SÁT
NA TRIỂN CHUYỂN
Hồng
Dương
NGHĨA
NHÂN DUYÊN
Tám
thức dựa vào nội thức triển chuyển làm duyên cho nhau sinh
khởi mà không có ngoại duyên, thế thời do đâu loài hữu
tình bị sinh tử tương tục? Sinh tử có hai loại: Phần đoạn
sinh tử và bất tư nghì biến dịch sinh tử. Phần đoạn sinh
tử là trạng thái sinh tử thông thường của chúng ta. Nghĩa
là ba thứ thọ (thọ mạng), noãn (hơi ấm), thức (tâm thức)
hòa hợp kết sanh gọi là sinh. Sau khi sinh sống một giai đoạn
đến khi thọ, noãn, thức không hòa hợp ly diệt thời gọi
là tử. Tử rồi lại sinh, sinh rồi lại tử, mỗi kỳ sinh
mỗi kỳ tử, tử tử sinh sinh phân từng giai đoạn sinh tử
nên gọi là phần đoạn sinh tử.
Biến
dịch sinh tử thời không có tướng phần đoạn, nghĩa là
không có hình tướng sinh diệt. Tuy trước sau liên tục không
có tướng sinh diệt, nhưng từng sát na từng sát na sinh diệt
biến hóa. Thứ vi tế sinh tử này không phải phàm phu, nhị
thừa có thể nghĩ lường, hiểu biết được, nên gọi là
bất tư nghì.
Theo
luận Thành duy thức, loài hữu tình bị sinh tử tương tục
là “do tập khí các nghiệp cùng tập khí hai thủ”. Tập
khí, tiếng Phạn là vāsanā, chỉ ấn tượng còn lưu lại,
hay tàn dư của tập quán. Cũng có nghĩa là cái được xông
ướp, tàn dư của hơi cũ. Vāsanā cũng được dịch là huân
tập, tức sự xông ướp, hay tập quán đã được xông ướp.
“Pháp gì được gọi là tập khí? Cái xông ướp tương ưng
với cái được xông ướp, cùng sinh cùng diệt; sau đó biến
thành cái làm tác nhân sinh khởi cho cái được xông ướp.
Như người ta đem hoa ướp vừng (...) Người đa văn thời
có tập khí đa văn. Tức thức được xông ướp nhiều lần
bởi sự đa văn. Sự kiện đa văn sinh rồi diệt nhiều trong
ý thức, xông ướp thức a-lại-da. Xông ướp tái diễn, trở
thành thông minh bác học.” (Chú thích trong Thắng Man giảng
luận. Tuệ Sỹ.)
Nghiệp
tức tư nghiệp, hay hành vi ý chí do tư duy thẩm xét, tư duy
quyết định, và tư duy phát động. Nghiệp này được huân
tập vào bản thức, thành chủng tử công năng của chính mình,
và chính công năng ấy được gọi là tập khí, là khí phần
của nghiệp, do huân tập thành. Theo luận Thành Duy thức, tập
khí có ba thứ. Một, danh ngôn tập khí, là chủng tử các
pháp hữu vi. Hai, ngã chấp tập khí, là chủng tử hư vọng
chấp ngã và ngã sở. Ba, hữu chi tập khí hay nghiệp tập
khí, là chủng tử do hai chi, hành và hữu, trong mười hai chi
nhân duyên huân tập mà sinh ra những tướng trạng khác nhau
của sinh mệnh và thế giới của sinh mệnh. Cũng đề cập
các thứ tập khí, nhưng Thắng Man phu nhân nói đến bốn trụ
địa phiền não và vô minh trụ địa. Bốn trụ địa phiền
não tức phiền não chướng chỉ vào ngã chấp tập khí, vô
minh trụ địa tức sở tri chướng chỉ vào danh ngôn tập
khí. Trụ địa phiền não là phiền não chủng tử, là những
hạt giống hay những động lực thúc đẩy phát sinh tất cả
mọi khát vọng ô nhiễm, tức phiền não hiện hành. Tác động
của chúng không một sát na nào tách rời các chức năng tâm
lý hoạt động trên cơ sở chủ quan và huân tập trở lại
các trụ địa phiền não, làm tăng thịnh các chủng tử này.
Vô minh trụ địa là chủng tử luôn luôn nằm trong hình thái
chủng tử, nhưng tiếp tục biến chuyển, nghĩa là tiếp tục
sinh hoạt dưới định luật nghiệp báo, không tùy thuộc vào
các hoạt động của các chức năng tâm lý, và tác động
trong quan hệ phổ biến.
Trong
giới hạn cá nhân, nghiệp do bốn trụ địa tạo ra sinh tử
phần đoạn. Trong quan hệ phổ biến, nghiệp do vô minh trụ
địa tạo ra sinh tử biến dịch. Do đó, nói “tập khí các
nghiệp” là nói “hữu chi tập khí”, và nói “tập khí
hai thủ” là nói “tập khí danh ngôn”, chủng tử sở tri
chướng tức vô minh trụ địa và “tập khí ngã chấp”,
chủng tử phiền não chướng tức bốn trụ địa. Thủ là
chấp thủ, ở đây chấp thủ danh ngôn và chấp thủ ngã,
ngã sở.
Quan
hệ giữa nghiệp, tập khí, và thức được đề cập trong
đoạn kinh Lăng già sau đây.
“Cái
được gọi là a-lại-da thức, vốn được huân tập bởi
tập khí xấu của hý luận vọng tưởng phức tạp kể từ
thời vô thủy, cùng chuyển biến với bảy thức vốn (là
những cái) nảy sinh từ mảnh đất được xông bởi tập
khí vô minh (tức vô minh trụ địa). Cũng như sóng của biển
cả, tự thể của nó (tức Như Lai tạng) vẫn thường hằng,
liên tục không gián đoạn, tự bản tính vốn cực kỳ thuần
tịnh, vượt ngoài các quan điểm về tự ngã, không có khuyết
điểm của tính chất vô thường.” (Dịch từ Phạn. Chú
thích trong Thắng Man giảng luận. Tuệ Sỹ)
Như
thế có nghĩa là cái được gọi là thức a-lại-da chuyển
động cùng với bảy thức là những cái được sản sinh từ
vô minh trụ địa.
Trên
phương diện nhân duyên, tập khí hay chủng tử là những công
năng, năng lực, quán tính, là hạt giống chứa ở trong a-lại-da
thức, hễ gặp duyên thời khởi dậy, xuất hiện, gọi là
hiện hành. Chủng tử là nhân hay nhân pháp, khi hiện hành
thời gọi là quả hay quả pháp. Nhân pháp nào hiện ra quả
pháp ấy không lộn xộn, ví như hạt giống mè sinh ra cây
mè, giống đậu sinh ra cây đậu, chủng tử thiện sinh ra thiện,
chủng tử ác sinh ra ác, chủng tử trí sinh ra trí, chủng tử
ngu
sinh ra ngu, v.v... Các chủng tử phát hiện, các hiện hành rơi
trở lại thành chủng tử. Tất cả các pháp đều đang trở
thành không lúc nào ngưng nghỉ. Không có gì mất đi, nhưng
cái gì cũng chuyển biến. Sự phát hiện thường xuyên của
một số chủng tử thành hiện hành và sự trở về của các
hiện hành này trong hình thái chủng tử làm cho các pháp này
phát triển nhanh chóng và có thể đồng hóa hoặc biến đổi
các chủng tử khác không đủ mạnh để được phát hiện
thành hiện hành hoặc không có cơ hội để hiện hành.
Chủng
tử có hai lực: lực năng sanh là lực sinh ra hiện hành và
lực năng dẫn là lực duy trì hiện hành. Chủng tử có sáu
đặc tính. Một, sát na diệt, là chủng tử sinh diệt trong
từng sát na. Theo nghĩa này, những pháp gì thường, tức không
chuyển biến, thời không thể nói có lực năng sanh, không
thể thành chủng tử.
Hai,
quả câu hữu, là chủng tử câu hữu với căn và cảnh. Vậy
pháp gì có trước sau và cách lìa nhau thời không thành chủng
tử. Hiện hành với chủng tử cùng một lúc hiện có nơi
một thân, mới có tác dụng phát sinh. Tuy nhân chủng tử với
quả, có khi câu hữu, có khi không câu hữu, nhưng đây chỉ
nói nhân quả hiện tại đồng thời là có thể có tác dụng
làm nhân, mới gọi là chủng tử, chứ vị lai chưa sinh và
quá khứ đã diệt, không có tự thể, không làm nhân được.
Vì vậy lập tên chủng tử là do y nơi khả năng sinh hiện
quả của chủng tử, chứ không y nơi sự dẫn sinh chủng tử
tự loại. Cho nên mới nói nhân chủng tử với hiện quả
cùng có một lần, mới thành chủng tử.
Ba,
hằng tùy chuyển, là chủng tử liên tục với hiện hành.
Như vậy, các chuyển thức thường chuyển dịch gián đoạn,
hiển thị chủng tử tự loại sinh nhau, không tương ưng với
pháp chủng tử.
Bốn,
tánh quyết định, là chủng tử cùng tính chất với hiện
hành. Tùy theo sức của nhân thiện ác mà có công năng quyết
định sinh ra quả thiện hoặc ác không hỗn loạn. Theo nghĩa
này, không thể chấp nhận nhân tánh khác sinh ra quả tánh
khác mà cho đó là nghĩa nhân duyên.
Năm,
đãi chúng duyên, là chủng tử đủ mọi duyên tố mới hiện
hành. Như vậy, có nghĩa là không chấp nhận tự nhiên sanh,
không chấp nhận duyên thường có.
Sáu,
dẫn tự quả, là chủng tử chỉ dẫn ra hiện hành của nó.
Theo nghĩa này, không thể có một nhân sinh ra tất cả quả,
không thể chấp sắc và tâm làm nhân duyên cho nhau.
Chủng
tử có hai loại. Một là loại câu sanh, vốn có tức có sẵn
trong a-lại-da từ bao giờ. Hễ có thân sanh ra là có nó cùng
sanh. Dựa vào đó mà nói người mới sanh tánh vốn thiện
hay vốn ác, hay vốn không thiện không ác. Hai là loại phân
biệt, mới có tức do thường thường hiện hành huân tập
mà có. Đức Thế Tôn y theo đó nói tâm các hữu tình được
huân tập bởi các pháp nhiễm tịnh, thành chỗ chứa nhóm
của vô lượng chủng tử.
Dù
câu sanh hay phân biệt, chủng tử cũng đều có hai tánh là
hữu lậu gồm những chủng tử thiện, ác, và hữu phú vô
ký phát xuất từ tính chấp ngã, và vô lậu gồm những chủng
tử thiện hoàn toàn trong sạch phát xuất từ tính vô ngã.
Ba
thứ chủng tử được huân tập là danh ngôn, nghiệp, và ngã
chấp, tổng nhiếp hết thảy chủng tử các pháp hữu lậu.
Sự nghe huân tập chẳng phải chỉ huân tập chủng tử hữu
lậu, mà khi nghe Chánh pháp cũng huân tập chủng tử vô lậu
vốn có, làm cho tăng thịnh dần, triển chuyển cho đến phát
sinh tâm xuất thế kiến đạo vô lậu. Như vậy đa văn cũng
huân tập mà sự huân tập này có tác dụng hoàn diệt.
Xét
hành tướng của tất cả chủng tử theo nghĩa huân tập, thời
chỉ có a-lại-da là thức sở huân (chịu sự huân tập) và
chỉ có bảy chuyển thức là thức năng huân (chủ thể huân
tập). Tại sao vậy? Vì sở huân phải có đủ bốn nghĩa:
tánh kiên trụ, tánh vô ký, tánh khả huân, và tánh hòa hợp
với năng huân. Kiên trụ là liên tục ổn định, bền chắc.
Vô ký là có tính bình đẳng dung nạp mọi tập khí không
chống nghịch. Khả huân là có tính tự tại không cứng nhắc
kín nhiệm, có khả năng nạp thọ tập khí. Hòa hợp với
năng huân là cùng với pháp năng huân đồng thời đồng xứ,
không tức không ly. Chỉ có thức a lại da có đủ bốn nghĩa
trên nên mới thành pháp sở huân.
Năng
huân phải có đủ bốn nghĩa: có sinh diệt, có thắng dụng,
có tăng giảm, và cùng sở huân hòa hợp mà chuyển biến.
Có sinh diệt là có sinh diệt chuyển biến. Nghĩa là không
thường hằng mà biến chuyển, có tác dụng sinh trưởng tập
khí. Có thắng dụng là có cường lực tư duy và thiện ác,
có khả năng dẫn phát tập khí. Có tăng giảm là có tác dụng
khi tăng khi giảm, thu nhiếp tập khí. Hòa hợp với sở huân
là cùng với sở huân đồng thời đồng xứ, không tức không
ly. Chỉ có bảy chuyển thức có đủ bốn nghĩa trên nên mới
thành pháp năng huân.
Như
thế thức năng huân (bảy thức trước) với thức sở huân
(a-lại-da) cùng sinh cùng diệt mới thành nghĩa huân tập, làm
cho chủng tử trong thức sở huân sinh trưởng, như hoa ướp
vừng, cho nên gọi là huân tập.
Luận
Thành Duy thức nói: “Hiện thức năng huân từ khi chủng tử
sinh ra nó, liền có thể làm nhân trở lại huân tập thành
chủng tử. Ba pháp năng huân, sở huân, và chủng tử, đồng
thời triển chuyển làm nhân quả cho nhau, như tim đèn sinh
lửa cháy, lửa cháy sinh tim đèn. Cũng như bó cây lau, đồng
thời nương nhau làm nhân quả đồng thời là lẽ chắc chắn.
Hiện hành năng huân sinh chủng tử, chủng tử khởi lên hiện
hành, như cái nhân câu hữu, thủ đắc quả sĩ dụng. Còn
chủng tử trước sau, tự loại sinh nhau như là nhân đồng
loại, dẫn sinh quả đẳng lưu. Chỉ hai nhân này đối với
quả là nhân duyên. Ngoài ra, các pháp khác đều không phải
nhân duyên.”
Đến
đây cần mở ngoặc để giải thích ý nghĩa của hai quả
nói trong đoạn văn trên, quả sĩ dụng và quả đẳng lưu.
Đó là hai trong số năm quả được đề cập trong luận Bà-sa.
Năm quả ấy là quả dị thục, quả đẳng lưu, quả sĩ dụng,
quả ly hệ, và quả tăng thượng. Dị thục quả, quả đối
dị thục nhân, là chỉ quả báo ứng với thiện ác nghiệp.
Đặc trưng của nó là vô phú vô ký, tức không hẳn là thiện
hay ác. Quan hệ giữa dị thục nhân và dị thục quả được
phát biểu như là “nhân thời có thiện, ác, quả chỉ là
vô ký”. Đẳng lưu quả là chỉ cái quả cùng tính chất
với nhân. Chẳng hạn, nhân là thiện thời quả cũng thiện,
nhân ác, thời quả cũng ác. Sĩ dụng quả là do lực dụng
tạo tác mà có. Câu xá luận định nghĩa: “Nếu quả là
do thế lực của nhân sinh ra thời gọi là sĩ dụng quả.”
Ly hệ quả là chỉ nghĩa niết bàn, do kết quả của trí tuệ
mà được. Về điểm này, tuy là một loại sĩ dụng quả,
còn được đặc biệt gọi là sĩ dụng quả bất sinh, nhưng
các quả khác đều đối với hết thảy pháp hữu vi, còn
niết bàn là pháp vô vi cho nên gọi là quả ly hệ. Tăng thượng
quả là những quả đạt được ngoài bốn quả kia.
Nói
về nhân duyên chủng tử, luận Du già cho rằng pháp hữu vi
vô thường làm nhân cho tha tánh và cũng làm nhân cho tự tánh
ở niệm sau. Nói tự tánh là chỉ rõ tự loại chủng tử
niệm trước làm nhân cho niệm sau. Nói tha tánh là chỉ rõ
chủng tử cùng hiện hành làm nhân cho nhau. Đây là trường
hợp nhân duyên y, hay cũng gọi là chủng tử y. Tất cả pháp
sinh diệt (hữu vi) phải nương nơi nhân duyên chủng tử của
chính mình mà sinh khởi và tồn tại. Nếu là trường hợp
tự tánh, thời trong mỗi chủng tử tự loại, cần chủng
tử diệt rồi thời hiện quả mới sinh. Trong trường hợp
tha tánh, chủng tử sinh hiện hành, hiện hành sinh chủng tử,
nhân chủng tử và hiện quả đồng thời có và làm nhân lẫn
nhau. Ví như tim đèn (chủng tử) với ngọn lửa (hiện hành),
tim đèn sinh ngọn lửa, lửa đốt cháy tim đèn, thuộc nhân
duyên y, nhân chủng tử và hiện quả đồng thời. Nếu tim
đèn giờ trước trông đến tim đèn giờ sau, thời đó là
chủng tử sinh chủng tử, cũng thuộc nhân duyên y, nhưng nhân
quả không đồng thời. Nếu ngọn lửa giờ trước trông đến
ngọn lửa giờ sau, thời đó là hiện hành sinh hiện hành,
không còn là nhân duyên y nữa, mà là đẳng vô gián duyên
y (niệm trước diệt mở lối cho niệm sau sinh), nhân quả
không đồng thời.
Vậy
theo luận Du già, pháp hữu vi trực tiếp sinh ra quả của chính
nó. Quả ấy có hai: chủng tử và hiện hành. Chủng tử bao
gồm tất cả công năng sai biệt của thiện, nhiễm, vô ký,
và các cõi, các địa ở trong bản thức (a lại da). Chủng
tử có khả năng dẫn ra công năng cùng loại kế tiếp (chủng
sinh chủng) và đồng thời khởi lên hiện quả cùng loại
(chủng sinh hiện). Chủng tử sinh chủng tử, và chủng tử
sinh hiện hành, chỉ hai năng sanh nhân đó mới có nghĩa nhân
duyên.
Hiện
hành là bảy chuyển thức và tâm sở tương ưng biến ra tướng
phần, kiến phần, ba tánh, ba cõi, bốn địa, v..v... Trừ thiện
pháp của Phật quả quá viên mãn và tánh vô ký quá yếu kém
là không huân thành chủng tử, còn tất cả các thứ hiện
hành khác như bảy chuyển thức, v..v... đều có thể huân
sinh chủng tử cùng loại nơi bản thức. Hiện hành huân chủng
tử cũng có nghĩa nhân duyên. Như vậy có nghĩa là bảy chuyển
thức và a lại da thức triển chuyển làm nhân duyên cho nhau.
Y
THứC BIếN, Y THứC KHởI.
Đạo
lý Duy thức được thuyết giảng là nhằm khai thị cho người
mê muội và hiểu sai lý hai không, ngã không và pháp không,
được trở lại hiểu đúng. Hiểu đúng thời mới đoạn
trừ được hai chướng. Do đoạn diệt chướng phiền não
là thứ làm cho sinh tử tương tục mà chứng quả chơn giải
thoát. Do đoạn diệt chướng sở tri là thứ làm ngăn ngại
sự liễu giải cảnh sở tri mà chứng được quả Đại Bồ
đề. Ngã và pháp chẳng có thật tánh tuy có các tướng chuyển
biến hiện ra. Ngã có các tướng như là hữu tình, mạng giả,
v.v... Dự lưu, Nhất lai, v.v... Pháp có các tướng như là Thật,
Đức, Nghiệp, v.v... Uẩn, Xứ, Giới, v.v... Chuyển nghĩa là
tùy theo duyên mà thi thiết ra các tướng khác nhau.
Theo
luận Thành Duy thức, các tướng ngã pháp giả thi thiết như
thế đều nương vào sự chuyển biến của thức. Thức (vijñāna),
bao gồm cả tâm sở tương ưng, có nghĩa là liễu biệt, nhận
thức. Chuyển biến (pariṇāma) có nghĩa là bản thể của
thức chuyển biến tợ như thành hai phần là tướng phần
và kiến phần. Giải thích thức biến (vijñāna-pariṇāma)
như vậy là theo một quá trình phân hai của thức thành chủ
thể (grāhaka) và đối tượng (grāhya). Trong bản chú sớ Tam
thập tụng (Triṃsikābhāṣya) luận sư An Huệ (Sthiramati) có
một lối giải thích khác, quan niệm chuyển biến (pariṇāma)
là trở thành khác (anyathātva), khác đối với trạng thái
trước (pūrvāvasthāto 'nyathābhāvaḥ). Đại khái chuyển biến
có nghĩa là: (1) sự biến chuyển nhân diệt quả sinh do đó
mà có sự khác biệt, và (2) sự biến chuyển nhân diệt quả
sinh là biến chuyển sinh diệt đồng thời (samakāla).
Cách
giải thích của An Huệ chú trọng bản tính của sự chuyển
biến nên không đả động đến quá trình phân hai của thức.
Thức (vijñāna) mà xem như là quá trình phân biệt nhận thức
của đối tượng và đối tượng của nhận thức thời đó
là nhìn trên phương diện không gian, chứ không phải trên
phương diện thời gian. Mặt khác, khi quan niệm thức chuyển
biến từ nhân ra quả thời khía cạnh thời gian đã được
quan tâm. Trong trường hợp này, bảo rằng biến chuyển nhân
diệt quả sinh là đồng thời, tức là phủ nhận tính thời
gian của sự chuyển biến, nhưng "đồng thời" không có nghĩa
chỉ có không gian là được khẳng nhận. Do đó, sự chuyển
biến nhân quả hiện tại đồng thời của thức phải được
xem như căn bản y của thời gian và không gian. Đó là phi thời
gian trước khi thời gian. Sự chuyển biến của thức không
tùy thuộc hai yếu tố không gian và thời gian. Ngược lại,
không gian và thời gian thời nương trên cơ sở của thức
biến mà hiện khởi. Cơ sở của thức biến là cơ sở của
sự chuyển biến của a lại da thức, cơ sở này thường gọi
là tánh nhân duyên, tức chuyển biến đồng thời chủng sinh
hiện, hiện sinh chủng. Nói cách khác, mọi pháp hữu vi đều
hiện hữu trong giới hạn của khung không thời gian được
thiết lập trên cơ sở của thức biến.
Hai
chữ nhân và quả dùng trong trường hợp "chuyển biến nhân
quả hiện tại đồng thời" nói trên là dịch theo thứ tự
từ tiếng Phạn kāraṇa và kārya, chứ không phải từ hai
tiếng quen thuộc hetu và phala. Kāraṇa có nghĩa hoạt động,
là tác dụng gây ảnh hưởng đến một sự vật. Kārya trái
lại có nghĩa thụ động, là tác quả hay cái bị tác động.
Theo An Huệ, đối với một tác dụng nào đó như thấy,
nghe, ... , thời tác dụng và tác quả hiện tại của nó như
cái bị thấy, cái được nghe, ... cả hai đồng thời
hiện khởi, mặc dầu nhân kāraṇa và quả kārya có tướng
trạng sai biệt. Đó chính là ý nghĩa căn bản của "chuyển
biến" (pariṇāma).
Chuyển
biến hiểu như vậy chỉ có thể có nơi sự chuyển biến
của thức mà thôi. Nó thuận hợp với hai thuyết duyên khởi,
nghiệp cảm duyên khởi và a-lại-da duyên khởi. Kārana có
khi xem như là nhân thời kārya là quả, nhưng khi kārya là nhân
thời kāraṇa là quả. Quan hệ giữa kāraṇa và kārya là quan
hệ hai chiều, khác hẳn trường hợp quan hệ một chiều giữa
hetu và phala. Hetu lúc nào cũng đến trước phala, sự kiện
trái ngược, phala dẫn trước hetu, không bao giờ có thể xảy
ra.
Điều
đáng lưu ý là Huyền Tráng dịch chữ “pariṇāma” là năng
biến thay vì chuyển biến, gây cảm tưởng Ngài có khuynh hướng
giải thích chuyển biến theo nghĩa một chiều, từ hetu đến
phala. Chữ Hán “Năng” có nghĩa là tác động, là tác giả,
đối với chữ “Sở” có nghĩa thụ động, là cái bị tác
động. Luận Thành Duy thức phân biệt hai thứ năng biến,
nhân năng biến (hetu-pariṇāma) và quả năng biến (phala-pariṇāma).
Nhân (hetu) chỉ nghĩa chủng tử và chủng tử năng biến vì
quả hiện hành là tám thức phát hiện. Quả (phala) tám thức
là quả năng biến vì tám thức mỗi mỗi chuyển biến thành
hai phần, kiến và tướng, do đó, tám thức biểu hiện hết
thảy mọi hiện tượng. Theo cách giải thích như vậy, từ
nhân chủng tử thành quả tám thức, rồi từ quả tám thức
thành thế giới hiện tượng, cả hai tầng chuyển biến của
thức, nhân năng biến và quả năng biến, đều chuyển biến
theo một chiều mà thôi, từ nhân chủng tử (hetu) đến quả
hiện hành (phala).
An
Huệ đề cập thuyết hai tầng chuyển biến của thức theo
một cách khác, lược giải như sau. Hai tầng chuyển biến
gồm có nhân chuyển (hetu-pariṇāma) và quả chuyển (phala-pariṇāma),
hai chuyển biến này xảy ra đồng thời và nghịch chiều.
Trong nhân chuyển, hiện tượng, nguyên là phala, thời bây giờ
là kāraṇa, và chủng tử, luôn luôn là hetu, thời bây giờ
là kārya. Nhân chuyển còn gọi là huân tập (vāsanā). Trong
quả chuyển, chủng tử là kāraṇa và hiện tượng là kārya.
Quả chuyển là sự phát hiện hiện tượng từ chủng tử
thành hiện hành. Như vậy, cả kāraṇa lẫn kārya đều có
thể khi là hetu, khi là phala. Chúng thay đổi nhau làm nhân làm
quả, có đặc tính là chuyển biến đồng thời và sai biệt
tướng trạng. Nhờ khả năng triển chuyển vai trò nhân và
quả của kāraṇa và kārya mà thuyết của An Huệ về hai tầng
chuyển biến của thức minh chứng được mọi pháp trong ba
cõi đều là thức. Thức đây là tám thức với khả năng
hoặc làm kāraṇa hoặc làm kārya.
Nhân
chuyển và quả chuyển phát sinh dị biệt và xảy ra đồng
thời, đó cũng là chủ trương của Pháp tướng tông trong
câu “Tam pháp triển chuyển, Nhân quả đồng thời”. Tam
pháp đây là chủng tử, hiện tượng tức các pháp hiện hành,
và tân huân chủng tử. Triển chuyển là xoay đổi biến chuyển
theo hai chiều ngược nhau, chủng tử <==> hiện tượng, kāraṇa
<==> kārya. Tổng hợp hai chuyển biến đồng thời và nghịch
chiều như vậy tạo ra cái được gọi là thức chuyển. Thức
chuyển là cơ sở nương trên đó giả lập thế giới hiện
tượng. Tuy nhiên chớ có tưởng lầm ba pháp triển chuyển,
nhân quả đồng thời thời tất cả dồn chứa vào một sát
na, hoàn toàn không còn có thời gian nữa. Chính tánh đồng
thời của thức chuyển trở thành nguồn gốc của thời gian
và không gian. Như đã nói trên, không gian và thời gian sinh
khởi từ cơ sở của thức chuyển. Do đó, không gian và thời
gian không phi hửu và mọi hiện tượng theo đó mà hiện ra
trong thời gian và không gian.
Mọi
sự vật hiện khởi trong sát na và biến mất cùng trong sát
na ấy. Sự vật không thể tồn tại hơn một sát na trở nên
thường hằng và vĩnh cữu. Tồn tại hơn một sát na có nghĩa
là tĩnh chỉ, không có hoạt động, không có tác dụng. Thế
giới không thể hiện hữu nương trên tánh tĩnh chỉ, có nghĩa
là thế giới được thiết lập khi có sự chuyển biến và
sự triển chuyển tức thời của kāraṇa và kārya. Thế giới
sinh ra và biến mất trong từng chớp nhoáng. Sát na sinh diệt
không có nghĩa là sự hoàn toàn giảm tuyệt của thế giới.
Trái lại, chính do biến dịch sinh diệt từng sát na mà thế
giới tự thiết lập và hình thành.
Trong
đoạn kinh Lăng già sau đây, Tuệ Sỹ dịch, đức Phật dạy
Bồ tát Đại Huệ về nghĩa sát na của pháp hữu vi do gốc
bất giác lầm theo sinh diệt. Ngài chỉ cho thấy sự biến
chuyển quan hệ giữa tám thức: a lại da, ý, ý thức, và năm
thức thân. Niệm niệm không dừng gọi là sát na, cũng gọi
là tướng hoại, cũng gọi là tướng không. Tất cả pháp
có tánh sát na là “thiện, chẳng thiện, vô ký, hữu vi, vô
vi, thế gian, xuất thế gian, có tội, không tội, hữu lậu,
vô lậu, thọ, chẳng thọ”, là tất cả pháp trong ngoài do
tự tâm hiện ra niệm niệm không dừng. Bởi không biết tự
tâm phi sát na, chỉ thấy cảnh hiện ra niệm niệm sinh diệt
sát na chẳng dừng, mà lầm cho là pháp vô vi đều đồng với
diệt hết, rồi khởi ra đoạn kiến.
"Này
Đại Huệ, (hết thảy các pháp...) thiện và bất thiện, đó
là tám thức. Tám thức là những gì? Đó là Như lai tạng
được gọi là thức tạng (A-lại-da). (Thức tạng là) tâm,
ý, ý thức, và năm thức thân, không phải là những điều
mà các ngoại đạo nói. Năm thức thân, cùng liên hệ với
tâm, ý, và ý thức [Skt.: liên hệ với ý thức], vốn hỗ
tương biến hoại [Skt. hỗ tương sai biệt hay khác biệt lẫn
nhau] theo các tướng thiện và bất thiện, (năm thức thân
ấy) cùng sanh cùng diệt với thân (xác) tiếp nối liên tục
không biến hoại. Nhưng không biết rằng đó chỉ là sự biến
hiện của tự tâm; (do đó thấy rằng) khi thức này diệt,
lần lượt tiếp nối thức khác sinh. Ý thức mà tiếp thu
[Hán: nhiếp thọ] sự sai biệt của các hình tướng cùng hiện
khởi tương ưng với năm thức thân, (ý thức ấy) không đình
trú trong từng khoảng sát na, nên nói là (có tính chất) sát
na.
“Này
Đại Huệ, Như lai tạng được gọi là thức tạng (A-lại-da)
cùng liên hệ với ý [Skt.: A-lại-da thức được gọi là Như
lai tạng liên hệ với ý] và cùng với các tập khí của thức
hiện khởi [Hán: sanh thức tập khí, dịch là chủng tử của
thức đang hiện hành], được nói là (có tính) sát na. (Nhưng
A-lại-da liên hệ với) tập khí vô lậu thì không phải là
sát na (nghĩa là, không có tính chất sát-na). Đây không phải
là cái mà phàm phu giác tri được, vì chúng chấp chặt vào
luận thuyết sát na. Do không giác tri tính sát na và phi sát
na của hết thảy pháp nên bằng đoạn kiến mà hủy hoại
pháp vô vi.
“Này
Đại Huệ, bảy thức không lưu chuyển [Skt.: năm thức thân
không luân hồi] không thọ khổ lạc, không phải là nhân của
Niết bàn. Đại Huệ! chính Như lai tạng thọ khổ lạc, cùng
với nhân (của khổ lạc) hoặc sinh hoặc diệt (nghĩa là,
chính Như lai tạng ấy hoặc khởi hoặc diệt), bị bốn trụ
địa và vô minh trụ địa làm cho say khướt (mê muội). Kẻ
phàm ngu không giác tri, vì tâm bị xông ướp bởi vọng tưởng
của kiến chấp về sát na.
“Lại
nữa, Đại Huệ! cũng như vàng, kim cương, xá lợi của Phật
có đặc tính kỳ đặc là không bao giờ bị tổn hoại. Đại
Huệ! nếu sự chứng đắc hiện quán [Hán: đắc vô gián,
Skt. abhisamayaprāpti] mà có tính sát na, thì Thánh có thể không
phải là Thánh [Skt.: Thánh giả có tính chất phi Thánh]. Nhưng
chưa bao giờ Thánh mà không phải là Thánh. Như vàng và kim
cương, tuy trải qua nhiều kiếp, trọng lượng của chúng vẫn
không giảm. Làm sao kẻ phàm ngu không thiện xảo với lời
nói ẩn kín của Ta mà khởi tưởng về sát na đối với hết
thảy pháp nội và ngoại?"
Lăng
già còn nói: “Nếu thức a-lại-da được biểu thị bởi
từ Như Lai tạng mà không hoạt động, thời bảy chuyển thức
biến mất.” Nghĩa là mê thời chuyển Như Lai tạng làm a-lại-da
thức liền có thức cùng ý chung sanh, thành ra tập khí, đó
là tánh sát na. Ngược lại, ngộ thời thông đạt thức cùng
ý chung sanh vốn không tự tính, tức là chuyển a-lại-da thức
làm Như Lai tạng. Bảy chuyển thức là các chủ thể tâm lý
thường nghiệm hoạt động như những con sóng trên đại dương
mà nước chính là thức a-lại-da. Hoạt động của bảy yếu
tố tâm thức sinh diệt liên tục trong từng sát na tạo thành
hình ảnh một dòng sông chảy xiết. Bởi thế mới cho rằng
“thức a lại da liên tục sinh diệt từng sát na, hằng chuyển
biến như một dòng nước chảy xiết không ngừng.”
Tánh
sát na là tương tục.
Sự
kiện thế giới hiện tượng vô thường mà tiếp tục như
một dòng ảnh tượng không gián đoạn biểu hiện sự kiện
thức tương tục chuyển biến không ngừng như một dòng tâm
sở liên tục nương trên cơ sở sự đồng thời triển chuyển
kāraṇa <==> kārya. Tương tục bất đoạn là đặc tính
của sự chuyển biến của thức. Nói cách khác, tánh nhân
duyên hay tánh sát na của pháp hữu vi là tương tục.
Vạn
pháp đang chuyển biến, hiện hữu (thân, xứ, thức) là một
dòng sinh diệt liên tục. Nếu là sát na vô thường, như bất
tư nghì biến dịch sinh tử, thời nương sức nhân duyên từng
sát na mà pháp hiện hành vốn không nay có, ngay khi có giả
nói là sinh. Sinh tạm dừng gọi là trụ. Trong khi trụ, trước
sau khác nhau nên lập tên là dị. Tạm có lại hoàn không nên
bảo là diệt. Tướng sinh biểu thị hữu pháp từ trước
chưa có, tướng diệt biểu thị hữu pháp về sau không có.
Tướng dị biểu thị pháp đó không ngừng một chỗ, tướng
trụ biểu thị pháp đó tạm thời có tác dụng.
Nếu
là nhất kỳ vô thường, như phần đoạn sinh tử, thời lúc
đầu có gọi là sinh, một thời kỳ sau không gọi là diệt.
Sinh rồi nối tiếp tương tợ gọi là trụ. Chính khi nối
tiếp mà chuyển biến gọi là dị.
Bốn
tướng, sinh, trụ, dị, diệt, đều là giả lập. Trong trường
hợp phần đoạn sinh tử, học giả đời Đường dịch phần
đoạn là tương tục. Tương tục có ba thứ: phiền não tương
tục, nghiệp tương tục, khổ tương tục. Họp cả ba lại
gọi là phần đoạn sinh tử. Đây ý nói sinh tử tương tục
là do hoặc, nghiệp, và khổ tổng nhiếp mười hai hữu chi
từ chi vô minh đến chi lão tử.
Như
vậy, sự sinh diệt biến dị của các pháp là do nhân duyên
đủ tác động mà hiện hữu hay biến dịch. Về mặt thể
sự hiện hữu các pháp lệ thuộc tánh Không. Về mặt biểu
dụng, các pháp hiện hữu theo giả hợp về hiện tướng qua
giả danh, sinh, trụ, dị, diệt trong sát na hay trong một thời
kỳ. Vô thường chính là tướng giả hợp (Vô thường tức
thị Tướng). Duyên khởi chính là tướng hóa dịch của vật
thể (Dụng). Ở đây, vì sự vật hiện hữu qua tướng giả
hợp nên chúng được coi như là tướng giả. Tướng giả
luôn luôn thể hiện tính chất vô thường bất định của
các pháp, do đó các pháp luôn luôn hóa dịch đổi mới qua
luật tắc duyên khởi mà hiện hữu. Bởi thế các pháp luôn
luôn ở trong giả tướng mới, sau trước không đồng nhất
không dị biệt, tiếp nối liên tục, tương tục bất đoạn,
theo luật nhân quả mà thành.
Trong
Lăng già, khi Bồ tát Đại Huệ hỏi cách thức biến hiện:
"Các thức có mấy thứ sinh, trụ, diệt?", đức Phật bảo:
“Các thức có hai thứ sinh, trụ, diệt, chẳng phải suy nghĩ
biết được. Các thức có hai thứ sinh, nghĩa là lưu chú sinh
và tướng sinh. Có hai thứ trụ, nghĩa là lưu chú trụ và
tướng trụ. Có hai thứ diệt, nghĩa là lưu chú diệt và tướng
diệt."
"Lưu
chú" dịch tiếng Phạn prabandha, có nghĩa là sự hay chuỗi
nối kết không bị đứt đoạn. Các bản Hán dịch khác của
Lăng già dịch là "tương tục". Chữ "tương tục" còn dùng
để dịch tiếng Phạn santāna. Chữ Phạn santatiprabandhana được
dịch là tương tục lưu chú hay tương tục bất đoạn. Hiểu
theo nghĩa đen của từ nguyên Hán, lưu chú có nghĩa là thiên
lưu, tức trôi chảy và biến đổi.
Lưu
chú và tướng của sinh, trụ, và diệt khác nhau thế nào?
Thầy
Tuệ Sỹ đưa ra đoạn trích dịch từ Chú Đại thừa Nhập
Lăng già kinh (10 quyển) của Bảo Thần (Tống), giải thích
ý nghĩa lưu chú và tướng của sinh, trụ, và diệt (T39n1791,
p443b29). Những từ trong ngoặc do Thầy thêm vào cho rõ nghĩa.
"Nói
lưu chú, duy chỉ nêu cho thức thứ tám. Ba tướng của nó
tức nghiệp tướng, chuyển tướng và hiện tướng vi ẩn,
chủng (tử) và hiện (hành) không đứt đoạn, do đó nói là
lưu chú. Do vô minh làm duyên, đầu tiên khởi lên nghiệp thức,
do đó nói là sanh. Tiếp nối nhau từ trẻ cho đến trưởng
thành, gọi là trụ. Cho đến kim cang định, trong một niệm
(một sát na) của đẳng giác, đoạn trừ căn bản vô minh,
gọi là lưu chú diệt.
“Sanh
trụ diệt bởi tướng (thuộc bình diện hiện tượng) thuộc
về thức thứ bảy. Tâm và cảnh đều thô hiển, nên nói
là tướng. Thức thứ bảy tuy lấy thức thứ tám làm đối
tượng, đối chiếu với sáu thức thì nó là vi tế, nhưng
nó có đủ cả bốn hoặc (bốn phiền não: ngã si, ngã ái,
ngã mạn và ngã kiến), nên cũng nói là thô. Y trên chủng
tử của chính nó tức của hiện thức, lấy các cảnh làm
đối tượng mà thức thứ bảy sinh khởi, đó gọi là sanh.
Sự huân tập trong các thời trẻ cho đến trưởng thành, đó
gọi là trụ. Sự trấn áp và đoạn trừ lần lượt từ ngọn
dần đến gốc, cho đến địa thứ bảy (của Bồ tát) thì
tròn đầy (hoàn toàn đoạn trừ ngã chấp), đó gọi là diệt.
Căn cứ sự sanh diệt trước (của thức thứ tám) mà lập
nên sở y cho mê và ngộ. Căn cứ sự sanh diệt sau (của thức
thứ bảy) mà lập nên sở y của nhiễm và tịnh. Đó chính
là sanh - trụ - diệt bằng lưu chú, và sanh trụ diệt bởi
tướng"
Hãy
tạm dừng đây để tìm hiểu ý nghĩa về ba tướng vi tế
của a lại da thức đề cập trong đoạn văn trên. (1) Nghiệp
tướng. Vì vô minh (hoặc; bất giác; mê) cho nên tâm động.
Động tức là tạo nghiệp. Đó là tướng vi tế thứ nhất,
gọi là tướng nghiệp vô minh. Duy thức gọi đó là tự chứng
phần (bản thể) của thức a lại da. Tự chứng phần của
a lại da thức còn gọi là nghiệp thức, là sự vô minh bất
giác làm cho tâm vọng động.
(2)
Chuyển tướng. Vì tâm động (nghiệp tướng) nên mới có
phân biệt. Đó là tướng vi tế thứ hai, gọi là tướng năng
kiến, cũng gọi là chuyển tướng. Duy thức gọi đó
là kiến phần của thức a lại da, tức là phần năng phân
biệt do tâm vọng động chuyển sinh ra.
(3)
Hiện tướng. Vì có tâm năng phân biệt, nên mới vọng hiện
ra cảnh giới bị phân biệt. Đó là tướng vi tế thứ ba,
gọi là tướng cảnh giới, cũng gọi là hiện tướng. Duy
thức gọi đó là tướng phần của thức a lại da, tức là
sự biểu hiện cảnh giới sáu trần bị phân biệt.
Tuy
giải thích trên lấy theo nghĩa tương quan tương sinh mà nói
"do nghiệp tướng sinh ra chuyển tướng, do chuyển tướng sinh
ra hiện tướng", nhưng kỳ thật ba tướng này đồng thời
sinh khởi. Một pháp vừa động thời tất cả pháp đều đồng
thời động, không phải theo thứ lớp tuần tự như thế.
Về
nghĩa của tưong tục diệt và tướng diệt, Thầy nêu ra những
đoạn văn trích dưới đây.
Từ
bản dịch của Bồ-đề-lưu chi (T16n0671_p0522a08):
"Này
Đại Huệ, tất cả những hình thái được huân tập sai biệt
của thức A-lại-da diệt, thì các căn diệt. Đó gọi là tướng
diệt."
Từ
ba bản Hán của Lăng già, Thầy dịch và đưa ra để tiện
đối chiếu:
1.
T16n0670_p0483a23:
"Này
Đại Huệ, tương tục diệt, đó là, sở nhân của tương
tục diệt thì tương tục diệt; khởi nguyên (sở tùng) và
đối tượng (sở duyên) của tương tục diệt, thì tương
tục diệt. Đại Huệ, vì sao vậy? Vì đó là sở y của nó
(tương tục). Y, tức là sự huân tập của vọng tưởng từ
vô thủy. Duyên, đó là vọng tưởng của cảnh giới của
thức được thấy v.v. bởi tự tâm."
2.
T16n0671_p0522a09:
"Đại
Huệ, tương tục diệt, đó là, nhân của tương tục diệt,
thì tương tục diệt. Nhân diệt và duyên diệt, thì tương
tục diệt. Đại Huệ, đó tức là y pháp và y duyên. Nói y
pháp, là nói sự huân tập của vọng tưởng hý luận từ
vô thủy. Nói là y duyên, là nói sự phân biệt của cảnh
giới của thức được thấy bởi tự tâm."
3.
T16n0672_p0593b23:
"Đại
Huệ, tương tục diệt, đó là nhân làm sở y (sở y nhân)
diệt và sở duyên diệt, thì thức diệt. Nhân làm sở y, đó
là tập khí hư vọng hý luận từ vô thủy. Sở duyên, đó
là cảnh giới phân biệt được thấy bởi tự tâm."
Từ
bản tiếng Phạn.
"Này
Đại Huệ, nói sự diệt của tương tục, đó là nói sự
diệt diễn ra do bởi căn cơ (āśraya: sở y) diệt và đối
tượng (ālambana: sở duyên) diệt. Ở đây, căn cơ (sở y)
tức là tập khí (vāsanā) thô hiển của vọng tưởng từ
thời vô thủy. Đối tượng (sở duyên), đó là những phân
biệt vọng tưởng do bởi cảnh giới của thức được thấy
bởi tự tâm."
Trong
sớ giải kinh Lăng già của ngài Hàm Thị, HT. Thích Thanh Từ
dịch, chữ lưu chú được giải thích rất nhiều lần:
"Tương
tục tức là lưu chú. Lưu chú do các thứ tướng hư vọng
chẳng thật làm nhơn, đây là vọng tưởng từ vô thủy huân
tập. Lấy tướng tất cả căn thức làm duyên, đây tức là
kiến, v.v... thức cảnh vọng tưởng của tự tâm. Nhơn diệt
thời lưu chú tự diệt. Nhơn của chỗ theo diệt nên duyên
cũng diệt. Nhơn duyên thảy diệt nên lưu chú tự diệt. Tóm
lại, mê thời chơn biến thành lưu chú. Bởi vì Như Lai tàng
chẳng giữ tự tánh, không thể tự trở lại. Tánh lưu chú
này động liền sanh kiến, tướng gọi là hư vọng, lại lấy
cái hư vọng làm chổ nương. Thức tánh mênh mang mà không
chỗ tựa nương. Bèn lấy kiến, tướng, vọng động của
chính mình làm chỗ dựa nhờ, nên gọi là nhơn nương. Nương
theo hư vọng này biến in tuồng có căn thức, lại lấy căn
thức làm duyên, thức tánh mênh mang không có chỗ dẫn phát.
Bèn lấy căn thức của mình biến hiện làm chỗ dạo chơi,
nên gọi là duyên hiện. Mới biết hai tướng nhơn duyên nuôi
lớn thức lưu chú. Hai tướng có thể hoại mà chơn tướng
của thức lưu chú chẳng hoại, chỉ tại trong mê không thể
tự giữ. Vì thế chỉ gọi là lưu chú chẳng gọi là chơn,
nên có khác là trở lại và không trở lại. Cho nên ngộ thời
lưu chú liền chơn, bỗng nhiên biết đường trở về, chóng
quên chỗ nương tựa. Do đó, Bồ tát có ra đời chẳng nhờ
duyên mà hiện. Nên nói tướng diệt mà lưu chú đến đây
mới cứu cánh diệt. Bởi vì mê thời hai tướng hoại và
chẳng hoại lần lượt làm nhơn. Song cốt tại mê ngộ vọng
phân, chớ chơn tánh không khác. Chỗ này là lý do khiến người
trí đương nhiên tự hợp."
Tóm
lại, do vô minh bất giác làm nhân và cảnh giới hư vọng
làm duyên, mà sinh ra các tướng nhiễm ô sinh diệt. Hai tướng
nhân duyên nuôi lớn thức tương tục. Nghĩa là vì mê nên
y nơi tập khí hư vọng hý luận từ vô thỉ và nương nơi
cảnh giới phân biệt được thấy bởi tự tâm mà thức lưu
chuyển thuận dòng vô minh sinh ra các pháp sinh tử tạp nhiễm.
Nhưng chính nơi pháp tạp nhiễm lưu chuyển đó, nếu nhân
(vô minh) diệt, thời duyên (cảnh giới) diệt. Sở y nhân diệt
và sở duyên diệt thời thức tương tục diệt. Lưu chú triển
chuyển hoàn tịnh, nhân duyên trở lại bản tâm thanh tịnh,
và thành tựu ngộ nhập chân tâm mau hay chậm là tùy theo căn
cơ và trình độ tu hành của hành giả.
H.D