệ thống phạm trù
tinh vi. Véc-tơ tổng lực từ mọi tính trọng yếu của
nhận thức được gọi là tâm (tâm pháp). Nhận thức
của tâm về vật thể, sự xúc chạm, cảm giác, đạo
đức, tâm lý nói chung được gọi là tâm sở (s: caittas).
Tâm sở pháp (các pháp phát sinh liên hợp với tâm) được
chia làm vô số tiết mục được sắp xếp khác nhau
theo từng tông phái Phật giáo. Một số tâm pháp được
gọi là "biến hành", nghĩa là nó hợp thành từ mỗi
sự nhận biết (như: xúc, thọ, tác ý...),40 một
số khác gọi là "biệt cảnh", nghĩa là nó chỉ hiện
hành trong một giai đoạn nào đó của nhận thức thôi
chứ không thường xuyên (như: thắng giải, niệm, định...).41
Một số tâm sở thiện (tín, vô tham, vô si, khinh an, ...);
các tâm sở pháp gọi là phiền não (e: mental disturbances;
s: kleśa) là (tham, sân, si...) hoặc gọi là tùy phiền não
(phẫn, tật, siểm, vô tàm...), và một số là bất
định nghiệp (tùy miên, hối...).
Khi
tông A-tì-đạt-ma phát triển càng tinh vi, thì có những
tranh luận rất căng thẳng với các trường phái khác
về cùng một quan điểm. Đối với Du-già hành tông,
vấn đề quan trọng nhất là xoay quanh câu hỏi về thuyết
nhân quả và thức. Để tránh ý niệm có một bản
ngã thường hằng, Phật giáo cho rằng tâm chỉ hiện
hữu tạm thời, không lâu. Do vì cái tâm mới tổng hòa
thành một phạm vi nhận thức mới trong từng lúc, nên
sự tương tục hiển nhiên của các trạng thái tâm được
lý giải theo tương quan nhân quả bằng cách tuyên bố có
từng dạng tâm, vào lúc nhận thức dừng nghỉ, nó cũng
hành xử như là nguyên nhân sinh khởi của những thứ
tương tục. Điều nầy đúng cho những nhận thức tương
tục và tiến trình tư tưởng, nhưng khó phát sinh do vì
Phật giáo đồng nhất một số tình trạng trong đó
chẳng có tâm nào hiện hữu hay đang hoạt động, như
trong giấc ngủ sâu, bất tỉnh, và trong cảnh giới thiền
định đạt đến vô tâm như vô tưởng định (āsaṃjñī-samāpatti),
diệt tận định (nirodha-samāpatti). Nếu tâm tiền nghiệm
có tương tục khái niệm thời gian với người kế thừa
của nó, thì làm sao người ta có thể giải thích sự
tái khởi động của tâm sau một thời gian nhầm lẫn
từ khi tâm tiên nghiệm bị dừng nghỉ? Nơi nào có tâm
hay nguyên nhân được thường trú trong sự chuyển tiếp?
Câu hỏi tương tự là: thức tái xuất hiện từ đâu
sau giấc ngủ say? Làm thế nào mà thức bắt đầu cho
một đời sống mới? Nhiều tông phái Phật giáo khác
nhau nỗ lực trả lời câu hỏi nầy đã dẫn đến nhiều
cuộc tranh cãi gay go.
Du-già
hành tông trả lời vấn đề nầy bằng cách sắp xếp
lại cơ cấu tay ba của lĩnh vực tâm thức trong 18 giới
thành 3 dạng thức mới là: ý thức (thức thường nghiệm–
mano-vijñāna) thành thức thứ 6 (và hoạt động như căn
của thức thứ 6, mà trước đây đảm nhiệm vai trò của
thức mạt-na) ghi nhận hết mọi nội dung có trong 5 giác
quan cũng như các đối tượng của tâm thức (tư tưởng,
ý nghĩ). Mạt-na trở thành thức thứ 7, nó đánh giá
lại qua ám ảnh đầu tiên với những khía cạnh khác
nhau ý niệm về "ngã", nên được gọi là "thức nhiễm
ô" (e: defiled manas; s: kliṣṭa-manas). Thức thứ 8, A-lại-da
thức, tạng thức (s: ālaya-vijñāna; e: warehouse consciousness),
là hoàn toàn mới. Tạng̣ thức được định nghĩa theo
nhiều cách. Nó là nơi chứa tất cả hạt giống, lưu
giữ mọi kinh nghiệm khi nó "đi vào" cho đến khi bị gởi
trả lại do những kinh nghiệm mới đến, như kho chứa
mọi đồ dùng. Nó còn được gọi là dị thục thức
(s: vipāka), dị thục có nghĩa là "sự chín muồi" của
các hạt giống nghiệp. Hạt giống chín dần dần trong
kho chứa thức cho đến khi nghiệp chín muồi, đến một
điểm nào đó, chúng lại lên tiếng xác nhận nó chính
là kết quả của nghiệp. A-lại-da thức còn được gọi
là ‘căn bản thức’(e: basic consciousness; s: mūla-vijñāna),
vì nó giữ lại và triển khai các hạt giống nghiệp
có ảnh hưởng và bị ảnh hưởng bởi thức thứ 7.
Chẳng hạn khi thức thứ 6 vắng bóng (khi ngủ, hoặc
khi bất tỉnh...), thì hạt giống ở yên trong thức thứ
8, và chúng sẽ tái hiện khi nhân duyên sinh khởi hiện
hành. Thức thứ 8 là một cơ chế rất rộng để chứa
và triển khai các hạt giống mà nó duy trì trong vùng
vô thức rộng lớn. Các tâm pháp (cittas) hiện hành như
là một dòng chảy trong a-lại-da thức, nhưng nó hầu
như nhận biết được những hoạt dụng của các thức
khác, không chỉ biết riêng hạt giống của nó thôi. "Vô
minh", đối với Du-già hành tông, phần nào đó có nghĩa
là không biết những gì đang diễn ra trong chính tạng
thức của mình. Trong cảnh giới vắng bóng tâm, dòng
chảy các tâm pháp bị kềm chế, giữ lại, nhưng các
hạt giống tiếp tục sinh khởi không hề hay biết cho
đến khi nó lên tiếng đòi một dòng chảy mới của
các tâm pháp. Tạng thức hoạt động như một cơ cấu
then chốt của nghiệp, nhưng chính nó là nghiệp trung
tính (vô ký). Mỗi cá nhân có một tạng thức riêng
duy trì từ thời gian nầy đến thời gian khác, từ đời
nầy đến đời khác, tuy vậy, nó chẳng khác gì hơn
là một tập hợp của những ''hạt giống'' thường
thay đổi luôn, nó thay đổi liên tục, thế nên không có
một bản ngã thường hằng, không có một cái tâm nhận
thức được toàn pháp giới.
Giác
ngộ nghĩa là chuyển hóa trọn vẹn thức thứ 8, thay
thế nó bằng năng lực nhận biết sáng suốt, gọi là
trí (s: jñāna). Chuyển 5 thức thành Thành sở tác trí
(kṛtyānuṣṭhāna-jñāna). Thức thứ 6 trở thành Diệu
quan sát trí (pratyavekṣaṇa-jñāna), trong đó, mọi tính
chất chung và riêng của pháp giới đều được nhận
biết rõ ràng. Trí này được gọi là Vô phân biệt
trí (nirvikalpa-jñāna). Mạt-na thức trở thành Bình đẳng
tánh trí (e: immediate cognition of equality; s: samatā-jñāna),
bình đẳng giữa ngã và các pháp khác. Khi tạng̣ thức
được chuyển hóa rốt ráo và thay bằng Đại viên cảnh
trí (e: great mirror cognition; s: mahādarśa-jñāna), thấy và
biết vạn pháp như chúng đang là, bình đẳng, không ngăn
ngại, không thiên kiến, không cố chấp, không xuyên tạc.
Tương quan năng thủ – sở thủ đã dứt sạch. Nên lưu
ý rằng những tâm thức "thanh tịnh" nầy đều hấp thu
vào pháp giới ngay và đây là phương pháp hữu hiệu
để giải trừ tư kiến, định kiến và chướng ngại
trước đây đã ngăn cản con người có được nhận
thức siêu việt những đánh giá cao về thức của riêng
mình. Khi thức được chuyển hóa rồi, thì chính kiến
bắt đầu hiển bày.
Một
sự đổi mới khác của Du-già hành tông là dạng đặc
thù của tri thức lưu hiện và phát triển sau khi giác
ngộ. Tri thức có được sau khi giác ngộ gọi là Hậu
đắc trí (pṛṣṭhalabdha-jñāna), và nó liên quan với
lý do tại sao người ta nhận thức được pháp giới
như thực (s: yathā-bhūtam; e: actually become) và bây giờ dấn
thân vào pháp giới để giúp cho mọi loại hữu tình
chuyển hóa đau khổ và vô minh.
5.
TAM
TÍNH
Thuyết
tam tính (tri-svabhāva), được giải thích rất nhiều trong
các kinh văn Du-già hành tông gồm có Tam vô tính luận
thích (Trisvabhāva-nirdeśa-śāstra) của Thế Thân, xác nhận
rằng có ba "tính" hay lĩnh vực nhận thức trong phạm
vi hoạt dụng.
1.-
Tính biến kế sở chấp (s: parikalpita-svabhāva): dùng ý
thức hư vọng, không thực, đặc biệt về một "bản
ngã" thường hằng để nhận thức bất cứ mọi điều,
gồm cả chính mình.
2.-
Tính y tha khởi (paratantra-svabhāva), khi nhầm lẫn do tính
biến kế sở chấp, thường dẫn người ta đến sự
lầm lẫn về hiện tượng vô thường trong dòng chảy
nhân duyên của những thực thể cố định thường hằng.
Những vọng tưởng hư giả nầy có thể thanh tịnh bởi:
3.-
Tính viên thành thật (pariniṣpanna-svabhāva), như ý niệm
về Tính không của Trung quán tông đã lập cước, nó
hoạt động như một sự đối trị (pratipakṣa) để làm
"thanh tịnh" hay quét sạch mọi cấu trúc hư vọng ra khỏi
lĩnh vực quan hệ nhân quả.
Tính
biến kế sở chấp là lĩnh vực thiên kiến sai lầm
chủ yếu mà chúng ta thường mắc phải, đầy ắp những
phóng ảnh mà chúng ta đã thu thập, cư xử và thể
hiện. Y tha khởi (paratantra) nghĩa là "sinh khởi tùy thuộc
vào các nhân duyên khác" nhấn mạnh rằng các pháp sinh
khởi tùy thuộc vào những thứ khác hơn là do chính
nó (nghĩa là không có tự thể– self-existence). Viên thành
thật tính biểu thị cho sự vắng bóng hữu thể tính42
(độc lập, hiện hữu, thể tính thường hằng) của
các pháp.
Khi
Y tha khởi tính được chuyển hóa sạch mọi nhiễm ô
rồi thì trở thành ‘giác ngộ’. Tam tính này lúc
ấy được gọi là Tam vô tính (e: non-self-natures), vì nó
không phải là một thể dạng nhất định, chân thực,
thường hằng và thế nên nó không thực thể. Thứ
nhất (tướng vô tính), xác định tướng của vật thể
là giả danh, không thực có. Thứ ba (thắng nghĩa vô tính)
là khẳng định rốt ráo tính ‘không’ của tự thể;
và thứ hai (sinh vô tính - rốt ráo chỉ là "thực" thể)
là tính bất định vì nó có thể hòa hợp với một
hoặc cả hai tính kia. Hiểu được tính thanh tịnh thứ
hai là như hiểu được lý nhân duyên sinh (e: dependent origination;
s: pratītya-samutpāda), được các tông phái Phật giáo đều
công nhận như là tinh yếu của giáo lý. Đó là điều
Đức Phật đã chứng ngộ dưới cây bồ-đề.
6.-
NGŨ
VỊ (DUY THỨC TU ĐẠO NGŨ VỊ)
Kinh
văn Du-già hành tông rất đồ sộ đến nỗi người ta
không khỏi ngạc nhiên khi thấy có nhiều nỗ lực của
tông nầy nhằm cung ứng những hệ thống tinh vi cho những
cuộc tranh luận với các tông khác. Vì chính nó là
một tông phái tự đánh giá mình mang tính học giả truyền
thống, nên hiếm thấy những kinh văn Du-già hành tông thảo
luận và phê phán lập trường của chính tông phái mình
cũng như các tông phái đối lập trước đây. Quan niệm
của Du-già hành tông về các giai vị tu đạo đều trái
ngược nhau. Thập địa kinh luận (Daśabhūmika-sūtra-śāstra),
một luận giải được xem là của Thế Thân về Kinh
Thập địa (e: Ten Stages Scripture; s: Daśabhūmika-sūtra), mô
tả tiến trình của Bồ-tát đạo theo tinh thần giải
thoát của Đại thừa thành 10 giai vị, thầm hợp với
hệ thống Thập trí.43 Du già sư địa luận của
Vô Trước trình bày hệ thống 17 giai vị. Có những
hệ thống khác như Tu đạo ngũ vị, cung cấp cho ta cái
nhìn tổng quát hữu ích về những hệ thống khác.
Chúng ta sẽ tổng hợp vắn tắt Duy thức tu đạo ngũ
vị theo Thành duy thức luận của ngài Huyền Trang.44
Giai vị thứ nhất gọi là Tư lương vị (e: provisioning;
s: sambhārāvasthā), vì đây là giai đoạn hành giả thu thập
và dự trữ lương thực cho cuộc hành trình. Tư lương
nầy chủ yếu cần cho định hướng việc tu đạo và
phát triển cá tính, phong cách và sự chuyển hóa để
thành tựu đạo vị. Giai vị nầy khởi đầu từ giây
phút phát bồ đề tâm (aspiration for enlightenment arises; s:
bodhicitta). Tiếp theo là Gia hạnh vị (e: experimental" stage;
s: prayogāvasthā), nơi đây hành giả bắt đầu thể nghiệm
và thực hành giáo lý Phật pháp chân chính, biết việc
gì nên làm, việc gì không làm; biết điều gì chân
chính và điều gì không, hành giả bắt đầu chuyển
hóa mối ràng buộc năng thủ-sở thủ và bắt đầu
nghiên cứu tường tận mối quan hệ giữa các pháp,
ngôn ngữ, và nhận thức.
Sau
khi miệt mài trong tu tập, cuối cùng hành giả đi vào
giai vị thứ 3, ''thông đạt vị" (e: deepening understanding;
s: prativedhāvasthā). Một số kinh văn gọi giai vị nầy là
Kiến đạo (e: path of corrective vision; s: darśana-mārga). Giai
vị này kết thúc khi hành giả đạt được tuệ giác
vô niệm. Tuệ giác vô niệm tăng trưởng sâu sắc hơn
trong giai vị tiếp theo, đó là Tu tập vị (e: path of cultivation;
s: bhāvanā-mārga). Mối quan hệ năng thủ–sở thủ hoàn
toàn được chuyển hóa cũng như mọi sở tri chướng.
Giai vị nầy đạt đến chỗ rốt ráo của Chuyển y,
tức đã được giác ngộ
Trong
giai vị cuối cùng, Cứu cánh vị (e: final stage; s: niṣṭhāvasthā),
hành giả an trú trong Diệu giác viên mãn và thể nhập
vào pháp giới thông qua 5 nhận thức trực tiếp (xem
ở trên). Mọi công hạnh và nhận thức của hành giả
trong giai vị nầy là Thủy giác (vừa mới được giác
ngộ). Đối với các hành giả Đại thừa, từ giai vị
thứ nhất họ đã phải phát tâm tu tập không phải để
riêng mình đạt đến giác ngộ, mà còn phải tu tập vì
sự giác ngộ cho toàn thể chúng sinh. Trong giai vị nầy,
điều ấy trở thành mối quan tâm duy nhất của hành
giả.
bản
dịch nhuận châu
Chú
thích của người dịch.
Các
chữ viết tắt: (e): English; (s): Sanskrit; (p): Pāli.
1
(s): Vijñapti-mātra; (e): nothing but cognition: còn gọi là Duy
tâm.
2
解 深 密 經; S: Saṃdhinirmocana-sūtra; e: Elucidating the Hidden
Connections) dịch theo âm Hán Việt là San-địa niết-mô-chiết-na
tu-đa-la; một bộ kinh Đại thừa, Giải Thâm Mật là bộ
kinh căn bản của Duy thức tông, nói về A-lại-da thức (ālaya-vijñāna).
Ngài Huyề̀n Trang dịch vào đời Đường năm 647.
3
Thời Phương đẳng trong Ngũ thời thuyết giáo do tông
Thiên thai lập ra.
4 Du
Già Sư Địa Luận: 瑜 伽 師 地 論; S: yogācārabhūmi-śāstra;
e: Treatise on the of Yoga Practice), tác phẩm cơ bản của
Duy thức và Pháp tướng tông, tương truyền do Vô Trước (Asaṅga)
viết theo lời giáo hóa của Bồ-tát Di-lặc (Maitreya).
5
(s: Abhidharmakośa; e: Treasury of Abhidharma) A-tì-đạt-ma câu-xá
luận bản tụng 阿 毘 達 磨 倶 舍 論 本 頌.
6
化 地 部 (s: Mahīśāsaka), một bộ phái Tiểu thừa, tách
từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavāda) trong thế kỉ thứ hai và
về sau trở thành Pháp tạng bộ (s: Dharmaguptaka).
7
Theo truyền thuyết, những tác phẩm đó được Vô Trước
biên tập sau khi đã thụ giáo vời Bồ-tát Di Lặc trên
cung trời Đâu Suất.
8
Vaibhāṣika (s); nguyên nghĩa "Người theo Đại Tì-bà-sa luận
(Mahāvibhāṣā)"; một bộ phái xuất phát từ Nhất thiết
hữu bộ (Sarvāstivāda), cũng có thể gọi là dạng sau cùng
của Hữu bộ, lấy A-tì-đạt-ma Đại tì-bà-sa luận và Tì-bà-sa
luận (Vibhāṣā) làm căn bản. Hai tác phẩm nêu trên là luận
giải quan trọng về A-tì-đạt-ma của Nhất thiết hữu bộ.
9大
乘 成 業 論 (s: Karma-siddhi-prakaraṇa; e: Investigation
Establishing Karma).
10
(s): Pañca-skandhaka-prakaraṇa 大 乘 五 蘊 論. (e: Investigation
into the Five Aggregates).
11
(s): Mahāyānasaṃgraha-śāstra 攝 大 乘 論 của Vô Trước.
12
(s): Abhidharma-samuccaya 大 乘 阿 毘 達 磨 集 論, hoặc A-tì-đạt-ma
tập luận 阿 毘 達 磨 集 論, ngài Vô Trước (Asaṅga) soạn,
Huyền Trang dịch.)
13
Triṃsikā.
14
Trisvabhāva-nirdeśa 三 無 性 論 釋 Tam vô tính luận thích.
15
Vimśatikā-śāstra (s); Nhị thập duy thức luận 二 十 唯 識
論.
16
Madhyānta-vibhāga (s); Trung biên phân biệt luận 中 邊 分 別
論.
17
Dignāga, Diṅnāga (s); dịch nghĩa là Vực Long 域 龍, dịch
theo âm là Trần-na 陣 那.
18
Sthiramati (s); An Huệ 安 慧.
19(p):
nitya, sukha, ātman, śuddha; (e): permanent, pleasurable, self, and pure.
20
Laṅkāvatāra Sūtra.
21
Ratnagotravibhāga-mahāyānanottaratantra-śāstra (s); Còn gọi: Cứu
cánh nhất thừa bảo tính luận 究 竟 一 乘 寶 性 論; Thật
tính luận 寶 性 論.
22
Quy mậu luận chứng phái 歸 謬 論 證 派, s: prāsaṅgika
(s); còn gọi Cụ duyên tông 具 緣 宗, Ứng thành tông 應 成
宗; Qui mậu biện chứng phái . Một nhánh của Trung quán tông.
23
瑜 伽; (s,p: yoga); nguyên nghĩa tự đặt mình dưới cái ách.
Có nghĩa là phương pháp để đạt tiếp cận, thống nhất
với tuyệt đối, 瑜 伽 行 宗; S: yogācāra; Một tên khác
của Duy thức tông. Danh từ này được ngài Vô Trước (s:
Asaṅga) sử dụng trong các tác phẩm của mình vì có lẽ ngài
đặc biệt chú trọng đến việc thực hành Du-già. Danh từ
Duy thức (s: vijñāptimātratā) hoặc Thức học (s: vijñānavāda)
thường được ngài Thế Thân (s: Vasubandhu) sử dụng.
24
Immanuel Kant (1724-1804) Triết gia và nhà siêu hình học người
Đức.
25
Gottfried Wilhelm Leibniz. Triết gia và nhà siêu hình học,
sinh ở Leipzig, Đức. (1646-1716)
26
Cartesian: Khuynh hướng triết học và khoa học xuất phát
từ triết thuyết của Descartes. Thủ lĩnh của nhóm nầy
là Nicolas Malebranche, người Pháp, sinh (1638-1715).
27
René Descartes, triết gia, khoa học gia, nhà toán học ngươì
Pháp vào thế kỷ 17.
28
George Berkeley (1685-1753), triết gia người Ireland, sống tại
Anh quốc. Quan điểm triết học của ông là duy tâm siêu hình,
vật thể không có gì hiện hữu ngoài cảm nhận, ngoại giới
rốt ráo chỉ là sự tập hợp của ý tưởng và cảm giác.
Các tác phẩm chính của ông là Philosophical Commentaries, Three
Dialogues Between Hylas and Philonous.
29
(Xin phép tác giả lược bỏ một đoạn phân tích về
Duy tâm Duy vật, vì tránh gây ngộ nhận ở VN)
30
Con vật huyền thoại, giống như con ngựa có sừng mọc
trên trán.
31
Sarvāstivāda.
32
Noesis (consciousness projecting its cognitive field).
33
Sautrāntikas: còn gọi là Thí dụ bộ.
34
chủng tử (s: bījā).
35
(s:) icchantikas, (e): incorrigibles. Hán dịch: Tín căn bất cụ.
Người không đủ thiện căn.
36
Overturning the cognitive basis (s: āśraya-paravṛtti).
37
āvaraṇa: chướng, cái, cái triền.
38
Nhận thức và đôi tượng của nhận thức (năng tri,
sở tri).
39
Madhyānta-vibhāga: 中 邊 分 別 論Trung biên phân biệt luận
C:
zhōngbiān fēnbié lùn; J: chūben funbetsu ron; còn được gọi
tắt là Trung biên luận (中 邊 論), Biện trung biên luận (辯
中 邊 論). Là luận văn tinh yếu của Du-già hành tông. Theo
truyền thống, tác phẩm này được xem của ngài Di-lặc với
lời luận giải của Thế Thân, nhưng theo các học giả thì
luận giải nầy có vẻ là tác phẩm biên soạn chung của Vô
Trước và Thế Thân hơn. Đặc điểm chính của luận văn
nầy là phân tích của Du-già hành tông về sự phân biệt
sai lầm (Hư vọng phân biệt 虚 妄 分 別) khi chối từ ý
niệm về Không tính, với mục đích giải trừ sự chấp trước
vào hai cực đoan Hữu và Vô. Có 2 bản dịch Hán văn về luận
giải nầy bản dịch của Huyền Trang gồm 3 tập và bản dịch
của Chân Đế (眞 諦) gồm 2 tập.
40
Nguyên văn: sensory contact, hedonic tone, attention,etc… Đầy đủ
5 món của Tâm sở pháp là: Xúc, thọ, tư (volition), tưởng
(asociative-thinking), tác ý.
41
Biệt cảnh có 5 thứ: Dục, Thắ́ng giải, Niệm, Định,
Huệ.
42
(e: absence of svabhāva). Tiếng Hán thường dùng Vô hoặc
Không để chuyển tải ý nầy.
43
e: Ten perfections of wisdom. Theo kinh văn Đại thừa là: 1.Tam
thế trí, 2.Phật pháp trí, 3. Pháp giới vô ngại trí,
4. Pháp giới vô biên trí, 5. Sung mãn nhất thiết thế
giới trí, 6. Phổ chiếu nhất thiết thế gian trí, 7.
Trú trì nhất thiết thế giới trí, 8. Trí nhất thiết
chúng sinh trí, 9. Trí nhất thiết pháp trí, 10. Trí vô
biện chư Phật trí.
44
成 唯 識 論 (s: vijñaptimātratā-siddhi; c: Cheng weishilun); Thành
duy thức luận: một tác phẩm căn bản của Pháp tướng tông.