A-TỲ-ĐẠT-MA
CÂU-XÁ LUẬN
阿
毗 達 磨 俱 舍 論
ABHIDHARMAKOŚABHĀṢAYĀM
- q.3.
Nguyên
tác: Thế Thân
Hán
dịch: Huyền Trang
PHẨM
II: PHÂN BIỆTCĂN 1
TIẾT
I : 22 CĂN
I.
Ý NGHĨA CủA CĂN
Như
vậy, nhân nói về 18 giới, đã nêu lên 22 căn; trong đó, căn
có nghĩa là gì?
Tối
thắng, tự tại, quang hiển2 gọi là căn; do ba tính chất
nầy tạo thành nghĩa tăng thượng của căn.
Với
nghĩa tăng thượng, căn nào có công năng đối với những
vấn đề nào3 ?
1.
Hữu Bộ.
Văn
Tụng.
Hán.
T29n1558_p0013b14║ 傳說五於四 四根於二種
T29n1558_p0013b15║ 五八染淨中 各別為增上
Âm
Hán.
Truyền
thuyết ngũ ư tứ Tứ căn ư nhị chủng
Ngũ
bát nhiễm tịnh trung Các biệt vi tăng thượng.
Việt
dịch.
Truyền
thuyết4 , năm căn đối với bốn
Bốn
căn đối với hai.
Năm,
tám, trong nhiễm tịnh
Mỗi
mỗi đều tăng thượng5 /1/.
Luận
giải thích.
/1a/
Truyền thuyết, năm căn đối với bốn.
Năm
căn mắt, tai v.v..., mỗi một căn, trong bốn khía cạnh, có
khả năng tăng thượng: một, trang nghiêm thân; hai, đạo dưỡng
thân; ba, sanh thức; bốn, bất cọng sự.
Một,
trang nghiêm thân: hai căn mắt, tai trang nghiêm thân nghĩa là,
nếu mắt mù, tai điếc thì thân hình trở nên xấu xí.
Hai,
đạo dưỡng thân: nhờ sự thấy nghe mà tránh được tai nạn
nguy hiểm.
Ba,
sanh thức: hai căn nầy là sở y, phát sinh hai thức tương ứng
và các tâm sở.
Bốn,
bất cọng sự: chỉ có mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mỗi
mỗi đều riêng biệt.
Ba
căn mũi, lưỡi, thân: về trang nghiêm thân cũng giống
như mắt, tai. Đạo dưỡng thân: có khả năng nạp thọ các
loại thực phẩm có tính đoạn thực. Sanh thức: phát sanh
ba thức mũi, lưỡi, thân và các tâm sở; bất cọng sự nghĩa
là, chỉ có mũi ngửi hương, lưỡi nếm vị, thân giác xúc.
/1b/
Bốn căn đối với hai.
Bốn
căn: nữ căn, nam căn, mạng căn và ý căn. Mỗi một căn nầy,
đối với hai vấn đề, có khả năng tăng thượng. Trong đó,
hai căn nữ nam tăng thượng trong hai khía cạnh: một, khác
nhau về giới tính; hai, khác nhau về hình tướng. Khác nhau
về giới tính,6 đó là, do hai căn nầy khiến có
sự khác nhau về chủng loại nam nữ hữu tình. Khác nhau về
hình tướng,7 đó là, cũng do hai căn nầy tạo nên sự
sai khác về tiếng nói, hình dáng, và vú nhỏ vú lớn, v.v...
Một
quan điểm khác (Kinh Lượng bộ):
Nữ
căn, nam căn, đối với hai pháp nhiễm, tịnh, có khả năng
tăng thượng cho nên nói là hai. Lý do vì sao? Bởi lẽ, những
người thuộc hạng phiến đề, bán trạch hay nhị hình hoặc
do bản tánh hoặc do tổn hoại8 đều không thể
tạo tác các pháp tạp nhiễm9 như bất luật nghi10 , vô
gián, đoạn thiện căn, cũng như không thành tựu các pháp
thanh tịnh11 như luật nghi12 , đắc quả13 , ly nhiễm14
.
Mạng
căn có hai nghĩa là đối với chúng đồng phần15 có khả
năng tăng thượng trong hai khía cạnh là giữ gìn16 và
làm tương tục17 .
Ý
căn có khả năng tăng thượng trong hai khía cạnh là tiếp
nối đời sau18 và tự tại tuỳ hành.19 Tiếp nối
đời sau, như Khế kinh nói: đó là lúc, kiền đạt phược,20
ở trong tâm, tuỳ thuộc vào (tương ưng với) một tính
chất mà hiện tiền21 (thành sanh hữu), nghĩa là, hoặc
cùng với ái, hoặc cùng với nhuế v.v...
Tự
tại tùy hành, như Khế kinh nói:
Tâm
có khả năng dẫn dắt thế gian,
Tâm
nhiếp thâu tất cả các thọ.
Như
vậy, tâm là một pháp
có
khả năng tự tại tuỳ hành.
/1cd/
Năm, tám trong nhiễm, tịnh; mỗi mỗi đều tăng thượng:
Năm
tức năm thọ căn (vedanendriya), lạc v.v... và tám tức tám
căn vô lậu, tín, tấn v.v..., đối với các pháp nhiễm tịnh,
theo thứ tự, có khả năng tăng thượng. Năm thọ căn lạc
v.v... tăng thượng cho các pháp nhiễm ô, nghĩa là, chúng là
nơi các phiền não tham, sân v.v... tăng trưởng. Tám căn tín
v.v... tăng thượng cho các pháp thanh tịnh, nghĩa là, các pháp
thanh tịnh theo đó mà sanh trưởng.
Có
Luận sư khác nói: các căn lạc v.v... cũng có khả năng tăng
thượng cho các pháp thanh tịnh. Như Khế kinh nói: do lạc (sukha)
cho nên tâm định; khổ (duḥkha) là yếu tố phát sinh tín.
Và y chỉ của xuất ly (giải thoát) chính là hỷ, ưu,
xả.
Trên
đây là những điều được nói bởi của các Luận sư Tỳ-bà-sa.
2.Kinh
Lượng Bộ
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a08
: 了 自 境 增 上 總 立 於 六 根
T29n1560-p0312a09
: 從 身 立 二 根 男 女 性 增 上
Âm
Hán:
Liễu
tự cảnh tăng thượng Tổng lập ư lục căn
Tùng
thân lập nhị căn Nam nữ tánh tăng thượng22
Việt
Dịch:
Tăng
thượng liễu tự cảnh Lập tất cả sáu căn
Từ
thân lập hai căn Tăng thượng tánh nam nữ /2/
Luận
giải thích:
Các
Luận sư khác23 nói, đạo dưỡng thân chẳng phải là
công năng của mắt, tai mà đó là công năng tăng thượng (ādhipatya)
của thức; chính do thức liễu biệt mới có khả năng tránh
được các hiểm nạn, thọ dụng các thức ăn. Các công năng
thấy sắc v.v... cũng chẳng phải là của cái gì khác ngoài
thức. Cho nên, yếu tố bất cọng sự24 đối với các
căn mắt, tai v.v... không thể lập thành một tác dụng tăng
thượng riêng. Do vậy, không thể căn cứ vào đó mà nói rằng,
mắt, tai v.v... là căn.
Nếu
vậy thì thế nào25 ?
/2ab/
Tăng thượng liễu tự cảnh, lập tất cả sáu căn: Liễu
tự cảnh là sáu thức thân. Năm căn mắt, tai, v.v... đối
với các thức liễu biệt cảnh riêng biệt26 , có tác dụng
tăng thượng; đệ lục ý căn (mana-indriya) đối với thức
liễu biệt tất cả cảnh27 , có tác dụng tăng thượng. Cho
nên, sáu cơ quan mắt, tai, v.v... đều được lập làm căn.
Ngoại
nạn: Màu sắc, âm thanh, v.v... đối với các thức năng liễu
biệt cũng có tác dụng tăng thượng, lẽ ra nên lập làm căn?
Nói
tăng thượng có nghĩa là tối thắng tự tại.28 Căn con
mắt đối với việc phát khởi nhãn thức29 là tối thắng
tự tại cho nên gọi là tăng thượng; nó là nhơn chung cho
các thức liễu sắc30 và thức tùy thuộc vào31 căn
mà có sự sáng (paṭu) tối (maṇḍa) khác nhau. Sắc thì không
như vậy; hai bên trái ngược nhau. Cho đến ý căn cũng như
vậy.
/2cd/
Từ thân lập hai căn; tăng thượng tánh nữ nam: từ thân (kāyendriya)
lại lập hai căn nữ và nam, bởi lẽ đối với tính
nữ, tính nam, chúng có tác dụng tăng thượng. Thể của hai
căn nữ nam không tách rời khỏi thân căn; từ một phần của
thân, lập nên tên gọi nầy.Theo thứ tự, đối với thân
nữ thân nam, hai căn nầy có tác dụng tăng thượng. Vì chúng
hơi khác với các phần khác của thân nên lập riêng thành
hai căn. Những loại hình tướng, âm thanh, nghề nghiệp, chí
hướng và sự ưa thích thuộc phái nữ, gọi là tính nữ (strībhāva).
Những loại hình tướng, âm thanh, nghề nghiệp, chí hướng
(abhiprāya) và sự ưa thích, thuộc phái nam, gọi là tính nam.
Sự khác nhau về phái tính nầy là do hai căn nữ nam, nên nói
rằng hai căn nữ nam có công năng tăng thượng đối với hai
loại phái tính.
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a10
: 於 同 住 雜 染 清 淨 增 上 故
T29n1560-p0312a11
: 應 知 命 五 受 信 等 立 為 根
Âm
Hán:
Ư
đồng trú tạp nhiễm Thanh tịnh tăng thượng cố
Ưng
tri mạng ngũ thọ Tín đẳng lập vi căn32
Việt
dịch:
Tăng
thượng sự tồn tại, Tạp nhiễm và thanh tịnh
Nên
biết, mạng, năm thọ, Tín, v.v... lập làm căn /3/.
Luận
giải thích:
/3a/.Tăng
thượng sự tồn tại : mạng căn có công năng tăng thượng
đối với sự tồn tại33 (trú) của chúng đồng phần.
/3b/.
Tạp nhiễm : năm thọ căn lạc, v.v... có công năng tăng thượng
đối với các pháp tạp nhiễm.Vì sao biết được? vì Khế
kinh nói: ở trong lạc thọ, tính tham theo đó tăng trưởng;
ở trong khổ thọ, tính sân tăng trưởng; trong không khổ không
lạc thọ, vô minh (avidyā) tăng trưởng.
/3b/.
và thanh tịnh: năm căn: tín, v.v... có công năng làm tăng trưởng
các pháp thanh tịnh. Vì sao như vậy? Bởi do thế lực các
căn nầy có khả năng điều phục các thứ phiền não, dẫn
sanh thánh đạo.
/3cd/.
Nên biết, mạng, năm thọ, tín, v.v... lập làm căn : nói “nên
biết” ý khuyên nên chấp nhận tất cả đều là căn.
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312a12
: 未 當 知 已 知 具 知 根 亦 爾
T29n1560-p0312a13
於 得 後 後 道 涅 槃 等 增 上
Âm
Hán:
Vị
đương tri dĩ tri Cụ tri căn diệc nhĩ
Ư
đắc hậu hậu đạo Niết bàn đẳng tăng thượng.34
Việt
dịch:
Căn
vị đương tri, dĩ tri, Và cụ tri cũng vậy
Tăng
thượng hậu hậu đạo Và niết bàn vân vân /4/.
Luận
giải thích:
Ba
căn vô lậu có công năng tăng thượng đối với hậu hậu
đạo35 , niết bàn v.v...
Nói
“cũng vậy” tức theo đó suy ra để thấy tất cả đều
là căn.
/4a/.Căn
vị đương tri : căn vị tri đương tri36 có công năng
tăng thượng trong việc chứng đắc dĩ tri căn đạo.
/4a/.
dĩ tri : căn dĩ tri có công năng tăng thượng đối với việc
chứng đắc cụ tri căn đạo.
/4bcd/.
Và cụ tri cũng vậy, tăng thượng hậu hậu đạo và niết
bàn vân vân : căn cụ tri có công năng tăng thượng đối với
việc chứng đắc niết bàn. Tâm chưa giải thoát không thể
chứng bát-niết-bàn.
Chữ
“vân vân” chỉ cho các giải thích khác.
Cách
giải thích khác là gì? Đó là, trong việc đoạn trừ các
phiền não của giai đoạn kiến đạo, căn vị tri đương tri
có công năng tăng thượng. Trong việc đoạn trừ các phiền
não của giai đoạn tu đạo, căn dĩ tri có công năng tăng thượng.
Trong hiện pháp lạc trú37 , căn cụ tri có công năng tăng thượng;
do căn cụ tri nầy mà cảm nhận được những hỷ, lạc ở
trong thân giải thoát.
II:
PHẾ LẬP CÁC CĂN
1.
Hữu Bộ
a.
Nếu với nghĩa tăng thượng mà lập làm căn thì, các phẩm
loại như vô minh, v.v..., lẽ ra cũng nên lập làm căn. Bởi
vì, vô minh, v.v... là nhơn của các quả hành, v.v..., mỗi một
thứ đều có công năng tăng thượng38 .
b.
Lại nữa, ngữ cụ v.v... nên lập làm căn. Bởi lẽ, ngữ
cụ, tay chân, đại tiểu tiện xứ, theo thứ tự, chúng có
công năng tăng thượng đối với lời nói, việc cầm nắm,
đi đứng, tống khứ, lạc thú39 .
c.Hữu
Bộ trả lời: tất cả các thứ đó đều không thể lập
làm căn.40 Bởi lẽ, đã chấp nhận rằng, căn có tướng
như vậy:
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a14
: 心 所 依 此 別 此 住 此 雜 染
T29n1560-p0312a15
: 此 資 糧 此 淨 由 此 量 立 根
Âm
Hán:
Tâm
sở y thử biệt Thử trú thử tạp nhiễm
Thử
tư lương thử tịnh Do thử lượng lập căn 41
Việt
dịch:
Sở
y của tâm, nó khác nó tồn tại, nó tạp nhiễm
Tư
lương của nó, nó tịnh
với số lượng nầy lập căn/5/.
Luận
giải thích:
Sở
y42 của tâm là sáu căn mắt, v.v...; sáu nội xứ nầy
là những yếu tố căn bản tạo nên hữu tình43 ; tướng trạng
khác nhau của sáu nội xứ, do hai căn nữ nam tạo nên. Nó*
tồn tại trong một thời gian, do mạng căn. Nó* thành tạp
nhiễm, do năm thọ căn. Tư lương thanh tịnh44 của nó*
là năm căn tín v.v... Nó*45 trở thành thanh tịnh46 , do
ba căn sau. Do những yếu tố trên, việc lập căn đã được
ổn định. Đồng thời, không nên chấp nhận vô minh, v.v...
và ngữ cụ, v.v..., được lập làm căn. Bởi lẽ, trong đó,
chúng không có công năng tăng thượng.
2.
Dị thuyết.
Lại
có các Luận sư khác 47 nói về tướng của căn rằng,
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a16
: 或 流 轉 所 依 及 生 住 受 用
T29n1560-p0312a17
: 見 立 前 十 四 還 滅 後 亦 然
Âm
Hán:
Hoặc
lưu chuyển sở y Cập sanh trú thọ dụng
Kiến
lập tiền thập tứ Hoàn diệt hậu diệc nhiên.48
Việt
dịch:
Hoặc
sở y của lưu chuyển Và sanh, trú, thọ dụng
Lập
mười bốn căn đầu.
Hoàn diệt sau, cũng vậy/6/.
Luận
giải thích:
Chữ
“hoặc” được dùng để chỉ cho thấy đây là quan điểm
của các Luận sư khác; đó là, căn cứ vào lưu chuyển và
hoàn diệt mà thành lập 22 căn.
Sở
y của lưu chuyển49 là sáu căn mắt, v.v.... Sự sinh thành
của sáu căn do hai căn nữ nam. Tồn tại do mạng căn dựa
vào đây mà tồn tại. Thọ dụng do dựa vào năm thọ thân
vì chúng có sự cảm nghiệm. Căn cứ vào đây, thành lập
14 căn đầu.
Trong
hoàn diệt50 vị, cũng căn cứ vào sự khác nhau của bốn
nghĩa nầy, lập thành 8 căn sau:
Sở
y của hoàn diệt là năm căn tín, tấn, niệm, định51 , huệ.
Trong ba vô lậu, do sơ vô lậu căn nên niết-bàn sanh khởi;
do vô lậu căn kế tiếp mà an trụ; do vô lậu căn cuối cùng
nên
niết bàn được thọ dụng (hiện pháp lạc trú).
Số
lượng của các căn, do bốn nghĩa nầy mà thành lập, không
thêm không bớt. Tức do nhơn duyên bốn nghĩa nơi lưu chuyển,
hoàn diệt, nên trong Kinh đã thành lập 22 căn theo thứ tự.
*Bác
bỏ các quan điểm khác
Ngữ
cụ (lưỡi) không thể là căn (tăng thượng) của ngôn ngữ
(vāc). Bởi lẽ, phải đợi có sự học hành, ngôn ngữ mới
thành tựu.
Tay
(pāṇi), chân (pāda) không thể là căn (tăng thượng) của
sự cầm nắm, đi đứng, vì chúng không có tính chất nào
khác; nghĩa là chính tay chân khi phát sinh ở vị trí vị trí
khác, bằng hình thức khác gọi đó là cầm nắm, hay bước
đi. Hơn nữa, không cần đến tay chân vẫn có sự cầm nắm,
đi đứng; chẳng hạn như các loài bò sát. Cho nên, không thể
lấy tay chân lập làm căn cho việc cầm nắm, đi đứng được.
Đại
tiện xứ (pāyu) không thể lập làm căn cho việc tống khứ
khí vật. Bởi lẽ, tất cả các vật nặng, ở giữa không
trung, đều phải rơi xuống. Lại nữa, ở đây, do lực của
phong tống xuất ra. Xuất tiểu tiện xứ (upastha) không thể
lập làm căn cho vấn đề sinh lạc. Bởi lẽ, chính nữ nam
căn khởi sinh lạc sự.
*Đặt
vấn đề
Các
thứ như cổ họng (kaṇṭha), răng (danta), mí mắt (akṣivartman),
đốt xương (āṅgulīparvan), có tác dụng hỗ trợ đối với
việc nuốt (abhyavaharṇa), nhai (carvaṇa), mở nhắm (unmeṣanimeṣa),
co duỗi (saṃkocavikāśa), nên lập làm căn. Hoặc, tất cả
các nhơn có khả năng tác động đối với tự sở tác (quả),
do đó cũng nên lập làm căn.
*Bác
bỏ
Tất
cả các thứ đó tuy có tác dụng nhưng chẳng phải là tăng
thượng nên không thể lập làm căn. Ở đây, ngữ cụ v.v...,
cũng không thể lập làm căn.
III:
THỂ
CỦA CĂN
Trong
22 căn, tám căn đầu từ căn con mắt v.v.... cho đến nam căn,
phần trước đã nói. Mạng căn, thể là bất tương ưng,
sẽ nói đến trong phần pháp bất tương ưng. Năm căn tín
v.v..., thể là tâm sở, sẽ nói đến trong phần tâm sở.
Bây
giờ, nói về năm thọ thân và ba căn vô lậu.
1.Năm
thọ thân.
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a18
: 身 不 悅 名 苦 即 此 悅 名 樂
T29n1560-p0312a19
: 及 三 定 心 悅 餘 處 此 名 喜
T29n1560-p0312a20
: 心 不 悅 名 憂 中 捨 二 無 別
Âm
Hán:
Thân
bất duyệt danh khổ Tức thử duyệt danh lạc
Cập
tam định tâm duyệt Dư xứ thử danh hỷ
Tâm
bất duyệt danh ưu Trung xả nhị vô biệt53
Việt
dịch:
Thân
không vui là khổ. Thân vui gọi là lạc
Và
tâm vui tam định. Cõi khác gọi là hỷ /7/.
Tâm
không vui là ưu. Trung xả, hai không khác /8ab/.
Luận
giải thích:
Thân,
đây chỉ thân thọ, vì thọ y trên thân mà khởi; tức các
loại cảm thọ tương ưng với năm thức.
Không
vu54i : nói không vui có nghĩa là tổn não (upaghātikā). Trong
các loại cảm thọ của thân, cái gây nên sự tổn não được
gọi là khổ căn.
Vui55
: có nghĩa là nhiếp ích. Trong các loại cảm thọ của thân,
cái có khả năng nhiếp ích được gọi là lạc căn.
Và
tâm vui tam định: ở đệ tam định, cảm thọ tương ưng với
tâm, có khả năng nhiếp ích cũng được gọi là lạc căn.
Ở đệ tam định không có thân thọ vì năm thức thân không
tồn tại; ở đó, tâm vui gọi là lạc.
Các
cõi khác: chính trạng thái vui nầy của tâm, trừ đệ tam
thiền, ở ba cõi dưới, được gọi là hỷ căn56 . Ở đệ
tam thiền, tâm vui, yên tịnh, không còn hỷ tham, nên gọi là
lạc căn. Ba cõi dưới, tâm vui vẻ, thô động, còn có hỷ
tham nên gọi là hỷ căn.
Cảm
thọ tương ưng ý thức, gây tổn não, là tâm không vui;
thọ đó được gọi là ưu căn
Trung
xả: Trung là chẳng phải vui, chẳng phải không vui, tức cảm
thọ không khổ không vui. Cảm thọ không khổ không vui nầy
gọi là xả căn.
Hai
không khác: như vậy, xả căn thuộc thân thọ hay tâm thọ?
Nên
nói, thông cả hai.
Vì
sao hai loại cảm thọ vui và không vui lại lập chung thành
một căn?
Bởi
lẽ, hai loại cảm thọ nầy, ở nơi thân hay tâm không có
sự phân biệt. Tại tâm, sự khổ vui phần lớn đều do sự
phân biệt sinh ra. Tại thân, không như vậy, chỉ do sức
tác động của cảnh tạo nên. A la hán v.v...57 sinh
khởi năm loại cảm thọ cũng như vậy. Do đó, khi lập căn
khổ lạc ở thân và tâm có sự khác biệt. Xả thọ vốn
không phân biệt, sinh khởi tự nhiên, cho nên khi lập căn,
tại thân tại tâm được hợp thành một; hơn nữa, cảm thọ
khổ vui, nơi thân, nơi tâm hoặc tổn não hoặc nhiếp ích,
trạng thái khác nhau nên lập thành căn riêng biệt. Xả thọ,
nơi thân hay tâm đều không phân biệt, chẳng phải tổn não
cũng chẳng phải nhiếp ích, trạng thái không khác nhau nên
lập chung một căn.
2.Ba
căn vô lậu:
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312a21
見 修 無 學 道 依 九 立 三 根
Âm
Hán:
Kiến
tu vô học đạo Y cửu lập tam căn.58
Việt
dịch:
Ba
đạo kiến tu và vô học. Nương chín,
lập ba căn /8cd/.
Luận
giải thích:
/8cd/
Ba đạo kiến tu và vô học, nương chín, lập ba căn:
Nương
chín căn gồm ý, lạc, hỷ, xả và năm căn tín v.v..., ở trong
ba đạo, theo thứ tự, lập thành ba căn vô lậu; đó là tại
kiến đạo, dựa vào chín căn nầy, lập vị tri đương tri
căn; tại tu đạo, dựa vào chín căn nầy, lập dĩ tri căn;
tại vô học đạo, cũng dựa vào chín căn nầy, lập cụ tri
căn.
Ba
tên gọi đó, căn cứ vào đâu mà lập nên?
Đó
là, tại kiến đạo vị, đều có những cái chưa từng
biết, nay có hành tướng đang biết chuyển khởi, gọi đó
là vị tri đương tri căn59 . Tại tu đạo, không có cái chưa
từng biết, chỉ đoạn trừ các tùy miên còn lại, với chính
cảnh giới ấy thường xuyên liễu tri nên gọi đó là
dĩ tri căn60 . Tại vô học đạo, biết mình đã biết, nên
gọi là tri; có được cái biết nầy nên nói là cụ tri.61
Hoặc huân tập cái biết nầy thành tánh nên gọi là cụ tri62
. Nghĩa là do chứng đắc tận trí và vô sanh trí, nên tự
biết một cách như thật rằng, ta đã biết cùng tận sự
khổ, không còn gì để biết thêm nữa; như vậy mà nói rộng
ra với ba Thánh đế còn lại. Các căn đó gọi là vị tri
đương tri, v.v....
Như
vậy, giải thích xong về thể khác nhau của các căn.
IV:
CÁC
ĐẶC TÍNH DỊ BIỆT
1.
Hữu lậu, Vô lậu.
Tiếp
đến, bàn luận các đặc tính dị biệt. Trong 22 căn, bao nhiêu
căn thuộc hữu lậu, bao nhiêu căn thuộc vô lậu?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312a22
: 唯 無 漏 後 三 有 色 命 憂 苦
T29n1560-p0312a23
: 當 知 唯 有 漏 通 二 餘 九 根
Âm
Hán:
Duy
vô lậu hậu tam Hữu sắc mạng ưu khổ
đương
tri duy hữu lậu Thông nhị dư cửu căn 63
Việt
dịch:
Ba
sau cùng vô lậu Hữu sắc, mạng, ưu, khổ
Nên
biết, là hữu lậu Cả hai, chín căn
còn lại /9/.
Luận
giải thích:
/9a/Ba
sau cùng vô lậu: tiếp đến, như trước đã nói, thể của
ba căn sau cùng là vô lậu. Vô lậu (anāsrava) có nghĩa là vô
cấu (amala). Cấu cùng với lậu tuy tên gọi khác nhau nhưng
thể thì giống nhau.
/9bc/Hữu
sắc, mạng ưu khổ, nên biết là hữu lậu: hữu sắc
(rūpī) là bảy sắc căn. Bảy sắc căn nầy và các căn mạng,
ưu, khổ hoàn toàn là hữu lậu. Bảy hữu sắc gồm năm căn
mắt v.v... và hai căn nữ nam nhiếp thuộc sắc uẩn.
/9d/.Cả
hai, chín căn còn lại: các căn ý, lạc, hỷ, xả và năm căn
tín v.v...; chín căn nầy đều thông cả hữu lậu và vô lậu.
Có
các Sư khác64 nói, năm căn tín v.v... duy chỉ thuộc vô
lậu, cho nên đức Thế tôn nói, “Nếu hoàn toàn65 không
có năm căn tín v.v..., Ta nói rằng, chúng sanh đó thuộc hàng
ngoại dị sanh.”66
Đoạn
Kinh nầy không phải là chứng cứ trung thực (jñāpaka); đó
chỉ là căn cứ vào vô lậu căn nên nói như vậy.
Làm
sao biết?
Bởi
vì, đầu tiên, căn cứ vào năm căn vô lậu, tín v.v..., kiến
lập các thánh vị khác nhau, nói câu trên; sau đó, lại nói
hoặc các loài dị sanh có hai loại- một, nội67 ; hai, ngoại68
. Nội chỉ cho chúng sanh không đoạn thiện căn. Ngoại chỉ
cho chúng sanh mà thiện căn đã đoạn. Ở đây, căn cứ vào
ngoại dị sanh, nên nói, “Nếu hoàn toàn không có năm căn
tín v.v..., Ta nói chúng sanh kia thuộc hàng ngoại dị sanh.”
Lại nữa, Khế kinh nói, “Có các chúng sanh sống ở
thế gian hoặc sinh ra, hoặc lớn lên đều có các căn tín
v.v.. ở các mức độ thượng trung hạ khác nhau.” Đây
là lúc đức Thế tôn chưa chuyển pháp luân. Cho nên biết
rằng, các căn tín v.v.... thông cả hữu lậu và vô lậu. Lại
nữa, đức Thế tôn nói, “Ta nếu đối với năm căn tín
v.v... mà chưa biết một cách như thật rằng đây là sự tập
khởi, là sự diệt tận; là vị ngọt; là tai hoạ; là sự
xuất ly69 thì Ta chưa thể ra khỏi thế gian thiên nhơn,
ma phạm v.v..., cho đến chưa thể chứng được quả vị bồ
đề vô thượng chánh đẳng.” Cho đến nói rộng ra. Các
phẩm loại được quán sát như vậy, chẳng phải là pháp
vô lậu. Cho nên biết rằng, năm căn tín v.v..., thông cả hữu
lậu và vô lậu.
2.
Dị thục, Phi dị thục.
Trong
22 căn, bao nhiêu căn là dị thục, bao nhiêu căn chẳng phải
dị thục?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312a24
: 命 唯 是 異 熟 憂 及 後 八 非
T29n1560-p0312a25
: 色 意 餘 四 受 一 一 皆 通 二
Âm
Hán:
Mạng
duy thị dị thục Ưu cập hậu bát phi
Sắc
ý dư tứ thọ. Nhất nhất giai thông nhị.70
Việt
dịch
Mạng
căn là dị thục Ưu và tám đều không
Sắc,
ý và bốn thọ Tất cả đều thông hai /10/.
Luận
giải thích:
/10a/.Mạng
căn duy dị thục: duy nhất mạng căn quyết định là dị thục.
Nếu
như vậy, khi chư vị A-la-hán lưu đa thọ hành71 , chính thọ
hành nầy là mạng căn, mạng căn như vậy, cái gì là dị
thục?
1.
Chánh tông (trả lời):
a.
Vị thứ nhất: như Bổn luận72 nói, “Thế nào là tì-kheo
lưu đa thọ hành?
Đó
là vị A-la-hán thành tựu thần thông, tâm được tự tại,
hoặc đối với tăng chúng73 hoặc đối với từng cá
nhân khác, đem các thứ phương tiện của đời sống như y
bát v.v..., tùy phần bố thí. Bố thí rồi phát nguyện. Phát
nguyện rồi liền nhập đệ tứ biên tế74 tịnh lự
. Từ định khởi, tâm nghĩ miệng nói, nguyện cho những gì75
là nghiệp có khả năng dẫn đến dị thục thọ dụng của
tôi76 chuyển thành quả dị thục thọ mạng. Bấy giờ,
nghiệp có khả năng dẫn đến dị thục thọ hưởng77
kia liền chuyển thành quả dị thục thọ mạng.”78
b.
Vị thứ hai: Vì muốn thâu nhận trở lại quả dị thục tàn
dư trong nghiệp đời trước,vị kia nói: Những dị thục tàn
dư nào của nghiệp mà tôi đã lãnh thọ trong đời trước,
nay bằng năng lực của định biên tế đã được tu tập
mà thâu nhận thọ dụng trở lại.”79
Thế
nào là tì kheo xả đa thọ hành?
Đó
là vị A-la-hán thành tựu thần thông, tâm được tự tại,
đối với tăng chúng v.v..., mà bố thí như trước. Bố thí
xong phát nguyện, rồi nhập đệ tứ tịnh lự biên tế.
Từ định khởi, tâm nghĩ miệng nói, những gì là nghiệp
có khả năng dẫn đến dị thục thọ mạng, nguyện cho thảy
đều chuyển thành quả dị thục dẫn đến thọ dụng.
Bấy giờ, cái nghiệp dẫn đến dị thục thọ mạng kia liền
chuyển thành quả dị thục thọ dụng.
Tôn
giả Diệu âm80 nói rằng: “Các vị A-la-hán kia
khởi đệ tứ biên tế định lực, dẫn đưa đại chủng
của sắc giới khiến chúng hiện hữu trong thân; đại chủng
đó hoặc thuận thọ hành hoặc nghịch thọ hành. Do nhơn duyên
như vậy mà hoặc lưu thọ hành hoặc xả thọ hành.”
2.Quan
điểm khác (trả lời)
Nên
nói như thế nầy81 , vị A-la-hán kia do lực tam-ma-địa tự
tại này, chuyển cái thế phần tồn tại của các căn đại
chủng đã có được do bởi nghiệp lực đời trước, rồi
dẫn khởi và chấp thủ thế phần tồn tại của các căn
đại chủng chưa từng được khởi lên do định lực. Cho
nên, mạng căn nầy chẳng phải là dị thục.82 Tất cả
các thế phần còn lại đều là dị thục.
Từ
chỗ đã bàn mà nói thêm rằng83 , với nhơn duyên gì, các
vị A-la-hán kia lưu đa thọ hành? Đó là, vì sự lợi ích,
an lạc cho chúng sanh; hoặc vì, muốn làm cho Thánh giáo tồn
tại lâu dài, quán sát tự thân, thọ hành sắp chấm dứt;
quán sát tha nhơn không có khả năng làm hai việc nầy.
Lại
nữa, do nhơn duyên gì mà xả đa thọ hành?
Các
vị A-la-hán kia tự xem xét sự hiện hữu của bản thân ở
thế gian đem lại lợi ích an lạc cho tha nhân quá ít ỏi;
hoặc vì các thứ khổ bức thân như bệnh v.v.... Như có bài
tụng nói rằng:
Hán:
梵
行 妙 成 立 聖 道 以
善 修
壽
盡 時 歡 喜 由 如 捨
眾 病
Âm
hán :
Phạm
hạnh diệu thành lập Thánh đạo dĩ thiện tu
Thọ
tận thời hoan hỷ Do như xả chúng bệnh.
Việt
dịch :
Người
trì giới tinh nghiêm Khéo tu tập Thánh đạo
Hoan
hỷ khi mạng hết Như xa rời các bệnh.
*Hỏi
về nơi chốn và người:
Nên
biết, trong đó, y cứ vào chỗ nào, và ai là người có khả
năng lưu xả thọ hành như thế?
Đó
là ở ba châu,84 trong thân phần nam nữ,85 A-la-hán
hạng bất thời giải thoát86 , chứng đắc biên tế định;
do trong thân các vị có định tự tại nên không có phiền
não.
Kinh
nói: “Thế tôn lưu đa mạng hành, xả đa thọ hành.” Thế
thì mạng hành thọ hành khác nhau thế nào?87
a.
Có quan điểm cho rằng, không khác nhau. Như Bản luận nói,
“Thế nào gọi là mạng căn? Đó là thọ mạng trong ba cõi.”
b.
Có các Luận sư khác nói, nghiệp quả đời trước gọi là
thọ hành, nghiệp quả hiện tại gọi là mạng hành. 88
c.
Có thuyết cho rằng, do mạng căn nầy khiến chúng đồng phần
tồn tại gọi là thọ hành; do mạng căn nầy khiến chúng
đồng phần tồn tại tạm thời gọi là mạng hành.89
Chữ
“đa” có ba giải thích:
a.Ý
nhằm hiển bày lưu và xả mạng hành và thọ hành trong nhiều
niệm (sát-na), chứ chẳng phải là trong một sát-na mà mạng
hành và thọ hành có sự lưu hay xả vậy.
b.
Có thuyết, chữ “đa” (trong lưu đa thọ hành) nầy là ngăn
chận quan điểm cho rằng, có một thật thể là mạng thọ
tồn tại trải qua nhiều thời gian.
c.
Có thuyết, chữ “đa” nầy là hiển bày không có một thật
thể mạng thọ, chỉ dựa vào “đa hành” giả lập hai tên
gọi thọ mạng như vậy. Nếu không như thế, thì không nên
dùng chữ “hành.”
Đức
Thế tôn vì lý do gì mà xả đa thọ hành, lưu đa mạng hành?
Nhằm
để hiển bày đối với sự ”chết” có được tự tại
cho nên xả đa thọ hành; để hiển bày đối với sự sống
có được sự tự tại nên lưu đa thọ hành. Và chỉ kéo
dài trong ba tháng, không thêm, không bớt. Vượt quá ba tháng
thì không còn điều gì để giáo hoá nữa (hoá sự); ít hơn
ba tháng thời sự lợi sanh chưa được trọn vẹn. Để xác
nhận điều đã được tuyên bố trước đó, đức Thế tôn
nói rằng, “Ta khéo tu hành bốn thần túc cho nên muốn kéo
dài mạng sống một kiếp, hoặc hơn một kiếp, như tâm mong
muốn, liền được kéo dài.”90
Các
Luận sư Tỳ bà sa nói,91 vì để hiển bày, hiện
tại có khả năng nhiếp phục92 hai loại ma uẩn và tử;
trước kia ở dưới cây bồ đề, đức Thế tôn đã nhiếp
phục thiên ma và phiền não ma rồi vậy.
Bàn
luận rộng ra đã nhiều, nay trở về phần chính.
/10b/
Ưu và tám đều không: ưu căn và tám căn sau, tín v.v... đều
chẳng phải là dị thục. Vì là hữu ký vậy.
/10cd/
Sắc, ý và bốn thọ tất cả đều thông hai.
Còn
lại thông cả hai; đó là 12 căn gồm, bảy sắc căn, ý căn,
trừ ưu, bốn thọ còn lại, mỗi mỗi đều thông cả hai loại
dị thục và chẳng phải dị thục.
Bảy
sắc căn, nếu là sở trưởng dưỡng thì chẳng phải là dị
thục; ngoài ra là dị thục.
Ý
căn và bốn thọ căn, nếu thuộc thiện nhiễm ô, oai nghi lộ,
công xảo xứ và năng biến hoá, tuỳ theo chỗ ứng hợp, chẳng
phải là dị thục; ngoài ra là dị thục.
(Ngoại
nạn): Nếu ưu căn chẳng phải là dị thục thì đối chiếu
với Kinh nầy, làm sao thông hợp? Kinh nầy nói, “Có ba loại
nghiệp: thuận hỷ thọ nghiệp,93 thuận ưu thọ nghiệp,
thuận xả thọ nghiệp.”
Căn
cứ vào sự tương ưng với thọ mà nói thuận thì không có
gì trái ngược; nghĩa là, nghiệp tương ưng với ưu nên nói
là thuận ưu thọ nghiệp. Cũng giống như, xúc tương ưng với
lạc nói là thuận lạc thọ xúc.94
Nếu
vậy thì, thuận hỷ, thuận xả thọ nghiệp cũng nên như vậy.95
Vì
chỉ một Kinh nói96 nên, tuỳ theo ý Ông, với tôi không
có gì trái ngược; dị thục hay tương ưng, về lý đều không
có lỗi.
(Nạn
tiếp) Không thể giải thích được nên đành phải giải thích
như vậy; thực sự, về lý, căn cứ vào đâu để cho rằng,
ưu chẳng phải là dị thục97 .
(Hữu
Bộ giải thích) Vì ưu do sự phân biệt sai biệt98
mà có; và ưu chấm dứt cũng như vậy. Với dị thục thì
không.
(Ngoại
nạn) Nếu nói vậy, hỷ căn cũng không phải là dị thục.
Bởi lẽ cũng do phân biệt sai biệt mà có; và chấm dứt cũng
như vậy.
(Hữu
Bộ phản nạn) Nếu cho rằng, ưu căn là dị thục, khi đã
tạo nghiệp vô gián, nhân99 ấy tức thời sinh ưu; bấy
giờ, nghiệp nhân đó nên nói là quả đã chín.100 Cũng
như vậy mà hỏi về hỷ căn rằng, nếu cho rằng hỷ căn
là dị thục, khi đã tạo thắng phước nghiệp, nhân ấy tức
thời sanh hỷ; bấy giờ, nghiệp nhân nầy nên gọi là quả
đã chín.
(Tỳ
ba sa) Các Luận sư Tỳ Bà Sa đều nói, các vị đã ly dục
không có ưu căn; dị thục thì không như vậy (ly dục vẫn
có), cho nên ưu căn chẳng phải là dị thục.
(Vấn
nạn) Nếu vậy nên nói, do tướng trạng nào mà có thể biết
có hỷ căn dị thục của hạng hữu tình đã ly dục?
Tuỳ
theo tướng trạng mà kia có, tướng trạng này cũng vậy; nghĩa
là, thiện hỷ căn ở nơi địa vị ly dục có hiện hành;
vô ký dị thục hỷ, ở đó cũng chẳng phải không có. Ở
trong địa vị ly dục, tất cả các loại ưu đều không có,
cho nên quyết định chẳng phải là dị thục.
Tám
căn, nhãn v.v... nếu ở thiện thú, thuộc thiện dị thục;
nếu tại ác thú, thuộc ác dị thục. Ý căn hoặc tại thiện
thú hoặc tại ác thú, tùy theo đó dị thục hoăc ác hoặc
thiện. Hỷ, lạc, xả căn, dù hiện hành cõi nào cũng đều
là thiện dị thục. Khổ căn, dù ở thiện thú hoặc ác thú,
đều là ác dị thục. Ở trong thiện thú, chúng sanh nhị hình
(huỳnh môn), về căn xứ do nghiệp bất thiện chiêu cảm;
về sắc căn thiện thú do thiện nghiệp dẫn thủ.
Như
vậy là đã nói xong về dị thục.
3.Hữu
dị thục, Vô dị thục:
Trong
22 căn, có bao nhiêu căn có dị thục; bao nhiêu căn không có
dị thục?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312a26
: 憂 定 有 異 熟 前 八 後 三 無
T29n1560-p0312a27
: 意 餘 受 信 等 一 一 皆 通 二
Âm
Hán:
Ưu
định hữu dị thục Tiền bát hậu tam vô
Ý
dư thọ tín đẳng Nhất nhất giai thông nhị.101
Việt
dịch:
Ưu
ắt có dị thục Tám trước, ba sau không
Ý,
thọ còn lại, tín, v.v.. tất cả đều thông hai /11/.
Luận
giải thích:
/11a/.Ưu
ắt có dị thục: Ưu căn, như đoạn văn trước đã tranh
luận, nên biết, quyết định có dị thục. Căn cứ vào
nghĩa duy và vượt nên tụng nói là quyết định. Đó
là nêu bày ưu căn có dị thục; và gồm cả hai nghĩa, nên
đã vượt thứ lớp mà nói. Gồm cả hai nghĩa: (1) Ưu chẳng
phải là vô ký, khởi lên do tư mạnh mẽ.102 (2) Cũng
chẳng phải là vô lậu, mà là thuộc tán địa vậy. Do hai
nghĩa như vậy nên đã không theo thứ tự mà được đem nói
trước; ưu căn quyết định có dị thục.
/11b/.Tám
trước, ba sau không: tám căn đầu, mắt v.v... và ba căn sau
cùng, quyết định không có dị thục. Bởi lẽ, tám căn trước
là vô ký; ba căn sau là vô lậu.
/11cd/.Ý,
thọ còn lại, tín, v.v.., tất cả đều thông hai: tất
cả còn lại đều thông cả hai; đó là ý căn, các thọ còn
lại, và tín v.v.... Nói v.v....(đẳng) là chỉ cho bốn căn
tinh tấn, v.v....Mười hai căn nầy, mỗi mỗi đều thông cả
hai loại. Ý, lạc, hỷ, xả, nếu thuộc bất thiện, thiện
hữu lậu là có dị thục; nếu là vô ký, vô lậu thì không
có dị thục. Khổ căn, nếu là thiện, bất thiện đều có
dị thục; nếu là vô ký thì không có dị thục. Năm căn,
tín v.v..., nếu thuộc hữu lậu là có dị thục; nếu thuộc
vô lậu thì không có dị thục.
Như
vậy đã nói xong về có dị thục, không có dị thục.
4.Ba
tính.
Trong
22 căn, bao nhiêu căn là thiện, bao nhiêu căn là bất thiện
và bao nhiêu căn là vô ký tánh?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312a28
: 唯 善 後 八 根 憂 通 善 不 善
T29n1560-p0312a29
意 餘 受 三 種 前 八 唯 無 記
Âm
Hán:
Duy
thiện hậu bát căn Ưu thông thiện bất thiện
Ý
dư thọ tam chủng Tiền bát duy vô ký.103
Việt
dịch:
Duy
thiện, tám căn sau Ưu thông thiện bất thiện
Ý,
các thọ còn lại, cả ba Tám trước, duy vô ký /12/.
Luận
giải thích:
/12a/.Duy
thiện, tám căn sau: tám căn, tín, v.v... hoàn toàn là thiện.
Theo thứ tự, tám căn nầy nằm ở sau, nhưng theo văn mạch
trước nên được đưa lên đầu.
/12b/.Ưu
thông thiện bất thiện: ưu căn thông cả thiện và bất thiện
tánh.
/12c/.Ý,
các thọ còn lại, cả ba: ý căn và bốn thọ còn lại đều
thông cả ba tánh.
/12d/.Tám
trước, duy vô ký: tám căn, mắt, v.v..., thuộc vô ký
tánh.
Như
vậy, đã nói xong về ba tánh thiện, bất thiện, v.v....
5.Giới
hệ.
Trong
22 căn, bao nhiêu căn hệ thuộc Dục giới, bao nhiêu hệ thuộc
Sắc giới, bao nhiêu hệ thuộc Vô sắc giới?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b01
: 欲 色 無 色 界 如 次 除 後 三
T29n1560-p0312b02
: 兼 女 男 憂 苦 并 餘 色 喜 樂
Âm
Hán:
Dục,
Sắc, vô sắc giới như thứ, trừ hậu tam
Kiêm
nữ nam ưu khổ tịnh trừ sắc hỷ lạc.104
Việt
dịch:
Cõi
Dục Sắc và Vô sắc Thứ tự, trừ ba sau;
Thêm
nữ nam ưu khổ Và trừ sắc hỷ lạc /13/.
Luận
giải thích:
/13abc/
Cõi Dục Sắc và Vô sắc thứ tự, trừ ba sau và trừ các
căn nữ nam ưu khổ
Theo
thứ tự, cõi Dục trừ ba căn vô lậu sau cùng, vì ba căn đó
không hệ thuộc. Cho nên biết rằng, chỉ có 19 căn hệ thuộc
Dục giới.
Sắc
giới cũng giống như trước, trừ ba vô lậu căn, trừ thêm
bốn căn nam, nữ, ưu, khổ, còn lại 15 căn hệ thuộc sắc
giới.
Trừ
hai căn nam, nữ, bởi lẽ, ở cõi Sắc không còn vấn đề
dâm dục; hơn nữa, hai căn nam, nữ khiến cho thân thể trở
nên xấu xí.
Nếu
vậy, tại sao lại nói ở cõi Sắc có nam giới?
Nơi
nào nói vậy?
Trong
Khế kinh nói, “Không có bất cứ trường hợp, không bao giờ
có thể có thân nữ làm Phạm vương. Trường hợp xảy ra,
có nam thân làm Phạm vương.”105
Ngoài
ra có cõi, có nam tướng; đó là cõi Dục, có trong thân tướng
nam giới106 .
Không
có khổ căn: vì thân thể vốn tịnh diệu; lại nữa, ở cõi
đó, không có các pháp bất thiện. Không có ưu căn: vì do
xa-ma-tha (śamatha) tương tục, thắm nhuận; lại nữa, ở cõi
kia (định kia), không có các việc não hại.
/13d/.Và
trừ sắc hỷ lạc: cõi Vô sắc cũng như trước, trừ ba vô
lậu, nữ, nam, ưu, khổ; và trừ năm sắc căn, cùng hai căn
hỷ, lạc; cho nên biết rằng, tám căn còn lại hệ thuộc
cõi Vô sắc; đó là, ý căn, mạng căn, xả căn và năm căn
tín v.v...
Như
vậy, đã nói xong, các căn hệ thuộc cõi Dục, v.v...
6.
Đoạn trừ:
Trong
22 căn, bao nhiêu căn thuộc Kiến sở đoạn107 , bao nhiêu căn
thuộc Tu sở đoạn và bao nhiêu căn thuộc Phi sở đoạn? Tụng
đáp,
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b03
: 意 三 受 通 三 憂 見 修 所 斷
T29n1560-p0312b04
: 九 唯 修 所 斷 五 修 非 三 非
Âm
Hán:
Ý
tam thọ thông tam Ưu kiến tu sở đoạn
Cửu
duy tu sở đoạn Ngũ tu phi tam phi108
Việt
dịch:
Ý,
ba thọ thông ba Ưu đoạn ở kiến tu
Chín
chỉ đoạn ở tu Năm tu phi, ba phi /14/.
Luận
giải thích:
/14a/.Ý,
ba thọ thông ba: nghĩa là ý căn, và ba thọ căn hỷ, xả, lạc,
mỗi mỗi đều thông cả ba tức là được đoạn trừ ở
cả hai đạo Kiến, Tu, và thông với Phi.
/14b/.Ưu
đoạn ở kiến tu: Ưu căn chỉ được đoạn trừ ở kiến
đạo và tu đạo; vì chẳng phải là vô lậu.
/14c/.
Chín chỉ đoạn ở tu: Bảy sắc căn và hai căn mạng,
khổ chỉ được đoạn trừ ở tu đạo; vì không thuộc pháp
nhiễm ô, không do thức thứ sáu sanh ra; tất cả đều thuộc
hữu lậu.
/14d/.
Năm tu phi, ba phi: Năm căn tín,v.v... hoặc được đoạn trừ
ở tu đạo, hoặc thông với phi sở đoạn, vì chẳng thuộc
nhiễm ô; tất cả thông với hữu lậu và vô lậu. Ba căn
sau cùng chỉ thông với phi sở đoạn, vì là vô lậu, và vì
chẳng phải pháp vô quá,109 là pháp cần được đoạn
trừ.
Như
vậy, đã nói xong các tính chất khác nhau của căn.
V:
TẠP
PHÂN BIỆT.
1.
Dị thục thọ sanh.
Ở
giới nào, có bao nhiêu căn dị thục có đầu tiên?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b05
: 欲 胎 卵 濕 生 初 得 二 異 熟
T29n1560-p0312b06
: 化 生 六 七 八 色 六 上 唯 命
Âm
Hán:
Dục
thai, noãn, thấp sanh. Sơ đắc nhị dị thục.
Hoá
sanh lục thất bát. Sắc
lục thượng duy mạng.110
Việt
dịch:
Dục,
từ thai, trứng, thấp mới đầu, hai dị thục;
Hoá
sanh sáu bảy tám. Sắc sáu, trên duy mạng /15/.
Luận
giải thích:
1.
Cõi Dục.
/15ab/.Dục,
từ thai trứng thấp; mới đầu, hai dị thục: ở cõi Dục,
chúng sanh từ thai, trứng, thấp sanh ra, đầu tiên chỉ có
được hai căn dị thục là thân và mạng; bởi lẽ, trong ba
loại thọ sanh nầy, các căn phát sinh dần dần.
Ở
đó, tại sao lại không có hai căn ý và xả?
Hai
căn nầy trong giai đoạn tục sanh111 nó nhất định thuộc
nhiễm ô vậy (dị thục thuộc vô ký).
/15c/.Hoá
sanh sáu bảy tám: chúng sanh loài hoá sanh112 , khi mới thọ
sanh, có đến 6,7 hoặc 8; đó là loài vô hình,113 khi mới
thọ sanh có sáu căn. Như thời kiếp sơ vậy. Sáu căn đó
là gì? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và mạng. Nếu là một hình,114
khi mới thọ sanh, có được bảy căn. Như chư thiên,v.v....
Nếu là hai hình,115 khi mới thọ sanh, có được 8 căn.
Cũng
có nhị hình thọ sanh trong loài hoá sanh chăng116 ?
Trong
các ác thú, đều có nhị hình hoá sanh.
Như
vậy, nói xong, ở Dục giới, các căn đầu tiên có được.
2.
Cõi sắc và Vô sắc.
/15d/.Sắc
sáu, trên duy mạng: Ở cõi Dục, dục tham mạnh nên chỉ nói
dục; cõi Sắc, sắc pháp mạnh nên chỉ nói sắc. Khế kinh
cũng nói, tịch tĩnh giải thoát, vượt quá Sắc và Vô sắc.
Cõi
Sắc, ban đầu có sáu căn dị thục; giống như vô hình hoá
sanh ở cõi Dục.
Cõi
trên hết117 chỉ có mạng căn; nghĩa là, cõi Vô sắc
có định lực thù thắng118 và xứ sở thù thắng cho
nên nói là trên. Ở cõi Vô sắc, lúc ban đầu, chỉ có dị
thục mạng căn, ngoài ra, không có căn nào.
Đã
nói về dị thục căn, đầu tiên có được.
2.
Diệt căn đa thiểu
Tiếp
đến, ở mỗi giới, khi lâm chung, bao nhiêu căn diệt sau cùng?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b07
: 正 死 滅 諸 根 無 色 三 色 八
T29n1560-p0312b08
: 欲 頓 十 九 八 漸 四 善 增 五
Âm
Hán:
Chánh
tử diệt chư căn Vô sắc tam, sắc bát.
Dục
đốn thập cửu bát tiệm tứ thiện tăng ngũ119
Việt
dịch:
Chánh
tử các căn diệt Vô sắc ba, sắc tám.
Dục
đốn, mười chín tám; tiệm bốn, thiện thêm năm /16/.
Luận
giải thích:
1.Cõi
Vô sắc.
/16ab/.Chánh
tử các căn diệt, Vô sắc ba: ở cõi Vô sắc, khi sắp lâm
chung, ba căn mạng, ý, xả diệt mất sau cùng.
2.
Cõi Sắc.
Sắc
tám: nếu ở cõi Sắc, khi sắp lâm chung, ba căn vừa nói ở
trước cùng với năm căn nhãn v.v..., tám căn đó diệt sau
cùng. Tất cả các loài hoá sanh đều có đủ các căn trong
khi sống chết.
3.
Cõi Dục.
a.
Đốn tử.
/16c/.Dục
đốn, mười chín tám: nếu ở cõi Dục, chết đột ngột,
có 10,9,8 căn diệt sau cùng. Nếu là nhị hình, có 10 căn diệt
sau cùng; tức là hai căn nam, nữ cọng với tám căn trước.
Nếu thuộc nhất hình, có 9 căn diệt sau cùng tức là trong
hai căn nam nữ tuỳ theo đó mà trừ một. Nếu thuộc vô hình,
có tám căn diệt sau cùng tức là không có hai căn nam, nữ,
chỉ có tám căn trước. Như vậy là căn cứ vào sự chết
đột ngột.
b.
Tiệm tử.
/16d/.Tiệm
bốn: nếu chết dần dần, cuối cùng chỉ có bốn căn; đó
là, tại Dục giới, khi chết dần dần, bốn căn thân,
mạng, ý, xả diệt sau cùng. Bốn căn nầy không có nghĩa diệt
trước hoặc sau.
Nói
như vậy, nên biết rằng, chỉ căn cứ vào tâm nhiễm ô vô
ký khi lâm chung vậy.
c.
Thiện.
/16d/.Thiện
thêm năm: nếu trong tam giới, với thiện tâm khi chết, có
đủ cả năm tín, v.v...; cho nên trước có nói, trong tất cả
các địa vị, số lượng kia đều nên gia thêm năm căn tín,v.v...;
nghĩa là, ở Vô sắc, tăng lên 8 căn; cho đến ở cõi Dục,
chết dần dần, tăng lên 9 căn; ở trung gian nhiều ít như
thế nào, nên theo lý mà biết.
3.
Đắc quả dụng căn.
Tất
cả các căn pháp trong phần phân biệt căn, nên suy nghĩ phân
biệt120 , trong 22 căn, những quả sa môn nào, có bao nhiêu căn
chứng đắc?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b09
: 九 得 邊 二 定 七 八 九 中 二
T29n1560-p0312b10
: 十 一 阿 羅 漢 依 一 容 有 說
Âm
Hán:
Cửu
đắc biên nhị định Thất bát cửu trung nhị
Thập
nhất a la hán Y nhất dung hữu thuyết.121
Việt
dịch:
Chín
đắc hai định biên Bảy tám chín, hai giữa
Mười
một A la hán Nương một cùng có mà
nói /17/.
Luận
giải thích:
Biên
chỉ cho quả Dự lưu và quả A-la-hán; trong bốn quả sa môn,
hai quả nầy nằm trước và sau vậy. Trung chỉ cho quả Nhất
lai và Bất hoàn. So sánh với hai quả trước và sau, chúng
nằm ở giữa.
/17a/.Chín
đắc hai định biên: quả Dự lưu tức quả đầu tiền do
chín căn chứng đắc; đó là, ý căn, xả căn, năm căn (tín
v.v... ) và vị tri đương tri căn, dĩ tri căn. Vị tri căn, tại
vô gián đạo122 , dĩ tri căn tại giải thoát đạo123 . Hai
căn nầy hỗ trợ cho nhau để chứng đắc quả Dự lưu. Như
thứ tự, đối với việc chứng đắc ly hệ, làm dẫn nhơn124
và y nhơn125 . Quả A-la-hán126 cũng do chín căn chứng đắc;
đó là, ý căn, năm căn (tín, v.v...), dĩ tri căn, cụ tri căn,
và cọng thêm một trong ba căn hỷ, xả, lạc. Dĩ tri căn tại
vô gián đạo; cụ tri căn tại giải thoát đạo; hai căn nầy
hỗ trợ cho nhau để chứng đắc quả A-la-hán. Theo thứ tự,
đối với việc chứng đắc ly hệ, làm dẫn nhơn, y nhơn.
/17b/.Bảy
tám chín, hai giữa: (hai giữa tức) hai quả trung gian, tuỳ
theo sở ứng, có bảy, tám, chín căn chứng đắc.
Vì
sao như vậy?
Như
với quả Nhất lai, theo thứ đệ chứng,127 y thế gian
đạo128 , do bảy căn chứng đắc; đó là các căn ý, xả,
năm căn tín, v.v...; y xuất thế gian đạo129 , do tám căn chứng
đắc; đó là, gồm bảy căn trước và thêm dĩ tri căn. Bội
ly dục tham, siêu việt chứng,130 như quả Dự lưu, do
chín căn chứng đắc.
Nếu
quả Bất hoàn131 , theo thứ đệ chứng, y thế gian đạo do
bảy căn chứng đắc; y xuất thế gian đạo do tám căn chứng
đắc. Cũng giống như thứ đệ chứng quả Nhất lai ở trước.
Toàn ly dục tham132 , siêu việt chứng, do chín căn chứng đắc.
Giống như siêu việt chứng quả Nhất lai ở trước. Nói chung
(tuy giống Nhất lai được chứng đắc bởi 7,8,9), vẫn có
sai biệt; đó là do y địa nầy (toàn ly dục tham siêu việt
chứng) có sự sai biệt, tức trong lạc, hỷ, xả, có
thể theo đó mà thủ đắc một. Quả Nhất lai trước, siêu
việt chỉ có duy nhất xả căn. Lại nữa, thứ đệ chứng
quả Bất hoàn, nếu ở trong đệ cửu giải thoát đạo nhập
căn bản địa, y thế gian đạo, do tám căn chứng đặng; trong
vô gián đạo có xả thọ tương ưng; trong giải thoát đạo,
lại có hỷ thọ; hai thọ nầy hỗ trợ lẩn nhau chứng quả
thứ ba. Đối với ly hệ đắc, hai nhơn dẫn, y, cũng giống
như trước; y xuất thế gian đạo, do chín căn thành tựu;
tám căn như trước và thêm căn dĩ tri là chín. Vô gián đạo
và giải thoát đạo, căn dĩ tri nầy đều có.
/17cd/.Mười
một A la hán nương một cùng có mà nói
Há
chẳng phải trong trong Căn bổn A-tỳ đạt-ma,133 có hỏi
rằng, “Do bao nhiêu căn chứng đắc quả A la hán? Đáp,
11 căn chứng đắc.” Thế tại sao đây lại nói, do chín căn
chứng đắc?
Thật
sự chứng đắc quả thứ tư chỉ do chín căn, song Bổn luận
nói 11 căn, đó là y nơi một thân có thể có nên nói như
vậy; nghĩa là có một hạng bổ-đặc-già-la134 , từ vô học
vị135 , sau nhiều lần thối thất, thường thường với lạc,
hỷ, xả, tùy trường hợp, có một căn hiện tiền,136
trở lại chứng đắc quả A-la-hán. Do vậy, Luận nầy, nói
11 căn; song, không khi nào ba thọ cùng khởi lên một lúc, cho
nên nay nói quyết định do chín căn.
Ở
trong quả Bất hoàn, sao lại không nói như vậy(cùng có ba
thọ)?
Bởi
lẽ, không có trường hợp bằng lạc căn chứng quả
Bất hoàn rồi sau đó có sự thối lui;137 cũng không có
việc đã thối lui rồi do lạc căn, lại chứng đắc. Đây
chẳng phải quả ly dục Bất hoàn do siêu việt chứng đắc,
có sự thối lui; đây là quả ly dục bất hoàn do hai đạo
chứng đắc (thế gian đạo và xuất thế gian đạo), rất
kiên cố.
4.
Chư căn định lượng.
Nay
nên suy nghĩ, trong 22 căn, khi một căn thành tựu, có bao nhiêu
căn quyết định cùng thành tựu?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b11
: 成 就 命 意 捨 各 定 成 就 三
T29n1560-p0312b12
: 若 成 就 樂 身 各 定 成 就 四
T29n1560-p0312b13
: 成 眼 等 及 喜 各 定 成 五 根
T29n1560-p0312b14
: 若 成 就 苦 根 彼 定 成 就 七
T29n1560-p0312b15
: 若 成 女 男 憂 信 等 各 成 八
T29n1560-p0312b16
二 無 漏 十 一 初 無 漏 十 三
Âm
Hán:
Thành
tựu mạng, ý, xả. Các định thành tựu tam.
Nhược
thành tựu lạc, thân. Các định thành tựu tứ138
Thành
nhãn đẳng cập hỷ. Các định thành ngũ căn
Nhược
thành tựu khổ căn. Bỉ định thành tựu thất
Nhược
thành nữ, nam, ưu. Tín đẳng, các thành bát
Nhị
vô lậu, thập nhất. Sơ vô lậu thập tam
Việt
dịch:
Thành
tựu mạng, ý, xả đều cùng thành tựu ba.
Nếu
thành tựu lạc, thân
đều cùng thành tựu bốn /18/.
Thành
tựu mắt, v.v.. và hỷ đều cùng thành tựu năm.
Nếu
thành tựu khổ căn kia cùng thành tựu bảy /19/.
Nếu
thành tựu nữ nam ưu Tín, v.v... cùng thành tựu
tám.
Hai
vô lậu, mười một Sơ vô lậu, mười ba /20/.
Luận
giải thích:
/18ab/.Thành
tựu mạng, ý, xả, đều cùng thành tựu ba.
Ba
căn mạng, ý, xả, khi thành tựu một, cả ba căn đều thành
tựu. Trong ba căn này, không thể thiếu một mà các căn còn
lại thành tựu được.
Ngoài
ba căn nầy, các căn còn lại (19 căn) là bất định: hoặc
thành tựu hoặc không thành tựu. Trong đó, bốn căn nhãn,
nhĩ, tỷ, thiệt, nếu sanh ở Vô sắc giới, quyết định không
thành tựu. Nếu sanh Dục giới mà (chúng) chưa có, hoặc đã
mất tức cũng không thành tựu. Thân căn chỉ không thành tựu
khi sanh ở Vô sắc giới. Hai căn nữ nam, sanh ở hai giới trên,
quyết định không thành tựu; nếu sanh Dục giới, chưa có
hoặc đã mất, cũng không thành tựu. Lạc căn, ở loài dị
sanh, sanh ở tứ định và Vô sắc giới, quyết định không
thành tựu. Hỷ căn ở loài dị sanh, sanh ở tam, tứ định
và Vô sắc giới, quyết định không thành tựu. Khổ căn,
nếu sanh Sắc và Vô sắc giới, quyết định không thành tựu.
Ưu căn ở nơi tất cả các hàng ly dục tham, quyết định
không thành tựu. Năm căn tín,v.v..., ở nơi người thiện căn
bị mất, quyết định không thành tựu. Căn vô lậu thứ nhất,
ở nơi tất cả các loài dị sanh và các bậc đã trú quả,
quyết định không thành tựu. Căn vô lậu thứ hai, ở nơi
tất cả các loài dị sanh, kiến đạo, vô học đạo, quyết
định không thành tựu. Căn vô lậu sau cùng, ở nơi tất cả
các loài dị sanh và hữu học vị, quyết định không thành
tựu.
Các
trường hợp mà trên đây không loại trừ,139 nên biết,
cứ theo như trước mà nói, các căn đều quyết định thành
tựu.
/18cd/.Nếu
thành tựu lạc, thân, đều cùng thành tựu bốn.
a.Nếu
thành tựu lạc căn, quyết định bốn căn cùng thành tựu;
đó là, mạng, ý, xả và lạc căn nầy.
b.Nếu
thành tựu thân căn, cũng quyết định bốn căn cùng thành
tựu; đó là mạng, ý, xả và thân căn nầy.
/19ab/.Thành
tựu mắt,v.v..và hỷ, đều cùng thành tựu năm.
a.
Nếu thành tựu căn con mắt, quyết định năm căn cùng thành
tựu; đó là mạng, ý, xả, thân và căn con mắt.(Nếu thành
tựu) các căn tai, mũi, lưỡi, nên biết, quyết định cũng
cùng thành tựu năm căn; bốn căn trước giống ở căn con
mắt, thứ năm là chính căn được thành tựu đó.
b.
Nếu thành tựu hỷ căn, cũng quyết định thành tựu năm căn;
đó là mạng, ý, xả, lạc và hỷ căn.
Nếu
sanh vào đệ nhị thiền mà chưa chứng được đệ tam thiền
tức là khi xả bỏ cõi dưới, chưa chứng cõi trên, thành
tựu loại lạc căn nào? Nên nói, thành tựu nhiễm ô lạc
căn ở đệ tam thiền; không thành tựu các căn thiện, vô
phú vô ký.
/19cd/.Nếu
thành tựu khổ căn; kia cùng thành tựu bảy
Nếu
thành tựu khổ căn, quyết định cùng thành tựu bảy căn;
đó là, thân, mạng, ý và bốn thọ căn; trừ ưu.
/20ab/.Nếu
thành tựu nữ nam ưu;Tín, v.v..cùng thành tám:
a.
Nếu thành tựu nữ căn, quyết định đồng thời thành tựu
tám căn; đó là, bảy căn như ở khổ và thứ tám là
nữ căn.
b.
Nếu thành tựu nam căn, quyết định đồng thời thành tựu
tám căn; đó là bảy căn như ở khổ, thứ tám là nam căn.
c.
Nếu thành tựu ưu căn, quyết định đồng thời thành tựu
tám căn; đó là bảy căn như ở khổ, thứ tám là ưu căn.
d.
Nếu thành tựu các căn, tín, v.v..., quyết định đồng thời
cũng đều thành tựu tám căn; đó là mạng, ý, xả và năm
căn, tín v.v...
/20cd/.Hai
vô lậu, mười một; Sơ vô lậu, mười ba:
a.
Nếu thành tựu cụ tri căn, quyết định đồng thời thành
tựu 11 căn; đó là mạng, ý, lạc, hỷ, xả và năm căn tín,
v.v... cùng cụ tri căn.
b.
Nếu thành tựu dĩ tri căn, quyết định đồng thời thành
tựu 11 căn; mười căn như trên cùng với dĩ tri căn.
c.
Nếu thành tựu vị tri căn, quyết định đồng thời thành
tựu 13 căn; đó là thân, mạng, ý, khổ, lạc, hỷ, xả, năm
căn tín v.v... và vị tri căn.
5.
Chư căn cực thiểu.
Trong
22 căn, số lượng các căn thành tựu tối thiểu là bao nhiêu?
Văn
Tụng.
Hán:
T29n1560-p0312b17
: 極 少 八 無 善 成 受 身 命 意
T29n1560-p0312b18
: 禺 生 無 色 界 成 善 命 意 捨
Âm
Hán:
Cực
thiểu bát vô thiện. Thành thọ, thân, mạng, ý.
Ngu
sanh vô sắc giới. Thành thiện mạng ý xả.140
Việt
dịch:
Cực
thiểu, tám, vô thiện Thành thọ, thân, mạng, ý.
Ngu
sanh cõi vô sắc Thành thiện mạng ý xả /21/.
Luận
giải thích:
/21ab/.Cực
thiểu, tám, vô thiện, thành thọ, thân, mạng, ý.
Chúng
sanh đã đoạn thiện căn gọi là vô thiện.141 Với chúng
sanh đó, số căn tối thiểu được thành tựu142 là tám;
đó là năm thọ và thân, mạng, ý. Thọ là năng thọ, năng
lãnh nạp143 vậy; hoặc là thọ tánh144 nên gọi
là thọ. Như dựa vào tánh viên mãn145 mà lập tên gọi
là viên mãn146 .
/21cd/.Ngu
sanh cõi Vô sắc thành thiện mạng ý xả.
Cũng
như hàng chúng sanh đoạn thiện căn thành tựu tối thiểu
tám căn, hàng ngu sanh ở Vô sắc, cũng thành tựu tám căn.
Ngu là dị sanh, chưa thấy Đế lý vậy. Những gì là tám?
Năm căn tín, v.v... mạng, ý, xả căn. Năm căn tín, v.v... luôn
luôn là thiện nên gọi chung là thiện.
Nếu
vậy, nên bao gồm luôn cả ba vô lậu căn.
Không
thể được. Ở đây, căn cứ vào tám căn (mà nói là thiện,
không căn cứ vào 22 căn). Lại nói ngu sanh Vô sắc giới vậy
(tức biết rằng, không thành tựu ba vô lậu căn).
6.
Chư căn cực đa.
Trong
22 căn, số lượng các căn thành tựu tối đa là bao nhiêu?
Văn
Tụng:
Hán:
T29n1560-p0312b19
: 極 多 成 十 九 二 形 除 三 淨
T29n1560-p0312b20
: 聖 者 未 離 欲 除 二 淨 一 形
Âm
Hán:
Cực
đa thành thập cửu nhị hình trừ tam tịnh
Thánh
giả vị ly dục Trừ nhị tịnh nhất hình.147
Việt
dịch:
Cực
đa là mười chín Nhị hình trừ ba tịnh
Bậc
thánh chưa ly dục
Trừ hai tịnh, nhất hình /22/.
Luận
giải thích:
/22ab/.Cực
đa là mười chín Nhị hình trừ ba tịnh.
Chúng
sanh nhị hình đầy đủ các căn mắt, v.v..., trừ ba căn vô
lậu, thành tựu 19 căn còn lại. Vô lậu gọi là tịnh vì
lìa xa hai sự trói buộc (tương ưng phược và sở duyên phược).
Nhị hình tức là dị sanh cõi Dục, chưa ly dục tham, cho nên
thành tựu 19 căn.
Chỉ
có nhị hình thành tựu đầy đủ 19 căn mà thôi ư?
/22c/.Bậc
thánh chưa ly dục.
Các
bậc thánh chưa ly dục cũng thành tựu đầy đủ 19 căn; đó
là thánh hữu học chưa lìa dục tham thành tựu cực đa cũng
đầy đủ 19 căn.
/22d/.Trừ
hai tịnh, nhất hình.
Trừ
hai tịnh tức trừ hai vô lậu và hàng chúng sanh nhất hình:
ở tại kiến đạo, trừ dĩ tri căn và cụ tri căn; nếu ở
tu đạo, trừ vị tri căn và cụ tri căn. Hai căn nữ nam, tuỳ
theo đó, trừ đi một loại vì các bậc thánh, không có nhị
hình.
Nhơn
phân biệt về giới, căn, phi căn khác nhau, đã bàn luận chi
tiết về 22 căn.
Thuyết
nhất thiết hữu bộ câu xá luận (q.3)
bản
Việt dịch: Thích Phước Viên
Chú
Thích:
1 Ht.
Phẩm Phân biệt căn, 分 別 根 品. Luận Tạp Tâm
gọi là 行 品 Phẩm Hành. Luận Chánh Lý gọi là
差 別 品 Phẩm Sai biệt. Sở dĩ có ba tên gọi khác
nhau, Quamg ký q.3, tr. 55c23 giải thích rằng, Luận nầy gọi
Phẩm Phân biệt căn, ý nói về tác dụng của căn tức hiển
bày tác dụng quyết định; luận Tạp Tâm nói Hành có nghĩa
hoặc là tạo tác hoặc là đổi dời, tức hiến bày tác dụng
không quyết định; luận Chánh Lý nói Sai biệt tuy cũng hiển
bày tác dụng không đồng nhất nhưng lại còn hoặc hiển
bày tính có hay không có hoặc hiển bày tính hữu vi hay
vô vi khác nhau tức cũng hiển bày tác dụng chẳng phải
là quyết định.
2
Quang ký, q.3.tr.56c09, có giải thích, thể của căn vượt trội
gọi là tối thắng; dụng vượt trội gọi là tự tại; thể
dụng vượt trội gọi là quang hiển.
3Ht.
此 增 上 義 誰 望 於 誰, thử tăng thượng nghĩa thuỳ vọng
ư thuỳ. Cđ. 於 中 何 根 何 處 自 在, ư trung,
hà căn hà xứ tự tại.
4Truyền
thuyết, ở đây, chỉ cho quan điểm của Tỳ bà sa.
5
Skt. caturṣve artheṣu pañcānām ādhityaṃ dvayoḥ kila/ catuṇṇāṃ
pañcakāṣṭānāṃ saṃkleśavyavadānayoḥ//1/
6
Ht. 有 情 異, hữu tình dị. Cđ. 眾 生 差 別 Chúng sanh
sai biệt. Skt. sattvabheda, khác nhau về giới tính.
7
Ht. 分 別 異, phân biệt dị. Cđ. 相 貌 不 同, tướng mạo
bất đồng. Skt. sattvavikalpabheda, khác nhau về hình tướng.
8
Nguyên Hán: phiến-đề 扇搋 (Skt. ṣanḍa), bán-trạch 半擇
(paṇḍaka), nhị hình 二形 ( ubhayavyañjana). Ht. 本 性
損 壞 扇搋半擇 及 二形 人 , bốn tánh tổn hoại phiến
đề bán trạch cập nhị hình nhơn. Quang ký q.3. tr.5612 “nên
biết, phiến đề hay bán trạch đều gọi là huỳnh môn. Phiến
đề (phiến đề ca) là không có căn; có hai loại: bổn tánh
phiến đề và tổn hoại phiến đề. Bán-trạch (bán-trạch-ca)
có ba loại: một tật đố nghĩa là khi thấy việc hành dâm,
nam thế mới khởi; hai, bán nguyệt nghĩa là nữa tháng là
đàn ông, nữa tháng là đàn bà; ba, quán sái nghĩa là khi tắm
rửa nam thế mới khởi. Cđ. 自 性 黃 門 tự tánh huỳnh môn.
9Ht.雜
染 法, tạp nhiễm pháp. Skt. sāṃkleśika.
10
Ht. 不 律 儀, bất luật nghi. Cđ. 不 護, bất hộ.
Skt. asaṃvara.
11Ht.
清 淨 法, thanh tịnh pháp. Skt. vaiyavadānika.
12Ht.
律 儀, luật nghi. Cđ. 守 護, thủ hộ. Skt. saṃvara
13Ht.
得 果, đắc quả. Cđ. 至 果, chí quả.
14Ht.
離 染, ly nhiễm. Cđ. 離 欲, ly dục. Skt. vairāgya.
15
Ht. 眾 同 分 chúng đồng phần. Cđ. 聚 同 分 tụ đồng
phần. Skt. nikāya-sabhāga
16Ht.
能 持, giữ gìn. Cđ. 執 持, chấp trì. Skt. saṃdhāraṇa.
17Ht.
能 續, năng tục. Cđ. 相 應, tương ưng. ( Skt. saṃbandha)
18
Ht.能 續 後 有, tiếp nối đời sau. Cđ. 後 有 相 應,
tương ưng đời sau. Quang ký q.3,tr75a12, giải thích, tăng thượng
cho việc tiếp nối đời sau nghĩa là hỗ trợ cho tâm thức
của trung ấm hoặc tương ưng với ái, hoặc tương ưng với
nhuế, v.v.. dể tạo thành sanh hữu. (Skt. punarbhavasaṃbandha
).
19Ht.
自 在 隨 行, tự tại tuỳ hành. Cđ. 隨 從 自 在, tuỳ tùng
tự tại. (Skt. vaśībhāvānuvartana).
20Kiền-đạt-phược
健達縛 (gandharva): tầm hương, thực hương; đây gọi là thân
trung ấm, ý sanh thân, thân do ý thức sanh ra.
21Ht.
於 一 心 內 隨 一 現 前 謂 或 愛 俱 或 恚 俱 等 tâm
tương ưng với một tính chất mà hiện tiền.... Cđ. 於 二
意 中 隨 一 現 前,或 與 欲 相 應 或 與 瞋 相 應
trong hai ý, tuỳ thuộc vào một mà hiện tiền hoặc tương
ưng với Dục hoặc tương ưng với Sân.
22Skt.
svārthopalabdhyādhipatyāt sarvasya ca ṣaḍindriyam/ strītva-puṃsvādhipatyāt
tu kāyāt struruṣendriye//2/
23Shutārtha:
chỉ Sautrāntika (Kinh lượng bộ). Quang ký, đây chỉ thức
kiến gia.
24Ht.
不 共 事 bất cọng sự. Cđ. 不 共 因 bất cọng nhân.
25Bảo
sớ q3.tr.513b18. Đây là câu hỏi của các luận Sư Tỳ Bà
Sa, nếu không chấp nhận quan điểm của chúng tôi rằng, mắt
có công năng đạo dưỡng thân và có tính chất cá biệt,
v.v... để nói là có tác dụng tăng thượng, thế thì luận
sư Kinh Bộ của các ông nói thế nào?
26Ht.了
別 各 別 境 識 (các) thức nhận biết từng đối tượng
riêng biệt, tức năm thức thân, mỗi mỗi đều duyên với
cảnh riêng của nó; chẳng hạn, thức con mắt duyên với sắc,
v.v.... Cđ. đắc tự trần 得 自 塵.
27
Ht. 了 別 一 切 境 識 thức nhận biết tổng tướng của
tất cả các pháp, chỉ cho thức thứ sáu, đệ lục ý thức.
Cđ. 得 一 切 塵 đắc nhất thiết trần. Skt. manovijñāna
28Ht.
最 勝 自 在 tối thắng tự tại. Cđ. 最 勝 主 tối thắng
chủ. Skt. (adhika-prabhutva)
29Ht.
眼 於 所 發 了 色 識 中 căn con mắt đối với việc phát
sanh liễu sắc thức (thức con mắt). Cđ. 眼 於 得 色 中 nhãn
ư đắc sắc trung.
30Ht.
了 眾 色 為 通 因, làm nhơn chung cho các thức liễu
biệt chúng sắc. Quang ký q3.tr57b21 “謂 一 眼 根 能 與 了
別 眾 色 諸 識 為 通 因 。 。 。 ... ( hàng 26), 色 即 不
然.... (一) 非 通 因 謂 清 等 色 但 能 生 清 等 識,
不 能 生 黃 等 識...”, một căn con mắt có thể làm nhơn
chung cho các thức nhận biết các màu sắc...... sắc thì không
thể làm nhơn chung, nghĩa là, (các) sắc xanh, (v.v...) chỉ sanh
khởi nhận thức về xanh, không thể sanh khởi nhận thức
về vàng, v.v....
31
Cđ. trong bản Ngài Chơn đế có thêm “隨 其 增 損 tuỳ kỳ
tăng tổn”
32
Skt. nikāyasthitisaṃkleśavyavadānādhipatyâtḥ/ jīvitaṃ vedanāḥ
pañca śraddhādyāś cendriyaṃ matāḥ// 3/
33
Nguyên Hán: chúng đồng phận trụ 眾同分住. Skt. nikāyasthiti,
sự tồn tại của thân.
34Skt.
ājñāsyāmyākhyamājñātāvīndriyaṃ tathā/ uttarottarasamprāpt-nỉrvā-ṇādyādhipatyataḥ//4/
35Ht.
後 後 道 Quang ký, tr57c19, giải rằng, căn thứ hai là
là hậu đạo của căn thứ nhất; căn thứ ba là hậu đạo
của căn thứ hai, cho nên gọi là hậu hậu đạo. Skt. uttarottarasaṃprāpti.
36Hán:
vị tri đương tri căn 未知當知根. Skt. anājñātamājñāsyāmi-indriya:
quan năng có tác dụng rằng “Tôi sẽ biết điều chưa được
biết.”
37現
法 樂 住 Hiện pháp lạc trú, 現 法 安 樂 住 Hiện pháp an
lạc trú, 現 法 喜 樂 住 hiện pháp hỷ lạc trú, là một
trong bốn loại thiền định cõi Sắc, một trong bảy tên gọi
chỉ cho Thiền định; có nghĩa là an trú trong niềm vui hiện
tại của pháp. Skt. dṛṣṭa-dharma-sukha-vihāra
38Bảo
Sớ, q.2, tr. 514a20. Luận chủ giả lập chủ khách để giải
thích nạn vấn. Đây là căn cứ vào Hữu Bộ để nêu câu
hỏi.
39
Bảo Sớ, q.2,tr.514a28. Luận chủ căn cứ vào Số luận để
nêu câu hỏi.
40Quang
ký, q.3. ,tr.58b09. đây là quan điểm chính thức của Hữu Bộ.
41cittāśrayas
tadvikalpaḥ sthitiḥ saṃkleśa eva ca/ sahāro vyavadānaṃ ca yāvatā
tāvad indriyam//5/
42Ht.
所 依 sở y, nơi nương tưạ, chỗ y cứ. Cđ. 依,y. Skt. āśraya,
y, sở y, y chỉ.
43Ht.
有 情 本 hữu tình bổn. Cđ. 眾 生 類 chúng sanh loại. Skt.
maula sattvadravya: thực thể căn bản của hữu tình.
44Ht.
淨 資 糧 tịnh tư lương. Cđ. 清 淨 資 糧 thanh tịnh
tư lương. Skt. vyavadāna-saṃbhāra.
45Ht.
Tất cả những chữ Nó được đánh dấu hoa thị (*),
nguyên hán văn là chữ “thử, 此”, là đại từ thay
cho “sáu nội xứ” tức chỉ cho thực thể căn bản của
hữu tình.
46Ht.成
清 淨 thành thanh tịnh. Cđ. 實 清 淨 thật thanh tịnh.
47Quang
ký, q.3,tr.58b21. Đây là cách lập căn của Thức kiến
gia.
48Skt.
pravṛtter āśrayotpttisthitipratyupabhogataḥ/ caturdaś tathānyāni
nivṛtter
indriyāṇi vā//6/
49Ht.
流 轉 lưu chuyển, Luận Chánh lý